T88-Đạo Gia Tiên
T88(a)-Đạo Gia Tiên
Livestream ngày 21.07.22
soạn giả : Hoàng Đức phương
ĐẠO GIA TIÊN
Đạo Gia Tiên là
đạo thời cúng ông bà tổ tiên và cũng là nguồn gốc của Việt Đạo : Con đường
đi cũa tộc Việt
Đạo Gia Tiên là đạo học làm người Việt được biểu thị qua việc thờ cúng ông bà và về sau mới nảy sinh ra tông đường.Đây là chữ HIẾU của dân Việt có từ 13.000BC
Khi lập Quốc vào năm 2.879BC mới có Thờ ông Thành Hoàng Làng là người lập ra nơi chung cư, lúc đầu gọi là cái LÝ (mỗi chiều 1,600Km).
Khi Thục Phán phá chế độ Dân Chủ Phân Quyền và Dân Chủ Chế Tài dưới thời Hùng Vương vào năm 257BC, để thành lập chế độ Quân Chủ Chuyên Chế và Độc Tài, Vọng Ngoại nên người dân tranh đấu trong suốt 7 năm mới có được ngày Quốc Tổ là ngày GIÁM SÁT công việc làm của Triều Đình Thục Phán.
Lần sau chúng ta
sẽ bàn đến ngày Quốc Tổ 10/3/Nông Lịch về phương diện chánh trị và phưong diện
Tâm Linh theo qua diểm của dân Việt lúc đó.
----------------------------------
Nay chúng ta bàn
về Đạo Gia Tiên để kết hợp dân tộc chống với những triết lý phá hủy tinh thần Đồng
Bào.
Mới đầu là Việt
Giáo, tức giáo lý học làm người Việt, mới đầu là hình thức tu thân và nhân sinh
quan của người Việt về linh hồn và Nhân Quả :
·
Cha ăn mặn thì
con khát nước,
·
Cha ăn cướp thì
con ngồi tù.
·
Cha lù khù thì
con ngu dốt,
·
Cha đốt nhà thì
con khốn khó.
Khi có cuộc sống tập thể thì phải biết sống cho mình và cho công đồng ; tức là phải xây dựng Văn Hóa Tập Thể . Về sai được đúc kết bằng hình 14 tia trên mặt trống đồng Đông Sơn khoảng 1.000BC, hay danh từ ĐỒNG BÀO xuất hiện vào khoảng 600BC cùng với quyluật xưng hô theo vai vế gia đònh mà nay chúng ta vẫn dùn. Đó là một nét tinh hoa cao quý của nền Văn Hóa Việt
Đạo Gia Tiên là
đạo làm người của dân Nông Nghiệp, bắt đầu có vào khoảng 13.000BC là lúc con
người biết các canh tác ngũ cống để tự túc mưu sinh.
Ngũ cốc đầu tiên
là khoai sọ tìm thấy ở Thanh Hóa (lúc đó đờng bằng Bắc Việt chưa thành hình, nước
biển lên tới chân núi Ba Vì)
Khi có ruộng cầy, có rẫy trồng khoai, có lương khô tích trữ thì phải lập kho dự trữ và phải vệ của cải. Do đó phải lập nơi chung cư có rào để nội bất xuất ngoại bất nhập ; nơi thì gọi là cái Buôn, cái Sóc, cái Ấp hay cái Lý (1,6Km).
Có sống thì tất phải có chết. Khi người thân chết đi thì đem chôn ra đồng hay gò cao. Hàng năm đến ngày Kỵ thì ra viếng mộ, thắp nhang để báo cáo việc gia tộc trong năm qua không ai làm hổ danh Gia Tiên ; và cầu xin người thân quá cố phù hộc ho dòng họ bằng cách run rủi gặp lành tránh dữ.
Về sau lập bàn
thờ trong nhà, và ở ngay trước bước vào nhà để ai ra vô thì biết ngoài chủ nhà
còn có bề trên đã khuất.
Nên khách khứa hay tiệc tùng thì khách trước khi gặp chủ nhà để hàn huyên thì phải thắp 3 nén nhang, xưng danh tình và xin phép hương linh người quá cố cho phép vô nhà.
Theo quan niệm
người lúc đó thì :
A/- Nhang là nơi hẹn với hương linh, có đi chơi đâu
chơi khi nghe lời khấn thì bay về chứng giám.
B/- Người quá cố là linh hồn, không cần năng lượng để
sống nên hình hài không thay đổi ; giữ nguyên như lúc qua đời.
C/- Linh hồn mà ta gọi là MA là cái bóng, không làm hại
ai cả ; vì ta sợ nên thần hồn nát thần tính. Đã gọi là bóng thì ta nhìn thấy
bằng ảo giác qua dây thần kinh trong óc ; vì thế nên có người nhìn thấy
người thì không nhìn thấy.
D/- Linh hồn di chuyển rất nhanh bằng Thần Giao Các Cảm ;
nhưng có điều phần lớn không đi xa được. Có người mà ta gọi là đắc đạo thì
hương linh của họ bất diệt và đi xa được. Linh hồn nào không đ ixa được phải nhờ
họ cõng đi dùm để báo mộng cho người thân ở nơi xa-xôi, họ biết nhưng không có
kả năng đi tới.
E/- Linh hồn từ đâu tới, và chết thì đi vế đâu. Theo
nghi thức Tế Lễ dân gian thì có lẽ người xưa quan niệm : Cha mẹ sinh con
trời sinh tính có nghĩa là linh hồn chọn tông đường, nhập thể vào bào thai 1
tháng trước khi sinh. Lúc sống thì phải vun trồng thanh danh cho dòng họ mình
đã chọn. Khi chết thì quanh quẩn nơi mổ mả là nhà của họ đó ; từ đó hương
linh run rủi cho người thân gặp lành tránh dữ nên mới có câu nói theo trực
giác và kinh nghiệm sống là : Người ta sống vì mồ vì mả, chứ không ai
sống vì cả bắt cơm.
Cả có nghĩa là lớn. Câu này hàm ý sống cho có có nhân có nghĩa, sống cho thanh danh Tông Đường chứa không sống theo kiểu Giá Áo Túi Cơm
Từ đây mới đi đẻ
ra ngày Quốc Tổ :
Hẹn
quý vị lần sau sẽ nói một nét văn minh độc đáo và một nền Văn Hóa đáng kính của
dân Việt qua ngày QUỐC TỔ.
Khi
nô lệ không đuọc quyền thảo luận chánh trị, hạch tội nhà cầm quyền nên chuyển
sang ngày Giổ Tổ để dấm bếp ủ lò ; chờ ngày phục hồi quyền làm chánh trị của
người dân.
-------------------------------------
T88(b) – Nguyên nhân suy thoái tư duy
Livestream ngày 21.07.22
soạn giả Hoàng Đức Phương
NGUYÊN
NHÂN SUY THOÁI
cách phục hồi nhân phẩm
Nguyên nhân tụt hậu:
Muốn
biết sự thăng trầm lịch sử thì hãy nghiên cứu kỹ càng 2 tài liệu: Chương trình
Giáo Dục và bộ Hình Luật thì biết ngay là thời đó đào tạo Hiền Tài để giữ nước
hay đào tạo Nhân Tài Giá Áo Túi Cơm để bán nước cầu cho vinh thân phì da.
ö
Ai là người hạ nhục dân Chàm ?
Trong khi họ đã từng cứu nguy dân Việt !!!
Nên nhớ là:
Nước
Chàm hội nhập vào nước Đại Việt là do công đức của dân quân dưới triều vua Lê
Thánh Tôn (1471) chứ không phải là công ơn mà các Chúa Nguyễn đã nhận xít.
Chàm là tên nước cương vực từ đèo Hải Vân đến tình Bình Thuận. Trong nước CHÀM có nhiều sắc dân; trong đó có dân CHIÊM sinh sống ở Ninh Thuận và Bình Thuận nên ta gọi là Chiêm Thành; thành trì của người Chiêm
Chuyện lịch sử như sau:
Khi
triều đình nhà hậu Lê rối loạn vì sự phong Thái Tử để nối ngôi.
Lúc
đó vua Lê Thái Tôn lên ngôi mới có 12 tuổi, đến tuổi 18 thì quần thần hiến con
gái làm cung phi bao nhiêu thì nhà vua nhận hết, vì trẻ người non dạ.
Cô nào sinh con trai thì vây cánh nịnh hót để con mình mới đẻ được phong làm Thái Tử, mẹ đương nhiên thành Hoàng Hậu chính thức, để ông ngoại nhiếp chính khi vua băng hà. Khi cô sau sinh con trai thì lại truất con cô trước và phong cho cô sau chức Hoàng Hậu và con là Thái Tử (nối ngôi).
Bàng
Cơ sinh năm 1452, được phong làm thái tử lúc mới ra đời thì người anh là Nghi
Dân bị truất quyền Thái Tử nên vây cánh ấm ức.
Khi
Bàng Cơ lên 2 tuổi thì vây cánh của ông ám sát vua và đổ tội cho Thị Lộ để tru
di tam tộc Nguyễn Trãi với mục đích khóa mồm vây cánh của ông này. Vì là thiếu
đế nên ông ngoại nhiếp chính, do đó triều đình rối loạn.
Đến năm 1459 (Bàng Cơ mới được 7 tuổi) thì nghi Dân cùng đồng bọn trèo vào cung cấm giết vua và Thái Hậu để mình lên ngôi.
Tại
sao trong Triều đang sát hại nhau để tranh chức vua mà khi không triều thần lại
giết vua và thái hậu để đón ông Tư Thành làm vua miễn cưỡng là sao vậy?
Là vì lúc này quân Chàm theo chân vua Trà Toàn đánh chiếm nước Đại Việt, sắp đến Thanh Hóa đào mả vua Lê Lợi nên quần thần bèn giết Nghi Dân đi và đem kiệu ra chùa rước Hoàng Tử Tư Thành về làm vua.
Để
tránh nạn kiêu binh, Hoàng Tử Tư Thành đạt điều kiện là: Nếu muốn tôi làm vua
thì tôi quyết định mọi việc và các ngươi phải theo chứ không được bức bách để
thành "Kiêu Binh".
Ø Hai bên đồng thỏa thuận nên nước ta suy thoái từ đây
Lý do là: Do nhà vua yêu cầu nên muốn chắc ăn phải thay đổi nền
giáo dục với phương châm: Đất của Chúa,
lúa của Trời, chứ không theo chế độ dân chủ phân quyền như trước hay chế độ
Quân Chủ Đại Nghị như nhà Lý và nhà Trần.
(§ Chương trình giáo dục và Hình Luật thời đó thì rõ).
Nói
thêm cho rõ là:
Mẹ con ông Tư Thành (tức vua Lê Thánh Tôn sau này) bị vua ra lệnh
giết chỉ vì câu nói là: Nằm mơ thấy Phật bảo là con mình làm vua.
Nên nhớ là đạo Phật lúc này đang xuống dốc chứ không được trọng vọng
như thời nhà Lý và nhà Trần.
Nhờ quốc Sư Nguyễn Trãi, lúc đó vợ ông là bà Thị Lộ làm Thái Sư dạy
vua; lúc đó bà đã 60 tuổi rồi, khuyên can nên vua nể vì không giết; nhưng khai
trừ ra khỏi Hoàng Tộc. Do
đó mẹ con biết thân phận nên ẩn náu dưới mái chùa trau dồi kinh kệ.
Ø Chuyện vua 18 tuổi ngủ với Thị Lộ (bà già
60 tuổi) rồi bị Thượng Mã Phong là chuyện bịa của phe đảo chánh, tức nhóm ông
ngoại Bàng Cơ
ö
NGUYÊN
NHÂN SUY THOÁI
để có thảm trạng hôm nay!
Vua
Lê Thành Tông lên ngôi năm 1460 niên hiệu là Quang Thuận (nghĩa là quần thần yêu cầu Ta ra làm vua (Quang là
sáng, Thuận là đồng ý) thì lập tức chỉnh trang ngay nội chính, tăng cường quân lực, phát triển kinh tế
và cho người vào đất Chàm vẽ bản đồ theo danh xưng Việt để sau này khi tấn công
nếu quân Chàm vớ được mật lệnh thì cũng không biết đó là địa danh nào cả.
Vì sợ
nội chính bất an nên nhà vua triệt hạ đạo Phật, đạo Lão và theo mỗi đạo Nho, lấy
trung quân làm chính.
Ø Tức "đất của Chúa, lúa của Trời";
chứ không phải đất của dân!
NHO
duới thời vua Lê Thánh Tông (1460) là học làm người an phận, chỉ biết phục tùng
triều đình, do đó về sau con cháu mới có người chịu làm vua bù nhìn. Đó là đạo
Hủ Nho.
·
Coi thêm sách giáo khoa của Bùi Kỷ và Trần Trọng
Kim biên soạn dưới thời nô lệ Thực Dân Pháp thì rõ tư tưởng an phận, yếm thế.
Như vậy thì sao mà chẳng mất nước?
·
Thà
làm vua bù nhìn như Lê Chiêu Thống còn hơn làm dân một nước oai hùng.
·
Trịnh
Nguyễn phân tranh cũng do tư tưởng giáo dục này mà ra.
·
Gia
Long cầy cục đem quân ngoại bang, rước voi về dày mả tổ để con cháu đi tù mút
mùa cũng từ tư tuởng học vấn này mà ra.
·
Bọn
Việt Cộng cũng rứa (coi luật và chương trình dạy dân nô lệ của chúng thì rõ, lấy
tư tưởng ngoại bang làm đường đi trong mù quáng)
Ø Tóm lại tư duy dân Việt bị suy thoái bắt đầu
từ nền giáo dục nô dịch triều đình này mà ra
ö
Sau
10 năm xúc sức, tích nhuệ thì đổi niên hiệu Quang Thuận sang Hồng Đức, tức ý
chí muốn xóa sổ nước Chàm đó, rồi cất binh đi đánh quân Chàm.
Nhà
vua dùng binh thuyền đánh thẳng vào tận Đồ Bàn, trong khi đó thì vua Chàm là
Trà Toàn đang hành quân ở Nghệ An, vì háo thắng nên kinh đô Đồ Bàn mất mà không
hay.
Khi
quân Việt đã chiếm xong thành Đồ Bàn rồi thì vua Chàm là Trà Toàn đang hành
quân ở Nghệ An mới biết tin nên vội làm sớ dâng đất Chàm cho nhà Minh bên Tàu.
Nhờ
tổ tiên phù hộ nên thuyền sứ giả trên đường vượt biển để tới đảo Hải Nam thì
thuyền tuần của ta vớ được. Vị thuyền trưởng hoảng vía đốt ngay sớ, chém đầu bọn
sứ giả vứt thây xuống biển, đánh đắm thuyền rồi phi báo ngay về đơn vị hành
quân.
Tư Lệnh Hải Quân vội phi báo tin này vào Quy Nhơn. Nhận được tin thì nhà Vua hạ lệnh tốc chiến, tốc thắng chém đầu Trà Toàn. Trận đánh này còn quyết liệt hơn trận Đống Đa, nhưng không dám hé răng vì sợ nhà Minh gây sự đòi đất.
Khi
chém xong Trà Toàn thì quân Việt mới kiểm soát được vùng Quảng Nam (sau này Minh Mạng đổi thành tỉnh Quảng Nam,
Quảng Ngải và Bình Định). Quảng Nam là tiếng Việt, có nghĩa là một vùng rộng lớn
và trù mật ở phương nam.
Vùng
còn lại thì các tướng Chàm xin sát nhập vào nước Đại Việt nhưng hưởng quy chế Tự
Trị. Đó là vùng
1.
Hoa
Anh (tinh hoa); tức Phú Yên (Tuy Hòa) và Khánh Hòa (Nha Trang).
2.
Chiêm
Thành (thành trì của dân Chiêm); tức Ninh Thuận (Phan Rang) và Bình Thuận (Phan
Thiết)
3. Nam Bàn, tức vùng Tây Nguyên ngày hôm nay.
Đồ
Bàn là tên của dân Chiêm, Quy Nhơn là danh từ của vua Lê Thánh Tông trước khi tấn
công và sau này Gia Long đổi thành Bình Định, có nghĩa là đã bình định xong giặc
Tây Sơn.
¾


0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil