dimanche 6 août 2023

T77– Văn Hóa Việt Tuyệt Vời

T77(a) – Văn Hóa Việt Tuyệt Vời

Livestream Văn Hóa Thuần Việt (05.05.2022)

Soạn giả: Hoàng Đức Phương

 

Trích Yếu: VĂN MINH đáng kính và VĂN HÓA tuyệt vời của dân Việt trong cách xưng hô trong vai vế BỐ và MẸ

  ÐỒ  VAI  VẾ  TRONG GIA  ÐÌNH

                              

                                       

                                                    THẾ  HỆ  Thứ Ba

§  CON đối với Bố Mẹ                  (Con hay Cháu)

§  CHÁU đối với người thân                                                                          


²

TRƯỜNG HỢP ĐẶC THÙ:Bố và Mẹ thì bất khả thay thế

Vai vế của Bố và Mẹ thì không ai có thể thay thế được. Do đó nếu không phải là bố mẹ ruột (đẻ) thì phải gọi khác đi như là Thày và U, Chú và Thím hay Dượng và Dì, nay gọi là Tonton hay Tata; tức là giảm thân tình máu mủ đi một bậc.

Vì thế cho nên:

1.      Khi Mẹ chết, Bố đi lấy vợ khác (gọi là tục huyền. Tục huyền là tiếng Tàu, có nghiã là nối lại giây đàn đã đứt), thì các con gọi người vợ kế của bố bằng Dì và xưng là Con. Có nghiã là bà chỉ bằng vai em của mẹ tôi thôi. Thay vì xưng bằng Cháu thì xưng bằng Con cho gần hơn. Nếu bà vợ kế cay-nghiệt thì lúc đó gọi là Dì Ghẻ. Chữ ghẻ có nghiã là lạnh lùng.

·    Nếu người vợ sau không cưới, tức là sống chung bồ bịch hay vợ hai.... thì các con gọi người này bằng Chị và xưng là Tôi. Có nghĩa là bà chỉ ngang vai với chị cả của chúng tôi thôi. Nhưng đối với các con cùng cha khác mẹ thì vẫn gọi là các em, như em ruột của mình vậy. Không có danh từ em nửa vời (demi frère) như Âu Tây, sở dĩ khác là vì những đứa nhỏ này ăn theo dòng Bố nên được thăng chức.

2.      Còn nếu Bố chết, Mẹ đi lấy chồng thì gọi là tái giá. Tái là trở lại, giá là lấy chồng (tiếng Tàu). Thì các con gọi ông chồng mới này bằng Dượng và xưng Con, nếu không thân thì xưng là Tôi. Vai-vế Dượng của ông ta thì không thể bỏ đi được.

Sở dĩ gọi bằng Dượng là vì lúc đó mẹ mình bị hạ xuống một bậc thành Dì, tức là em gái của mẹ. Chồng của Dì thì gọi bằng Dượng.

 

Tái giá: Con cái cùng Mẹ khác Cha, nếu thân thiết thì gọi nhau bằng anh (hay chị) và em, còn không thì gọi nhau là Anh (hay Chị) với Tôi. Cách xưng hô này là quyền của con cái, bà mẹ không có quyền bắt chúng phải gọi thế này hay thế khác.

Ghi chú:

Văn minh đáng kính :

Rằng đời sống chỉ có một lần nên dân Việt tôn trọng đời sống của người góa-bụa nên mới có chữ TÁI GIÁ, khác hẳn với dân Tàu là góa phụ phải thủ tiết, ở vậy thờ chồng nuôi con.

Vì người Tàu con đàn bà là đồ vật mua đi bán lại đuợc. Do đó có tục thách cưới, tức mua con dâu. Khi mua rồi thì nhà chồng muốn ban cho ai cũng được, còn không thì phải ở là dâu gia đình nhà chồng.

Còn dân Việt cổ xưa thì phải ở rể 3 năm để nhà vợ coi chân tướng. Sau đó mới lấy quyết định gả hay không. Trong thời gian ở rể thì không được chuyện trò với con gái người ta. Chuyện Trọng Thủy Mỵ Châu đã nói điểm này. Sau 3 năm Trọng Thủy trở về gia đình nhà mình mà Mỵ Châu không theo vì lúc đó Trọng Thủy chưa phải là chồng Mỵ Châu.

Vì thế nên góa phụ được quyền tái giá sau 3 năm mãn tang. Nguyên nhân 3 năm là vì khi người chồng nằm xuống thì bà vợ có thể mang thai. Cái thai đó thuộc về gia đình nhà chồng, nó được thừa kế gia hong cũng như gia tài.

Do đó cô phải đợi sinh xong thì trao đứa nhỏ cho gia đình nhà chồng và cô tênh tênh như con gái đi lấy chồng khác. Ngoài ra cô được quyền về thăm con như thượng khách.

Nhưng thời đó con phải bú sữa mẹ nên cô phải lưu lại 2 năm cho con dọng-dẽo rồi mới đi lấy chồng được. Vị chi là 3 năm nên người đặt ra tang chế là 3 năm.

Đoạn này trích cuốn VĂN MINH VIỆT NAM của Lê Văn Siêu.

Văn hóa tuyệt vời :

Rằng BỐ và MẸ đẻ không ai có thể thay thế được.

1/- Khi Bố chết, mẹ đi lấy chồng thì các con gọi người chồng sau bằng DƯỢNG. Vì ông không thể nào ngang hàng với bố tôi được, và ông cũng không thể giữ vai em trai của bố tôi được ; nên bà mẹ phải tụt xuống vai DÌ, chồng của DÌ là DƯỢNG.

2/- Cũng lý luận như vậy nên khi mẹ chết bố đi lấy VỢ KẾ thì người vợ sau phải ngang với em gái của mẹ nên các con gọi là DÌ là thế

v  


Phần IV : Lịch sử thăng trầm của dân VIỆT

ĐOẠN A : Nguồn Gốc Loài Người

ĐOẠN B : Lịch Sử Thăng Trầm của dân Việt ; hiện tại và tương lai đi về đâu ?

T77(b)- Chinh phục đia cầu

Livestream Facebook Văn Hóa Thuần Việt (05 mai 2022)

soạn giả Hoàng Đức Phương

 

THAM LUẬN

Nguồn : http://Journey of mankind / setephen oppenheimer 2003

EDEN IN THE EAST = ĐỊA ĐÀNG PHƯƠNG ĐÔNG (miền đất Đông Á Châu)

 

Chủ đề:

NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI

TƯƠNG LAI CON CHÁU ĐI VỀ ĐÂU? 

Chúng ta phải làm gì để tránh thảm họa cho con cháu như thế hệ 1945 đã xa lánh chánh trị để chúng ta gánh chịu thảm hoạ ngày hôm nay.

Ø  Đó là mục đích của buổi hội thảo ngày hôm nay.

BÀI  THAM  LUẬN

NGUỒN GỐC THẢM TRẠNG NGHỊCH LÝ:

NHẬN XÉT:

Dưới thời nô lệ người Pháp, họ bắt chúng ta phải xóa bỏ chữ Tàu và chữ Nôm để thay thế bằng chữ Quốc-ngữ được ca tụng là tân tiến đã làm con cháu đoạn tuyệt với tiền nhân; vì chỉ đọc được tư tưởng người dịch chứ không đọc được tư tưởng của tác giả.

Vì thế nên: Thế hệ 1945 đã lạc hồn dân tộc nên xa lánh chánh trị; do đó Việt Cộng mới nhảy vô cướp linh hồn và tài sản của chúng ta.

Điều này cụ Phan Bội Châu đã có bài "Đề Tỉnh Quốc Dân Hồn", trường Đông Kinh Nghĩa Thục (Hà Nội) đã có nhiều bài "Chiêu Hồn Nước"…. Xin hồn hãy tỉnh đừng mê, tỉnh ra rồi mới liệu bề khuyên nhau…Sự học ta lấy làm đầu, công thương mọi việc liệu sao tính dần…(học làm người; tức môn Việt Giáo: Giáo lý học làm người Việt tốt đã bị Gia Long cấm vì "Nôm Na là Cha Mách Quẻ) 

Nay Việt Cộng lại cho phát súng ân huệ để con cháu quên nguồn đặng còn biết ơn Cộng Đảng Quốc Tế : Thương biết mấy khi con học nói, tiếng đầu lòng con gọi STALINE (Tố Hữu)

Ø  Làm cha mẹ thì không ai muốn con cái trở thành kẻ mất gốc cả; vậy chúng ta phải làm gì để tránh cái nhầm của thế hệ 1945? Đó là mục đích của buổi hội luận ngày hôm nay.

BẰNG CHỨNG :

Một bằng chứng mà ai cũng biết, nhưng không ai để ý tới là: Cuốn Việt Nam Sử Lược của cụ Trần Trọng Kim đã góp phần không nhỏ trong việc đầu độc thế hệ 1945.

Cụ đã tự ý sửa câu văn của Quốc Sư Nguyễn Trãi để  hạ thấp dân mình xuống vì cụ nghĩ rằng người Việt ươn hèn chỉ thích nô lệ người Tàu mà thôi – sách giáo khoa Việt Cộng cũng cùng luận điệu như cụ, bóp méo sự thật.

Cụ là người nho học uyên thâm mà còn làm như thế; vậy thì người khác tránh sao được sai nhầm do ít kiến thức mà ra. Do đó đọc sách dưới thời nô lệ phải thận trọng lắm mới được.

Đó là lý do thúc đẩy chúng tôi đã mở lớp dạy Văn Hóa Thuần Việt để huấn luyện học viên :

1.      Cách thẩm định giá trị tài liệu (tỷ dụ: Giá trị cuốn sử Trần Trọng Kim tới đâu?)

2.      Cách tiếp cận trực tiếp tư tưởng người xưa mà không cần qua bất cứ tài liệu trung gian nào cả. Tỷ dụ: Người Văn Lang (2.879BC) dạy ta cách xây dựng xã hội bó đũa ra sao?

3.      Cách đọc thông điệp ký thác trong chuyện huyền thoại. Tỷ dụ : Cha Lạc Long dạy ta Học Thuyết cứu Nước ra sao?

4.      Cách làm đề án để giải quyết vấn nạn đương thời sao cho có sự hưởng ứng của toàn dân.

---------------------------------

Thật vậy; trong bài Bình Ngô Đại Cáo có 2 câu khai pháo đầy hùng khí như sau mà cụ dịch bậy (mặc dù đó là bản dịch của cụ Bùi Kỷ) nên thế hệ 1945 cho rằng Ta nô-lệ Tàu 1.000 năm, trong khi ông Nguyễn Trãi bảo không, và nay Bắc Kinh cũng nói như ông Nguyễn Trãi….

Nay không ít người trong chúng ta cứ đinh ninh là Ta Nô Lệ Tàu 1.000 năm; ai nói ngược thì cho là ái quốc cực đoan mà không thèm nghe họ giải thích. Nô lệ tư tưởng nguy hiểm như vậy đó! Không những mất nước và mất mạng như không, mà còn để di lụy cho hậu thế nữa!

Ông Nguyễn Trãi viết:

DUY NGÃ ĐẠI VIỆT CHI QUỐC,

THỰC VI VĂN HIẾN CHI BANG.

Dịch cho thoát ý thì phải như sau mới đúng:

Ø  Chỉ có nước Đại Việt của ta, thực sự đi vào từng tiểu bang một, tất cả đều có nền Văn Hiến (Hiến Pháp) NHÂN BẢN của loài người. …..

Còn nưóc mi là văn hiến của loài thú, ỷ mạnh hiếp yếu.

Cụ dịch là:

Như nước Việt Ta từ trước,

Vốn xưng Văn Hiến đã lâu

(Ơ hay, người ta xưng Đế, xưng Vương chứ có ai xưng Văn Hiến bao giờ đâu!

² 

Ông Nguyễn Trãi viết:

Tự TRIỆU ĐINH LÝ TRẦN chi triệu tạo ngã quốc,

Dữ HÁN ĐƯỜNG TỐNG NGUYÊN nhi các đế nhất phương.

Dịch cho thoát ý thì phải như sau mới đúng:

Ø  Từ nhà TRIỆU, nhà ĐINH, nhà LÝ, nhà TRẦN,

Ø  Cùng nhà HÁN , nhà ĐƯỜNG, nhà TỐNG, nhà NGUYÊN mỗi nhà hùng cứ một phương.

Ấy thế mà cụ tự ý bỏ phăng nhà TRIỆU đi và thay thế bằng nhà LÊ, do đó dân Việt cứ tin chắc là lịch sử Việt bắt đầu từ nhà ĐINH.

Vậy thì: Ta nô lệ Tàu 1.000 năm là đúng quá rồi; ta từ Tàu mà ra là vậy đó. Trong khi đó thì TÀU không có tên dân tộc nên ta gọi là TÀU Ô (ô hợp); văn hóa Tàu lại từ Việt mà ra

            Chỉ vì cụ cho Triệu Đà là Tàu nên dịch là:

Từ Đinh Lê Lý Trần gây nền độc lập,

Cùng Hán Đường Tống Nguyên hùng cứ một phương

²

NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI:

Theo tài liệu phổ biến vào năm 2003 của giáo sư Stephen OPPENHEIMER thì con người có mặt trên trái đất từ 4 triệu năm nay. Lấy năm Chúa sanh làm mốc thời gian thì người ta chia ra làm 5 giai đoạn như sau cho dễ nghiên cứu.

1.      NGƯỜI VIỄN CỔ:

Từ 4.000.000 năm tới 1.000.000 năm gọi là người VIỄN CỔ hay người VƯỢN, vì tay dài (từ 4 triệu đến 1 triệu).

2.      NGƯỜI THÁI CỔ :

Từ 1.000.000 năm đến 100.000 năm gọi là người THÁI CỔ (từ 1 triệu đến 100 ngàn)

3.      NGƯỜI THƯỢNG CỔ:

Từ 100.000 năm đến 40.000 năm là người THƯỢNG CỔ (từ 100 ngàn đến 40 ngàn)

4.      NGƯỜI HIỆN ĐẠI : Tức chúng ta đó.

Từ 40.000BC đến 2.000AD, còn gọi là người ĐỨNG THẲNG, tức người Homo Sapien Sapien.

5.      NGƯỜI TƯƠNG LAI tức con cháu chúng ta; tinh khôn và cao lớn hơn chúng ta:

 

·        Từ giai đoạn nọ bước sang giai đoạn kia theo tiến trình tiệm tiến chứ không phải đột biến như trong hình vẽ đơn sơ ở trên

²

SỰ  PHÁT  TRIỂN  CỦA    HỘI  LOÀI  NGƯỜI

 


Vì nhu cầu đi lang thang kiếm ăn nên con người di hành trên khắp mặt đất. Nhìn vào sự di hành theo thời gian thì người ta biết được là con người đã trở nên bất trị vào năm 65.000BC. Lúc đầu bị cầm tù ở vùng nhiệt đới vì da mỏng lại không có lông, nhưng khi biết dùng lửa để sưởi ấm nên sống được ở vùng ôn đới…. Mãi về sau biết cách tự túc mưu sinh nên mới sống được ở vùng Hàn đới.

Dựa vào những khám phá mới (2003AD) thì:

Từ ngày con người xuất hiện trên trái đất (4 triệu năm BC) cho đến lúc biết cách dùng lửa để có thể sống trong vùng ôn đới (75.000BC) thì đời sống rất là cơ cực hơn loài thú (hữu sinh vô dưỡng)

Phải đợi đến khoảng 23.000BC thì loài người mới biết làm đồ gốm để luộc tôm cá và ngũ cốc nên đời sống bắt đầu có tương lai. Đồ gốm là đồ làm bằng đất nung như bát đĩa, chum vại, gạch ngói ….

Ø  13.000BC là lúc con người biết cách trồng trọt, cầy cấy để tự túc mưu sinh thi đời sống bắt đầu được bảo đảm; nhưng chưa biết lý do thất thu vì chưa biết phải trồng theo thời tiết (mùa).

Ø  11.000BC là lúc biết tính lịch theo vị trí ngôi sao chuẩn vào giữa đêm thì mới biết định mùa để gieo mạ, đời sống sung túc nên tăng gia sinh sản; rồi đưa đến chiến tranh để tự hủy diệt cho tới ngày hôm nay. Con người có hạnh phúc mà không biết hưởng, chỉ vì lòng tham không đáy. Hưởng tới đâu cũng chưa đủ; mặc dù văn hóa có phát triển nhưng chưa đủ sức để kìm hãm lòng tham: THAM THÌ THÂM, BỤT ĐÃ BẢO THẦM RẰNG CHƠ CO THAM mà không nghe.

Đó chính là bài toán cần phải giải quyết rốt ráo để tránh nạn tận thế cận kề.

·        Người hiện đại là con người biết cách tự sáng tạo ra thực phẩm nên có nếp sống tập thể.  Nay chúng ta gọi là Văn Hóa và chia ra làm 9 thời đại văn minh như sa


















LỜI MỜI TIẾP TAY VIẾT SÁCH GIÁO KHOA

Trích biên bản ngày thành lập Ban Giảng Huấn Việt Tộc

Nơi họp: 3 place Charles Michels   75015 Paris ngày 23 Mai 1990

-------------

Đôi  lời  phi  lộ:

Xét rằng: Vấn-đề xây-dựng tư-tưởng các em Thiếu-Nhi và Thiếu-Niên là việc cần phải làm ngay. Tương lai dân tộc nằm trong tay các thế hệ này.

Chúng ta ai cũng biết: Ý chí phát sinh ra hành động, nhưng tư-tưởng lãnh đạo hành động. Tư-tưởng sai lệch thì nguy hại khôn lường.

NẾU:  Chúng ta không muốn dân Việt tiếp tục kéo lê kiếp sống lầm-than nô-lệ từ thế-hệ này qua thế-hệ khác,

THÌ :  Vấn đề khai trí cho dân phải đặt lên hàng đầu.

Bằng không thì vô tình chúng ta huấn luyện nhân-tài để Tàn-phá Quê-hương, Nhục-mạ Tổ-tông

·        Điều này, Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa miền Nam nước Việt đã làm

·        Nay con em chúng ta phải gánh chịu thảm trạng.

Bằng cớ điển hình là trong khi toàn dân miền Nam phải hy-sinh, ra sức ngăn chặn làn sóng đỏ Cộng Sản thì những thành phần ưu tú lúc đó, ở lứa tuổi 19 đôi mươi đã được ung-dung và thênh-thang du học nước người. Với hoài-bão hấp-thụ nền văn-minh Khoa-học và Kỹ-thuật của người để sau này kiến tạo đất nước.

Ngày nay, thành phần này đã thành đạt đúng như ý nguyện, và đang ở lứa tuổi lãnh-đạo Quốc-gia (trên dưới 40 tuổi). Trong số này đã có một phần ngang-nhiên quỵt nợ dân tộc, đi theo Cộng Sản để Tàn-phá Quê-hương mà cứ ngỡ là xây dựng.

Sở dĩ vậy là vì chúng chưa ý thức được: Nô-lệ Văn Hóa, nô-lệ Tư-tưởng là nô-lệ từ trong Tâm-tư nô-lệ ra. Bỏ ta theo Người là Mất gốc (vong-bản).          

Chúng chưa phân biệt được Vong-bản, Vong-thân với Thức-thời, Tân-tiến.

Sở dĩ có tình trạng oái-oăm này là vì chúng không được theo học khóa huấn luyện căn bản về Tâm Việt, Hồn Việt và học thuyết Việt Tộc trước khi lên đường theo đòi văn-minh vật-chất. Tức là chưa học đạo làm người Việt trước khi huấn-luyện chuyên môn nghề-nghiệp, nên nay trở thành hữu tài nhưng vô dụng.

Nhìn tấm gương này, chúng ta hãy cố gắng đừng để con em chúng ta rơi vào trạng thái dở khóc dở cười:

Ø  Ra sức tàn phá quê-hương mà cứ ngỡ là xây dựng.

Ø  Ra sức sát hại đồng-bào mà cứ ngỡ là giải phóng.

Vì những lý do này, nóm chúng tôi mới quyết định thnh lập Ban Giảng Huấn Việt Tộc với trách nhiệm soạn thảo bộ sách Giáo Khoa Văn Hóa Thuần Việt để cung ứng cho nhu cầu hiện tại.

 

§  Vạn sự khởi đầu nan, xin mọi người tiếp tay với chúng tôi để làm cho bộ sách này thêm phong phú.

                                                               Ban Giảng Huấn Việt Tộc kính mời

 

 

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil