dimanche 19 novembre 2023

T62 Ngũ Tử Tư tái thế (1802)

T62(a) Ngũ Tử Tư tái thế (1802)

Facebook Văn Hóa Thuần Việt (30.12.2021)

soạn giả : Hoàng Đức Phương

Giai đoạn 2 :

1802 : NGŨ TỬ TƯ TÁI THẾ

 

Nguyễn Ánh Cầu viện khắp nơi

-         Sau đó Nguyễn Ánh lại đi thuyết phục, nhưng Triều Đình Xiêm La khiếp sợ binh pháp Tây Sơn nên dự án này bị bỏ lửng.

Không nản chí, ông ta đi cầu cứu người Hoà Lan, người Anh, người Bồ Đào Nha và người Tây Ban Nha tại Phi-Luật-Tân , giống Ngũ Tử Tư vì thù nhà mà phá nước, hại dân mà chúng ta là nạn nhân nè, nhưng không ai dám nhào vô để phải bỏ mạng như quân Xiêm La, như quân nhà Thanh….

-         Cuối cùng ông bị một tên Cáo Già núp bóng thầy tu, và sẵn sàng tuốt gươm bảo vệ  quyền lợi của nước Pháp và nhà dòng, lân la dụ dỗ cầu viện người Pháp. Đó là ông Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) nhận làm sứ giải để nhờ Pháp diêt Tây Sơn, khôi phục lại ngôi báu.

 

Coi cuốn sử Nguyễn Xuân Thọ (sử gia làm trong bộ ngoại giao) - trang 3, đoạn cuối ; xuất bản năm 1999 , bởi nhà xuất bản MEKONG PRINTING ở Santa Anna 2421 W. Frist Street, tél (714) 558-9595.

- Nguồn tài liệu phong phú lấy từ Thư Khố của bộ Ngoại Giao Pháp (Paris), Tàu (Bắc Kinh) và Tây Ban Nha (Madrid) và bà Nữ Hoàng NHƯ MAI con gái đầu lòng của vua HÀM NGHI

*** Đây là nguồn tài liệu tối mật, chỉ công bố khi cần dùng như Công Hàm Bán Nước của Phạm Văn Đồng năm 1958 ã lén lút công nhận vùng lưỡi bò thuộc Trung Quốc nay con cháu cãi cùn để chạy tội và yên lòng dân.

 

Giai đoạn thứ 3 :

GIAN NHÂN PHÙ HỘ

 

Quý nhân phù hộ chạy đến hiến kế xúi trẻ ăn cứt gà

Ø Quý Nhân của Nguyễn Ánh, nhưng Gian Nhân của dân Việt

Mưu mô của tên Thực Dân muốn cướp nước người ta ;  Mặc dù tình hình nước Pháp lúc đó, dưới thời vua LOUIS XVI rất rối ren, nhà vua đang lo giữ ngai vàng và sinh mạng nên không dám mạo hiểm can thiệp vào nội tình một nước vừa chiến thắng quân nhà Thanh một cách ngoạn mục và nhà Thanh phải nhượng bộ, quân xâm lược Xiêm La bỏ dự án đục nước thả câu ; nhưng tên thày tu sẵn sàng vứt áo năm lấy thanh gươm vì quyền lợi nước Pháp và nhà dòng tin tưởng ở tài ngoại giao của mình nên sẵn sàng nhận lãnh sứ mệnh do chính mình vạch ra :

 

1/- Để chắc ăn ông ta đem theo một thằng bé 5 tuổi, con Nguyễn Ánh để làm con tin buộc Ánh phải từ bỏ ý định nhờ vả nước khác.

2/- Ký giấy ủy quyền cho ông ta toàn quyền quyết định sinh mạng của miễn để đổi lấy sự can thiệp bằng võ lực đế đánh tan nhà Tây Sơn bằng mọi giá (§Sử Nguyễn Hữu Thọ đã nói ở trên)

TỘI TRẠNG TRƯỚC MẮT :

Nội 2 hành động này cũng đã đủ để kết tội Nguyễn Ánh là : Rước voi về dày mả tổ rồi.

RẰNG : Đất nước ta sau gần 200 binh biến cho quyền lợi của 2 dòng họ, lòng người ly tán kẻ đàng trong, người đàng ngoài, hận thù ngút trời.

Vừa mới chiến thắng oai hùng, vừa mới lấy lại Hùng Khí và lòng Tự Hào dân tộc. Vừa mới xây dựng hoài bão tái chiếm mảnh đất Nam Việt của Triệu Đà (tức vùng đất Bách Việt của Việt Vương Câu Tiễn) - luyện binh đánh Tàu ;  thì đột nhiên bị khựng lại để chống giặc Tây Dương với vũ khí tối tân , vượt trội hơn mình.

 

Dân tộc vừa bị tàn lụi bởi cuộc nội chiến Trịnh Nguyễn Phân Tranh trong gần 200 năm, nay lại tiếp nối cuộc chiến chống lại sức mạnh cơ khí của Tây Phương do Gia Long đem tới, không chết thì cũng ngắc ngoải.

Vì dù thắng hay thua, dù ai lãnh đạo thì nước ta cũng không thể nào chống nổi sự nhòm ngó của Tây Phương, chẳng Pháp thì cũng Anh, chẳng Anh thì Tàu vi lý do là dân ta đã sức cùng lực kiệt.

 

Một ngưới yêu nước thương dân thì nên xa lánh chiến tranh nồi da xáo thịt như Thủy Sư Đô Đốc Lý Long Tường bỏ nước sang Cao Ly (Nam Hàn) tỵ nạn, hay Vua Trần Phế Đế chấp nhận cái chết chứ cấm quân cận vệ nổi lên chống Hồ Quý Ly.

Ø  Do đó Nguyễn Ánh không thể gọi là người yêu nước được. Hãy coi hậu quả của việc ông ta làm rồi hãy chạy tội cho ông ta

 

Thảm trạng ngày hôm nay mà chúng ta lãnh đủ là do gần 200 năm Trịnh Nguyễn phân tranh, bồi thêm Gia Long rước voi về dày mồ.

Tiếp đến là thực Dân Pháp lợi dụng sức tàn lực kiệt của dân ta để thống trị với chánh sách giáo dụ NGU DÂN , VỌNG NGOẠI VONG NÔ.

Vì thế nên Cộng Đảng Quốc Tế mới cướp quyền, qua tay sai Hồ Chí Minh để che dấu bàn tay lông lá của hắn.

 

Chính Hồ Chí Minh đã biến nước ta thành nơi thử vũ khí cho 2 siêu cường NGA MỸ  bằng 6 văn kiện bán nước, và không ai có thể chối cãi được.

 

Đó là các văn kiện sau đây :

1)     06/03/1946 mời Pháp đem quân vô Việt Nam (để cứu đảng Việt Cộng)

2)     14/09/1946 công nhận chủ quyền của Pháp ở Việt Nam (để cứu đảng Việt Cộng)

3)     19/12/1946 khai chiến đánh Pháp (để chạy làng vụ bán nước cho Pháp)

4)     20/07/1954 ký hiệp định Genève bán cho Pháp miền Nam (để phát huy sức mạnh của đảng).

5)     20/12/1960 ký sắc lệnh thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam bằng vũ khí mới sáng tạo của Nga để buộc Tổng Thống Ngô Đình Diệm phải mời Mỹ vô rối vụ vạ là Diệm bán nước, giết hại dân lành để có cớ leo thanh chiến tranh.Không ngờ Tổng Thống Diệm cương quyết không cho Mỹ vô. Kế hoạch bất thành.

6)     11.06.1963 Hồ Chí Minh tổ chức ĐỐT SƯ ở Saigon, rồi la làng là Diệm khát máu thày chùa để KENNEDY và báo chí Mỹ dựa vào đó giết Diệm để Nga Mỹ tha hồ thử vũ khí đến chán thì thôi. Dân Việt lãnh đủ hậu quả.

7)     Thích Trí Quang là cán bộ Việt Cộng nằm vùng lãnh đạo vụ đốt sư, bị truy lùng thì được Kennedy hạ lệnh cho toà đại sữ Mỹ ở Saigon phải che chở cho hắn.

8)     Về vụ đốt sư thì quý vị chỉ cần vào GOOGLE gõ chữ Thích Quang Đức tự thiêu là có cả hàng chục tấm hình chứng tỏ ông Thích Quảng Đức bị dốt

------------------------------

Xin giới thiệu với quý vị 3 đường dẫn sau đây, và kính mời các vị hiền tài tiếp tay cho chương trình này được phong phú.

http://nhanvanviettoc.blogspot.com 

là nơi lưu trữ tài liệu để soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com 

là nơi lưu trữ các bài đã soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm) từ Tiểu Học đến Trung Học.
Nơi lưu trữ 3 kinh nhật tụng
1. Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18 tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)

SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ (Đủ Bộ)
https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ (Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k
SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph


ØKênh  Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ là nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu trữ vô máy.

                                                                    Nhóm Nhân Văn Việt Tộc kính báo.

 

Đọc thêm:  Link Can Lao Nhan Vi / Ngo Dinh Diem/Chủ Nghiã Nhân Vị (TS Nguyễn Ngọc Tấn) Vinh Danh posted on  by Lê Thy

 

Chủ-Nghĩa NHÂN-VỊ:
Con Đường Mới, Con Đường của Tiến Bộ?

Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Tấn.Viết cho ngày giỗ 2007 
(nguồn: http://ngodinhdiem.net)

-----------------------------

T62(b) – tiếp theo kỳ trước

Xã Hội VN ta n rã livestream 30/12/21

Thảo Luận Học Thuyết Nhân Vị (Ngô Đình Nhu)

 

Giá trị tiêu chuẩn? (YẾU TỐ KẾT HỢP)

 

Canh tân tư tưởng nửa vời !!

Các giá trị tiêu chuẩn cũ đã mất hết uy tín vì bị đả kích là lạc hậu của các vị Tây học, nhưng những nguời tự xem mình là theo mới (tân thời) lại không biết phải hướng về những giá trị tiêu chuẩn nào nên chỉ bắt chước bề ngoài, còn bên trong thì rỗng tuyếch vì chưa đủ khả năng để biết rõ bề sâu của xã hội Tây Phương nên nhà ngói thì phá đi ra ngu đường đội xây nhà cao từng…. và đợi hoài không thấy. Chỉ thấy lời hứa xuông như cán bộ VẸM vậy 

 

Thật ra, công cuộc theo mới duới thời Pháp thuộc không được hướng dẫn, nên rất là hỗn độn và không có mục đích.

Vì thế những người theo mới không hề lên được đến trình độ tìm ra những giá trị tiêu chuẩn mới để theo. Họ chỉ bắt chước hình thức như lối ăn mặc và lối sống Tây phương.

Và chưa bao giờ có ai nghĩ đến việc cần thay thế những giá trị tiêu chuẩn đã chết bằng những giá trị tiêu chuẩn mới cần ch nhu cầu phát triển bền vững.

 

Tỷ dụ:

Quan niệm về chữ HIẾU dưới thời làm ăn cá thể (nông nghiệp) phải thay đổi theo nếp sống làm ăn tập thể (phân công).

Theo quan niệm cũ thì bố mẹ già ở cạnh con cái thì nó chỉ hợp với thời kỳ nông nghiệp. Nếu đem áp dụng vào thời kỳ kỹ nghệ thì thất nghiệp, ôm nhau để chết đói.

Vì làm việc theo tập thể nên phải đúng giờ như nhóm phi hành đoàn thiếu 1 người thì chuyến bay phải ngưng, và hang sập tiệm vì phải bồi thường thiệt hại cho khách hang vì sự chậm trễ làm xáo trộn công việc của họ. Do đó bị sa thải vì thiếu khả năng nghề nghiệp chẳng hạn

 

Ø  Đó là vấn đề mà chúng ta cần phải xét tỉ-mỉ sau này khi đặt đường lối cho chúng ta. 

 

XÃ HỘI VIỆT TAN RÃ ?

Giờ đây chúng ta thấy rằng xã hội chúng ta đã tan rã vì không còn tiêu chuẩn giá trị để kết hợp các phần tử lại với nhau (thiếu đoàn kết).

Ø  Đó là hoàn cảnh khắc nghiệt cần phải vượt qua.

 

Vì sao một tình trạng như vậy lại là một hoàn cảnh khắc nghiệt cho chúng ta khi chúng ta bắt tay vào công cuộc phát triển dân tộc?

 

Vì lý do sau đây: 

Trước hết, chúng ta sẽ thấy sau này, công cuộc phát triển dân tộc là một công cuộc to tát mặc dầu đầy kích thích, nhưng đòi hỏi ở toàn dân nhiều nỗ lực liên tục chóng làm mệt mỏi mọi người và nhiều hy sinh nặng nề chóng làm cho mọi người chán nản và sau đó phẫn nộ, và oán ghét.

Nếu chúng ta không có một mãnh lực gì để thuyết phục toàn dân và huy động họ để cùng nhau mạnh bước trên đường tiến bộ, thì hy vọng thành công của chúng ta rất mong manh.

 

Nay xã hội chúng ta đã tan rã vì gần một thế kỷ mang ách nô lệ, tiếp theo là 25 năm băng hoại bởi tư tưởng Cộng Sản; thì chúng ta còn trong tay giá trị tiêu chuẩn nào để giúp cho chúng ta thâu phục được sự hưởng ứng của mọi người hầu thực hiện cuộc huy động thiết yếu cho công cuộc phát triển?

 

Lời soạn giả:

Phải chăng chỉ còn cái phao là: TÂM VIỆT, HỒN VIỆT và Nền Văn Hóa Thuần Việt cùng tình nghĩa Đồng Bào hợp thời để vươn lên?

 

Khi nước Nhật nắm cơ hội duy tân, xã hội Nhật còn nguyên vẹn, và các lãnh đạo Nhật đã dùng những giá trị tiêu chuẩn của nền văn minh xưa để huy động dân tộc họ thực hiện công cuộc phát triển. Các nhà lãnh đạo đã kêu gọi lòng ái quốc sâu xasự tôn thờ Thiên Hoàng của dân tộc Nhật.

Đó là hai giá trị tiêu chuẩn căn bản của xã hội Nhật có mãnh lực thúc đẩy mọi người đến sự hy sinh cuối cùng cho tập thể. Những khí giới sắc bén vô song đó đã được các nhà lãnh đạo Nhật sử dụng đúng mức để thực hiện công cuộc Tây phương hóa với kết quả mà chúng ta thấy ngày nay. 

 

Tiêu diệt Văn Hóa của kẻ chiến bại:

Người Mỹ sau khi chiến thắng và chiếm đóng nước Nhật đã áp dụng một chính sách vô cùng cứng rắn để làm suy giảm uy tín của Thiên Hoàng bằng mọi cách.

Lý do chính là vì họ tin rằng quân phiệt chủ nghĩa Nhật Bản đã khai thác giá trị tiêu chuẩn tôn sùng Thiên Hoàng của xã hội Nhật để làm sức mạnh cho họ. Như thế thì, đả phá giá trị tiêu chuẩn đó là đả phá quân phiệt chủ nghĩa đến tận gốc rễ.

Nhưng các nhà lãnh đạo Nhật sở dĩ vận dụng hết cái nỗ lực để cứu vãn uy tín của Thiên Hoàng cũng vì họ ý thức được rằng giá trị tiêu chuẩn căn bản của xã hội Nhật là sự tôn sùng Thiên Hoàng. 

 

Trường hợp của người Nhật lại giúp cho chúng ta nhận định được thêm rằng: 

1.- Sự lỡ cơ hội phát triển lần thứ nhất cho dân tộc Việt Nam của triều đình nhà Nguyễn chẳng những đưa dân tộc chúng ta vào vòng nô lệ với tất cả các sự thảm hại tàn khốc, lại còn làm cho chúng ta mất nhiều khí giời vô song để chúng ta có thể thực hiện được công cuộc phát triển dân tộc, khi đã dành lại được độc lập vì phong trào: Nôm Na là Cha Mách Qué của Gia Long, để hướng tới thinh thần Vọng Ngoại Vong Nô.

2.- Ngoài các lý do chính trị ngắn hạn và dài hạn, sở dĩ Trung Cộng, sau khi dành lại được toàn vẹn chủ quyền đã chọn chủ trương huy động quần chúng bằng chính sách độc tài, theo lối Cộng Sản để phát triển, cũng vì các nhà lãnh đạo Trung Cộng đã nhận thấy, mặc dầu xã hội của họ chưa đến giai đoạn tan rã như xã hội của chúng ta, nhưng sự phá sản của các giá trị tiêu chuẩn cũ của Trung Hoa đã làm mất những tín hiệu tập hợp của văn minh cũ còn có thể sử dụng được.

Sau này chúng ta sẽ phân tích tỉ-mỉ xem hoàn cảnh có nhiều yếu tố giống hoàn cảnh của chúng ta, có thể áp dụng cho chúng ta không? 

 

XÃ HỘI VIỆT NAM?

Trở lại vấn đề sự tan rã của xã hội Việt Nam, sự trình bày trên đây đã cho chúng ta thấy rõ như thế nào là một xã hội tan rã, và vì sao mà tình trạng đó lại là một hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt cho công cuộc phát triển dân tộc của chúng ta. 

 

Một hình ảnh: Nói một cách khác, trước khi người Pháp đến chinh phục chúng ta, và đưa văn minh của họ vào đàn áp văn minh của chúng ta, trên sân khấu Việt Nam, dân tộc chúng ta đã diễn một vở tuồng, tuy có nhiều lớp hay, dở không đều nhau, nhưng trong toàn bộ, toàn thể dân tộc đều ưa thích.

 

Người Pháp đến đây chiếm sân khấu mang một vở tuồng hoàn toàn mới lạ có nhiều đặc tính đầy hấp dẫn nên mặc dầu trong thâm ý đã sẵn thành kiến bài ngoại, nhưng lần lần một số dân chúng đã bị lôi cuốn. Tuy nhiên, sự ưa thích chỉ đối với các chi tiết sắc phục và dàn cảnh bên ngoài, chớ cái thâm thúy của cốt truyện bên trong vẫn chưa được thâu hiểu và thưởng thức.

 

Sự kiện lịch sử xoay dần, người Pháp dọn gánh ra đi trả sân khấu lại cho chúng ta (1955). Và một số người đinh ninh rằng lớp tuồng cũ của chúng ta sau thời gian gián đoạn sẽ được đem ra tiếp tục diễn lại, trong sự tiếp đón nồng nhiệt của khán giả.

Nhưng họ kinh ngạc thấy rằng dân chúng không còn hoan nghinh nữa. Bởi vì lớp tuồng của người Pháp đưa đến, chẳng những đã chiếm sân khấu và lôi cuốn một số đông dân chúng, nhưng lại còn đả phá ngấm ngầm những giá trị căn bản của lớp tuồng cũ, cho nên ngày nay dân chúng không còn thấy sự thích hợp của những giá trị căn bản đó nữa.

Nhưng vở tuồng của người Pháp lẫn cả đào kép của họ dân chúng càng không ưa. Tuồng Pháp nhất định phải bỏ đi, tuồng cũ không tái diễn được, cố nhiên là chỉ còn có một cách là sắp đặt một vở tuồng mới. 

Ví dụ trên đây, cốt mượn một hình ảnh ở một phạm vi nhỏ hẹp, đế làm cho vấn đề dễ nhận xét. Trong thực tế vấn đề phức tạp hơn nhiều bởi vì, phạm vi chính trị, nghĩa là phạm vi quốc sự là nơi hoạt động của nhiều người (toàn dân), trong khi đó công việc sắp đặt trong một gánh hát, là công việc của một người (lãnh đạo). 

 

Ví dụ trên lại giúp cho chúng ta nhận thấy thêm rằng, lịch sử không bao giờ là một sự tái diễn không ngừng. Vậy thì quan điểm lịch sử là một sự tái diễn không ngừng, là quan điểm không thiết thực của những lối suy nghĩ lười biếng và nhát sợ.

 

Lười biếng bởi vì: Thay vì phải nát óc tìm hiểu các sự kiện phức tạp của đời sống, sự chấp nhận rằng trong hoàn cảnh nào đó và khi những điều kiện nào đó đã được thỏa mãn thì tự nhiên các sự kiện lịch sử tương tự sẽ xảy ra, có vẻ giải quyết một lần một và bằng một cách dễ dàng các sự phức tạp của lịch sử.

Nhát sợ vì nếu được soi xét tường tận và phân tích tỉ-mỉ các sự kiện lịch sử sẽ lọc ra hết tính cách phức tạp kinh khủng để làm cho nhiều trí óc phải khiếp sợ, vì không thể bao quát nổi.

 

Cho nên thái độ lo rằng lịch sử là một sự tái diễn không ngừng là một lối trốn tránh không dám nhìn sự thật.

Sự thật là, nếu có nhiều sự kiện lịch sử giống nhau xảy ra trong những thời gian khác nhau, nhưng không bao giờ hoàn cảnh chung quanh và các yếu tố đều giống nhau cả.

 

Lời bàn của soạn giả:

Chúng ta gặp một trở ngại phải giải quyết là: Tinh thần Tự Kiêu Tự Mãn nửa vời do nền giáo dục thọt của Tây Phương và của Cộng Sản tạo ra để phỉ bang nền Văn Hóa Thuần Việt.

Chỉ vì không hiểu giá trị kết hợp của Truyền Thông cũ được canh tân, nên lớp người này cho là LẠC HẬU nên quay ra Vọng Ngoại và ca tụng nền Văn Hóa Việt Lai và Đa Văn Hóa.

Tỳ dụ cách xưng hô độc đáo của dân Việt có quy luật và nguồn gốc đ‹ xây dựng tình Đồng Bào, chỉ vì tinh thần vọng ngoại nên họ đả kích để áp dụng cách xưng hô nham nhở như Đồng Chí Đồng Chuột với nhau hay you/me – Toi/moi tức Mày Tao chí Tớ….. là một cách xưng hô của những liên hệ than thiêt trong một chừng mực nào đó thôi. Con không thể gọi Bố Mẹ bằng Mày hay Đồng Chí Bố, Đồng Chí Con được. Đây là hành động phá hủy giá trị tiêu chuẩn

Chúng ta có giải thích về chất liệu kết hợp dân tộc là Nền Văn Hóa Thuần Việt Cập Nhập nền Văn Minh Hiện Đại thì cũng khó làm thay đổi não trạng của họ vì tinh thầnTự Kiêu Tự Mãn và thiếu tinh thần Phục Thiện nên họ bỏ ngoài tai và theo định kiến đã in sâu trong đầu rồi.

Văn minh vật chất thay đổi thì môi trường sinh sống thay đổi do đó dù sự kiện cũ có xảy ra thì cách phản ứng cũng khác nhau. Nay chúng ta sống trong kỷ nguyên

Điện Toán nên cách suy nghĩ ở thời đại kỹ nghệ vừa qua trở nên lỗi thời. Do đó cùng một sự kiện cách phản ứng phải khác nhau.

Vì thế nên Học Thuyết Rồng Tiên (600BC) mới nói đến tinh thần CẦU TIẾN, đó là ý nghĩa của chữ Việt tên chủng tộc. Việt có nghĩa là phải VƯỢT qua mọi trở ngại để thăng tiến cùng người. Đứng là lùi, mà lùi (tụt hậu) là tiêu đời.

 F   Tổ tiên chúng ta quả có cái nhìn rất xa mà chúng ta không hiểu!

²

Đã như thế chắc chắn rằng không bao giờ một sự kiện lịch sử lại xảy ra hai lần. Sự thật là không bao giờ chúng ta có thể tắm hai lần trong một giòng sông, và lịch sử là một giòng sông.  Để chứng minh cho quan điểm trên đây chúng ta đã thấy rằng cơ hội phát triển dân tộc đến với chúng ta đã hai lần, nhưng lần sau hoàn toàn khác lần trước, khác vì hoàn cảnh bên ngoài khác và khác như chúng ta đã phân tích trên đây, vì hoàn cảnh nội bộ đã khác. Dưới đây chúng ta lại có dịp phân tích tỉ-mỉ hơn nữa về hai cơ hội phát triển dân tộc đó. 

 

Ngoài ba hậu quả tai hại nhất mà chúng ta đã kể ra trên đây và đã thử phân tích và tìm hiểu nguyên nhân: Không có người lãnh đạo, có sự gián đoạn trầm trọng trong việc lãnh đạo quốc gia, và xã hội chúng ta tan rã, thời kỳ thống trị của đế quốc còn để lại cho chúng ta nhiều hậu quả khác, tuy cũng ảnh hưởng trên đời sống của dân tộc nhưng, so sánh với ba loại mà chúng ta đã xem xét trên đây với nhiều chi tiết, có thể vào hàng thứ yếu. 

 

Sự bang giao và ranh giới giữa chúng ta và các nước láng giềng, trong đó, có cả các nước đã hay không cùng với chúng ta cùng chung lệ thuộc một đế quốc, là những hậu quả của thời kỳ thực dân có thể liệt vào loại này. Vấn đề chuyển ngữ trong đời sống của quốc gia là một hậu khác cũng nằm trong loại này.

 

Việt Nam đang cần phải Tây phương hóa để phát triển dân tộc. Vì sao Tây phương hóa? 

Kể từ thế kỷ thứ 15 (1401-1500), khi các nước Âu Châu chế ngự được kỹ thuật vượt biển, và bắt đầu cuộc xâm chiếm thế giới, tất cả các quốc gia không thuộc vào xã hội Tây phương, không trừ một nước nào, đều bị sự tấn công mãnh liệt của họ.

Hoàn cảnh mỗi quốc gia bị tấn công đều khác, nhưng chung quy tất cả các phản ứng đều có thể liệt vào hai loại.

 

Các cuộc chinh phục thường thường tuần tự diễn ra theo một bối cảnh không thay đổi. Trước hết, các chiến thuyền ngoại quốc đến yêu cầu được trao đổi thương mãi với người bản xứ. Một thời gian sau họ thương thuyết được đặt những thương quán thường trực tại các hải cảng họ thường lui tới và theo liền với các thương quán, những phong tục mới được đưa vào cùng với những người có nhiệm vụ thương mãi.  Nếu số người càng ngày càng đông thì chẳng bao lâu nhu cầu về tinh thần lại đòi hỏi sự có mặt của những nhà tu sĩ. 

 

Cho tới giai đoạn này các nhà cầm quyền bản xứ, dầu có ngạc nhiên và ít nhiều báo động đối với các kỹ thuật tiến bộ của người ngoại quốc, cũng chưa thấy cần phải có một thái độ đối phó. Nhưng từ giai đoạn này, mãnh lực của tín ngưỡng mà giáo lý Gia-Tô đã hun đúc cho người Tây phương trong mấy thế kỷ, bắt đầu làm cho các nhà cầm quyền bản xứ lo ngại. Họ lo ngại trật tự cổ truyền của dân tộc sẽ bị sự xâm nhập của một vật ngoại lai, bởi vì các tu sĩ Gia-Tô, tin tưởng nơi sứ mạng thiêng liêng của mình đối với nhân loại, nên lúc nào cũng tìm cách thi hành phận sự truyền giáo.

 

Ø  Hãy coi cách chống đõ của nhà Tây Sơn về việc chỉnh trang lại hàng ngũ Phật Giáo

 

Bản năng tự vệ:

Phản ứng tự nhiên của các nhà cầm quyền bản xứ, là bản năng tự vệ của một sinh vật đối với sự xâm nhập của một vật ngoại lai vào trong nội bộ cơ thể của mình.

Mà một tôn giáo mới là một vật ngoại lai vô cùng nguy hiểm cho trạng thái điều hòa của một xã hội. Bởi vậy cho nên, phản ứng của các nhà cầm quyền là bảo vệ trạng thái điều hòa của xã hội bằng cách đóng cửa không để cho vật ngoại lai xâm nhập.

Trong thực tế và trong lĩnh vực chính trị một thái độ như vậy có nghĩa là bài ngoại, và bế quan tỏa cảng không tiếp nhận những luồng gió ở ngoài đưa vào. Đó là thái độ tự nhiên và hợp với bản năng tự vệ của mọi sinh vật, và cũng là thái độ của hầu hết các dân tộc bị Tây phương tấn công khi nhận thức nguy cơ đe dọa xã hội mình.

 

Lịch sử đã chứng minh rằng: Một thái độ như vậy sẽ đắc thắng nếu đồng thời, kỹ thuật vật chất có đủ tiến bộ và lực lượng võ trang có đủ hùng hậu để làm hậu thuẫn.Bằng không, thái độ đó sẽ là một tử lộ. 

 

Lời soạn giả:

NGOẠI TRỪ NHÀ TÂY SƠN mở cửa tự do cho Giáo Sỹ Tây Phương để tìm hiểu xã hội Tây phương mà biết đường Tây phương hóa. Đồng thời chỉng tranh lại cách tổ chức của Phật Giáo để đi kháng với Ki Tô giáo

----------------------------

Lý trí phản công:

Thái độ thứ hai là thái độ của một vài nước như Nga, Nhật và sau này là Thổ-Nhĩ-Kỳ. Thay vì đóng cửa lại để sống trong nhà và phủ nhận thực tế đang xảy ra ngoài ngõ mình, vì sợ vật ngoại lai xâm nhập vào và gây xáo trộn trong nội bộ, các nước trên đây đã có can đảm để nhìn nhận sự thật và đủ lý trí để trấn áp bản năng, phân tích thực tế và tìm được đường sống.

Một sự tình cờ lịch sử đã đặt vào nhiệm vụ lãnh đạo các quốc gia đó, những người sáng suốt khác thường khả dĩ dẫn dắt dân tộc họ lựa chọn tìm được sanh lộ trong một giai đoạn quyết định cực kỳ nguy hiểm.

-         Thái độ thứ nhất có tính cách phòng thủ và bản năng.

-         Thái độ thứ hai có tính cách lý trí và phản công.

 

Đứng trước nguy cơ, thái độ thứ nhất có nghĩa là thi hành một biện pháp dễ nhưng đưa đến thất bại, thái độ thứ hai là thi hành một biện pháp khó nhưng đưa đến sự thành công.

Trong thực tế, trong các quốc gia đã lựa chọn thái độ thứ nhất, các nhà lãnh đạo đã đóng cửa các hải cảng, đánh đuổi người ngoại quốc ra khỏi lãnh thổ, bài trừ tất cả các di tích của họ để lại. Nhưng những người này, chẳng bao lâu sẽ trở lại với những khí giới tân tiến hơn, và những lực lượng võ trang tổ chức hoàn bị hơn và sẽ chiến thắng dễ dàng những khí giới lạc hậu và những lực lượng vô tổ chức của người bản xứ. Và sau đó, tất cả những điều gì mà họ không chiếm được bằng lối thương thuyết thì họ lại chiếm được bằng võ lực.

Hơn nữa, sự giao hảo giữa hai quốc gia sẽ không còn và nhường chỗ lại cho sự kiện người chiến thắng thống trị kẻ chiến bại. Hậu quả dành cho các dân tộc lâm vào hoàn cảnh ấy như thế nào thì chúng ta đã rõ.

 

Nguyên nhân của sự thảm bại cho nhiều dân tộc chỉ ở chỗ bản năng tự vệ của họ quá mạnh lấn áp cả trí sáng suốt, nên các nhà lãnh đạo không nhận thức rằng kỹ thuật lạc hậu của mình kém xa kỹ thuật của địch, và kỹ thuật đã kém thế thì không làm thế nào hậu thuẫn cho bất cứ chủ trương chính trị nào được.

 

Trái lại, trong các quốc gia đã lựa chọn thái độ thứ hai, thì các nhà lãnh đạo đã nhận thấy nguy cơ do vật ngoại lai mang đến cho trạng thái điều hòa của xã hội mình. Tuy nhiên, đồng thời họ cũng đủ sáng suốt và óc thiết thực để nhận xét rằng kỹ thuật lạc hậu của nước mình không làm sao bảo đảm thắng lợi trong một cuộc chiến tranh. Và vì vậy mà phương pháp hay nhất để bảo vệ xã hội bị đe dọa bởi các sự vật ngoại lai lại chính là việc mở cửa để đón các luồng gió ngoại lai vào. Bởi vì chỉ có cách đó mới giúp cho họ chế ngự được những kỹ thuật của địch thủ, để chống lại địch thủ. 

 

Như chúng ta đã thấy, đằng nào chúng ta cũng không tránh được sự xâm nhập vào nội bộ xã hội chúng ta của các vật ngoại lai. Nhưng trong thái độ thứ nhất sự xâm nhập sẽ xảy ra bằng võ lực, ngoài ý muốn của chúng ta và chúng ta sẽ không chủ động được.

 

Trong thái độ thứ nhì, chúng ta tự ý để cho sự xâm nhập thực hiện và vì vậy nên chúng ta chủ động được sự xâm nhập đó. Và chính vì chúng ta chủ động được sự xâm nhập đó mà các giá trị ngoại lai thay vì phá vỡ được trạng thái điều hòa của xã hội chúng ta, chỉ có thể thay đổi được trạng thái đó mà thôi.

 

Trong khi đó một sự xâm nhập không thể kiểm soát được sẽ làm sụp đổ trạng thái điều hòa của xã hội. Và, trong một xã hội bình thường, việc thay đổi trạng thái điều hòa là một sự kiện thông thường, trái lại sự sụp đổ là một tai biến. 

Tóm lại: Đứng trước sự tấn công của Tây phương, con đường chết là con đường bế quan tỏa cảng ngăn cấm không cho văn minh Tây phương xâm nhập vào xã hội của nước bị tấn công; con đường sống lại là con đường mở cửa đón rước văn minh Tây phương để học chế ngự kỹ thuật của Tây phương mà chống lại Tây phương.

 

Nước Nga, sau nhiều thế kỷ chống lại sự tấn công của Tây phương, đã tìm thấy sự thật như trên, và nhiều lấn trong lịch sử nước Nga đã chiến thắng các cường quốc Tây phương sau khi đã Tây phương hóa kỹ thuật của mình.

Nhưng cũng nhiều lần bị Tây phương chiến thắng vì kỹ thuật của Tây phương tiến triển không ngừng trong khi người Nga không làm cho kỹ thuật đã lấy của Tây phương phát triển. Đây cũng là một điều vô cùng quan trọng trong việc Tây phương hóa mà chúng ta sẽ phân tích tỉ-mỉ sau này. 

Lời soạn giả: Có lẽ lý do là môi trường chánh trị kìm hãm phát triển nhân tài nên không thể thi đua văn minh với Tây Phương được. Coi đường lối chánh trị quân phiệt của Bắc Kinh và Hà Nội là một bằng chứng cụ thể của sự tụt hậu.

Những nhà lãnh đạo Nhật, trong giai đoạn nước Nhật bị Tây phương tấn công, đã nhận thấy được ngay những biện pháp cần thiết phải thi hành trong giờ phút quyết liệt cho dân tộc. Thành công của họ như chúng ta mục kích ngày nay là một xác nhận rõ rệt nhất về sự lựa chọn đúng hay không giữa hai thái độ.

 

Ngày nay, thái độ mà nước Nga và nước Nhật đã lựa chọn trước một sự tấn công của một nước tiến bộ hơn về kỹ thuật, đã được công nhận khắp nơi, và đã được nghiên cứu và đúc thành một giải pháp khoa học, khả dĩ áp dụng cho các nước khác trong hoàn cảnh đó. Công cuộc mà ngày nay Trung Hoa đang dốc hết cố gắng của toàn dân để thực hiện chỉ là một sự chấp nhận thái độ của Nga và Nhật đã chọn. Và các nước chậm tiến khác hiện nay cũng đang cố gắng đi vào con đường đó. 

 

Tuy nhiên, trước đây có nhiều người lãnh đạo chủ trương một thái độ vô cùng cực đoan. Sau khi chiến bại rồi, và nước nhà đã bị ngoại quốc thống trị, hay chủ quyền đã sứt mẻ, và vận mạng quốc gia không còn do mình chủ động được nữa, nhiều nhà lãnh đạo vẫn chủ trương bảo vệ cho đến kỳ cùng trạng thái điều hòa của xã hội cũ.

Đó là một công cuộc nhất định phải thất bại. Bởi vì các giá trị tiêu chuẩn của xã hội kết hợp thành một trạng thái điều hòa, cũng có một đời sống như sinh vật. Nghĩa là giá trị tiêu chuẩn cũng sinh nở, phát triển, trưởng thành, suy đồi và chết. Như vậy trong trường hợp chiến bại, các giá trị tiêu chuẩn cổ truyền sẽ chết lần, vì chủ quyền không phải người bản xứ trọn nắm, vận mạng quốc gia không phải họ chủ động, thì các giá trị tiêu chuẩn cổ truyền một mặt không ai vun tưới, một mặt bị các giá trị ngoại lai, đang chiến thắng, tấn công ồ ạt và đả phá uy tín. 

Như vậy, các sự kiện lịch sử, trong vòng năm thế kỷ sau này, đã chứng minh rằng khi một nền văn minh bị một nền văn minh khác khống chế bng những kỹ thuật tinh xảo hơn, tấn công, thì con đường sống của nền văn minh bị tấn công, là mở cửa đón lấy các kỹ thuật của địch thủ; học hỏi để thăng tiến bằng người. 

Đó là tinh thần TỰ TRỌNGCẦU TIẾN mà tổ tiên chúng ta đã nhìn thấy ngay từ ngày lập nước VĂN LANG.

Nước VĂN LANG được thành lập bởi 15 BỘ LẠC để thành Liên Bang VIỆT. Văn Lang là tên nước, Việt là tên Liên Bang, Bộ Lạc là tiếng Việt và Tiểu Bang là tiếng TÀU.

 

Ý nghĩa của ngôn từ Văn Lang là: Nước của những người có tinh thần Tự Trọng (Hào-hoa, Phong-nhã, Phóng-khoáng Hào-hiệp, Lịch-sự Bặt-thiệp.

Liên bang VIỆT là liên bang của những người có tinh thần CẦU TIẾN, vượt mọi khó khăn để tiến bằng người văn minh hiện đại

--------------------------------------------

KỸ THUẬT BẢO VỆ TỰ CHỦ

    Thiết kế: Nhân Văn Việt Tộc -            ngày 15/08/2015 - hiệu chính 17.3.21




·         Đây là lộ trình giáo dục phải theo thì toàn dân mới có đủ khả năng bảo vệ sự tự chủ của mình được.

·         Việt Lực được suy ra từ lời căn dặn của cha LẠC LONG.

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil