T105-Vị trí chiến lược - Vòng đai Ấn Độ
KHAI THÁC ĐỊA LÝ
CHIẾN LƯỢC
T105(a) : ngày
17.11.2022 Vị trí chiến lược
- Vòng đai Ấn Độ
DI CƯ VÀ
HỒI CƯ
Nông nghiệp
cần đất canh tác gần sông
Du Mục cần
vùng Thảo Nguyên (cánh đồng cỏ
Do
đó chúng ta định đuợc :
1) Nơi sinh sống của dân
nông nghiệp ở quanh đồng ruộng và ven sông.
2) Nơi sinh sống của dân Du
Mục phải di dời khi có nhu cầu nhân mãn
3) Hoa Lục là địa bàn của
dân nông nghiệp.có cuộc sống định cư
4) Trung Đông, khởi điểm là
IRAN và IRAQ di theo cách cánh đồng cỏ đi chinh phục khắp địa cầu (Cánh đồng cỏ,
tức vùng Thảo Nguyên, Steppes)
5) Ngày hôm nay khoa học cho
phép chúng ta biết được đời sống của loài người ở Hoa Lục từ 15.000BC bằng cách
suy ra từ đồ gốm làm bằng đất nung như nồi niêu, bát đĩa vỡ vụn nằm ởa bãi rác.
6) Người ta đo rêu thì biết
được niên đại, và người ta phân chất thì biếy được văn minh và tư tưởng của ngưới
tiêu thụ, vì nghệ nhân làm theo nhu cầu của người tiêu thụ.
7) Đồ gốm xuất hiện đầu tiên
vào khoảng 13.000BC dùng để luộc tôm, cá ăn cho khỏi tanh, Sau đó luộc Ngô
Khoai và Lúa để húp cháo, từ đây mới nảy sinh ra nghền nông. Khoai Sọ là loại
tr-éng đầu tiên, người ta thấy ở THANH HÓA (nước Việt Nam)
T105(b):
ngày 17.11.2022
BIỂU ĐỒ
ĐẠI HỒNG THỦY
T105(c) : ngày
17.11.2022
BẢN ĐỒ HỒI CƯ LẬP NGHIỆP
VÀO NĂM 3.400BC
T105(d) : QUY LUẬT TIẾN HÓA CỦA LOÀI NGƯỜI
Giảng ngày 17.11.2022
soạn giả: Hoàng Đức Phương
Phần 5 : LỊCH
SỬ VÙNG HOA LỤC
(ĐÔNG Á, VIỄN ĐÔNG hay ĐÔNG Á TẾ Á)
ÔN
CỐ để biết đường TRI TÂN
Nhắc nhở đôi điều:
Muốn chống cuộc xâm lăng tiệm tiến thì người dân phải biết 3 điều
căn bản sau đây:
1. Sự nguy hiểm của cuộc xâm lăng diệt chủng
này.
2. Cách chống đỡ của tổ tiên: Lắng nghe những
khuyến cáo của danh nhân đất Việt đã từng cầm vận mệnh toàn dân như Ðức Thánh
Trần, Quốc Sư Nguyễn Trãi.
3. Tìm hiểu lịch trình biến thái tự nhiên của
loài người vì nhu cầu sinh sống để biết cách chống đỡ thì mới tồn tại được.
NẠN
KIÊU BINH
Ỷ lại vào người là trao trứng cho Ác, trao sinh mạng của ta cho
người quyết định được sao hay vậy như Việt Cộng đã và đang hô hào: Con người là
công cụ sản xuất nên mọi việc đã có Bác và Ðảng lo, người dân chỉ cần biết tuân
lên là yên thân trâu ngựa.
YẾU
TỐ CẦN NHẬP TÂM:
Muồn có TỰ CHỦ thì phải có tư duy độc lập mới tự giải quyết việc
nước của dân tộc, mà mình là một nhân tố, được.
Do đó, toàn dân phải thấu triệt và nắm vững 3 điều căn bản ở trên
để đừng bị con buôn chánh trị lợi dụng; dù cá nhân đó ở vị thế nào cũng cần
phải biết nằm lòng
Do đó nên mới có bản phúc trình này để thức tỉnh những người
"ngu lâu dốt bền" (danh từ
của Đại Tá Bùi Tín, Bộ Đội cụ Hồ đào ngũ sau khi thức tỉnh).
Hãy mau mau thức tỉnh và quay về với dân tộc để sớm thoát cảnh Hán
Hóa một cách tiệm tiến đang diễn ra trên quê hương ta (Việt Nam còn hay mất? -
Nhạc Việt Khang)
LỜI THÁNH
NHÂN ĐẤT VIỆT
·
Ðức
Thánh Trần nói: Giặc đến ào ào như vũ như bão, như lửa cháy
chống đỡ dễ hơn là giặc đến từ-từ từ trong tâm đến ra (trường hợp xã hội Việt
dưới Triều Việt Cộng).
·
Quốc Sư
Nguyễn Trãi (linh hồn kháng chiến Lam Sơn) dạy: Ta dây mưu phạt
công tâm, không đánh mà người phải khuất (hãy thức tỉnh người dân về tình trạng
nguy kịch của đất nước: diệt giặc thì sống, dung túng thì chết)
NHÂN NÀO THÌ QUẢ NẤY
Hãy nghiệm mà xem:
Ở đời không có cái
gì huyền bí cả vì: Cây cam sinh ra trái cam, cây chanh sinh ra quả chanh nên
việc gì cũng thế, biết thì dễ còn không thì khó vì phải đấu võ mù trước địch
thủ mưu mô xảo trá. May mà thành công là do kẻ thù tính nhầm chứ chẳng phải ta
giỏi giang chi.
Vì thế nên cần
phải nhập tâm 3 điều căn bản ở trên để tự mình tính đường đi cho mình. Nếu chưa
biết thì phải học kinh nghiệm người xưa để tìm cách thoát hiểm vì Toàn Dân Giữ
Nước chứ không phải Việt Cộng giữ nước.
Tổ tiên đã dạy
nhiều lần về thuyết NHÂN QUẢ qua chuyện Bó Ðũa hay chuyện Thày Bói Sờ Voi để
ngụ ý nói rằng:
P
Dân tinh khôn thì nước được nhờ. Dân u mê
ỷ lại thì khổ cho con cháu.
P
Cha ăn mặn thì con khát nước, cha giết
người thì con đền mạng.
Những câu châm
ngôn như vậy thì đầy dãy trong văn học dân Việt; chịu khó suy nghĩ thì sẽ thấy
sự thâm thúy trong lời nói của tiền nhân.
v
THỨ NHẤT:
Nguy hiểm của tiến trình xâm lăng tiệm tiến. Cần biết để thoát
hiểm
THỨ NHÌ
:
Học Thuyết Cần Lao Nhân Vị, lý thuyết và hành động. Cần biết để
khai thác. Nay là chủ thuyết NHÂN VĂN VIỆT TỘC với chương trình phát huy Văn
Hóa Thuần Việt
[
Tài liệu thứ nhất: Nguy
hiểm của XÂM LĂNG
TIỆM TIẾN
(cướp
nước theo tiến trình vết dàu loang)
Ghi
ngày 03/08/2015. Nhân khi
viếng thăm bảo tàng viện Quốc Gia ở Đài Loan thấy ghi như sau. Mặc dù nói theo
tư tưởng kẻ cả (xâm lăng lại nói là đi khai phóng cho người), nhưng cũng có ít nhiều trung thực vì họ không
nói rõ nguồn gốc nhà vua thuộc chủng tộc nảo và biên cương tới đâu. Đây chỉ là các Triều Đại trên đất Hoa Lục,
khi thì tự chủ khi thì bị xâm lăng hay đi xâm lăng người. Họ lờ đi là:
2.879BC ở Giang Nam (phía nam Dương Tử) đã có 3 nước: Ngô, Sở và Việt rồi!
LỊCH SỬ TAIWAN (FORMOSE khi xưa)
Nguồn gốc tài
liệu :
A/- Chánh quyền
đảo Ðài Loan:
-
Tên nước : Trung Hoa Dân Quốc (bắt đầu có
từ năm 1950 khi Mỹ trao đảo này cho Tàu Tưởng Giới Thạch quản lý)
-
Diện
tích : 36.000 km²
-
Dân
số : 23 triệu.
-
Thủ
đô : Ðài Bắc (Taipei)
-
Ngôn
ngữ: tiếng Trung Hoa, tiếng Ðài Loan (tiếng Nhật?), tiếng Hẹ (đạo Hồi?) và
tiếng Dân Tộc (thổ dân gồm 16 sắc tộc) - như vậy là người Tàu chiếm thiểu số
nên tiếng Hoa không phải là ngôn ngữ chánh.
-
Dân
Tộc : Người Hán (tức người Trung Hoa), người Dân Tộc (Thổ dân lâu đời)
Lịch sử, lấy
năm 2.000 sau công nguyên làm mốc thời gian:
-
7.000
năm lịch sử (phải nói là 10.000 năm cách đây mới đúng).
-
Hệ
ngữ Nam Ðảo (Mã lai) đến đây từ 400 năm cách đây (cần xét lại).
-
Thế kỷ
thứ 16 (1500-1599 năm sau công nguyên) đã có dân Tây Phương đến tạm trú và sinh
sống như người Hòa Lan, Tây Ban Nha, Trung Quốc và Nhật Bản một cách hài hòa
nên tạo ra nền văn hóa đa dạng.
-
Cách
đây 400 dân cư chủ yếu là người Hán, cuối thể kỷ 19 (chỗ này mâu thuẫn với
những câu nói ở trên)
-
Ðài
Loan đã từng là thuộc địa của Nhật Bản trong 50 năm nên ảnh hưởng lớn đến nền
Văn Hóa Ðài Loan (chỗ này caen phải xét lại, vì trong 50 năm kẻ thống trị chưa
đủ thời gian để tạo nếp sống của mình cho dân bị trị)
-
Năm
1949 chính phủ Quốc Dân Ðảng từ Trung Quốc di tới Ðài Loan nên sự phát triển xã
hội bắt đầu từ năm 1950. Kinh tế phát triển mạnh vào thập niên 1970.
-
Vào
giữa thập niên 1980 phát triển truyền thông đại chúng trên mọi lãnh vực như:
Chính trị, kinh tế, giáo dục ...
-
Ðầu
thập niên 1990 nền chính trị dân chủ được hình thành.
Ðịa lý:
-
Phía
Ðông tiếp giáp với vùng biển Thái Bình Dương,
-
Phía
Tây tiếp giáp với Trung Quốc.
-
Phí
Bắc tiếp giáp với Nhật Bản.
-
Phía
Nam tiếp giáp với Phi Luật Tân.
-
Chiều
dài của đảo là 394km, bề rộng lớn nhất là 144km, diện tích 36.197km². Núi và
Rừng chiếm 2/3 diện tích. Mạch núi trung tâm gồm 200 ngọn cao trên 3.000mètres.
Ngọn núi Ngọc Sơn cao tới 3.952 mètres.
-
Khí
hậu: Phía Bắc là cận nhiệt đới, phía Nam là nhiệt đới. Có động đất và bão tố
thường xuyên. Mùa bão chủ yếu là tháng 5 đến thành 8 dương lịch. Nhiệt độ thay
đổi trong khoảng từ 18°C đến 34°C.
Thanh điệu tiếng
Trung Hoa:
-
Thanh ngang như âm MA (có nghĩa là
mẹ)
-
Thanh vút (sắc cạnh) như âm MÁ (có
nghĩa là cây đay).
-
Thanh giật giọng (xuống lấy đà rồi cao vút
lên) như âm MÃ (con ngựa)
-
Thanh trầm như âm MẠ (có nghĩa là
mắng chửi)
Trong khi đó thì
tiếng Việt có 6 thanh điệu (bình, bổng và trầm). Nếu so sánh âm điệu Tàu với
Việt thì thấy làm thơ theo vần Bằng hay Trắc chỉ hợp với tiếng Tàu mà thôi.
1.
![]()
![]()
Thanh
ngang: Âm MA tiếng Tàu, giống âm MA (bình) hay MÀ (huyền)
của tiếng Việt ( --- )
2.
Thanh
vút ( ): Âm MÁ (cây đay) tiếng Tàu
gần giống âm MÁ (dấu sắc) và âm MẢ (dấu
hỏi) của tiếng Việt.
3.
Thanh
giật giọng ( - xuống rồi lên): Âm MÃ tiếng Tàu giống âm MÃ (ngã)
của tiếng Việt. Nó lơ lớ âm ngã của tiếng Việt.
4.
Thanh
trầm (----) : Âm MẠ (mắng chửi) tiếng Tàu giống âm MẠ (dấu nặng
chình chịch) của tiếng Việt.
(
dấu sắc và hỏi giống nhau, ngang và huyền giống nhau)
Văn Hóa:
Ngày lễ quan trọng : Tết
âm lịch, Tết Nguyên Tiêu, Tết Ðoan Ngọ, Tết Trung Thu (ngày Rằm tháng Tám âm
lịch), Ðông Chí và Thanh Minh.
Tôn Giáo: Phật giáo (42%); Ðạo giáo (35%), Thiên Chúa giáo
(7%).
Ẩm thực: Thức
ăn chủ yếu là cơm và mì, gia vị chủ yếu là nước tương
B/- Theo tài liệu
của viện bảo tàng ở Hoa Liên.
Hoa Liên là vùng thổ dân chiếm đa số thì:
·
Thổ dân thuộc nguồn gốc Austronesian (Úc
châu ?) còn gọi là Malayopolynesian (Mã Lai Á ?) là dòng giống có 300 triệu
người với khoảng 1.000 (một ngàn) ngôn ngữ khác nhau.
·
Vào năm 1624 người Ðức đến cư ngụ tại Tây
Nam hòn đảo.Vào năm 1626 người Tây Ban Nha đến cư ngụ ở phía Bắc hòn đảo. Ðó là
lúc hòn đảo bị thực dân đến chiếm đóng một cách chung sống ôn hòa, hiếu khách.
·
Vào năm 1661, lực lượng tàn quân nhà Minh
chống Thanh đến đuổi người Ðức đi và chiếm đóng vùng đất này trong vòng 22 năm.
Thủ lãnh của họ là Zheng Chenggong
(Trịnh ….) bị nhà Thanh truy kích để diệt trừ hậu họa, nên đã chạy đến xin chúa
Nguyễn cho tá túc ở Phù Nam (tức miền nam nước Việt ngày nay
·
Sau đó lực lượng nhà Thanh đến chiếm đóng
với chánh sách tàn bạo và cưỡng chế (nguyên văn là WILD and TAME).
·
Năm 1895
nhà Thanh nhượng quyền cai trị cho Nhật Bản. Người Nhật đến thì hung dữ và ác
độc như Thanh Triều. Thay vì dùng 2 danh từ WILD and TAME thì họ dùng một danh
từ là: TAKASAGOZOKU (như vậy thì người Nhật khai thác đảo này trong 150 năm chứ
không phải trong 50 năm như Tàu Tưởng nói)
·
Sau khi thua trận (1945) thì Nhật trao đảo này cho người MỸ.
·
Năm 1949,
Tàu Mao (Trạch Ðông) chiếm lục địa, Tàu Tưởng (Giới Thạch) không có đất sống
nên Mỹ trao Ðài Loan cho Tàu TƯỞNG; chỉ vì đây là yếu điểm chiến lược cần phải
giữ để bọn Bành Trướng Bắc Kinh không thể đem hạm đội ra vùng Biển Thái Bình
Dương (ta gọi là biển Ðông) được. Vòng đai ngăn chặn chiến hạm Bắc Kinh
ra Thái bình Dương là: Nhật Bản, Quần đảo Rûkyû (Bắc Kinh gọi là quần đảo Ðiểu
Ngư), Formose (danh từ Ðài Loan mới có từ năm 1950), Phi Luật Tân bao vây vùng biển Ðông Hải. Và Mã lai,
Thái Lan và Việt Nam bao vây vùng
biển Nam Hải.
Đông Hải (mer de l'Est de la Chine) và Nam Hải (mer du
Sud de la Chine) chỉ là danh xưng vùng biển đối với Hoa Lục, nó không có nghĩa
là vùng biển này thuộc chủ quyền của Bắc Kinh. Giống như con sông HOÀNG HÀ chảy
qua Bắc Kinh nó không hoàn toàn thuộc quyền xử lý của Bắc Kinh từ đầu nguồn đến
cửa biển.
· Thổ dân
gồm 16 sắc tộc là: Amis, Atayal, Paiwan, Bunun, Rukai, Cou, Saisiyat, Yami,
Thao, Kavalan, Truku, Sakizaya, Sediq, Hla'lua and Kanakanavu. The total population about 540.000 people
n
TIẾN TRÌNH PHÁT
TRIỂN
CỦA XÃ HỘI LOÀI
NGƯỜI
Mục đích của bản
tường trình là viết để ghi nhớ về tiến trình xâm thực của loài người. Mới đầu
tá túc sau chiếm đoạt. Chủ đích là tìm hiểu sự xâm thực đất đai khi xã hội bành
trướng từ ngày có cuộc sống quần cư do sự tự làm ra thực phẩm. Tức là từ 15.000
năm cách đây (lấy mốc thời gian là năm 2000) mà người ta gọi là nền văn minh
Hòa Bình, nền văn minh đầu tiên của nhân loại, phát xuất từ Phi Luật Tân vòng
xuống đến bán đảo Mã Lai mà lúc đầu người ta lầm tưởng là phát xuất từ Úc Châu.
Ðể biết rõ tiến
trình tiến hóa, thiết tưởng nên định lại cho rõ nguồn gốc và ý nghĩa của danh
từ kép liên hệ tới bài viết như: Văn Minh, Văn Hóa và Văn Hiến.
Văn minh:
Vì tạo hóa bất
công, sinh ra con người không có khả năng kiếm mồi nên bộ óc phải đẻ ra dụng cụ
để bổ xung cho khiếm khuyết. Vì đói ăn thường xuyên nên phải sáng tạo ra dụng
cụ cần cho cuộc sống; sự sáng tạo này được gọi là Văn Minh của loài
người. Chỉ có loài người mới có văn minh mà thôi.
Mới đầu là mài cục
đá cho sắc cạnh để xẻ da thú vừa mới chết, vì móng tay và răng không đủ sức xẻ
da cắt thịt. Ðể thịt rữa da khô thì hết ăn.
Người ta vừa mới
kiếm ra được 2 cục đá mài này ở vùng KENYA trông ra Ấn Ðộ Dương (phía tây nam
SOMALIE). Ðo hàm lượng phóng xạ của rêu bám bên ngoài bằng Carbon14 (14
électrons thay vì 6 électrons như carbone hóa trị 4) thì định được niên kỷ khai
sinh của rêu là 3 triệu năm trước đây.
Văn minh là nguồn gốc của xã hội quần cư có cách đây khoảng 15.000 năm. Từ đây mới có nhu cầu phát sinh ra tiếng nói để truyền đạt kinh nghiệm và trao đổi tư tưởng cho nhau; và đồng thời tạo ra cung cách sống tập thể mà ngày hôm nay chúng ta gọi là Văn Hóa
Văn hóa:
Tức thay đổi cách
ăn ở cho hợp thời một cách đẹp đẽ (đi từ chữ Phong Hóa mà ra: Phong là cách ăn
ở như Phong cách, Phong độ, Phong lưu ..... Hóa là thay đổi). Vì nhu cầu sinh
sống tập thể nên xã hội quần cư tạo ra Văn Hóa (nếp sống tập thể). Vì có văn
hóa nên cộng đồng thăng tiến đến độ phải lập binh đội để xâm lăng hay tự vệ.
Tức là ý thức quốc gia bắt đầu hình thành ở thời đại binh khí làm bằng đồng,
tức khoảng 3.000BC. Khi hình thành quốc gia thì phải có bản văn quy định trách
nhiệm, bổn phận và quyền hành của tất cả các thành viên trong cộng đồng mà ngày
hôm nay chúng ta gọi là Văn Hiến.
Văn hiến:
Văn Hiến chỉ là
bản văn xuông, định rõ mục tiêu phải tiến tới trong một cộng đồng được gọi là
Quốc Gia. Thi hành Văn Hiến là nhiệm vụ của cơ quan hành pháp; muốn Văn Hiến có
giá trị thì phải đẻ ra Luật Pháp. Muốn tránh cảnh tùy nghi giải thích câu văn
trong Luật Pháp thì phải có Thông Tư, Nghị Ðịnh để cấp thừa hành thi hành cho
đúng với ý nguyện của bản văn.
²
Trong thực tế, con người được sinh ra do môi trường thuận tiện ở
Kenya (phía nam Somalie ngày hôm nay) từ 4 triệu năm nay; lấy năm 2000 làm mốc
thời gian.
Vì da mỏng lại không có lông để chống lạnh nên chỉ sống được trong
vùng nhiệt đới bằng cách ăn trái cây (hái, lượm) hay tôm cá mắc cạn. Chạy thì
chậm, vồ mồi thì hụt nên phải phân tán nhỏ để kiếm ăn. Tối ngủ trên cây, về sau
tinh khôn nên ở trong hang rồi dựng nhà sàn để ở.
Lúc đầu chưa biết nói, chưa có quần áo để chống nóng lạnh nên đời
sống rất là vất vả như loài thú vậy.
Theo tài liệu khoa học ngày hôm nay (2015) lấy từ các thành quả
nghiên cứu của các trường đại học trên thế giới thì cuộc sống được chia ra làm
những thời đại ước đoán như sau:
1. Hoang sơ : Có sao sống vậy như loài thú: Sống theo
phương tiện trời cho từ 4 triệu năm đến 3 triệu năm cách đây.
2. Ðá mài: Biết mài đá để cắt da thú, vào khoảng 3 triệu năm cách
đây.
3. Ðá cuội: Lấy đá ném gà, thỏ rồi chạy lại vồ mồi (chưa biết niên đại
khởi thủy).
4. Ðá ghè hay đá chẻ: Ðập đá tảng cho vỡ thành những cục cầm
vừa bàn tay. Ðây là thời kỳ tình cờ kiếm ra lửa bằng hành động lấy 2 hòn đá đập
mạnh vào nhau, lửa tóe ra bắt cháy vào lá khô (chưa biết niên đại khởi thủy).
5. Ðồ đất: Lấy lửa nung đất thành nồi luộc tôm, luộc cá, luộc lúa để
húp cháo. Sau đó nhận thấy rằng ngũ cốc là thực phẩm lưu trữ phòng khi đói. Ðồ
đất, tức đồ gốm như bát đĩa mà ngay hôm nay chúng ta vẫn dùng. Chưa rõ niên
đại, nhưng ít nhất là phải có trước 20.000 năm cách đây. Chỉ vì đói nên vớ được
gì thì luộc nấy, luộc ngô, khoai, sắn và lúa để húp cháo rồi nghiệm ra rằng ngũ
cốc là lương khô bảo đảm thực phẩm tránh đói.
6. Nông nghiệp cách đây 15.000 năm phát xuất từ vùng
viễn đông (tức Phi Luật Tân xuống đến bán đảo Mã Lai.
Lúc này là thời kỳ băng tuyết, con người
đã biết ngắm sao để định mùa cầy cấy bằng cách phát minh ra Miêu Lịch (nay ta
gọi là Việt Lịch, Việt lịch không phải là Âm Lịch tính theo mặt trăng hay Dương
Lịch tính theo mặt trời). Miêu lịch có sau niên đại nông nghiệp nên ước đoán có
sớm lắm là vào khoảng 13.000 trước Tây Lịch
Lúc ban đầu thì nước đóng băng tuyết từ Phi Luật Tân đến Trung Ðông, ở vùng Trung Ðông phát sinh ra nghề Du Mục để sản xuất thực phẩm tươi, trung tâm phát triển là IRAN ngày hôm nay. Sau đó cứ di theo cánh đồng cỏ (STEPPES) để nuôi gia súc nên một nhánh tách sang hướng Tây lập thành các quốc gia Tây Phương ngày hôm nay. Còn nhánh khác di qua phương Ðông theo đường Tơ Lụa từ A Phú Hãn, tiến qua Kazakhstan, Mông Cổ, Mãn Châu đến Triều Tiên thì gặp biển nên phải tiến xuống phía nam và trụ lại ở lưu vực con sông Hoàng Hà. Lúc đó nơi đây đã có dân nông nghiệp khai thác ruộng đồng mà ngày hôm nay chúng ta gọi là con cháu Ðế Nghi. Ở vùng này không có Steppes cho ngựa, bò, cừu ăn mà chỉ có đồi cỏ và ruộng nương mà thôi, do đó phải chung sống hiền hòa cùng thổ dân nông nghiệp. Coi lịch sử thổ dân ở Ðài Loan ở đoạn dưới thì rõ.
Chữ ÐẾ NGHI chính thức
phát xuất vào khoảng 600BC trong chuyện Rồng Tiên khai quốc, sau khi Việt vương
Câu Tiễn hội nhập nước Ngô vào nước Việt (Văn Lang) để chấm dứt mối thù dai
dẳng Ngô-Việt. Ðây là bản văn xuôi Diệt Ngô Ðại Cáo được lưu truyền dưới dạng
huyền thoại vì lúc đó chưa có giấy mực và chữ viết.
Giấy chỉ có ở thời đại đồ sắt cứng (sau đó vài chục năm), có cưa
và dao để cưa tre và chẻ lạt; rồi đan thành mành-mành và viết lên đó. Ði đâu
thì cuốn lại rồi sách đi theo nên mới có danh từ Cuốn Sách, rồi đến Tập
Sách (người đời sau ra luật là 100 tờ giấy được gọi là một tập giấy), sau
mới đến Quyển Sách để nói đến một vấn đề mà không định số lượng tờ giấy
là bao nhiêu cả. Ngày hôm nay chúng ta vẫn gọi theo thói quen là Cuốn
Sách, Tập Sách và Quyền Sách mà không để ý tới nguồn gốc ý nghĩa của mỗi ngôn
từ; mặc dù chúng ta dùng ngôn từ rất chỉnh theo thói quen mà không biềt rõ
nghĩa của nó.
Chúng ta chỉ biết phân biệt giữa Sách và Vở mà thôi. Vở là mình viết cho mình đọc, còn Sách là mình viết cho người đọc.
Lúc đó (#600BC), ông Câu Tiễn là lãnh vương vùng Quảng Ðông ngày
hôm nay, vùng đất này là một tiểu bang trong Liên Bang Việt mang quốc hiệu là
Văn Lang.
Chuyện ông Câu Tiễn nếm cứt vua Ngô Phù Sai là có thiệt, nhưng lại
là lưu manh nếm bên cạnh đầu ngón tay chấm cứt bằng cách lấy cái dẻ cầm tay
trái đưa lên miệng cùng với đầu ngón tay chỏ chấm cứt.
Coi thêm chuyện Rồng Tiên Khai Quốc, bài học số 06 trong link : www.nhavanviettoc.blogspot.com.
7. Thời đại đồ Ðồng: Ðồ đồng được dùng làm vũ khí khoảng 8.000
BC. Tinh sảo váo khoảng 5.000BC
Đến 3.000BC là thời kỳ thành lập Binh Ðội
để xâm lăng hay tự vệ cùng với học thuyết xâm lăng hay tự vệ để kéo chính nghĩa
về bên mình.
Người ta biết dệt lụa TƠ TẦM (sợi thiên
nhiên) vào khảng 6.000BC ở Thượng Hải là đất của dân Bách Việt sau này (tức Ngô+Việt)
Năm 2.879BC là năm thành lập 3 quốc gia đầu tiên trên thế
giới để choảng nhau là sáng kiến của con cháu Lộc Tục. Ðó là: Nước Ngô (vùng
Giang Nam) với thuyết Thiên Tử để đi xâm lăng, sau này ông Khổng Tử đẻ ra
thuyết Thiên Mệnh để bổ xung.
Nước Sở (vùng Tứ Xuyên với thuyết Vô Vi) và nước Việt (từ con sông
Tây Giang chảy qua Hương Cảng đến tận đèo Hải Vân) với thuyết Rồng Tiên khai
quốc còn lưu truyền cho tới ngày hôm nay. Ngô và Sở thuần chủng, còn Việt là
Liên Bang (15 bang) với quốc hiệu Văn Lang.
8. Thời đại đồ Sắt: Bắt đầu vào khoảng 550BC, biết làm mành
mành để viết lên trên nên đây là nguồn gốc của nền văn minh hiện đại. Trong
thời đại này phát minh ra cẩm thạch (đồ trang sức làm bằng đá quý).
9. Thời đại đồ Thép (luyện sắt thành thép cứng): Vào khoảng
thế kỷ thứ 16 sau công nguyên, (tức #1.500-1.600). Ðây là thời kỳ phát minh ra
máy chạy bằng hơi nước.
10. Thời đại kỹ nghệ (thế kỳ thứ 19: từ 1.800-1.900) như chúng
ta đã biết, nảy sinh ra phong trào đi chiếm thuộc địa với phương tiện di chuyển
là tầu đi biển chạy bằng hơi nưới (động cơ) thay cho buồm dùng sức gió. Biến
tầu hơi nước thành tầu chiến chạy bằng dầu cặn (Gaz Oil).
11. Thời Nguyên Tử: Bắt đầu từ 06 Août năm 1945 với 2 quả
bom trên đất Nhật, khơi mào cho thời kỳ thi đua vũ khí và lò điện Nguyên Tử bất
kể thiệt hại ra sao cho môi trường sinh sống của chính người dùng nó để vô tình
hay hữu ý tàn phá trái đất
12. Sau đó là thời kỳ Ðiện Tử: Bắt đầu phát triển vào năm 1966 cho đến
nay như chúng ta đã biết. Thời kỳ này thay đổi hẳn cách sinh sống và cách suy
nghĩ của nhân loại; vì bạo lực chỉ tàn phá môi sinh, phương tiện sản xuất chứ
không thể giải suyết được vấn đề nhân mãn.
-----------------------------
TÓM LẠI :
Bỏ thời kỳ sơ đẳng, tính từ lúc biết tạo ra lửa đến nay thì loài
người đã thay đổi não trạng và cuộc sống tất cả là 9 lần từ Sơ Đẳng, Hạ Đẳng,
Trung Đẳng, Cao Đẳng đến Thượng Đẳng ; còn SIÊU ĐẲNG là đời con cháu chúng
ta bắt đầu từ năm 2.000AD trờ đi.
Chúng ta được hưởng cuộc sống Thượng Đẳng ngày hôm nay là do sự
tích lũy phát minh khoa học của nhân loại. Vậy thì chúng ta phải biết trân
trọng bảo vệ thành quả cho xứng đáng.
Phải dạy con cháu chúng ta, không những ăn nói và cư xử cho xứng
đáng là người Văn Minh Điện Toán mà còn phải có những phát minh khoa học để
đóng góp cho nhân loại ; nhất là phải đóng góp cho nhân loại những nét Độc
Đáo và đáng kính của NỀN VĂN HÓA THUẦN VIỆT để đừng trở thành kẻ ăn bm nhân
loại.
Đừng sống như bọn Việt Nô Cộng Sản, từ bò cội nguồn, phỉ bán Văn
Hóa Rồng Tiên để vinh dự được sống bám vào Văn Hóa Mác Lê và Mao. Do đó dân ta
mới có cuộc sống HẠ ĐẲNG của thời kỳ NGỢM KHÔN mà ta gọi là KHỈ ĐỘT TRƯỜNG SƠN
hay bọn sâu bọ lên làm người như Nguyễn Xuân Phúc trả lời câu hỏi của anh ta
là : What do your name… Anh ta tỏ ra con người tài ba nên trả lới không
suy nghĩ là I FUCK YOU
------------------------------
Trong tương lai vấn đề biên giới và giá trị của chủng tộc như thời
kỹ nghệ sẽ mờ dần để thay thế cho vấn đề Nhân Bản, Nhân Sinh và Nhân Mãn cần
phải giải quyết.
Lý do:
Nếu lúc này con người vẫn cứ tiếp tục đối xử với nhau bằng bạo
lực, không còn tình nghĩa thì thật là rất nguy hiểm cho nhân loại.....Tức khí
sát hại nhau để cuối cùng thắng thua gì thì cũng chết cả, chỉ vì thiếu dưỡng
khí để thở và thiếu nước để uống.....Chúng ta đã và đang thấy tình trạng ô
nhiễm môi sinh (pollution) do văn minh vật chất tạo ra mỗi ngày mỗi nhiều đã
đến mức báo động đỏ rồi mà vẫn chưa ngưng.
Vậy thì người Việt chúng ta, nạn nhân của văn minh vật chất qua
cuộc chiến thử vũ khí vừa qua trên đất mình, học hỏi và rút ra những kinh
nghiệm gì đây để đưa ra đề án (hay học thuyết) đem an bình đến cho nhân loại
để tránh tình trạng ô nhiễm môi sinh nguy hiểm cho toàn thế giới chứ chẳng
riêng gì một mảnh đất nào cả. Mây nhiễm độc, nước nhiễm độc và cả bàu không khí
nhiễm độc và hâm nóng do con người khai thác chất độc đã kết thành pétrole,
uranium.....từ hàng triệu năm để có sinh vật sinh sống trên mặt đất này.
ö
Xin giới thiệu với quý vị 3
đường dẫn sau đây, và kính mời các vị hiền tài tiếp tay cho chương trình này
được phong phú.
http://nhanvanviettoc.blogspot.com
là nơi lưu trữ tài liệu để soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com
là nơi lưu trữ các bài đã soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm)
từ Tiểu Học đến Trung Học.
Nơi lưu trữ 3 kinh nhật tụng
1. Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ
cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các
bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18 tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ
xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)
SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ (Đủ
Bộ) https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ
(Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k
SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph
Kênh Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ
là nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu
trữ vô máy.
Nhóm Nhân Văn Việt Tộc kính báo.
VĂN MINH đáng kính và VĂN
HÓA tuyệt vời của dân Việt trong cách xưng hô trong vai vế BỐ và MẸ
õ
------------------------------------------------------------
T105(e) - Biến đổi NẾP SỐNG
(thay đổi văn hóa)
ngày giảng 17.11.2022
sơ đồ
BIẾN ĐỔI VĂN HÓA
Thiết kế:
Hoàng Đức Phương
Paris 28/5/2008
,,







0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil