samedi 10 juin 2023

T105-Vị trí chiến lược - Vòng đai Ấn Độ

KHAI THÁC ĐỊA LÝ

CHIẾN LƯỢC

T105(a) : ngày 17.11.2022 Vị trí chiến lược - Vòng đai Ấn Độ

 


DI CƯ VÀ HỒI CƯ

Nông nghiệp cần đất canh tác gần sông

Du Mục cần vùng Thảo Nguyên (cánh đồng cỏ

Do đó chúng ta định đuợc :

1)     Nơi sinh sống của dân nông nghiệp ở quanh đồng ruộng và ven sông.

2)     Nơi sinh sống của dân Du Mục phải di dời khi có nhu cầu nhân mãn

3)     Hoa Lục là địa bàn của dân nông nghiệp.có cuộc sống định cư

4)     Trung Đông, khởi điểm là IRAN và IRAQ di theo cách cánh đồng cỏ đi chinh phục khắp địa cầu (Cánh đồng cỏ, tức vùng Thảo Nguyên, Steppes)

5)     Ngày hôm nay khoa học cho phép chúng ta biết được đời sống của loài người ở Hoa Lục từ 15.000BC bằng cách suy ra từ đồ gốm làm bằng đất nung như nồi niêu, bát đĩa vỡ vụn nằm ởa bãi rác.

6)     Người ta đo rêu thì biết được niên đại, và người ta phân chất thì biếy được văn minh và tư tưởng của ngưới tiêu thụ, vì nghệ nhân làm theo nhu cầu của người tiêu thụ.

7)     Đồ gốm xuất hiện đầu tiên vào khoảng 13.000BC dùng để luộc tôm, cá ăn cho khỏi tanh, Sau đó luộc Ngô Khoai và Lúa để húp cháo, từ đây mới nảy sinh ra nghền nông. Khoai Sọ là loại tr-éng đầu tiên, người ta thấy ở THANH HÓA (nước Việt Nam)

T105(b): ngày 17.11.2022

BIỂU ĐỒ ĐẠI HỒNG THỦY

T105(c) : ngày 17.11.2022

BẢN ĐỒ HỒI CƯ LẬP NGHIỆP

VÀO NĂM 3.400BC



T105(d) : QUY LUẬT TIẾN HÓA CỦA LOÀI NGƯỜI

Giảng ngày 17.11.2022

soạn giả: Hoàng Đức Phương

 

Phần 5 : LỊCH SỬ VÙNG HOA LỤC

(ĐÔNG Á, VIỄN ĐÔNG hay ĐÔNG Á TẾ Á)

 

ÔN CỐ để biết đường TRI TÂN

Nhắc nhở đôi điều:

Muốn chống cuộc xâm lăng tiệm tiến thì người dân phải biết 3 điều căn bản sau đây:

1.      Sự nguy hiểm của cuộc xâm lăng diệt chủng này.

2.      Cách chống đỡ của tổ tiên: Lắng nghe những khuyến cáo của danh nhân đất Việt đã từng cầm vận mệnh toàn dân như Ðức Thánh Trần, Quốc Sư Nguyễn Trãi.

3.      Tìm hiểu lịch trình biến thái tự nhiên của loài người vì nhu cầu sinh sống để biết cách chống đỡ thì mới tồn tại được.

 

NẠN KIÊU BINH

Ỷ lại vào người là trao trứng cho Ác, trao sinh mạng của ta cho người quyết định được sao hay vậy như Việt Cộng đã và đang hô hào: Con người là công cụ sản xuất nên mọi việc đã có Bác và Ðảng lo, người dân chỉ cần biết tuân lên là yên thân trâu ngựa.

 

YẾU TỐ CẦN NHẬP TÂM:

Muồn có TỰ CHỦ thì phải có tư duy độc lập mới tự giải quyết việc nước của dân tộc, mà mình là một nhân tố, được.

Do đó, toàn dân phải thấu triệt và nắm vững 3 điều căn bản ở trên để đừng bị con buôn chánh trị lợi dụng; dù cá nhân đó ở vị thế nào cũng cần phải biết nằm lòng

 

Do đó nên mới có bản phúc trình này để thức tỉnh những người "ngu lâu dốt bền" (danh từ của Đại Tá Bùi Tín, Bộ Đội cụ Hồ đào ngũ sau khi thức tỉnh).

Hãy mau mau thức tỉnh và quay về với dân tộc để sớm thoát cảnh Hán Hóa một cách tiệm tiến đang diễn ra trên quê hương ta (Việt Nam còn hay mất? - Nhạc Việt Khang)

 

LỜI THÁNH NHÂN ĐẤT VIỆT

·        Ðức Thánh Trần nói: Giặc đến ào ào như vũ như bão, như lửa cháy chống đỡ dễ hơn là giặc đến từ-từ từ trong tâm đến ra (trường hợp xã hội Việt dưới Triều Việt Cộng).

·        Quốc Sư Nguyễn Trãi (linh hồn kháng chiến Lam Sơn) dạy: Ta dây mưu phạt công tâm, không đánh mà người phải khuất (hãy thức tỉnh người dân về tình trạng nguy kịch của đất nước: diệt giặc thì sống, dung túng thì chết)

 

NHÂN NÀO THÌ QUẢ NẤY

Hãy nghiệm mà xem:

Ở đời không có cái gì huyền bí cả vì: Cây cam sinh ra trái cam, cây chanh sinh ra quả chanh nên việc gì cũng thế, biết thì dễ còn không thì khó vì phải đấu võ mù trước địch thủ mưu mô xảo trá. May mà thành công là do kẻ thù tính nhầm chứ chẳng phải ta giỏi giang chi.

Vì thế nên cần phải nhập tâm 3 điều căn bản ở trên để tự mình tính đường đi cho mình. Nếu chưa biết thì phải học kinh nghiệm người xưa để tìm cách thoát hiểm vì Toàn Dân Giữ Nước chứ không phải Việt Cộng giữ nước.

 

Tổ tiên đã dạy nhiều lần về thuyết NHÂN QUẢ qua chuyện Bó Ðũa hay chuyện Thày Bói Sờ Voi để ngụ ý nói rằng:

P  Dân tinh khôn thì nước được nhờ. Dân u mê ỷ lại thì khổ cho con cháu.

P  Cha ăn mặn thì con khát nước, cha giết người thì con đền mạng.

Những câu châm ngôn như vậy thì đầy dãy trong văn học dân Việt; chịu khó suy nghĩ thì sẽ thấy sự thâm thúy trong lời nói của tiền nhân.

v

THỨ NHẤT:

Nguy hiểm của tiến trình xâm lăng tiệm tiến. Cần biết để thoát hiểm

THỨ NHÌ :

Học Thuyết Cần Lao Nhân Vị, lý thuyết và hành động. Cần biết để khai thác. Nay là chủ thuyết NHÂN VĂN VIỆT TỘC với chương trình phát huy Văn Hóa Thuần Việt

[

 

Tài liệu thứ nhất: Nguy hiểm của XÂM  LĂNG  TIỆM  TIẾN

(cướp nước theo tiến trình vết dàu loang)

 

Ghi ngày 03/08/2015.  Nhân khi viếng thăm bảo tàng viện Quốc Gia ở Đài Loan thấy ghi như sau. Mặc dù nói theo tư tưởng kẻ cả (xâm lăng lại nói là đi khai phóng cho người),  nhưng cũng có ít nhiều trung thực vì họ không nói rõ nguồn gốc nhà vua thuộc chủng tộc nảo và biên cương tới đâu.  Đây chỉ là các Triều Đại trên đất Hoa Lục, khi thì tự chủ khi thì bị xâm lăng hay đi xâm lăng người. Họ lờ đi là: 2.879BC ở Giang Nam (phía nam Dương Tử) đã có 3 nước: Ngô, Sở và Việt rồi!

 

LỊCH SỬ TAIWAN (FORMOSE khi xưa)

Nguồn gốc tài liệu :

A/- Chánh quyền đảo Ðài Loan:

-        Tên nước : Trung Hoa Dân Quốc (bắt đầu có từ năm 1950 khi Mỹ trao đảo này cho Tàu Tưởng Giới Thạch quản lý)

-        Diện tích : 36.000 km²

-        Dân số : 23 triệu.

-        Thủ đô : Ðài Bắc (Taipei)

-        Ngôn ngữ: tiếng Trung Hoa, tiếng Ðài Loan (tiếng Nhật?), tiếng Hẹ (đạo Hồi?) và tiếng Dân Tộc (thổ dân gồm 16 sắc tộc) - như vậy là người Tàu chiếm thiểu số nên tiếng Hoa không phải là ngôn ngữ chánh.

-        Dân Tộc : Người Hán (tức người Trung Hoa), người Dân Tộc (Thổ dân lâu đời)

 

Lịch sử, lấy năm 2.000 sau công nguyên làm mốc thời gian:

-        7.000 năm lịch sử (phải nói là 10.000 năm cách đây mới đúng).

-        Hệ ngữ Nam Ðảo (Mã lai) đến đây từ 400 năm cách đây (cần xét lại).

-        Thế kỷ thứ 16 (1500-1599 năm sau công nguyên) đã có dân Tây Phương đến tạm trú và sinh sống như người Hòa Lan, Tây Ban Nha, Trung Quốc và Nhật Bản một cách hài hòa nên tạo ra nền văn hóa đa dạng.

-        Cách đây 400 dân cư chủ yếu là người Hán, cuối thể kỷ 19 (chỗ này mâu thuẫn với những câu nói ở trên)

-        Ðài Loan đã từng là thuộc địa của Nhật Bản trong 50 năm nên ảnh hưởng lớn đến nền Văn Hóa Ðài Loan (chỗ này caen phải xét lại, vì trong 50 năm kẻ thống trị chưa đủ thời gian để tạo nếp sống của mình cho dân bị trị)

-        Năm 1949 chính phủ Quốc Dân Ðảng từ Trung Quốc di tới Ðài Loan nên sự phát triển xã hội bắt đầu từ năm 1950. Kinh tế phát triển mạnh vào thập niên 1970.

-        Vào giữa thập niên 1980 phát triển truyền thông đại chúng trên mọi lãnh vực như: Chính trị, kinh tế, giáo dục ...

-        Ðầu thập niên 1990 nền chính trị dân chủ được hình thành.

 

Ðịa lý:

-        Phía Ðông tiếp giáp với vùng biển Thái Bình Dương,

-        Phía Tây tiếp giáp với Trung Quốc.

-        Phí Bắc tiếp giáp với Nhật Bản.

-        Phía Nam tiếp giáp với Phi Luật Tân.

-        Chiều dài của đảo là 394km, bề rộng lớn nhất là 144km, diện tích 36.197km². Núi và Rừng chiếm 2/3 diện tích. Mạch núi trung tâm gồm 200 ngọn cao trên 3.000mètres. Ngọn núi Ngọc Sơn cao tới 3.952 mètres.

-        Khí hậu: Phía Bắc là cận nhiệt đới, phía Nam là nhiệt đới. Có động đất và bão tố thường xuyên. Mùa bão chủ yếu là tháng 5 đến thành 8 dương lịch. Nhiệt độ thay đổi trong khoảng từ 18°C đến 34°C.

 

Thanh điệu tiếng Trung Hoa:

-        Thanh ngang như âm MA (có nghĩa là mẹ)

-        Thanh vút (sắc cạnh) như âm (có nghĩa là cây đay).

-        Thanh giật giọng (xuống lấy đà rồi cao vút lên) như âm (con ngựa)

-        Thanh trầm như âm MẠ (có nghĩa là mắng chửi)

Trong khi đó thì tiếng Việt có 6 thanh điệu (bình, bổng và trầm). Nếu so sánh âm điệu Tàu với Việt thì thấy làm thơ theo vần Bằng hay Trắc chỉ hợp với tiếng Tàu mà thôi.

1.      Thanh ngang: Âm MA tiếng Tàu, giống âm MA (bình) hay MÀ (huyền) của tiếng Việt ( --- )

2.      Thanh vút (  ): Âm MÁ (cây đay) tiếng Tàu gần giống âm MÁ (dấu sắc) và âm MẢ (dấu hỏi) của tiếng Việt.

3.      Thanh giật giọng (     - xuống rồi lên): Âm MÃ tiếng Tàu giống âm MÃ (ngã) của tiếng Việt. Nó lơ lớ âm ngã của tiếng Việt.

4.      Thanh trầm (----) : Âm MẠ (mắng chửi) tiếng Tàu giống âm MẠ (dấu nặng chình chịch) của tiếng Việt.

            ( dấu sắc và hỏi giống nhau, ngang và huyền giống nhau)

 

Văn Hóa:

Ngày lễ quan trọng : Tết âm lịch, Tết Nguyên Tiêu, Tết Ðoan Ngọ, Tết Trung Thu (ngày Rằm tháng Tám âm lịch), Ðông Chí và Thanh Minh.

Tôn Giáo: Phật giáo (42%); Ðạo giáo (35%), Thiên Chúa giáo (7%).

Ẩm thực: Thức ăn chủ yếu là cơm và mì, gia vị chủ yếu là nước tương

 

B/- Theo tài liệu của viện bảo tàng ở Hoa Liên.

 Hoa Liên là vùng thổ dân chiếm đa số thì:

·       Thổ dân thuộc nguồn gốc Austronesian (Úc châu ?) còn gọi là Malayopolynesian (Mã Lai Á ?) là dòng giống có 300 triệu người với khoảng 1.000 (một ngàn) ngôn ngữ khác nhau.

·       Vào năm 1624 người Ðức đến cư ngụ tại Tây Nam hòn đảo.Vào năm 1626 người Tây Ban Nha đến cư ngụ ở phía Bắc hòn đảo. Ðó là lúc hòn đảo bị thực dân đến chiếm đóng một cách chung sống ôn hòa, hiếu khách.

·       Vào năm 1661, lực lượng tàn quân nhà Minh chống Thanh đến đuổi người Ðức đi và chiếm đóng vùng đất này trong vòng 22 năm. Thủ lãnh của họ là Zheng Chenggong (Trịnh ….) bị nhà Thanh truy kích để diệt trừ hậu họa, nên đã chạy đến xin chúa Nguyễn cho tá túc ở Phù Nam (tức miền nam nước Việt ngày nay

·       Sau đó lực lượng nhà Thanh đến chiếm đóng với chánh sách tàn bạo và cưỡng chế (nguyên văn là WILD and TAME).

·       Năm 1895 nhà Thanh nhượng quyền cai trị cho Nhật Bản. Người Nhật đến thì hung dữ và ác độc như Thanh Triều. Thay vì dùng 2 danh từ WILD and TAME thì họ dùng một danh từ là: TAKASAGOZOKU (như vậy thì người Nhật khai thác đảo này trong 150 năm chứ không phải trong 50 năm như Tàu Tưởng nói)

·       Sau khi thua trận (1945) thì Nhật trao đảo này cho người MỸ.

·       Năm 1949, Tàu Mao (Trạch Ðông) chiếm lục địa, Tàu Tưởng (Giới Thạch) không có đất sống nên Mỹ trao Ðài Loan cho Tàu TƯỞNG; chỉ vì đây là yếu điểm chiến lược cần phải giữ để bọn Bành Trướng Bắc Kinh không thể đem hạm đội ra vùng Biển Thái Bình Dương (ta gọi là biển Ðông) được.  Vòng đai ngăn chặn chiến hạm Bắc Kinh ra Thái bình Dương là: Nhật Bản, Quần đảo Rûkyû (Bắc Kinh gọi là quần đảo Ðiểu Ngư), Formose (danh từ Ðài Loan mới có từ năm 1950), Phi Luật Tân bao vây vùng biển Ðông Hải. Và Mã lai, Thái Lan và Việt Nam bao vây vùng biển Nam Hải.

Đông Hải (mer de l'Est de la Chine) và Nam Hải (mer du Sud de la Chine) chỉ là danh xưng vùng biển đối với Hoa Lục, nó không có nghĩa là vùng biển này thuộc chủ quyền của Bắc Kinh. Giống như con sông HOÀNG HÀ chảy qua Bắc Kinh nó không hoàn toàn thuộc quyền xử lý của Bắc Kinh từ đầu nguồn đến cửa biển.

·       Thổ dân gồm 16 sắc tộc là: Amis, Atayal, Paiwan, Bunun, Rukai, Cou, Saisiyat, Yami, Thao, Kavalan, Truku, Sakizaya, Sediq, Hla'lua and Kanakanavu. The total population about 540.000 people

n

TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN

CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

Mục đích của bản tường trình là viết để ghi nhớ về tiến trình xâm thực của loài người. Mới đầu tá túc sau chiếm đoạt. Chủ đích là tìm hiểu sự xâm thực đất đai khi xã hội bành trướng từ ngày có cuộc sống quần cư do sự tự làm ra thực phẩm. Tức là từ 15.000 năm cách đây (lấy mốc thời gian là năm 2000) mà người ta gọi là nền văn minh Hòa Bình, nền văn minh đầu tiên của nhân loại, phát xuất từ Phi Luật Tân vòng xuống đến bán đảo Mã Lai mà lúc đầu người ta lầm tưởng là phát xuất từ Úc Châu.

Ðể biết rõ tiến trình tiến hóa, thiết tưởng nên định lại cho rõ nguồn gốc và ý nghĩa của danh từ kép liên hệ tới bài viết như: Văn Minh, Văn Hóa và Văn Hiến.

Văn minh:

Vì tạo hóa bất công, sinh ra con người không có khả năng kiếm mồi nên bộ óc phải đẻ ra dụng cụ để bổ xung cho khiếm khuyết. Vì đói ăn thường xuyên nên phải sáng tạo ra dụng cụ cần cho cuộc sống; sự sáng tạo này được gọi là Văn Minh của loài người. Chỉ có loài người mới có văn minh mà thôi.

Mới đầu là mài cục đá cho sắc cạnh để xẻ da thú vừa mới chết, vì móng tay và răng không đủ sức xẻ da cắt thịt. Ðể thịt rữa da khô thì hết ăn.

Người ta vừa mới kiếm ra được 2 cục đá mài này ở vùng KENYA trông ra Ấn Ðộ Dương (phía tây nam SOMALIE). Ðo hàm lượng phóng xạ của rêu bám bên ngoài bằng Carbon14 (14 électrons thay vì 6 électrons như carbone hóa trị 4) thì định được niên kỷ khai sinh của rêu là 3 triệu năm trước đây.

Văn minh là nguồn gốc của xã hội quần cư có cách đây khoảng 15.000 năm. Từ đây mới có nhu cầu phát sinh ra tiếng nói để truyền đạt kinh nghiệm và trao đổi tư tưởng cho nhau; và đồng thời tạo ra cung cách sống tập thể mà ngày hôm nay chúng ta gọi là Văn Hóa

Văn hóa:

Tức thay đổi cách ăn ở cho hợp thời một cách đẹp đẽ (đi từ chữ Phong Hóa mà ra: Phong là cách ăn ở như Phong cách, Phong độ, Phong lưu ..... Hóa là thay đổi). Vì nhu cầu sinh sống tập thể nên xã hội quần cư tạo ra Văn Hóa (nếp sống tập thể). Vì có văn hóa nên cộng đồng thăng tiến đến độ phải lập binh đội để xâm lăng hay tự vệ. Tức là ý thức quốc gia bắt đầu hình thành ở thời đại binh khí làm bằng đồng, tức khoảng 3.000BC. Khi hình thành quốc gia thì phải có bản văn quy định trách nhiệm, bổn phận và quyền hành của tất cả các thành viên trong cộng đồng mà ngày hôm nay chúng ta gọi là Văn Hiến.

Văn hiến:

Văn Hiến chỉ là bản văn xuông, định rõ mục tiêu phải tiến tới trong một cộng đồng được gọi là Quốc Gia. Thi hành Văn Hiến là nhiệm vụ của cơ quan hành pháp; muốn Văn Hiến có giá trị thì phải đẻ ra Luật Pháp. Muốn tránh cảnh tùy nghi giải thích câu văn trong Luật Pháp thì phải có Thông Tư, Nghị Ðịnh để cấp thừa hành thi hành cho đúng với ý nguyện của bản văn.

²

Trong thực tế, con người được sinh ra do môi trường thuận tiện ở Kenya (phía nam Somalie ngày hôm nay) từ 4 triệu năm nay; lấy năm 2000 làm mốc thời gian.

Vì da mỏng lại không có lông để chống lạnh nên chỉ sống được trong vùng nhiệt đới bằng cách ăn trái cây (hái, lượm) hay tôm cá mắc cạn. Chạy thì chậm, vồ mồi thì hụt nên phải phân tán nhỏ để kiếm ăn. Tối ngủ trên cây, về sau tinh khôn nên ở trong hang rồi dựng nhà sàn để ở.

Lúc đầu chưa biết nói, chưa có quần áo để chống nóng lạnh nên đời sống rất là vất vả như loài thú vậy.

Theo tài liệu khoa học ngày hôm nay (2015) lấy từ các thành quả nghiên cứu của các trường đại học trên thế giới thì cuộc sống được chia ra làm những thời đại ước đoán như sau:

 

1.      Hoang sơ : Có sao sống vậy như loài thú: Sống theo phương tiện trời cho từ 4 triệu năm đến 3 triệu năm cách đây.

2.      Ðá mài: Biết mài đá để cắt da thú, vào khoảng 3 triệu năm cách đây.

3.      Ðá cuội: Lấy đá ném gà, thỏ rồi chạy lại vồ mồi (chưa biết niên đại khởi thủy).

4.      Ðá ghè hay đá chẻ: Ðập đá tảng cho vỡ thành những cục cầm vừa bàn tay. Ðây là thời kỳ tình cờ kiếm ra lửa bằng hành động lấy 2 hòn đá đập mạnh vào nhau, lửa tóe ra bắt cháy vào lá khô (chưa biết niên đại khởi thủy).

5.      Ðồ đất: Lấy lửa nung đất thành nồi luộc tôm, luộc cá, luộc lúa để húp cháo. Sau đó nhận thấy rằng ngũ cốc là thực phẩm lưu trữ phòng khi đói. Ðồ đất, tức đồ gốm như bát đĩa mà ngay hôm nay chúng ta vẫn dùng. Chưa rõ niên đại, nhưng ít nhất là phải có trước 20.000 năm cách đây. Chỉ vì đói nên vớ được gì thì luộc nấy, luộc ngô, khoai, sắn và lúa để húp cháo rồi nghiệm ra rằng ngũ cốc là lương khô bảo đảm thực phẩm tránh đói.

6.      Nông nghiệp cách đây 15.000 năm phát xuất từ vùng viễn đông (tức Phi Luật Tân xuống đến bán đảo Mã Lai.

Lúc này là thời kỳ băng tuyết, con người đã biết ngắm sao để định mùa cầy cấy bằng cách phát minh ra Miêu Lịch (nay ta gọi là Việt Lịch, Việt lịch không phải là Âm Lịch tính theo mặt trăng hay Dương Lịch tính theo mặt trời). Miêu lịch có sau niên đại nông nghiệp nên ước đoán có sớm lắm là vào khoảng 13.000 trước Tây Lịch

Lúc ban đầu thì nước đóng băng tuyết từ Phi Luật Tân đến Trung Ðông, ở vùng Trung Ðông phát sinh ra nghề Du Mục để sản xuất thực phẩm tươi, trung tâm phát triển là IRAN ngày hôm nay. Sau đó cứ di theo cánh đồng cỏ (STEPPES) để nuôi gia súc nên một nhánh tách sang hướng Tây lập thành các quốc gia Tây Phương ngày hôm nay. Còn nhánh khác di qua phương Ðông theo đường Tơ Lụa từ A Phú Hãn, tiến qua Kazakhstan, Mông Cổ, Mãn Châu đến Triều Tiên thì gặp biển nên phải tiến xuống phía nam và trụ lại ở lưu vực con sông Hoàng Hà. Lúc đó nơi đây đã có dân nông nghiệp khai thác ruộng đồng mà ngày hôm nay chúng ta gọi là con cháu Ðế Nghi. Ở vùng này không có Steppes cho ngựa, bò, cừu ăn mà chỉ có đồi cỏ và ruộng nương mà thôi, do đó phải chung sống hiền hòa cùng thổ dân nông nghiệp. Coi lịch sử thổ dân ở Ðài Loan ở đoạn dưới thì rõ.

Chữ ÐẾ NGHI chính thức phát xuất vào khoảng 600BC trong chuyện Rồng Tiên khai quốc, sau khi Việt vương Câu Tiễn hội nhập nước Ngô vào nước Việt (Văn Lang) để chấm dứt mối thù dai dẳng Ngô-Việt. Ðây là bản văn xuôi Diệt Ngô Ðại Cáo được lưu truyền dưới dạng huyền thoại vì lúc đó chưa có giấy mực và chữ viết.

Giấy chỉ có ở thời đại đồ sắt cứng (sau đó vài chục năm), có cưa và dao để cưa tre và chẻ lạt; rồi đan thành mành-mành và viết lên đó. Ði đâu thì cuốn lại rồi sách đi theo nên mới có danh từ Cuốn Sách, rồi đến Tập Sách (người đời sau ra luật là 100 tờ giấy được gọi là một tập giấy), sau mới đến Quyển Sách để nói đến một vấn đề mà không định số lượng tờ giấy là bao nhiêu cả. Ngày hôm nay chúng ta vẫn gọi theo thói quen là Cuốn Sách, Tập Sách và Quyền Sách mà không để ý tới nguồn gốc ý nghĩa của mỗi ngôn từ; mặc dù chúng ta dùng ngôn từ rất chỉnh theo thói quen mà không biềt rõ nghĩa của nó.

Chúng ta chỉ biết phân biệt giữa Sách và Vở mà thôi. Vở là mình viết cho mình đọc, còn Sách là mình viết cho người đọc.

Lúc đó (#600BC), ông Câu Tiễn là lãnh vương vùng Quảng Ðông ngày hôm nay, vùng đất này là một tiểu bang trong Liên Bang Việt mang quốc hiệu là Văn Lang.

Chuyện ông Câu Tiễn nếm cứt vua Ngô Phù Sai là có thiệt, nhưng lại là lưu manh nếm bên cạnh đầu ngón tay chấm cứt bằng cách lấy cái dẻ cầm tay trái đưa lên miệng cùng với đầu ngón tay chỏ chấm cứt.

Coi thêm chuyện Rồng Tiên Khai Quốc, bài học số 06 trong link : www.nhavanviettoc.blogspot.com.


7.      Thời đại đồ Ðồng: Ðồ đồng được dùng làm vũ khí khoảng 8.000 BC. Tinh sảo váo khoảng 5.000BC

Đến 3.000BC là thời kỳ thành lập Binh Ðội để xâm lăng hay tự vệ cùng với học thuyết xâm lăng hay tự vệ để kéo chính nghĩa về bên mình.

Người ta biết dệt lụa TƠ TẦM (sợi thiên nhiên) vào khảng 6.000BC ở Thượng Hải là đất của dân Bách Việt sau này (tức Ngô+Việt)

 

Năm 2.879BC là năm thành lập 3 quốc gia đầu tiên trên thế giới để choảng nhau là sáng kiến của con cháu Lộc Tục. Ðó là: Nước Ngô (vùng Giang Nam) với thuyết Thiên Tử để đi xâm lăng, sau này ông Khổng Tử đẻ ra thuyết Thiên Mệnh để bổ xung.

Nước Sở (vùng Tứ Xuyên với thuyết Vô Vi) và nước Việt (từ con sông Tây Giang chảy qua Hương Cảng đến tận đèo Hải Vân) với thuyết Rồng Tiên khai quốc còn lưu truyền cho tới ngày hôm nay. Ngô và Sở thuần chủng, còn Việt là Liên Bang (15 bang) với quốc hiệu Văn Lang.

8.      Thời đại đồ Sắt: Bắt đầu vào khoảng 550BC, biết làm mành mành để viết lên trên nên đây là nguồn gốc của nền văn minh hiện đại. Trong thời đại này phát minh ra cẩm thạch (đồ trang sức làm bằng đá quý).

9.      Thời đại đồ Thép (luyện sắt thành thép cứng): Vào khoảng thế kỷ thứ 16 sau công nguyên, (tức #1.500-1.600). Ðây là thời kỳ phát minh ra máy chạy bằng hơi nước.

10. Thời đại kỹ nghệ (thế kỳ thứ 19: từ 1.800-1.900) như chúng ta đã biết, nảy sinh ra phong trào đi chiếm thuộc địa với phương tiện di chuyển là tầu đi biển chạy bằng hơi nưới (động cơ) thay cho buồm dùng sức gió. Biến tầu hơi nước thành tầu chiến chạy bằng dầu cặn (Gaz Oil).

11. Thời Nguyên Tử: Bắt đầu từ 06 Août năm 1945 với 2 quả bom trên đất Nhật, khơi mào cho thời kỳ thi đua vũ khí và lò điện Nguyên Tử bất kể thiệt hại ra sao cho môi trường sinh sống của chính người dùng nó để vô tình hay hữu ý tàn phá trái đất

12. Sau đó là thời kỳ Ðiện Tử: Bắt đầu phát triển vào năm 1966 cho đến nay như chúng ta đã biết. Thời kỳ này thay đổi hẳn cách sinh sống và cách suy nghĩ của nhân loại; vì bạo lực chỉ tàn phá môi sinh, phương tiện sản xuất chứ không thể giải suyết được vấn đề nhân mãn.

-----------------------------

TÓM LẠI :

Bỏ thời kỳ sơ đẳng, tính từ lúc biết tạo ra lửa đến nay thì loài người đã thay đổi não trạng và cuộc sống tất cả là 9 lần từ Sơ Đẳng, Hạ Đẳng, Trung Đẳng, Cao Đẳng đến Thượng Đẳng ; còn SIÊU ĐẲNG là đời con cháu chúng ta bắt đầu từ năm 2.000AD trờ đi.

Chúng ta được hưởng cuộc sống Thượng Đẳng ngày hôm nay là do sự tích lũy phát minh khoa học của nhân loại. Vậy thì chúng ta phải biết trân trọng bảo vệ thành quả cho xứng đáng.

Phải dạy con cháu chúng ta, không những ăn nói và cư xử cho xứng đáng là người Văn Minh Điện Toán mà còn phải có những phát minh khoa học để đóng góp cho nhân loại ; nhất là phải đóng góp cho nhân loại những nét Độc Đáo và đáng kính của NỀN VĂN HÓA THUẦN VIỆT để đừng trở thành kẻ ăn bm nhân loại.

Đừng sống như bọn Việt Nô Cộng Sản, từ bò cội nguồn, phỉ bán Văn Hóa Rồng Tiên để vinh dự được sống bám vào Văn Hóa Mác Lê và Mao. Do đó dân ta mới có cuộc sống HẠ ĐẲNG của thời kỳ NGỢM KHÔN mà ta gọi là KHỈ ĐỘT TRƯỜNG SƠN hay bọn sâu bọ lên làm người như Nguyễn Xuân Phúc trả lời câu hỏi của anh ta là : What do your name… Anh ta tỏ ra con người tài ba nên trả lới không suy nghĩ là I FUCK YOU

------------------------------

Trong tương lai vấn đề biên giới và giá trị của chủng tộc như thời kỹ nghệ sẽ mờ dần để thay thế cho vấn đề Nhân Bản, Nhân Sinh và Nhân Mãn cần phải giải quyết.

Lý do:

Nếu lúc này con người vẫn cứ tiếp tục đối xử với nhau bằng bạo lực, không còn tình nghĩa thì thật là rất nguy hiểm cho nhân loại.....Tức khí sát hại nhau để cuối cùng thắng thua gì thì cũng chết cả, chỉ vì thiếu dưỡng khí để thở và thiếu nước để uống.....Chúng ta đã và đang thấy tình trạng ô nhiễm môi sinh (pollution) do văn minh vật chất tạo ra mỗi ngày mỗi nhiều đã đến mức báo động đỏ rồi mà vẫn chưa ngưng.

 

Vậy thì người Việt chúng ta, nạn nhân của văn minh vật chất qua cuộc chiến thử vũ khí vừa qua trên đất mình, học hỏi và rút ra những kinh nghiệm gì đây để đưa ra đề án (hay học thuyết) đem an bình đến cho nhân loại để tránh tình trạng ô nhiễm môi sinh nguy hiểm cho toàn thế giới chứ chẳng riêng gì một mảnh đất nào cả. Mây nhiễm độc, nước nhiễm độc và cả bàu không khí nhiễm độc và hâm nóng do con người khai thác chất độc đã kết thành pétrole, uranium.....từ hàng triệu năm để có sinh vật sinh sống trên mặt đất này.

ö

Xin giới thiệu với quý vị 3 đường dẫn sau đây, và kính mời các vị hiền tài tiếp tay cho chương trình này được phong phú.
http://nhanvanviettoc.blogspot.com  là nơi lưu trữ tài liệu để soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com  là nơi lưu trữ các bài đã soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm) từ Tiểu Học đến Trung Học.

Nơi lưu trữ 3 kinh nhật tụng
1. Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18 tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)

SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ (Đủ Bộ)
https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ (Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k

SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph

Kênh  Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ là nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu trữ vô máy.


                                                                       Nhóm Nhân Văn Việt Tộc kính báo.

VĂN MINH đáng kính và VĂN HÓA tuyệt vời của dân Việt trong cách xưng hô trong vai vế BỐ và MẸ

õ


------------------------------------------------------------

T105(e) - Biến đổi NẾP SỐNG (thay đổi văn hóa)

ngày giảng 17.11.2022

sơ đồ

BIẾN ĐỔI VĂN HÓA

Thiết kế: Hoàng Đức Phương

Paris  28/5/2008




 ,,  

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil