samedi 10 juin 2023

T106 - LỊCH SỬ VÙNG ĐẤT ĐÔNG Á

T106 - LỊCH SỬ VÙNG ĐẤT ĐÔNG Á

Giảng ngày 24.11.2022

soạn giả : Hoàng Đức Phương

A.- NGUỒN GỐC VĂN HÓA

Văn-hóa: Văn-hóa là nếp sống và cách suy nghĩ của con người từ cá nhân đến tập thể như gia đình, xóm làng dân tộc và nhân loại.

Cá nhân thì gọi là cá tính, tập thể thì tùy theo số người (từ gia đình cho đến nhân loại) mà đặt tên như: gia phong, lệ làng cho đến dân tộc và nhân loại.

Nhân loại thì sống theo giá trị phổ quát như y phục, giao tế ....., do đó đi đâu thì phải theo phong tục ở đó thì mới gọi là người lịch sự, văn minh hay biết cách sống (H1).

ö

Chúng ta đã học: Thoạt đầu con người sống lẻ tẻ nên chưa có văn hóa vì chưa có cộng đồng, chưa có tiếng nói.

Khoảng 13.000 BC con người đã tự tạo ra thực phẩm nên có nhu cầu sống thành cộng đồng nhỏ độ vài trăm người, lúc này tiếng nói mới thành hình. Nói chưa thành câu, chưa có chữ viết (ký tự) mà chỉ có ký hiệu để ra dấu cho nhau. Ký là ghi lại, Tự là chữ viết, Hiệu là quy ước với nhau về biểu tượng như bảng chỉ đường cho xe chạy, lưu thông thủy lộ hay không lộ

Ø  Lúc đó chỉ có 2 nền văn hóa chánh là: Văn Hóa Nông Nghiệp và Văn Hóa Du Mục.

1.      Văn Hóa Nông Nghiệp đông đảo nhất và còn tồn tại cho đến ngày hôm nay ở Lục Địa Á Châu, mà ngày hôm nay người ta gọi là Hoa Lục gồm 3 nước là Ngô, Việt và Sở  được gọi chung là Bách Việt thuộc loại Miêu Tộc. Miêu là Mễ, tức ngũ cốc: Dân sống bằng nghề nông. Có ruộng nên phải ở tại chỗ, do đó họ có đời sống quần cư và định cư.

2.      Văn Hóa Du Mục đông đảo nhất và còn tồn tại cho đến ngày hôm nay phát xuất từ Trung Đông (Iran, Iraq ngày hôm nay).  Nghề này phải di theo cánh đồng cỏ (tức vùng STEPPE, ở Á Châu không có).  Steppe là vùng chỉ có cỏ thôi, các loại cây khác không mọc được (gọi nôm na là đồi cỏ).  Gia súc ăn hết cỏ đồi này thì phải di sang đồi khác. Do đó họ có đời sống quần cư, nhưng du-cư.

Môi trường sinh sống làm thay đổi nhiễm sắc thể, do đó hình hài thay đổi. Cách sinh sống làm thay đổi tâm tính con người; do đó văn hóa thay đổi theo phát minh khoa học mà ta gọi là văn-minh.

·        Văn-minh sinh ra văn-hóa (H1).

Kẻ thù của Nông Nghiệp là thiên nhiên, mưa nắng trái mùa. Do đó phải phân công, ai vào việc nấy: Chồng cày, vợ cấy con câu để nương tựa vào nhau mà sống.

Đó là cung cách sống của dân nông nghiệp: Bình đẳng, bình quyền, tương thân tương ái...từ đây mới sinh ra tư tưởng lấy tình người làm trọng, uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây rồi dần dần biến thành hành động cụ thể là tục lệ cúng giỗ người quá cố.

Ø  Người Tàu thuộc sắc dân du-mục nên không có tư tưởng thờ phụng người quá cố

Ngoài ra, nghề DU MỤC tạo nên con người hung dữ, háo sát vì phải la hét đàn gia súc, bắt chúng vào kỷ luật do mình đặt ra. Từ đây mới sinh ra bạo lực: Mạnh được, yếu thua, trọng Nam khinh Nữ, trọng Phú khinh Bần rồi đi đến quan niệm: Đất của Chúa, lúa của Trời.

ö

B.- LỊCH SỬ DÂN NÔNG NGHIỆP

Người Việt là một phần của sắc dân Nông Nghiệp (Miêu Tộc), lập quốc vào năm 2.879BC như đã nói trong bài trước (A-02). Đây là sắc dân Miêu Tộc khai phá và lập nghiệp trên địa bàn nay gọi Đông Nam Á Châu. Người Tàu tiếm danh nên họ gọi là HOA LỤC, tức lục địa của người Hoa sinh sống; họ không có biên cương và chủng tộc rõ rệt. (§ tài liệu minh chứng)

Mạo nhận danh xưng:

Người Hoa đi từ chữ Trung Hoa, tức trung tâm tinh hoa của vũ trụ. Có nghĩa là con người văn minh nhất trong thời đại. Chữ Trung Hoa không phải là địa danh (tên gọi của vùng đất)

Như vậy thì chữ người Hoa sống trên đất Trung Hoa ngày hôm nay (2017) phải là người Mỹ và nước Mỹ hay người Nhật sống trên đất Nhật chứ đâu có phải người Tàu sống vô kỷ luật, ăn nói oang oang, phóng uế tự nhiên trước công chúng.

Giấy còn thiếu thì làm chi có giấy đi cầu; họ chùi bằng lá cây, hay sỏi đá, trong nhà không có cầu tiêu tự hủy vì họ còn dùng của phóng uế để làm phân bón ruộng mà dưới thời Gia Long dân Bắc gọi là PHÂN BẮC để  nhạo báng tinh thần vọng ngoại của nhà vua.

 

Khoa khảo cổ cho biết là nghề nông phát xuất từ cuộc sống quần cư và định cư ở ven biển Ðông (tức từ Nam Dương Quần Ðảo vòng lên bờ biển Phi Luật Tân). Nghề này có cách đây 15.000 năm (13.000BC). Lúc này nước biển thấp hơn ngày hôm nay là 130,5 mètres. Đất Việt dính liền với Phi Luật Tân và Nam Dương Quần Ðảo.

Ø  Giữa Phi Luật Tân và IRAN phủ đầy tuyết, không có sự sống.

Từ 13.000BC cho đến 8.000BC, bàu không khí trở nên nóng, tuyết tan dần, nên mực nước vùng biển Thái Bình Dương dâng cao dần dần lên đến 10,3 mètres hơn mực nước ngày hôm nay. Trung bình mỗi năm dâng cao 2cm. Dân sống ven biển phải lui dần lên chỗ cao: Tây Tạng, dãy núi Hy Mã Lạp Sơn, dãy núi Trường Sơn để sống. Dân cư sinh sống trong vùng này bằng nghề Nông nên gọi là Miêu Tộc gồm có dân Ngô, Sở, Việt, Chiêm và Khmer.

Sau đó nước rút dần, vì khí quyển lạnh trở lại cho đến khoảng 3.400BC thì ngưng ở mực nước hiện tại. Lúc này cư dân lần theo sông trở ra biển để trồng trọt (§ H2 : Biểu đồ mực nước biển MSL mean sea level đính kèm).

Họ theo 3 con sông lớn là Hoàng Hà (qua Bắc Kinh), Dương Từ (qua Thượng Hải), Tây Giang (qua Hương Cảng), Hồng Hà (qua Hà Nội), sông Mã (qua Thanh Hóa), sông Cửu Long (qua Lào, Campuchia và đồng bằng Nam Việt).

Thời đó chưa có giấy bút nên mọi kinh nghiệm đều được truyền lại cho hậu thế bằng bia miệng, huyền thoại hóa sự thật lịch sử để ai ai cũng muốn nghe và cũng muốn kể lại. Thời đó, khi đánh nhau để xí phần quản trị đất đai thì người xưa huyền thoại hóa cuộc trở về quê cũ làm ăn bằng Ðế Nghi và Lộc Tục (H4)

 

thời điểm 3.000BC di chuyển khó khăn nên biên giới thiên nhiên là sông rộng và sâu, núi rừng âm u hiểm trở, biển cả bao la; vì thế nên định cương vực của một nước rất dễ dàng. Khi trở về quê cũ lập nghiệp thì người Ngô lập binh đội để xâm lăng các dân tộc ở phương nam; vì miền bắc quá lạnh và chẳng bõ đi ăn cướp.

Ø  Thế là con cháu Lộc Tục đánh nhau.

 

Con cháu Đế Nghi hưởng thanh bình nên sau này bị dân du-mục (TÀU) gậm nhấm từ từ (nhà Hạ và nhà Thương) rồi bắt làm nô lệ luôn; khởi đầu bằng nhà Chu với chế độ Phong Kiến, tức nhìn (kiến) trên bản đồ rồi phong cho mỗi vị chư hầu một mảnh, hàng năm đóng thuế là đủ. Đây là tư tưởng của dân du-mục: Đất của Chúa, lúa của trời.

 

Cương vực nước Ngô được bao bọc bởi sông Dương Tử và sông Tây Giang, theo thể chế Quân Chủ chuyên chế: Ðất của Chúa, lúa của Trời. Ðẻ ra học thuyết Thiên Tử để tự cho mình cái quyền đi đánh thiên hạ để phá cai ngu cho họ (!).

Vì chống xâm lăng nên phải lập quốc để tự vệ. Khi lập quốc thì phải lập binh đội, phải đẻ ra học thuyết để kéo chánh nghĩa về mình. Do đó nước Sở và nước Việt phải lập quốc để tự vệ.

 

Cương vực nước Sở thuộc vùng Tứ Xuyên (4 con sông lớn đi qua vùng đất này) ngày hôm nay, theo thể chế Quân Chủ Ðại Nghị với học thuyết Vô Vi, về sau Lão Tử viết lại cho có mạch lạc. Nên nhớ là lúc đó chưa có giấy nên phải viết trên dóng tre hay trên mành mành tre, nứa. Đi đâu thì cuốn lại rồi xách theo nên gọi là cuốn sách (#550BC, thời đại đồ thép non)

 

Cương vực nước Văn Lang của Liên Bang Việt gồm 15 tiểu bang (lúc đó gọi là Bộ Lạc, tức vùng An Lạc; muốn có an lạc thì phải lập quốc) từ sông Tây Giang đến tận đèo Hải Vân (lúc đó gọi là Ải Vân) theo chế độ Dân Chủ Phân Quyền, từa tựa giống tổ chức của nước Mỹ, ngày hôm nay.

Chỉ khác một điều là nhiệm vụ vua Hùng là lo chu toàn kết hợp 15 tiểu bang đó thành một khối thuần nhất, thời gian cần phải có là 2.629 năm trong 18 Triều Ðại Vua Hùng (ta gọi là 18 đời vua Hùng, đời là tiếng Việt còn Ðại là tiếng Tàu). Trong khi đó thì nhiệm vụ của Tổng Thống Liên Bang Hoa Kỳ là làm sao cho Liên Bang hùng mạnh vì họ không có vấn đề thống nhất ngôn ngữ, thống nhất văn hóa phải làm. Hơn nữa phương tiện di chuyển và truyền thông ngày hôm nay khác với thời Hùng Vương phải đi bằng ngựa, thông tin chậm chạp, chưa có computeur, chữ viết cũng chưa có, tiếng nói còn thô sơ, phát ngôn bất thành văn.

-        Chữ VIỆT có nghĩa là Cầu Tiến: Cố gắng VƯỢT qua mọi trở ngại để thăng tiến cùng người.

-        Nước Văn Lang có nghĩa là nơi sinh sống của những người Hào-hoa Phong-nhã, Phóng-khoáng Hào-hiệp, Lịch-sự Bặt-thiệp. Tức có tinh thần Tự Trọng

·        Đó là tiêu chuẩn mà các triều đại Hùng Vương phải làm, còn không thì Liên Bang giải tán và banh xác trước kẻ thù là quân NGÔ.

Học thuyết Tự Vệ của dân Việt được ký thác trong chuyện Lạc Long, Âu Cơ, nói lên 20 năm nằm gai nếm mật của Lãnh Vương vùng Lạc Việt tên là Câu Tiễn (Quảng Ðông ngày hôm nay) để biến nước Ngô thành 3 vùng của nước Văn Lang là: Ngô-Việt (Chiết Giang, chữ Tàu là WU YUE, hay yueh), Mân-Việt (Phúc Kiến, chữ Tàu là MIN) và Bách Việt (Hồ Nam).

Ø  Thông điệp ký thác trên mặt trống đồng 14 tia và Học Thuyết Rồng Tiên là:

1.  Xây dựng con người: Tự-lực, Tự-cường, Tự-trọng, Cầu-tiến (Việt Giáo)

2.  Xây dựng xã hội: Kết hợp với nhau bằng Tâm, cư xử với nhau bằng Ðức. Bình đẳng tột cùng, thân thương tột độ (Việt Đạo)

3.  Quy luật đấu tranh: Ðòi lại những gì đã mất. Cương quyết tiêu diệt kẻ thù nhưng không những không truy kích hay trả thù trong khi đấu tranh, mà còn phải độ lượng và khoan dung với kẻ thù sau khi chiến thắng (Việt Triết).

4.  Bửu bối thoát vòng nô lệ: Gọi Bố về cứu là ẩn dụ: Hãy sử dụng sức mạnh Tâm Linh (tim và óc) chưa dùng tới bằng cách ôn lại Văn Hóa và Học Thuyết đấu tranh của tổ tiên để lại (Việt Lực)

Vì thành lập Liên Bang Việt nên 15 tiểu bang phải tự cho mình một cái tên trong đó có chữ Việt như: Lạc Việt, Âu Việt, U Việt, Việt Ðiền ......Việt Thường. Việt có nghĩa là tinh thần Cầu-tiến (H5).

ö

 

C.- LỊCH SỬ DÂN TÀU

(dân du-mục, phát xuất từ IRAN)

Nguồn gốc danh từ:

·        Trung Hoa, Tàu, Hán dân (tức thần dân nhà Hán) và Hán tộc (tức chủng tộc Hán)

·        Danh từ TÀU dùng để chỉ người đàn ông phương Bắc, tức bên kia sông Dương Tử chảy ra Thượng Hải, vợ người TÀU thì gọi là cô xẩm hay mụ xẩm. Cô là chưa có chồng, mụ là đã có chồng rồi.

 

Tàu và Xẩm là danh từ xếch-mé của Triệu Việt Vương (tức Triệu Đà) sau khi thua quân của mụ Lã Hậu ở Tràng Sa (vùng đất Hồ Nam) vào năm 183BC, được dùng để đối kháng với danh từ trịch thượng của Lã Hậu (vợ Lưu Bang, tức Hán Cao Tổ) là Trung Hoa, Bắc Rợ, Tây Quỷ và Nam Di. Trung Hoa là trung tâm tinh hoa của vũ trụ, gọi tắt là HOA

Sở dĩ Lã Hậu đặt ra những giống người này là để lấy cớ xua quân đi đánh khắp nơi, nhất là phía nam có nước NAM VIỆT; mục đích là để giết phe chống lại sự nhiếp chính của mụ.

 

-       Năm 183BC Hán Cao Tổ chết, vợ là Lã Hậu nhốt con vào tù để nhiếp chính, do đó mụ phải đặt ra trách nhiệm của mình là đi khai phóng thiên hạ. Năm đó quân của mụ đánh bất thần vào Tràng Sa (tỉnh Hồ Nam, vùng Bách Việt) và đại thắng vì bị đánh bất ngờ nên Triệu Đà thua và hạ lệnh tiêu thổ kháng chiến để câu giờ, đợi viện binh tái chiếm.

-      Năm sau (182BC) Triệu Đà lấy quân ở vùng Lạc Việt (Quảng Đông) và Âu Việt (Quảng Tây) và cho mụ cái tên là TÀU và XẨM để đối kháng trước khi tái chiếm Tràng Sa. Cuộc phản công này đại thắng.

 

-      Năm kế tiếp là năm 181BC, Lã Hậu kéo quân đến phục thù nhưng đại bại nên Triệu Đà đổi niên hiệu Triệu Việt Vương thành Triệu Vũ Đế để sửa soạn cất binh đi trừng phạt Tràng An, kinh đô của nhà Tây Hán.

-      Vì vậy nên quần thần giết Lã Hậu và rước Thái Tử lên ngôi với miếu hiệu Hán Thái Tôn.

 

Sau khi lên ngôi thì Hán Thái Tôn, lập tức viết ngay văn thư xin lỗi Triệu Đà, xin bãi binh và giao thương như trước; nói là mọi sự cố đều do Lã Hậu gây ra, nay mụ đã đền tội rồi.

Triệu Đà đồng ý bỏ qua để dân chúng đôi bên đỡ khổ.

·        Lúc này thì danh từ Trung Hoa, Bắc Rợ, Tây Quỷ và Nam Di không ai dám dùng vì sợ uy Triệu Đà; nhưng danh từ TÀU và XẨM thì vẫn dùng để ghi chiến tích lịch sử này.

 

Nên nhớ là: Dân Tàu không có dân tộc, họ chỉ có Triều Đại nhà nào thì Thần (phục) Dân nhà đó; biên cương thì co rút tùy từng thời đại. Nhất là họ hay nhận xít như bị quân Mông Cổ (tức Rợ Hồ) cai trị thì họ nhận ngay là Thần Dân nhà NGUYÊN; nhà MIMH (tức người Ngô, vùng Thiều Châu, thuộc sắc dân Nam Di) cai trị thì họ lại nhận ngay là Thần Dân nhà MINH. Khi bị nhà THANH (Rợ Kim) cai trị thì họ lại chùi ngay mép để nhận mình là thần dân nhà THANH. Tức dân Tàu có tinh thần nô dịch bạo lực của triều đình, mà triều thần thì áp dụng chánh sách Quân Phiệt lấy võ lực để đàn áp thần dân. Do đó chính dân Tàu không bao giờ có hạnh phúc cả; vậy thì họ đòi đi khai phóng tâm trí cho ai đây?

Ø  Năm 1911 ông Tôn Dật Tiên, người Việt ở Quảng Đông (người Tàu gốc Việt) đẻ ra học thuyết TAM DÂN (dân sinh, dân chủ, dân quyền=hạnh phúc, độc lập, tự do) để đuổi nhà Thanh đi giành lại tự chủ cho tất cả mọi sắc dân thuộc Thần Dân nhà THANH. Vì muốn mọi nơi hưởng ứng nên ông đặt tên đảng của ông là TRUNG HOA DÂN QUỐC ĐẢNG.

Danh từ Trung Hoa được ổng khôi phục lại; kẹt một cái là chữ Thần Dân phải phế bỏ vì không hợp với chữ dân quyền, không lý dân quốc mà không có dân tộc thì coi không được nên ông phịa ra HÁN TỘC để chỉ tất cả các sắc tộc sinh sống trên lục địa mang tên hỗn danh là: HOA LỤC, kể cả các sắc dân như: Rợ Hồ (Mông Cổ), Nam Di (Ngô, Thiều Châu) và Rợ Kim (Mãn Thanh) là kẻ ngoại chủng thống trị mình cũng đều là Hán Tộc cả, chỉ có những thành phần nào chống đối thì mới mang tên sắc dân của mình như: HOA NAM (la Chine du Sud gồm Ngô, Sở , U Việt, Âu Việt và Lạc Việt) Người Mãn Thanh thì gọi là La Chine du Nord. Danh từ CHINE là phiên âm của chữ TẦN (T'sin.)

 

Ý nghĩa danh từ: TRUNG HOA

Trung Hoa = trung tâm tinh hoa của vũ trụ, tức nơi người văn minh nhất đang sinh sống. Vậy thì Trung Hoa ngày hôm nay (2017) phải là nước Mỹ, nước Nhật chứ đâu phải nước Tàu người dân ăn nói oang oang, khạc nhổ tùm lum làm mất vệ sinh như thời ăn lông ở lỗ. Xẩm có nghĩa là LÒA, do đó suy ra chữ Tàu có nghĩa là Ngố. Dân Việt vẫn có câu "Ngây Ngô như chúa Tàu nghe kèn".

 

Người Tàu thuộc sắc dân Du Mục, có nền Văn Hóa mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé, theo phụ hệ. Tuy hấp thụ nền văn hóa Nhân Bản, Mẫu Hệ của dân nông nghiệp nhưng vì tự ái của kẻ xâm lăng nên biến đổi đôi chút cho lai căng thành văn hóa Du Mục nửa mùa rồi nói đó là Văn Hóa của mình đấy.

Rõ ràng Văn Hóa Tàu bắt nguồn từ Văn Hóa Nhân Bản, Hài Hòa của Bách Việt là chủ nhân ông của Lục Địa Trung Hoa. Dân nông nghiệp có mặt tại lục địa Á Châu (nay gọi là Hoa Lục) cả ngàn năm trước dân Du Mục (3.400BC/1.700BC).

ö

THỂ  CHẾ  QUÂN  PHIỆT

(BẠO CHÚA)  BÊN  TÀU

Theo tiếng Việt, chữ Tàu là thằng ngố, vợ thằng ngố là con lòa (mụ Xẩm, xâm-xẩm tối nhìn không rõ). Thời nhà Chu không có danh từ Nam Di, Bắc Rợ, Tây Quỷ; chỉ thấy nói là người Việt phương nam đem biếu mu rùa, chim trĩ.

Người Tàu là hậu duệ của dân du-mục từ Trung Đông di qua thuộc nhiều sắc dân, trong đó tuyệt nhiên không có dân HÁN. Hán là tên nước do Triều Đại Lưu Bang đẻ ra vào năm 203BC. Vì nhu-cầu chánh-trị của ông ta.

·        Tóm lược lịch sử nước Tàu theo cuốn "La gloire des Empereurs" Bắc Kinh ấn hành năm 2000

 

1.700(?)-1.500 (BC)....Nhà Hạ (XIA) chưa có tổ chức xã-hội. Địa bàn: Lưu vực  con sông Hoàng Hà, mạnh ai nấy sống giữa du-mục và nông nghiệp tại chỗ. Nhà Hạ là dân du-mục từ Trung Đông di tới, sách gọi là barbare tức mọi rợ, vậy thì không thể gọi họ là Hoa Hạ được (Hoa=tinh hoa, văn minh).

 

1.500-1.122 (BC) Nhà Thương (SHANG-lưu vực Hoàng Hà): từ Trung Đông tới, chung sống hòa bình với dân nông nghiệp tại chỗ (Hậu duệ Đế Nghi).

Mãi đến tận 200 sau mới tổ chức thành nước. Đó là thời điểm phát sinh ra chữ Tượng Hình và Tượng Ý. Vì vậy nên đổi tên thành nhà ÂN

 

1.122-771 (BC)  Nhà Tây Chu (ZHOU de l'OUEST): Diệt Thương, đốt sách, tàn sát nên con cháu nhà Thương phải qua Mỹ bằng ngả ALASKA, tức dân da Đỏ. Chia làm 2 giai cấp: Thống trị (dân du-mục từ Trung Đông di tới) và Bị-trị là dân nông nghiệp tại chỗ. Đẻ ra chế độ Phong Kiến để chia nhau mà cai-trị theo luật của mình. Nhìn (kiến) trên bản đồ rồi phong cho vùng tự trị.

771-481 (BC)   Đông Chu thời Xuân Thu (Printemps).

481-221 (BC)   Nhà Đông Chu, 7 nước đánh nhau.

221-208 (BC)  Nhà Tần (QIN):Tần Thuỷ Hoàng (Hàm Dương), cùng thời với:

Ø Thục Phán (Việt)

Ø Nhâm Ngao, và Triệu Đà (người Việt gốc Ngô) : Kháng chiến, kiểm soát vùng duyên hải. Nhâm Ngao là Quân Vương, khi chết đi thì Triệu Đà là Phó Quân Vương lên thay. Triệu Đà sinh năm 158BC, diệt Đồ Thư là tướng của Tần Thủy Hoàng ở MA THIÊNG LÃNH (Hồ Nam) năm 214BC.

 

208-207 (BC) :  Hạng Võ giải-phóng nước Sở tiến vào Hàm Dương, cùng thời với: Triệu Đà dứt Thục Phán đặt quốc hiệu là Nam Việt.   Tức tuyên bố chủ quyền trên phía Nam sông Dương Tử là của người Việt (chưa có Hán).   Ngụ ý nói là: Ngô Việt là một, kẻ thù của chúng ta là người phía bắc con sông Dương Tử Giang.   Lúc này chưa có nhà Hán, sau biến thành Bắc Hán, Nam Việt là do Lưu Bang đặt ra để xin giao thương với Triệu Đà.

·        Chú thích: Ngô Việt cùng một nền văn hóa lúa nước.

 

206-203 (BC)  Lưu Bang dấy nghiệp, thâu tóm đất nhà CHU (ZHOU); sau khi Hạng Võ bỏ  đất nhà Tần lui binh về nuớc Sở (vùng Tứ xuyên). 

 

203-185 (BC)  Lưu Bang diệt Sở lập lên nhà Tây Hán; rồi xin hiệp thương với Triệu Đà và chấp nhận phân ranh Bắc Hán, Nam Việt.    Hai bên giao-hảo để phát triển kinh tế. Danh từ Bắc Hán Nam Việt là do Lưu Bang đặt ra để tránh chiến tranh, vì hắn cần phục hồi kinh tế sau khi thâu tóm nước Sở.

 

185-*183 (BC) : Lưu Bang chết, Lã Hậu (vợ Lưu Bang) cướp ngôi, nhốt con vào tù, đánh chiếm Tràng Sa (Hồ Nam) của Triệu Đà. Bị đánh bất ngờ nên Triệu Đà thua.

*182-181 (BC) :            Triệu Đà phản công, Lã Hậu tái chiếm nhưng thất bại.

*180-111 (BC) :            Triều thần giết Lã Hậu, phục chức Thái Tử; Thái Tử xin lập lại bang giao với Triệu Đà; phát-triển kinh-tế.

*111(BC)-30(AD) :   Mãng Vương cướp quyền vì Tây Hán đem binh đi diệt nhà Triệu, tiến đánh nuớc Nam.       Quân viễn-chinh kéo về. Hai bên giao tranh trong suốt 141 năm.    Giao Châu độc lập.

 

**30-222 (AD) : Đông Hán lấy lại quyền lực, di đô sang phía Đông (Lạc Dương). Năm 39 sai Tô Định sang đánh nước Việt bị thua, bèn cử Mã Viện sang phục thù.

 

222-265                 Tam Quốc: Nước Tàu chia 3 thành thế chân vạc. Vùng Giao Châu thoát ra. Đó là thời  Sỹ Vương, người Âu Việt (Quảng Tây). Lúc đó, Giao Châu (Bắc Việt ngày nay) là đất bình yên cho nhân tài đến tỵ nạn binh đao triền miên trên lục địa nước Tàu. Đất lành chim đậu.

 

265-420   Nhà Tấn: Lực lượng mạnh nhưng chưa đủ để cai-trị toàn cõi, nên Giao Châu độc lập.

420-589   Nam Triều (7 vùng độc-lập); Bắc Triều (6 vùng độc-lập) – Giao Châu cũng độc lập luôn

589-600        Nhà Tùy (SUI) có 11 năm mà bắt dân đào kinh, du thuyền đi từ Tianjin (Đông Nam Bắc Kinh) đến Rongyan, Thượng Hải, cuối cùng là Hàng Châu. Sau chuyến du ngoại này thì mất quyền, nhưng tục bó chân ra đời. Giao châu độc lập

600-608        Đại Loạn, chiến tranh triền miên. Giao Châu thanh binh

608-907        Nhà Đường (TANG). Giặc Cao Biền tạm chiếm vùng ven biên đến tận Thanh Hóa. Từ Thanh Hóa tới đèo Hải Vân thuộc lãnh vực Việt Thường với chiến khu Lâm Ấp từ Bố Chánh (Quảng Bình) đến đèo Ải Vân (Hải Vân). Quân Lâm Ấp và quân Nam Chiếu (tức U Việt thuộc Vân Nam) thường đem quân về giải cứu; vì thế quân Tàu phải rút về đồn khi tối đến (§ La Terre De Chine / Văn Hóa 16).

907-959        Ngũ Đại (hay Ngũ Quý) đánh nhau không ngừng ở vùng ven biển Quảng Đông: Ngô (WU); Ngô-Việt (WU YUE); Sở (CHU) và Nam HÁN (HAN DU SUD).  Bên ta: Thời ông Dương Diên Nghệ; Ngô Quyền - Đinh Tiên Hoàng. Độc Lập với nhiều vùng tự tị có võ trang.

907-1.125  Trong thời Ngũ Đại thì ở phía Bắc sông Hoàng Hà là nhà LƯƠNG (Empire des LIAO) và nhà HÀN CHU (Empire des XIXIA. Phía Tây ở đầu nguồn: HOÀNG HÀ; DƯƠNG TỬ GIANG và TÂY GIANG thuộc OUÏGOURS HUANG TOUVương Quốc Thục (Rouyame TUBO) . Bên Ta bắt đầu xây nền tự chủ cho tới thời Gia Long đem Tây vô cai trị

959-1.278  Phía Nam sông Dương Tử thì nhà Tống (SONG) dẹp phân tranh, lập lại uy-quyền; tính xâm lăng Giao Chỉ thì bị Lý Thường Kiệt tiến đánh châu Ung và châu Liêm (Lưỡng Quảng)

1.278-1.341    Dân Tàu nô lệ: Nhà Nguyên (Mông Cổ) sang chiếm đặt nền Đô-Hộ. Bên Ta là nhà Trần

1.341-1.368    Đại Loạn, quân hồi vô lệnh. Giặc cướp tứ tung. Bên ta là nhà Trần

1.368-1.628    Dân Tàu nô lệ nhà Minh (người Ngô, Phúc kiến –Nam Di) nắm quyền. Bên ta là nhà Hồ-nhà Hậu Lê.

1.628-1           911 Dân Tàu tái nô: Nhà Thanh (Mãn Thanh) thống-trị. Bên ta là Trịnh Nguyễn phân tranh, Tây Sơn thống-nhất; rồi Gia Long mời Tây qua để Đô-Hộ dân ta.

1.911-1.930    Cách mạng Tam Dân của Tôn Dật Tiên chống Nhật.

o  Bên ta: nô-lệ Pháp.

1.930-1.949    Tôn Văn chết; đảng chia đôi Quốc (Tưởng Giới Thạch) Cộng (Mao Trạch Đông).

o  Bên ta: nô lệ Pháp, rồi nồi da xáo thịt!

Ø 09/3/1945: Nhật bắt Tây bỏ tù, trao trả độc lập cho ta. (Chánh Phủ Trần trọng Kim, cờ Quẻ Ly).

Ø 02/9/1945: Việt Minh cướp quyền trong tay chánh phủ Trần Trọng Kim chứ không phải trong tay thực dân Pháp hay Phát-xít Nhật.

Ø Việt Minh đem chiến tranh tới giết hại 2 triệu thanh niên nam và nữ, và 10 triệu người tàn phế của cả đôi bên. Dân tộc băng hoại, hầu hết sinh lực bị nướng trong chiến tranh thử vũ khí NGA/MỸ

Dân Việt lãnh đủ hậu quả chơi ngông của "Bác Hồ". Hậu quả: Tụt hậu và đợi ngày tiêu vong!!

·        1.949-2009 Mao đánh chiếm lục-địa, Tưởng chạy qua đảo Đài Loan .   Thắng bại thì đợi hạ hồi phân giải.   Đài Loan là một đảo độc lập, bị Nhật chiếm đóng trong đệ nhị Thế Chiến; sau đó trả cho Mỹ....rồi Mỹ trao lại cho Tàu Tưởng vào năm 1949 (§ lịch sử Formosa đính kèm).

Cũng theo cuốn sách này xác định thì:

a)     Người Tàu lập quốc từ nhà Thương (1.500BC). Dân Miêu tộc lập quốc năm 2.879BC

b)     Thời chiến quốc, thất quốc tranh hùng (770BC-221BC), vùng Bách Việt chưa bị Tàu cưỡng chiếm (7 nước : Sở, Tống, Tề, Tấn, Tần, Ngô và Việt)

 

Thời Chiến Quốc (770-221BC) thì nước NGÔ (WU) còn tử thủ được phần đất ở phía bắc con sông Dương Tử Giang; tức thành phần không chịu hội nhập vào nước Văn Lang dưới thời Việt vương Câu Tiễn (#600BC).

Biên giới phía Bắc của nước Việt (YUE) lên tới tận sông Dương Tử, lúc này (#600BC) một phần lớn của nước Ngô dưới thời Ngô PHÙ SAI đã hội nhập vào Liên Bang Văn Lang và chia làm 3 vùng theo thể chế Liên Bang 18 tiểu quốc bằng cách hội nhập văn hóa, chung sống hòa bình.

Chú thích: Người Ngô sinh sống cả 2 bên lưu vực con sông Dưong Tử Giang (§bản đồ bên Tàu ngày nay chữ Tàu còn ghi là WU (Ngô) YUE (Việt)

a)     Bách Việt là nơi có hồ Động Đình vì chuyện 100 trướng 100 con do Phạm Lãi Văn Chủng kể lại trận đánh bằng bia miệng (huyền thoại) vì lúc đó chưa có chữ viết.

b)     Ngô Việt (người Việt gốc Ngô=Wu-Yue), là vùng Chiết Giang, có hồ Phiên Dương

c)     Mân Việt (MIN) là người Việt ở vùng con sông Mân, tức tỉnh Thiều Châu ngày hôm nay

Phúc Kiến là tỉnh lỵ quản trị vùng Thiều Châu. Thiều Châu là đất của người Thiều (Triều)

 

D.- GIAO LƯU VĂN HÓA TÀU và VIỆT

Như trên đã phân tích thì chúng ta thấy là lúc khởi đầu thì nhân loại chỉ có 2 nền văn hóa chính là: Nông Nghiệp (nhân bản) là nền văn hóa định cư và Du Mục (bạo lực vì phải nạt nộ đoàn gia súc) là nền văn hóa du cư nên 2 tư tưởng trái xung khắc nhau.

A.    Văn hóa Việt thuộc nền văn hóa nông nghiệp, lấy tình người làm chính. Có ruộng bên cạnh nên thuộc nền văn hóa định cư.

B.     Văn hóa Tàu thuộc nền văn hóa du cư, lấy sức mạnh bắp thịt làm chinh.

 

Văn Hóa của người Tàu là gì?

Lịch sử chứng minh rằng:   Anh Ba Tàu chẳng có cái chi cả, đi đến đâu thì ăn cắp đến đó rồi Tàu hóa để thành của mình.   Tư tưởng thì kiêu, muốn thống trị và làm bố người ta thì phải tự đề cao mình và dìm người xuống bằng cách dựng đứng lịch sử (bóp méo lịch sử).

ü  Danh từ TÀU do Triệu Đà ban cho vào năm 182BC.

ü  Danh từ BA Tàu (người em thứ 3 trong đại gia đình Đông Á được dân ta xếp hạng anh em vào năm 1942. Cớ là năm đó quân NHẬT sang « giải phóng »  cho dân da vàng thoát khỏi gông cùm của dân da trắng để xây dựng gia đình Đông Á (Á Châu của người Á Châu). Do đó dân ta phân loại anh em trong gia đình : Việt là anh cả (bé hạt tiêu, Nhật là anh Hai có công giải phóng đùm bọc lẫn nhau. Tàu là anh to xác ăn bám nên gọi là anh BA

Dân nông nghiệp có cách sống nhân bản hơn dân du mục, nên khi chúng thống trị ta thì ngoài mặt chúng phải dùng Ngoại Nho Nhân Bản của dân nông nghiệp để dụ kẻ bị trị, nhưng vì văn hóa của chúng thua kém nên chúng phải dùng Nội Pháp để trị.

 

Giống y chang bọn Cán Ngố Việt Cộng ngày hôm nay nè: Khi bọn chúng vào thống trị dân Nam, mồm thì nói nhân nghĩa nhưng bụng đầy AK47; nạt nộ đi cải tạo, kinh tế mới, vào nhà thương điên. Nếu không làm theo lời Đảng dạy thì đi tù mọt gông!

Bằng chứng cụ thể:

BINH PHÁP : Phương pháp dụng binh

·        Binh pháp Tàu thua binh pháp Việt qua các trận thư hùng như:

1.      Câu Tiễn đánh Ngô Phù Sai (#600BC).

2.      Ngô Quyền đánh Nam Hán (938AD).

3.      Lý Thường Kiệt phạt Tống, bình Chiêm (1075AD).

4.      Trần Hưng Đạo diệt quân Nguyên (1257 + 1284/1285 và 1287/1288).

5.      Lê Lợi bình quân Minh (1427).

6.      Quang Trung diệt quân Thanh (1789).

RẰNG:  Người Tàu không có Binh Pháp rõ rệt, nên chúng nhiệt liệt ca tụng Binh Thư Tôn Tử; mà Tôn Tử lại là người Ngô (Nam Di). Binh pháp Tôn Tử thua binh pháp Phạm Lãi nên nước Ngô mới bị sát nhập vào nước Văn Lang sau trận đánh Thư Hùng vào khoảng 600BC.

 

VĂN HÓA : Cách sống và cách suy nghĩ của con người 

RẰNG :

Ø  Người Tàu ở Bắc Kinh ngày hôm nay đã mất gốc từ lâu rồi.

Chỉ vì họ không chịu chấp nhận là họ đã bị nô lệ ngoại bang như nô lệ: nhà Nguyên (Mông Cổ), nhà Minh (Ngô ở Thiều Châu), nhà Thanh (Mãn Thanh) hay Tôn Dật Tiên (người Việt ở Quảng Đông) với học thuyết Tam Dân.

Chẳng qua là họ không có gốc nên nhận người cưỡng chiếm mẹ mình làm cha. Vì tư tưởng như vậy nên họ chỉ biết phù thịnh, chấp nhận nô lệ : "Đất của Chúa, Lúa của Trờỉ"

 

Một vài bằng chứng cụ thể không thể chối cãi được:

·      Y phục: Cách ăn mặc của người Bắc Kinh ngày hôm nay khác hẳn với cách ăn mặc của dân nhà Hán hay dân nhà Chu.

·      Ngôn ngữ: Sau không biết bao nhiêu lần thay đổi cách hành văn theo nhà cầm quyền, nay họ theo cách hành văn của nhà THANH, thêm những chữ vô nghĩa và ruờm rà như chữ CHI mà khi truớc không có.

Khi bị quân Mông Cổ cai trị thì hành văn theo cấu trúc dân MÔNG mới là trí thức, khi nhà Minh cai trị thì họ hành văn theo kiểu Thiều Châu, nay nhà Thanh thì đầu không tóc thì sống, còn để tóc thì không còn đầu.

Bằng cớ là họ cổ võ cho tiếng Quan Thoại, tiếng nói của nhà cầm quyền mới oai. Điều này thì chúng ta không lấy chi làm lạ; hãy đọc tiểu thuyết dưới thời nô lệ Thực Dân Pháp thì rõ, phải nói tiếng Tây mới oai, dù đó là tiếng Tây Bồi (Boy= người chạy bàn trong quán ăn)

·      Văn hóa và tư tưởng:

ü  Con Rồng:

Ai cũng biết: Rồng là con đực, không có con Rồng cái.

Rồng Việt có mây còn Rồng Tàu không có mây. Lý do là vợ con Rồng Việt là Tiên. Tiên sống trong mây nên vẽ có đôi vợ chồng mà dân Việt vẫn nói là : Vùng vẫy như Rồng gặp mây là thế.

Anh Tàu ăn cắp tư tưởng này, đem về bỏ mây đi nên thiếu con Rồng Cái; anh ta bèn phịa ra con Phụng là vợ con Rồng; nhưng gốc gác lại là con gà mái ghẹ tu 9 kiếp đắc đạo nên trở thành con Phụng cho xứng đáng làm vợ con Rồng.

Lòi đuôi ăn cắp: Rồng và Tiên là 2 linh vật giả tưởng dùng để ký thác tâm tư. Còn Long và Phụng: Một con là linh vật giả tưởng, còn con kia lại là con vật có thật rồi thần thánh hóa nên không ăn khớp với nhau.

 

ü  Triết lý sống của Tàu và Việt cũng khác nhau:

Anh Tàu thì chúc cô dâu chú rể là: Phong Phụng giao duyên. Đó là tư tưởng thụ hưởng xác thịt một cách ích kỷ: Anh chị hú hý cho xướng, còn chuyện đời đã có nhà vua lo.

Ø  Đây là phản ảnh của tình thần nô lệ, ỷ lại, ăn bám.

Người Việt thì chúc cô dâu chú rể là: Rồng Tiên song hiệp.

Có nghĩa là 2 phái bố xung với nhau cho được chu toàn để sống cho mình và sống cho người (chuyện Chữ Đồng Tử và Tiên Dung đã nói lên tư tưởng này).

ü  Cung Chúc tân xuân:

RẰNG,

Chúng ta vẫn dùng Âm Lịch, mặc dù âm lịch không thể định mùa gieo mạ được; đây là đầu óc nô dịch từ thời Mã Viện (43AD) mà không hay biết.

Xin coi bài Việt Lịch thì rõ sự uất nghẹn của dân ta. Không biết thì thôi, còn biết thì uất lên vì nền Văn Minh đầu tiên của tổ tiên chúng ta đã bị Mã Viện bóp chết.

ü  Tế lễ:

RẰNG,

Tế Lễ ký thác nhân sinh quan của con người về sự liên hệ giữa sống và  chết. Tế là nghi thức trịnh trọng mời đón hương linh người quá cố về xum họp với hậu duệ, để cầu xin sự phù hộ khi khó khăn, và nhất là để nói công đức tổ tiên cho con cháu noi theo.

·        Há đây chẳng phải là một cách sống tốt đẹp và thủy chung hay sao mà ngày nay con cháu lại sao lãng, lạc hồn dân tộc vậy?

Nghi thức này nói rõ là dân Việt không tin có sự luân hồi.

Ngày Quốc Tổ mồng 10 tháng Ba là ngày âm dương hòa hợp để nhắc đến công đức các thế hệ dựng nước dưới thời Hùng Vương (2.622 năm) đặng còn biết cách giữ nước chống ngoại xâm trong tâm tư cũng như trong thực tế.

Vì thế nên mới có 3 ngày hội (đền Hùng) để toàn dân bàn thảo về chánh trị.

Khi mất nước thì không được quyền thảo luận chánh trị nên ngày Quốc Tổ biến thành ngày giỗ Tổ với nghi thức đơn giản gọi là Lễ.

Coi thêm Tủ sách Việt Thường (Houston), Đặc San Tư Tưởng (Sydney) và Đặc San Văn Lang - tiếng nói của Ban Tế Tự Paris (http://nhanvanviettoc.blogspot.com)

Dân Việt vẫn gọi là Văn Hóa thờ cúng ông bà, hay văn hóa Gia Tiên. Vì đó là  xhữ HIẾU, nguồn gốc của Nền VĂN HÓA THUẦN VIỆT; tức đạo học làm người Việt tốt (Việt Giáo= giáo lý học làm người Việt có từ 13.000BC).

Tế và Lễ bắt nguồn từ ngày viếng thăm mộ người thân quá cố của dân nông nghiệp. Lúc đó họ sống quần cư trong một miếng đất hình vuông, mỗi bề một Lý (tức 1 dặm = 1,6km) trong đó có ông Lý Trưởng được dân bàu lên để lo việc chung cho cộng đồng.

Trong Lý có vườn cây ăn trái, có ao nuôi cá, có giếng lấy nước sạch để uống. Bên ngoài Lý là Ruộng (trồng lúa nước mà ta gọi là lúa Chiêm), có Nương (trồng lúa khô mà ta gọi là lúa mùa), có Rẫy trồng khoai sắn (ngũ cốc trừ lúa).

Vì sống quần cư và định cư nên khi người thân quá cố thì đem chôn ngoài đồng, nên hàng năm cứ đến ngày giỗ là đem hương hoa, phẩm vật ra cúng (Đồng là nơi hoang vắng cỏ mọc, gò cao hay là nơi trồng hoa màu kể cả lúa).

Khi lập quốc thì các nơi sinh sống quần cư đều bắt buộc phải gọi là Làng (đơn vị hành chánh), nhưng cách tổ chức quản trị Buôn, Bản, Sóc, Lý ... vẫn giữ nguyên như thông lệ nên không có ông Làng Trưởng mà lại có ông Lý Trưởng.

Sau khi dựng nuớc thì có thêm ông Thành Hoàng Làng, tức vị sáng lập ra làng; khi chết đi thì dân làng làm giỗ theo nghi thức Tế.

Khi Thục Phán lật đổ chế độ Hùng Vương thì toàn dân dựng lên ngày Quốc Tổ và xây đền ở Lâm Thao là nơi khi xưa vua Hùng bàn việc nước nên ta gọi là Đền Hùng. Lúc đó Lâm Thao, Việt Trì là bờ biển, đồng bằng sông Hồng chưa có.

Ø  Đền là nơi thờ phụng chứ không phải là Lăng hay Tẩm là mộ các vị vĩ nhân, nên ở dưới đền chẳng có xương của ai cả. Ai chất vấn là người đó không hiểu nghĩa chữ Đền là gì;

Dựa vào nghi thức Tế thì chúng ta biết ngay là dân Việt không mê tín, họ chỉ thờ người chứ chẳng có trời đất quỷ thần chi ráo trọi. Nghi thức này cũng cho chúng ta thấy là người Việt cổ không tin vào thuyết luân hồi của đạo Phật, hay chết thì về với Chúa của đạo Gia-tô.

Chúng ta có nền Việt Giáo riêng của người Việt. Việt Giáo ra sao thì chúng ta sẽ học sau, chỉ biết Việt Giáo là giáo lý học làm người Việt tốt; tức khoa Nhân Văn Việt Tộc.

P  Kiến trúc:

RẰNG, thành Kim Lăng có Thiên An Môn, ở Bắc Kinh là do kiến trúc sư Nguyễn An dưới thời nhà Hồ (#1400AD) bị Minh Thành Tổ bắt về Bắc Kinh cùng hàng chục vạn (100.000) lao nô để xây cung điện nguy nga hơn các Đế Chế cũ cho oai hơn tiền nhân. Phần lớn đàn ông đều bị thiến, ông Nguyễn An cũng nằm trong số đó.

Thành này xây trên xương máu hàng chục vạn (danh từ khi xưa: 1 vạn = 10.000) lao nô dân Việt mà lỗi là do Hồ Quý Ly vụng tính nên mất nước.

Thành xây mất gần 10 năm với hàng vạn lao nô Việt bỏ xác trong khi xây vì kiệt sức.

·        Ước tính có 30.000 lao nô Việt bỏ mạng nơi đây, không hương khói, không lời tri ân!

RẰNG,

Thành xây theo quan điểm Lý Dịch của người Việt; Khổng Khâu ăn cắp biến thành Kinh Dịch để minh chứng cho thuyết Thiên Tử của mình là: Cơ trời Ta đã tìm ra.

Lý dịch và kinh dịch?

Dịch là thay đổi.  là lý lẽ có đúng có sai; còn Kinh thì bất biến.

Ông Nguyễn An vẽ kiểu theo cung cách sinh sống của triều đình người Việt (lúc đó là nước Đại Ngu, vì Hồ Quý Ly thuộc chủng tộc NGU.

Thành có 999 phòng, có tảng đá quý kéo từ phía Bắc cách mấy trăm cây số bằng cách cho tảng đá trượt tuyết chứ không có voi hay ngựa nào tải nổi cả. Sự vận chuyển này vào mùa đông với sức của lao nô người Việt, lẽ dĩ nhiên là có rất nhiều người chết bẹp vì bị đá đè, và xác vùi ở đó.

Đợi mùa Đông tới, băng tuyết phủ đầy, người ta để tảng đá trên băng tuyết rồi dội nước cho tan để kéo đá trượt trên băng tuyết

Thành là nơi trú quân (blocus), ngoài tường thành thì có hào sâu và rộng, ở đáy có chông. Cách xây thành nói lên cách sinh sống và cách suy nghĩ của người Việt.

Ø  Đây đúng là nền Văn Hóa Việt được ký thác trong kiến trúc nằm chình-ình ngay giữa Bắc Kinh từ năm 1400 đến nay và mai hậu. Tên tuổi của vị kiến trúc sư Nguyễn An còn ghi đậm nét trên tường Kim Lăng.

Ø  Thành Thăng Long xây vào thời nhà Lý là do nhà sư Vạn Hạnh làm kiến trúc sư, cũng xây theo kinh dịch.

Vì coi dân Bắc là ngoại chủng nên Gia Long đã hạ lệnh phá thành ngay sau khi cướp chánh quyền vào năm 1802, rồi xây một cái trại lính nhỏ ở thành nội, nơi cung vua ở.

Thành dưới thời nhà Lý nó bao trùm toàn thể nơi vua ở (thành nội) và 36 làng dân cư sinh sống chung quanh. Lúc đó mỗi làng làm chuyên một nghề. Khi được xây thành vây quanh thì gọi là Phường, Khóm (nay gọi là khu phố, bên Mỹ gọi là bloc); trong Phường có đường đi thì gọi là Phố. Phố tức là đường đi trong làng có lũy tre bao bọc.

Câu hỏi được đặt ra là:

Tại sao Minh Thành Tổ lại ngưỡng mộ tài năng của người Việt như thế? Ông còn ái mộ ông Hồ Nguyên Trừng (con trưởng Hồ Quý Ly) và ủy thác cho việc sáng chế ra súng Thần Công mà ngày nay còn tượng thờ để ghi ơn?

Câu trả lời có lẽ là:

Minh Thành Tổ là người Bách Việt gốc Ngô ở Mân Việt (MIN) nên ông muốn phát huy nền văn hóa Bách Việt.

Nhưng vì tự ái nên ông vùi dập dân Việt để nói đó là nền Văn Hóa của người Ngô thuộc dân BÁCH VIỆT. Đời là thế đó: Ghen tài nên trù dập ân nhân.

[

Người Tàu ăn cắp nghi thức Tế Lễ ra sao?

Khi nhà Hạ tiếp súc với dân nông nghiệp ở lưu vực  Hoàng Hà, sau đó nhà Thương, nhà Chu, nhà Tần, nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống, nhà Nguyên,.... cứ từ từ tiến dần xuống phía nam thì đụng con cháu Lộc Tục có nền văn minh lúa nước, có tổ chức xã hội, có binh đội, có đất nước, có cách sống tập thể đã có quy củ từ lâu, nên họ học được nghi thức Tế và Lễ mà họ không có; vì dân du-mục là dân du-cư nên chết ở đâu thì chôn ở đó thì làm gì có ngày viếng mộ? Hơn nữa biết mộ ở đâu mà viếng?

Nhưng muốn chứng tỏ là mình cũng có nhân sinh quan, nhưng cao hơn nên anh Tàu phịa ra Tế Trời, Tế Đất để cầu mưa, cầu gió như: Tế Thổ Thần để cầu Phúc Lợi dồi dào, thôi thì Tế đủ thứ mê tín; và cứ thế mà bịa ra rằng bàn thờ phải hướng về phía nam là quỹ đạo của mặt trời (Trời ở phương Nam) chỉ vì đã chót nhận là con của Trời (Thiên tử) để hù dọa dân bị trị là ta có thần linh hỗ trợ!

Do đó mới có ông Đông Xướng (phương Đông) và ông Tây Xướng (phương Tây). Trong khi người Việt bày bàn thờ theo địa hình của đất (ăn trông nồi, ngồi trông hướng); nên không có ông Đông Xướng và cũng chẳng có ông Tây Xướng mà chỉ có ông bên Trái bàn thờ làm chủ xướng, và ông bên phải bàn thờ làm phụ xướng.

PHẦN  TRA  CỨU

sơ đồ : Thay Đổi Nếp Sống,cập nhật theo văn minh khoa học, tụt hậu là tiêu vong

(vòng xoáy đi lên ; mỗi nấc thang là 1 lần thay đổi cách sống)


........................................................................................................................................

Theo sơ đồ này thì ta thấy rằng: Xã hội loài người thăng tiến không ngừng là do phát minh khoa học, không phát triển sẽ tiêu vong.

Ø Sáng chế ra cái mới thì không bao giờ ngừng và đủ cả.

Vì thế nên chúng ta cần phải hiểu rõ rằng: Sơ đồ thay đổi nếp sống là một vòng xoáy đi lên, nếu theo không kịp thì sẽ bị tụt hậu và tiêu vong theo luật đào thải bất biến.

·         Khi nắm vững sự phát triển không ngưng nghỉ của khoa học rồi thì chúng ta mới có thể đưa ra học thuyết thoát hiểm để tiến bằng người được. Không biết là đấu võ mù!

·         Nếp sống là tiếng Việt,Văn Hóa là tiếng Tàu, danh từ của ông PhạmQuỳnh vào thập niên 1930. 

·         Mỗi tầng là một thời đại mới đi từ: Mung-lung, biết cách dùng lửa, đồ gốm, đồng đồng, đồ sắt, đồ thép, kỹ nghệ, nguyên tử và nay là thời điện tử thì dân ta lại sống thụt lùi trong thời kỳ đồ đểu, lừa lọc, dối trá, điêu ngoa, ….….cái giá phải trả là : Thế giới coi khinh!

 

VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC CẦN KHAi THáC

 



Hồi cư sau Đại Hồng Thủy

(sau 10.000 năm lánh nạn đại hồng thủy)

BỜ  CÕI  nước  VĂN  LANG



       #600BC Việt Vương Câu Tiễn (Quảng Đông) sát nhập nớc Ngô vào nước Việt   theo phương thức Hội Nhập Văn Hóa và chế độ Dân Chủ Phân Quyền.

·         #300BC Nhâm Ngao người Việt gốc Ngô kháng chiến nhằm thay thế Hng Vương.

·         257BC, Nhâm Ngao giúp Thục Phán (tiểu bang Âu Việt, Quảng Tây) lật đổ Hùng Vương thay chế độ Dân Chủ Phân Quyền bằng chế độ Quân Chủ Chuyên Chế

·         Triệu Đà người Chiết Giang sinh năn 258BC kế nghiệp Nhâm Ngao và diệt Thục Phán thống nhất đất nước theo đường lối chính trị 3 bước của Nhâm Ngao.

KỸ THUẬT BẢO VỆ TỰ CHỦ

    Thiết kế: Nhân Văn Việt Tộc -            ngày 15/08/2015 - hiệu chính 17.3.21


   

·        Đây là lộ trình giáo dục phải theo thì toàn dân mới có đủ khả năng bảo vệ sự tự chủ của mình được.

·        Việt Lực được suy ra từ lời căn dặn của cha LẠC LONG.

·        Sơ đồ này là chuyển ý từ thông điệp Rồng Tiên khai quốc: 100 trứng, 100 con. Rồng Tiên khai quốc là học thuyết căn bản của khoa nhân văn Việt tộc.

·        Chuyện Rồng Tiên chuyển ý từ HOA VĂN 14 tia trên mặt trống đồng Đông Sơn

Ø  Chuyện Rồng Tiên được dựng lên do nhu cầu chánh trị mà 2 ông Phạm Lãi, Văn Chủng đã lồng trận đánh ‘diệt Ngô Đại Cáo’dưới dạng Huyền Thoại ở thời điểm chưa có chữ viết (#600BC), để đem thông điệp cứu nước và giữ nước cho hậu thế noi theo.


 

Bên TÀU: Nhà TẦN từ 247BC tới 183BC

Bên TA: Thục Phán rồi Triệu Ðà

                  


PHẦN  TÀI  LIỆU  MINH  CHỨNG

(xác nhận bởi Bắc Kinh và Đài Loan)




Bản đồ này vẽ bậy giống vùng lưỡi bò ngày hôm nay.

Nên nhớ là: Quân kháng chiến Nhâm Ngao & Triệu Đà đã giết tướng Đồ Thư của Tần Thủy Hoàng ở Tràng Sa (thuộc tỉnh Hồ Nam). Như vậy là vùng Hồ Nam (Bách Việt), Chiết Giang (Ngô Việt), Thiều Châu (Mân Việt) và Quảng Đông (Lạc Việt) độc lập. Và nước Âu Lạc của Thục An Dương Vương vẫn giữ được nền độc lập.

·        Ở đây họ vẽ nước Ngô bị Tần Thủy Hoàng thống trị là sai - Coi hình số 7 ở dưới thì rõ


Tài liệu sách Pháp (Việt= YUE hay YUEH, Ngô=WU)

Vùng

 viện Quốc Gia ở Đài LOAN

Theo bảo tàng viện Quốc Gia ở Đài Loan, lẽ dĩ nhiên là nói theo tư tưởng của Tàu Tưởng, mặc dù chống Cộng nhưng họ vẫn có đầu óc kẻ cả, thì :

Ngô-Việt (YUE) đối diện Đài Loan: Độc Lập

Ø  Quân Tàu nhà Hán đi xa nhất chỉ đến tới Nghệ An là hết.

Ø  Quân nhà Đường còn hẹp hơn nhà HÁN, chưa chiếm được nước Sở và vùng Âu Việt



GHI VỘI VÀI HÀNG ÐỂ NHỚ

Theo bảo tàng viện Quốc Gia ở Đài Loan, lẽ dĩ nhiên là nói theo tư tưởng của Tàu Tưởng, mặc dù chống Cộng nhưng họ vẫn có đầu óc kẻ cả, thì :

Năm 2.879BC ở Giang Nam (phía nam sông Dương Tử) đã có 3 nước: Ngô, Sở và Việt rồi



Ø Chủ nghĩa TAM DÂN (Sinh, Chủ, Quyền) do Tôn Dật Tiên (Tôn Văn, hay Tôn Trung Sơn) đẻ ra. Tôn Dật Tiên là người Hoa gốc Việt, chánh quán ở Quảng Đông, tức vùng Lạc Việt khi xưa thuộc nước Văn Lang của Liên Bang người Việt; theo chế độ Lãnh Vương, tức Dân Chủ Phân Quyền.

--------------------------------------

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil