T89- Ngày Quốc Tổ Chiêu Hồn dân Việt
T89(a)- Ngày Quốc Tổ
Livestream ngày
28.7.2022
soạn giả : Hoàng Đức Phương
NGÀY
QUỐC TỔ
Chiêu Hồn dân Việt
Ngày
Quốc Tổ là một nét Văn Minh và Văn Hóa đặc thù, đáng kính của nòi Việt mà thế
giới không dân tộc nào có cả ; mặc dù nước nào cũng có thời gian lập quốc
cho có quy củ và nề nếp của một quốc gia ; sau đó mới đến thời gian giữ nước.
Đó là điều chúng tôi xin trình bày nguyên nhân. Không phải họ quên nguồn cội mà là vì họ không có biến cố lịch sử như nước ta.
Nước
ta là nước Văn Lang có cương vực là từ con sông Tây Giang chảy ra Hương Cảng,
xuống đến đèo Hải Vân ngày hôm nay. Phía ây đến tận con sông Cửu Long Giang,
phía đông là biển.
Do
đó tôi chỉ trình bày cách sống của cư dân trong cương vực đó từ 13.000BC là cư
dân này có cuộc sống quần cư và định cư, phát sinh ra đạo GIA TIÊN dạy cách sống
làm người.
Ø Đạo Gia Tiên là chữ HIẾU theo quan niệm của
dân VIỆT, và cũng là cội nguồn của Nền Văn Hóa Thuần Việt phát triển theo đà
Văn Minh nhân loại.
Đây là thời điểm chuyển hóa cách sống của loài thú sang cách sống của loài người qua cách thờ cúng gia tiên là bước đầu của nền văn hóa thuần Việt đã được hoàn chỉnh dới thời Hùng Vương từ 2.879BC đến 157BC là ngày Thục Phán, một tiểu bang của nước Văn Lang nổi lên phá hủy chế độ Dân Chủ Phân Quyền để chuyển sang chế độ Quân Chủ Chuyên Chế.
Nhiệm
vụ của các triều đại HÙNG VƯƠNG trang bị cho Liên Bang Việt nhưỡng con người
song song đồng tiến với tinh thần Tự Trọng (ý nghĩa ca danh từ VĂN LANG) và Cầu
Tiến (ý nghĩa của danh từ VIỆT) lúc ban sơ (thời điểm lập quốc 2.879BC).
Về
sau được bổ xung bằng tinh thần tập thể cần phải có để kết hợp với nhau theo
tinh thần đồng bào và cách tổ chức một quốc gia vào khoảng 800BC được ghi trên
mặt trống đồng 14 tia.
Sau
cùng được hoàn chỉnh bằng tinh thần tự lực, tự cường cùng học thuyết Rồng Tiên
Khai Quốc mà chúng ta đều biết cả.
Ø Chúng tôi đã chỉ cách để mọi người đọc được
chuyện Huyền Thoại qua di vật người xưa để lại bằng cách BẠCH HÓA, nên nay
chúng ta bết lịch sử thời hoang sơ, tiếng nói nghèo nàn và chữ viết cũng chưa có.
Ø Lập quốc vào năm 2.879BC, đánh nhau bằng
vũ khí bằng đồng. Đồ đồng bắt đầu xuất hiện vào khoảng 8.000BC. Nghề Nông bắt đầu
có vào 13.000BC. Nghề dệt lụa xuất hiện vào 6.000BC ở Thượng Hải. Tơ tầm lá một
loại sợi thiên nhiên có sức kéo mỗi sợi là 30 grammes, nên người ta đan các sợ
gài vào nhau thành vải. Ly xương cá làm kim, lấy vỏ sò làm dao, lấy mo cau làm
go.
RẰNG :
Câu
chuyện Rồng Tiên là học thuyết căn bản của khoa Nhân Văn Việt Tộc, thông điệp
người xưa muốn nhắn gửi hậu thế cách xử thế ở đời qua trận đánh của lãnh vương
Câu Tiễn, vùng Lạc Việt (Quảng Đông ngày nay), với vua Ngô là Phù Sai ;
sau đó hội nhâp 2 dân NGÔ và VIỆT làm một và gọi là dân của nước BÁCH VIỆT ;
chứ không phải 100 nước Việt.
Thời đó chưa có chữ viết nên 2 ông Phạm Lãi (Quan võ) và Văn Chủng (Quan Văn) phải lồng vào Huyền Thoại Rồng Tiên để lưu truyền bằng miệng cho hậu thế.
Huyền
thoại là phần chuyên chở bản văn. Triết lý của bản văn mới là học thuyết cứu nước
và giữ nước mà ta gọi là THÔNG ĐIỆP
Qua
thông điệp này chúng ta rút ra được :
·
VIỆT GIÁO :
Việt Giáo là giáo lý học làm người Việt, bắt nguồn từ đạo GIA TIÊN
mà nay chúng ta gọi là TIÊN HỌC LỄ, có nghĩa là hãy học làm người trước khi học
chuyên mông để kiếm ăn ; còn không sẽ thành kẻ GIÁ ÁO TÚI CƠM và đ ixa hơn
là kẻ mất gốc quay lại cấu xé đồng chủng như bọn Việt Nô Cộng Sản ngày hôm nay
nè..
·
VIỆT ĐẠO :
Việt đạo là con đường đi của nòi Việt để có cùng mục tiêu là xây dựng
tương lai con cháu cho thăng tiến bằng người ; lúc ban đầu chỉ có Việt
Giáo, về sau vì nhu cầu phát triển quốc gia nên mới thêm vào Việt Đạo nên nay
chúng ta cứ lẫn 2 cái là một rồi gọi chung là Việt Đạo.
Thời Hùng Vương thì khoa học chưa phát triển nên Việt Đạo được thu
hẹp trong danh từ ĐỒNG BÀO, nguồn gối của cách xưng hô vai vế trong gia đình mà
chỉ có nòi Việt mới xưng hô theo kiều
này.
Quy luật dựa theo 3 yếu tố : TUỔI TÁC, KIẾN THỨC về đạo lý làm người
và THÂN TÌNH và tùy theo môi trưòng mà ứng dụng để chứng tỏ mình là người hiểu
Văn Hóa Thuần Việt.
Ngày hôm nay Việt Đạo có thêm phần KHOA HỌC THỰC DỤNG để đừng bị kẹt
vì CÁI KHÓ nó bó CÁI KHÔN ; nghĩa là chúng ta phải phát triển về kinh tế
nó cần sự hỗ trợ của chánh trị, ngoại giao, thương mại, sản xuất… tức là cái
môn liên hệ phải phát triển theo.
·
VIỆT TRIẾT :
Triết là nguyên lý vận hành của vạn vật . Triết nhân đầu tiên là
người Nông Nghiệp xuất hiện vào 10.000BC và để lại cho chúng ta 2 danh từ là TẠO
HÓA và LÝ DỊCH.
Ý nghĩa lúc đó như sau : Tạo Hóa là vật đó sinh ra là do sự
thay đổi trạng thái mà ra. Ngày nay chúng ta bị đầu độc bởi các triết lý của
tôn giáo cho rằng phải có 1 đấng nào đó sinh ra nên ta hình dung TẠO HÓA là một
đấng nào đó mà ta gọi chung chung là ông TRỜI sinh ra… Vậy ai sinh ra ông Trời,
đó là vòng luẩn quẩn nên phải cầu cứu đến thuyết Vô Hình ;
Ø Việt
triết là triết lý về sự vận hành của vạn vật do chính ngưòi Việt suy ra, nó có
vào 10.000 BC, tức là có trước các triết lý tôn giáo.
VIỆT TRIẾT được nối tiếp từ thế hệ này qua thế hệ khia và mỗi ngày mỗi phong phú ví nó cập nhật với phát minh khoa học.
RẰNG :
Việt Giáo, Việt Đạo và Việt Triết tạo ra VIỆT LỰC để giải quyết 3 khó khăn sau đây : Nội Tại, Ngoại Lai và Phát Triển.
Ông Phạm Lãi và Văn Chủng khi viết ra học thuyết căn bản của khoa
NHÂN VĂN VIỆT TỘC đã dự trù con cháu sau này lơ là nên chui vào vòng nô lệ nên
đã cặn dặn phải làm theo học thuyết này thì mới thoát hiểm được. Khuyế dụ này
cũng được lồng trong Huyền Thoại với câu ân cần căn dặn các con của Cha Lạc
Long trước khi chia tay như sau :
« CHỪNG NÀO GIẶC THÙ ĐẾN
CƯỚP PHÁ, CHỐNG ĐỠ KHÔNG NỔI, thì gọi BỐ ƠI VỀ CỨU CHÚNG
CON ».
Bố Lạc Long hiện về và bảo : Các con hãy xây dựng lại Việt Lực
đi.
Ø Vì
các con bị giặc thù làm mất HỒN VIỆT nên
các con mới mất Việt Lực, đó là nguyên nhân của thảm trạng ngày hôm nay
&
Sau
đây là công lao của 18 triều đại Hùng Vương (tiếng Việt là 18 đòi vua Hùng) đã
biến Liên Bang Việt sống theo lệ làng thành cách sống theo luật quốc gia.
CÔNG
ĐỨC 18 TRIỀU ĐẠI
HÙNG VƯƠNG
1/- Khai sáng những triết lý căn bản sau đây
-
Tự lực, Tự Cường, Tự Trọng, Cầu Tiến và Phục thiện
-
Nếp sống hài hòa.
-
Tinh Thần Nhân Bản.
-
Tinh Thần Nhân Chủ.
-
Tinh thần Thực Tiễn.
-
Tinh thần Bình Đẳng.
-
Tiêu chuẩn Chân Lý.
-
Nguyên lý Đối Lập Bổ Xung.
-
Phân công Hợp Tác.
-
Nếp sống Tâm Linh dân tộc.
Tất cả những giá trị này bắt nguồn từ việc ổn cư và định canh bằng nghề trồng lúa nước. Vì thế nên những đặc thù của xã hội Việt khác hẳn với những đặc thù của xã hội du-mục từ Trung Đông (Iran, Iraq) tràn qua ngả Mông Cổ rồi xuống đánh chiếm phía Nam của dân Nông Nghiệp. Bắt đầu bằng sự áp chế con cháu Đế Nghi, sau đó lấn chiếm đât đai của con cháu Lộc Tục
2/- Xây dựng quốc gia dân tộc (theo những triết lý trên):
-
Xây dựng ý thức dân tộc.
-
Xây dựng Văn Hóa Nông Nghiệp.
-
Xây dựng Nhân Đạo, tức đạo sống của dân Việt (gọi tắt là Việt Đạo).
-
Xóa sạch thú tính.
-
Xây dựng Đạo Lý làm người (tức Nhân Văn Việt Tộc).
·
Đó là những thành quả mà chúng ta có bổn phận phải luôn luôn ôn lại
để còn biết đường mà bảo vệ gia sản của tổ tiên để lại. Do đó không thể bỏ ngày
giỗ tổ được. (coi thêm tủ sách Việt Thường ở HOUSTON):
------------------------------
Vì mang ơn những công đức náy nên khi Thục Phán cướp ngôi Hùng
Vương người thời đó phải tranh đấu 7 năm thì Thục Phán mới nhượng bộ chấp ngày
ngày QUỐC TỔ là ngày toàn dân tham gia chánh trị để hạch tội Thục Phán
trong 3 ngày
Sở dĩ người dân ưa Nhâm Ngao (sau này là Triệu Đà) hơn là vì Thục
Phán đã ngang nhiên chuyển chế độ Dân Chủ Phân Quyền sang chế đệ Quân Chủ
Chuyên Chế , đổi tên nước VĂN LANG thành nước ÂU LẠC.
Ø Âu Lạc có nghĩa là : Dân Việt từ này sống dưới sự cai trị của dân ÂU VIỆT (Quảng Tây) với sự tiếp sức của dân LẠC VIỆT (Quảng Đông)
ÂU VIỆT (Quảng Tây) là một tiểu bang của nưóc Văn Lang.
LẠC VIỆT (Quảng Đông của Câu Tiễn) cũng là một tiểu bang của nưóc
Vn Lang.
Nhắc lại :
2.879BC :
Ba vùng lập Quốc Gia để đánh nhau. Tất cả đều là con cháu Lộc Tục
(Huyền Thoại). Đó là Ngô, Sở và Việt. Biên cương Ngô nằm trong 2 con sông Dương
Tử và Ty Giang. Nước Việt từ sng Tây Giang xống đến đèo Hải Vân (lúc này chưa
có đồng bằng Bắc Việt). Nước Sở ở vùng Tứ Xuyên (4 con sông lớn chảy qua là
Hoàng Hà, Dương Tử, Hồng Hà và Cửu Long
#600BC :
Câu Tiễn là lãnh vương vùng Lạc Việt đánh Ngô Phù Sai, hội nhập 2
nớc Ng và Việt thành nước Bách Việt.
#280BC :
Nhâm Ngao người vùng Chiết Giang, khi trước là nước Ngô nhưng nay
là nước Bách Việt làm kháng chiến chiếm lại nước Ngô và vùng Lạc Việt.
Ông không xưng vương vì muốn lãnh đạo nước Bách Việt, nhưng rất hó
vì ông là người Bách Việt gốc Ngô. Do đó ông chọn đường lối chnh trị 3 bước :
Chiếm một vùng làm chiến khu. Giúp người Bách Việt gốc Việt lật đổ
Hùng Vương rồi kiếm cớ lật đổ triều đại này .
Khi ông chêt đi thì việc chưa thành nên Triệu Đà làm tiếp, sau đó
Triệu Đà xưng Vương và truyền ngôi cho con như sử Tàu đã nói nhưngc tình diễn dịch
sai đi.
257BC :
Nhâm Ngao giúp Thục Phán lật đổ Hùng Vương, lúc này Triệu Đàn người
vùng Chiết Giang (Bách Việt gốc Ngô) mới
1 tuổi, về sau gia nhập kháng chiến Nhâm Ngao .
Vì thế nên Thục Phán mới đổi Quốc Hiệu là ÂU LẠC, có nghĩa là người
Âu Việt cai trị dân Văn lang với sự trợ giúp của người LẠC VIỆT.
Do đó khi Triệu Đà dứt Thục Phán để thống nhất nước Bách Viêt thì
chẳng ai bảo vê Thục Phán cả. Coi truyện Trọng Thủy Mỵ Châu thì r’.
Để thống nhất lòng người thì Triệu Đà đổi quốc hiệu thành nước
Nam Việt với ý nghĩa là : Phía Nam sông Dương Tử là đất của người Bách Việt.
Lúc này là Hạng Võ (Sở Vương) đang cùn Lưu Bang diệt Tần Thủy Hoàng.
Di đô về Phiên Ngung (cối kê, vùng Lạc Việt), sống theo văn hóa Việt và chết theo phong tuc Ngô (chôn sống người và súc vật theo quan niệm người Ngô. Cácvật dụng này tìm thấy trong mả Triệu Muội Đế (người nối ngôi Triệu Đà.
Khúc lịch sử này đưc suy ra từ ý nghĩa ngày Quốc Tổ và truyện Trọng
Thủy Mỵ Châu cùng di tích lịch sử thời đó
QUY LUẬT THIÊN NHIÊN
PHẢI NHỚ :
Trông chờ người khác tức trông chờ nô lệ vì bị lệ thuộc vào đám
KIÊU BINH, dù là đồng chủng hay ngoại chủng. Vì thế nên Triệu à dứt Thục Phán một
cách ễ dàng.
RÚT KINH NGHIỆM XƯƠNG MÁU
Nếu người dân muốn có quyền TỰ CHỦ thì phải tham gia sinh hoạt
chánh trị và học hỏi cho có kiến thức cao ngang tầm thời đại Điện Toán. Đùng ỷ
lại vào ngời khác, nhất là lại trao sinh mạng của mình và tương lai con cháu
vào đám Việt Nô Cộng Sän thuộc loai TAM ẠI ẦN CỐ NÔNG ; nó đứng được một
phần là người dân thờ ơ với tương lai của mình và con cháu minh ; và phần
khác là nó dựa vào thế lực cûa Tàu Cộng.
Ø Như vậy thì trước sau gì nó cũng bị Tàu Cộng thanh toán như Triệu Đà dứt Thục Phàn
Ghi nhớ :
Kỳ sau sẽ nói tư tưởng người thời đó bảo vệ đất nước ra sao qua nghi thức tế lễ. Tại sao lúc đầu thì gọi là ngày Quốc Tổ mà nay lại gọi là ngày Giỗ Tổ ? Vậy thì Giõ ông nào đây và ý nghĩa ra sao ?
Kỳ sau nữa sẽ trình bày về những lợi ích của nền Văn Hóa Thuần
Viêt, bắt nguồn từ Đạo Gia Tiên nói về bổn phận người Việt đối với cha mẹ
và dòng họ rồi tiến dần tới họ làm người Việt Tốt, biết sống cho mình và sống
cho người ; nhưng không để người l®i dụng với lời khuyên :
Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với Ma mặc áo giấy theo khí phách RỒNG
và TIÊN
¾
·
Đây là lộ trình giáo dục phải theo thì toàn dân mới có đủ khả năng
bảo vệ sự tự chủ của mình được.
·
Việt Lực được suy ra từ lời căn dặn của cha LẠC LONG.
·
Sơ đồ này là chuyển ý từ thông điệp Rồng Tiên khai quốc: 100 trứng,
100 con. Rồng Tiên khai quốc là học thuyết căn bản của khoa nhân văn Việt tộc.
·
Chuyện Rồng Tiên chuyển ý từ HOA VĂN 14 tia trên mặt trống đồng
Đông Sơn
Ø Chuyện
Rồng Tiên được dựng lên do nhu cầu chánh trị mà 2 ông Phạm Lãi, Văn Chủng đã lồng
trận đánh ‘diệt Ngô Đại Cáo’dưới dạng Huyền Thoại ở thời điểm chưa có chữ viết
(#600BC), để đem thông điệp cứu nước và giữ nước cho hậu thế noi theo.
T89(b)-Hậu quả của nền giáo dục lạc hướng
Livestream ngày 28.07.22
oạn giả Hoàng Đức Phương
Nhà
MẠC:
Hậu
quả của nền giáo dục: Đất của chúa, lúc của trời do vua Lê Thánh Tôn chủ xướng.Sau
phi phân tích các nền giáo dục thì: Chúng ta thấy ngay từ ngày lập nước Văn
Lang, dân Việt đã theo thể chế Dân Chủ: "Dân
vạn đại, quan nhất thời" là do nền giáo dục có từ thời Hùng Vương hun
đúc tư duy tự chủ:
"Toàn dân giữ nước chứ không phải triều đình giữ nước".
Vì thế cho nên những việc đổi ngôi (Đinh, Lê, Lý, Trần) thì chính người trong Hoàng Tộc cũng cho là bình thường nên không có đổ máu.
Ngược
lại dân Du-Mục (Tàu) thì quan niệm rằng đất của Triều Đình, dân là những tên nô
lệ nên mới có danh từ Thần Dân, Hán Dân, Đường Dân ..., không có chữ Dân Tộc và
Đất Nước như dân Việt.
Ø Danh từ Hoàng Tộc là do con cháu nhà Lý đặt ra, cấm người dân không được mặc quần áo màu Vàng. Màu vàng dành riêng cho gia tộc nhà vua.
Chúng ta thấy:
Tướng
Lê Đại Hành thay nhà Đinh là do chính Hoàng Hậu trao ấn kiếm vì con là ấu đế, dễ
bị quần thần lợi dụng. Bà lấy hạnh phúc
của người dân làm trọng.
Nhà
Sư Lý Công Uẩn làm đảo chánh thay nhà Lê, dân chúng cho là đương nhiên.
Nhà
Trần dứt nhà Lý thì chính hoàng Tử Lý Long Tường cầm toàn bộ lực lượng Thủy
Binh đã vượt biển trốn sang Séoul (Nam Hàn) xin tỵ nạn chánh trị, chứ không
nghĩ đến chuyện diệt Trần phục Lý. Ông để
quyền lợi dân tộc lên trên quyền lợi của dòng họ.
Các sử gia sau này nhiễm óc nô lệ nguời
Tàu (Phụ Hệ) nên kết tội nhà Trần là:
1. Loạn luân, nhưng theo Mẫu Hệ thì chuyện
con chú, con bác lấy nhau là bình thường, trong khi đó thì đôi con dì không được
lấy nhau. Theo Phụ Hệ thì ngược lại.
2. Tiếm ngôi nhà Lý. Cứ theo thiên nhiên thì
Hoàng Hậu là Lý Thánh Thiên và Lý Chiêu Hoàng đều là vợ của Trần cảnh cả. Nay
con trai của Lý Thánh Thiên là cháu ngoại vua Lý thì đâu có thể gọi là Tiếm Vị
được.
3. Nhờ ông Trần Thủ Độ nên đất nước mới thoát
vòng diệt chủng bởi quân Mông Cổ, ông sắp đặt mọi việc, nhưng ông không lên làm
vua. Tai tiếng dị nghị thì ông lãnh đủ, còn quyền lợi thì dân tộc hưởng trọn vẹn.
Người dân có nên ăn cháo đá bát, vong ân bội nghĩa hay không mà lại đi ngồi
salon kết án ân nhân của mình? Con cháu nhà Lý kêu than thì còn có lý, vì họ là
nạn nhân; còn ông ta là ân nhân của dân tộc thì chúng ta nên xem xét lại trước
khi phân định công và tội đối với đất nước.
ö
Trường
hợp vua TRẦN PHẾ ĐẾ, với quan niệm vì nước hy sinh nên đã cấm quân lính đảo
chánh HỒ Quý Ly nên đã ra lệnh HẠ GIÁP để tránh nạn kiêu binh.
ö
Ấy
thế mà khi nhà hậu Lê suy sụp, Mạc Đăng Dung "cướp" ngôi thì 2 con
buôn chánh trị là Nguyễn Hoàng và Trịnh Kiểm dương khẩu hiệu "Diệt Mạc Phù Lê" mà người
dân theo ùn ùn; có phải là theo nền giáo dục mất hồn dân tộc từ đây mà đi
không?
Nhà
Nguyễn chê Mạc Đăng Dung là ngụy triều, trong khi đó thì ông Trạng Trình Nguyễn
Bỉnh Khiêm (Trạng Nguyên dưới thời nhà Mạc) lại cho nhà MẠC là chánh triều nên
ông mới vác bút đi thì Trạng Nguyên để phò vua giúp nuớc. Khi thấy đất nước rơi
vào mê hồn trận nên ông trả ấn tín đi tu, mũ ni che tai.
Câu
sấm truyền "Thờ bụt ăn oản",
hay "Hoành Sơn nhất đái vạn đại
dung thân" là luận điệu tuyên truyền của tên ly khai Nguyễn Hoàng.
Thực
vậy, một tên ngờ nghệch dù có nghe câu sấm Trạng Trình thì cũng chẳng đủ sức để
làm loạn. Còn một tên đã có chí lớn ly khai thì chẳng cần ai xúi dục cũng vẫn
làm.
Hơn
nữa ông Trạng Trình vì thương dân yêu nước nên đã rũ áo ra đi tu thì không bao
giờ lại băm vằm mổ xẻ dân tộc để phục vụ cho quyền lợi của bọn con buôn chánh
trị cả. Do đó không có Sấm Trạng Trình, con cháu Nguyễn Hoàng phịa ra để tránh
tội chia đôi đất nước và chia đôi dân tộc mà ngày hôm nay chúng ta chịu di hại
này.
ö



0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil