T63 – Giao ước Versailles
T63(a) – Giao ước Versailles
Facebook Văn Hóa
Thuần Việt (06/01/2022)
soạn giả :
Hoàng ĐứcPhương
LUẬN
VỀ GIAO ƯỚC VERSAILLES
Ký dưới thời vua LOUIS XVI, vào ngày 28/11/1787.
·
Một bên làm ơn là : Giám Mục ADRAN (Pigneau de Béhaine tức Bá
Đa Lộc), nhân danh Nguyễn Phước Ánh.
·
Một bên là ban ơn cứu người lâm nạn là : Bá tước De Monmorin
đại diện vua LOUIS XVI
·
Văn kiện ngoại giao đầu tiên giữa Pháp và Việt được ký kết tại
phòng Hiệp Định của bộ Ngoại Giao lúc đó, nay là Thư Viện Versailles
Giá
trị của Giao Ước này tới đâu ?
Nó giống giá trị của công Hàm PhạmVăn Đồng ký năm 1958 công nhận
chủ quyền của Tàu trong vùng lưỡi bò. Nó không có giá trị với dân Việt, nhưng
nó lại có giá trị tuyệt đối khi Việt Cộng nắm quyền, vì nó là của Phân Hỏa
(chia phần của ăn cướp được)
Ø Giao
ước là vì Nguyễn Ánh là chưa nắm quyền nên 2 bên giao hẹn với nhau là :
Hãy hè nhau vào cắt cổ dân Việt rồi sau đó chia phần (phân hỏa là danh từ của bọn
cướp).
Ø Trên
pháp lý thì giao ước này vô giá trị đối với dân Việt ; nhưng nó lại có giá
trị tuyệt đối với Triều Nguyễn vì đây là chia phần sau khi ăn cướp, mà người ta
gọi là : PHÂN HỎA (chia của cướp được)
NGỤY
BIỆN :
Có người cố tình Ngụy Biện hoặc hồ đồ nói là :
1) Bá
Đa Lộc không giúp được gì cho Nguyễn Ánh (?)
2) Giao
ước Versailles không thi hành nên GIA LONG không mắc tội bán nước
Xin những người này hãy nhìn những sự kiện sau đây rồi hãy cãi
bây :
1.
Về ông Bá Đa Lộc :
·
Ông được phong chức CẢ nên lệnh vua là cấm Thần Dân không được phạm
húy . Vì thế, trong Nam gọi con theo thứ tự nên con Trưởng được gọi là THỨ HAI
(anh Hai, Cô Hai……) – Tội phá hủy nền Văn Hóa Thuần Việt
·
Ông được đặc cách dựng tượng che chở và dạy dỗ Thái Tử Nguyễn Phúc
Cảnh ngay trước nhà thờ ĐỨC BÀ ở Saigon, cùng lúc Thánh Đường này được dựng
lên. Tượng này đã bị phá bỏ và thay vào bằng tượng Đức Bà dưới thời Thủ Tướng
Ngô Đình Diệm, ngay sau khi đòi được chủ quyền vào tháng 7/1955 với mục đích
xóa tội bán nưóc của Gia Long một cách âm thầm vì nể công đức của vua Bảo Đại
đã giành độc lập và trao trả cho dân quyền tự quyết dân tộc vào ngày
23.10.1955.
Đồng
thời cùng ra sắc lệnh thay tên các đường phố bằng tiếng Việt ngay sau khi Quốc
Trưởng Bảo Đại thu hồi độc lập lãnh thồ từ tay ngưới Pháp vào tháng 7 năm 1955.
Còn độc lập chánh trị thì Quốc Trưởng Bảo Đại đã thu hồi vào năm
1949, nên lúc đó Ngài được 48 nước công nhận và Quốc Trưởng Bảo Đại được quyền
cấp sổ thông hành (hộ chiếu) vào năm 1949.
Trong khi đó thì Hồ Chí Minh không có quyền này vì không có thủ đô
cố định và lệnh ban xuống không ai thi hành. Mãi đến 20/7/1954 (Genève) thì Hồ
Chí Minh mới có quyền cấp sổ Thông Hành nên y đổi thành HỘ CHIẾU để phủ nhận
công đức của Quốc Trưởng Bảo ĐẠI (chứ
không phải vua hau Hoàng Đế Bảo Đại)
·
Khi chết đi ông được xây LĂNG ở Sơn Nhất, chính Gia Long đến đọc
điếu văn và ghi công đức của ông ta trong việc lập triều đại nhà NGUYỄN.
Ø Vậy
thì đừng ngụy biện hay ngây thơ nói là ông Bá Đa Lộc chẳng giúp gì được cho
Nguyễn Ánh cả. Nếu không giúp gì thì cớ sao Nguyễn Ánh lại trọng vọng ông ta
như vậy ?
VỀ
GIAO ƯỚC VERSAILLES :
TỔNG QUAN :
·
Dù Giao Ước Versailles có giá trị hay không thì hành động càu việnNgoại
Bang là một hành động cõng rắn về cắn gà nhà để xin chức vua bù nhìn. Đó là một
tộc bán nước
·
Bản văn này viết bằng tiếng Pháp và hiện nay được lưu trữ trong
thư khố Bộ Ngoại Giao Pháp, đừng ngụy biện là không ai có bản văn này.
·
Đây là bản dịch sang Pháp Ngữ của ông Bá Đa Lôc, đúng hay sai của
bản chữ HÁN nó không quan trọng bằng hành động nhượng quyền lợi dân tộc để đổi
lấy chức vua Bù Nhìn mà nước mất vào tay người Pháp chỉ còn là thời gian sửa soạn
cắt tiết nhà NGUYỄN, từ Gia Long trở xuống.
PHƯƠNG DIỆN CHÁNH TRỊ :
a) Nói
rằng Giao Ước Verssailles không được
thi hành. Thì nội cái vụ nhờ vả Linh Mục Bá Đa Lộc và trao con của mình
làm con tin để tỏ lòng trung thành với nước Đại Pháp đã là tội bán nước rồi dù
có hay không có giao ước này ; huống hồ nó đã được triệt để thi hành một
cách ngấm ngầm, không lộ liễu để có hiệu quả tốt.
Lý
do là tình hình chánh trị bất ổn của Triều vua Louis XVI, người dân đang kiếm cớ
làm loạn.
b) Nói
rằng : Giao Ước Versailles là bản văn TỐI MẬT, ta không có nên
không thể kết tội Nguyễn Ánh được. Đây là lời nói lấy được để chạy tội cho Nguyễn
Ánh.
Giống như những kẻ cuồng nhiệt
đã bênh Hồ Chí Minh với những luận điệu ngây ngô rằng :
Mặc dù Hồ Chí Minh đã ký 6
văn bản bán nước cho Pháp và cho Mỹ để cúu nguy đảng VIỆT NÔ CỘNG SẢN của ông
ta ; nhưng ông ta là người yêu nưc thơng dân, ở cái thế phải bán nuớc nên
phải bán ; mà không hề chứng minh Hồ Chí Minh là tên thật và là CHÁNH TRIỀU
chứ không phải là ông ta mang tên giả để cướp chánh quyền với mục đích người
dân không biết gốc gác của ông để nguyền rủa, để đào mã cả tông đường nhà ông
lên trả thù
Nhắc
lại 6 bản văn đã nói ở trên là :
·
06/3/46 : Mời quân Pháp vào tiêu diệt Việt Quốc để cứu nguy
Việt Cộng
·
14/9/46 : Hiệp Định Fontainebleau công nhận chủ quyuền củỉa
Pháp ở V.N
·
19/12/46 : Nổ súng khai chiến với Pháp để chạy làng vì tội
BÁN NƯỚC, câu giờ đợi Mao tiếp sức. Tức là mời giặc Pháp và giặc Tàu vào xâu xé
nước Việt để bán nước qua Hiệp Định Genève 20.07.1954 : Giặc Pháp miền
Nam, Giặc Tàu miền Bắc
·
20/07/54 : Ký hiệp định Genève biếu Pháp một nửa miền
Nam-Chia đôi đất nước
·
20/12/60 : Ký sắc lệnh thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam
để xâm lăng
·
11/06/63 : Tổ chức đốt sư, vu vạ Diệm giết sư để Mỹ giết Diệm
rồi biến miền Nam làm nơi thử vũ khi cho NGA và MỸ-Thích Trí Quang là cán bộ Việt
Cộng lãnh đạo việc đốt sư và đượcToà Đại Sứ Mỹ che chở cho y tá túc với lý
do : Tỵ Nạn Chánh Trị
------------------------
Nay chúng ta đã có bản văn
nguyên gốc bằng tiếng Pháp ở trong thư khố của Bộ Ngoại Giao Pháp, nên
không thể nói là không có bằng chứng cụ thể – coi cuổn sử Nguyễn Xuân Thọ.
Tức là bản văn này đã được ông Bá Đa Lộc dịch sang tiếng Pháp nên
không biết lòng dạ của Nguyễn Ánh ra sao vì y viết bằng chữ QUAN THOẠI (mà ta gọi
nhầm là chữ HÁN, chữ TÀU hay chữ NHO). Bản văn tiếng Pháp có giá trị hay không
thì xem hành động trao quyền cho Mẫu Quốc Pháp Lang Sa khi ông Nguyễn Ánh chiếm
ngôi vua bằng sức mạnh NGOẠI BANG như bọn VIỆT NÔ CỘNG SẢN (nô lệ tư tưởng ngoại
Bang) ngày hôm nay.
Dây thòng lọng từ từ xiết lại khi kẻ giúp ta đã sửa soạn xong
chương trình thì việc sẽ nuốt trọn nước Việt chỉ còn là vấn đề thời gian thôi.
c) Ai
muốn có bản gốc Giao Ước Versailles
thì xin tìm đọc cuốn sử của sử gia NGUYỄN XUÂN THỌ xuất bản tại Hoa kỳ năm 1995
bởi nhà in MEKONG PRINTING 2421 W. Frist Street – Santa Ana, CA. 92703 USA –
tél.(714) 558 9595
Nên
nhớ là bản gốc bằng tiếng Pháp do tên Tướng Cướp mặc áo Thày Tu là Linh Mục Bá
Đa Lộc, người duy nhất biết chữ Quan Thoại và chữ Pháp nên ông ta tha hồ diễn
giải theo ý của mình.
Để chối tội bán nước nên Gia Long ngụy biện là không có giá trị,
nhưng nó lại có giá trị tuyệt đối với kẻ khỏe là nước Pháp, trên chánh trường
Âu Châu ; vì các Đế Quốc Tây Phương với giao ước ngầm là không can thiệp
vào công việc đi chiếm thuộc địa của nhau.
Và, theo Sử Gia Nguyễn Xuân Thọ thì đây là bản văn mà người Pháp
đàm phán để y làm cai thầu rồi
chia lợi nhuận cho Bắc Kinh và nước Y PHA NHO (tài liệu trong thư khố ngoại
Giao của Pháp, Tàu và Y Pha Nho –Espagnã), và đây là dây thòng lọng quàng cổ
Gia Long, chưa thít là chưa đến lúc, nhưng nó đã cầm chân ngôi vua của Gia Long
rồi.
------------------------------
T63(b) – Phản ứng Ấn
Độ
Livestream ngày 06.01.2022
LUẬN VỀ LÃNH ĐẠO 3 (tiếp theo)
Tài liệu: Hoạc Thuyết Nhân Vị (Ngô Đình Nhu)
Trường hợp Ấn Độ:
Tuy năm trăm năm
là nhiều đối với đời sống của một người, nhưng với đời sống của các quốc gia,
năm trăm năm không phải là nhiều.
Và chúng ta có
thể tự hỏi rằng: Thái độ trên (mở cửa), đành rằng là thái độ lợi nhất mà các quốc
gia bị tấn công phải lựa chọn, trong thời gian vài thế kỷ. Nhưng nếu thời gian
dài hơn, liệu thái độ ấy có lợi cho quốc gia hơn thái độ cố gắng bảo vệ các giá
trị tiêu chuẩn cũ không?
·
Chắc chắn rằng
những người hành động không bao giờ nghi ngờ nữa.
Câu hỏi trên
tiêu biểu cho quan điểm của một sử gia.
Và trường hợp Ấn
Độ là một trường hợp có thể đưa ra để làm hậu thuẫn cho thái độ cố gắng bảo vệ
các giá trị tiêu chuẩn cũ.
Sau thời gian thống trị của đế quốc, các
giá trị tiêu huẩn cũ của Ấn Độ có vẻ, chẳng những còn đủ sinh lực để hấp dẫn quần
chúng, lại còn có vẻ sáng chói ra khắp hoàn cầu, mang các thần-thể-tính (cuộc sống sau khi chết) của văn minh Ấn Độ để đối chọi lại với
tính cách kỹ thuật vật chất của văn minh Âu Mỹ.
Các nghi vấn nói
trên, có thể giải đáp bằng các nhận xét dưới đây:
– Nếu năm trăm năm là một thời gian chưa đủ
dài để chứng minh rằng thái độ tiếp đón các kỹ thuật ngoại lai là thích hợp nhất,
chúng ta có thể tìm trong lịch sử, những thời đại có những biến cố như thời đại
của chúng ta, và lấy phản ứng của các quốc gia lúc bấy giờ, làm tài liệu nghiên
cứu để soi tỏ thêm vấn đề.
Trong lịch sử,
thời đại đế quốc La-Mã hưng thịnh và chinh phục các quốc gia trong cái thế giới
được biết lúc bấy giờ, là một thời đại có nhiều biến cố có thể so sánh được với
những biến cố của thời đại hiện nay.
Cũng có một nước
mạnh, thuộc một nền văn minh tiến bộ, đi chinh phục những nước kém về kỹ thuật,
thuộc một nền văn minh đã suy nhược.
Cũng có những quốc
gia, nhất định không theo mới, và, cuốn mình lại, sống cô lập và chết mòn để bảo
vệ các giá trị tiêu chuẩn truyền thống.
Cũng có những quốc
gia, mở cửa đón tiếp các kỹ thuật mới, và, thực hiện công cuộc phát triển dân tộc,
để sống ăn nhịp với các cường quốc.
Lịch sử là một
bài học: Bài học của lịch sử Hy Lạp - La Mã mà chúng ta dẫn chứng
đây lại xác nhận rằng thái độ của các nước tiếp nhận kỹ thuật của kẻ địch là
đúng.
– Trường hợp của
Ấn Độ là một trường hợp khác thường khiến cho chúng ta nhận định sai lầm về thực
tế.
Ông Gandhi là
người đã chủ trương mạnh mẽ nhất thái độ bảo vệ các giá trị tiêu chuẩn cũ và
triệt để bài xích văn minh Tây phương.
Ông cực đoan đến
nỗi hô hào đồng bào của ông, không nên mặc áo bằng vải dệt ở các xưởng ở Anh quốc
hay dệt ở Ấn Độ, trong các xưởng của người Anh nhập cảng từ Anh quốc, mà chỉ
nên mặc bằng vải tự tay mình dệt lấy.
Sức mạnh tinh thần
của ông Gandhi rất phi thường và ông đã tỏ ra nhìn thấy vấn đề một cách sâu sắc,
do đó ông đã khắc phục được sự trọng vọng của nhân loại. Và ngày nay, sự thất bại
của ông bộc lộ rõ rệt ở chỗ các đệ tử trung thành của ông đang xây dựng cho Ấn
Độ một bộ máy quốc gia theo kiểu Tây phương và các đồng bào của ông đang nỗ lực
Tây phương hóa.
Những cuộc tranh
đấu anh dũng và uy tín cá nhân sáng lạng của ông Gandhi, hợp với sự ca tụng,
chính của người Tây phương, đối với thần thể tính của triết lý Ấn Độ, cả trước
và sau, thời kỳ bị đế quốc thống trị, làm cho một số đông có cảm tưởng rằng
thái độ bảo vệ các giá trị tiêu chuẩn cũ có thể thích hợp hơn thái độ đón tiếp
các kỹ thuật mới của Tây phương.
Và, văn minh Ấn
Độ, xây dựng trên nền triết lý tôn trọng thần thể tính được xem như có thể đối
phó một cách đắc thắng với nền văn minh thường được gọi là kỹ thuật và vật chất
của Tây phương.
Nhưng một cuộc
phân tích tỉ-mỉ và một sự đối chiếu với thực tế không xác nhận cảm tưởng trên.
BÍ QUYẾT THÀNH CÔNG là tinh thần PHỤC THIỆN.
thế hệ chúng ta thiếu tinh thần này nên thất
bại
Người Tây phương
ca tụng thần-thể-tính (cuộc sống
sau khi chết) của triết lý Ấn Độ cũng như ca tụng bất cứ sự sáng tạo nào của
nhân loại có một giá trị thật là cao cả; cộng với thái độ khách quan, khoa học,
và tìm hiểu.
·
Đó là một trong các bí quyết thành công của
nền văn minh Tây phương.
Cho nên sự ca tụng
của người Tây phương đối với triết lý Ấn Độ không có nghĩa là triết lý của Tây
phương khiếm khuyết thần-thể-tính. Và sự kiện thần-thể-tính của triết lý Ấn Độ
đạt đến chỗ cao siêu và hấp dẫn lý trí thuần túy, lại không có nghĩa là triết
lý Ấn Độ có thể thiết thực giải quyết các thực tế đời sống cho nhân loại.
ØĐó là mục đích
cuối cùng của mọi hệ thống triết lý.
Lý do của tình
trạng đó ở chỗ, khi phải lựa chọn một trong hai quan điểm căn bản cho các hệ thống
triết lý: Nhận có sự sống hay là không
nhận sự sống (tức là có chấp nhận sự sống trên trái đất này hay không?);
thì triết lý Ấn Độ đã chọn quan điểm không
nhận sự sống (nhận duy tâm, bác bỏ duy vật)
Theo quan điểm ấy,
cho sự sống ở cuộc đời này là không có thực và nhân loại cần tìm và đạt cho được
sự sống ở một nơi ngoài thế gian này.
Chúng ta không
phán đoán xem quan điểm đó đúng hay là không đúng, mà chúng ta chỉ nhận xét rằng:
Ngay lúc khởi điểm,
quan điểm ấy đã tự mâu thuẫn với chính nó. Bởi vì, sự sống của nhân loại, nghĩa
là sự phát triển hay suy vong của các nền văn minh trên thế giới, cũng như sự sống
hằng ngày của mỗi người, là một sự kiện mà không ai có thể phủ nhận được.
Tìm cách giải
quyết các vấn đề đặt ra bởi sự sống, bằng cách phủ nhận sự sống thì đương nhiên
các vấn đề đặt ra bởi sự sống không còn nữa. Nhưng như thế thì hóa ra không giải
quyết gì cả; vì chối bỏ sự thật (thiếu tinh thần PHỤC THIỆN).
Chính vì chỗ đó
mà triết lý Ấn Độ, mặc dù đã đạt đến một mức độ cao siêu mà ít khi tư tưởng của
nhân loại đã với tới được lại không thể giải đáp được các vấn đề của nhân loại
cũng như đã không giải đáp được các vấn đề của dân tộc Ấn.
Sau một thời
gian biến hóa lâu dài, triết lý của Tây phương, ngày nay xây dựng trên căn bản
thiết thực nhận sự sống, đã tẩy xuất được mâu thuẫn nguyên khởi giữa hệ thống
tư tưởng và thực tế của đời sống, mà các triết lý không nhận sự sống đều mắc phải,
nên đã thổi vào nền văn minh của Tây phương một sinh lực chưa từng thấy trong lịch
sử của nhân loại.
Và chính sinh lực
này đã bảo đảm cho người Tây phương ưu thế mà họ vẫn giữ đến ngày nay. Các sự
kiện trên càng rõ rệt hơn nữa, nếu chúng ta nhớ lại rằng, đã có một thời, triết
lý Tây phương cũng đã lấy sự không nhận sự sống làm căn bản, và lúc bấy giờ nền
văn minh của họ cũng đã trầm lặng thay vì chói sáng và chinh phục như ngày hôm
nay.
Chỉ từ khi nền
triết lý của Tây phương thoát khỏi sự tự kiềm hãm mình trong một quan điểm trừu
tượng của lý trí, để mạnh bạo đụng đầu vào thực tế của đời sống, thì văn minh của
Tây phương mới phát triển như chúng ta thấy ngày nay.
Nếu phải dùng một
hình ảnh để cho lý luận được nhận thức dễ dàng hơn, thì chúng ta có thể nói rằng
triết lý của Tây phương đã có lúc, một mình, lên đến và sống say mê trong không
khí cao siêu của đỉnh núi thần-thể-tính (tức DUY TÂM).
Nhưng triết lý
đó lại đủ khách quan và can đảm để nhận thấy rằng nhiều vấn đề của nhân loại
không giải quyết được từ trên đỉnh núi đó, và, nếu các vấn đề của nhân loại
không giải quyết được thì triết lý đã thất bại trong nhiệm vụ của mình.
Vì vậy cho nên
triết lý Tây phương đã mạnh bạo từ bỏ không khí cao siêu và thoát tục của đỉnh
núi, vùi mình xuống đống lầy của thực tế, sống với nhân loại để tìm cách giải
quyết các vấn đề của sự sống. Triết lý của Tây phương đang thành công, và hiện
nay nó đang cùng nhân loại leo lên triền của một ngọn núi khác.
Nhưng mặc dù
đang thành công, triết lý Tây phương lại đầy cái khiêm tốn của những người đã đụng
chạm với thực tế và đang cố gắng đi lên.
Trái lại, triết lý của Ấn Độ vẫn còn say mê với không khí cao siêu và
thoát tục của đỉnh núi thần-thể-tính, không rứt nổi mình ra khỏi không khí trong
và thoát khỏi đó, nên chưa ý thức rằng, từ trên đỉnh núi đó, các vấn đề mà đời
sống đặt ra cho dân tộc Ấn không giải quyết được.
Ngày nay, khi đụng
đầu với triết lý Tây phương và mặc dù, hay chính là vì bị dồn vào thế yếu, triết
lý Ấn Độ vẫn còn trù trừ, chưa cương quyết lội xuống bùn lầy của thực tế vì sợ
mất tính chất cao siêu và thoát tục của mình. Vì tính chất cao siêu và thoát tục
là lý do hãnh diện của những người chưa có vật lộn với thực tế.
Nói một cách
khác nữa, và dùng một hình ảnh thô sơ, thì triết lý Tây phương có thái độ của
các vị Bồ Tát và triết lý Ấn Độ có thái độ của người nhập Niết Bàn. Vì những lý
do trên đây mà, mặc dầu cái bề ngoài có vẻ trái ngược với luật chung, ngày nay
xã hội Ấn Độ, cũng như xã hội của tất cả quốc gia đã bị đế quốc thống trị, cùng
lâm vào một hoàn cảnh trầm trọng như chúng ta thấy trên đây. Và các biện pháp
mà các nhà lãnh đạo Ấn Độ cần áp dụng cũng là những biện pháp cần thiết cho các
quốc gia đồng hoàn cảnh.
Và công cuộc
phát triển dân tộc Ấn Độ mà chính phủ Nehru và chính phủ kế tiếp đang theo đuổi
hàm chứa một sự thú nhận rõ rệt rằng Ấn Độ mặc dù có Gandhi và mặc dù có một
triết lý cổ truyền cao siêu, vẫn phải đương đầu với các vấn đề thiết thực và vật
chất của các quốc gia chậm tiến.
Ø Tây phương hóa
là một sự kiện không thể từ chối được.
Trên đây chúng
ta đã phải suy luận dông dài về trường hợp của Ấn Độ. Bởi vì, công cuộc phát
triển dân tộc bằng cách Tây phương hóa là một công cuộc liên hệ đến sự sống còn
của dân tộc.
Và, mặc dầu đầy
khích động, nhưng sẽ đòi hỏi nhiều cố gắng liên tục trong nhiều năm, ở mọi người,
và đòi hỏi nhiều hy sinh nặng nề ở mọi tầng lớp nhân dân. Cố gắng liên tục sẽ
làm cho dân chúng mệt mỏi, hy sinh nặng nề sẽ gây phẫn nộ cho dân chúng.
Trong hoàn cảnh
đó nếu người lãnh đạo không
quả quyết tin vào công cuộc phát triển, nếu toàn dân không tin rằng công cuộc
phát triển là con đường sống duy nhất của dân tộc, thì công cuộc phát triển
không sao thực hiện được.
Vì vậy cho nên,
một điều vô cùng thiết yếu là sự tin tưởng rằng, công cuộc phát triển dân tộc
chúng ta bằng cách Tây phương hóa là một sự kiện lịch sử dĩ nhiên, không thể
tránh được và ngoài công cuộc phát triển ấy ra, dân tộc chúng ta không còn một
lối thoát thứ hai.
Một sự tin tưởng
tuyệt đối như vậy chỉ có thể có được khi nào các trường hợp đều được xem xét một
cách không thiếu sót để cho các nghi vấn đều được giải đáp. Và khi các điều kiện
trên đã thỏa mãn đầy đủ rồi, thì tất cả mọi người Việt Nam chúng ta đều phải quả
quyết tin rằng, chúng ta cần phải dốc hết nỗ lực để thực hiện công cuộc phát
triển dân tộc, bằng cách Tây phương hóa xã hội chúng ta, một cách toàn diện mà
không do dự.
Thật sự ra, công
cuộc Tây phương hóa xã hội chúng ta đã tự nó bắt đầu thực hiện từ ngày người
Pháp bước chân lên đất này. Chúng ta chỉ cần nhìn quanh chúng ta: Nhà ở cũng kiến
trúc theo kỹ thuật và kiểu mẫu Tây phương, giải trí cũng tổ chức theo Tây
phương, thức ăn cũng nấu theo Tây phương. Phần lớn các cử động trong đời sống của
chúng ta đều rập khuôn theo Tây phương.
Nhìn lại chính
con người của chúng ta, dù chúng ta ở thành thị hay thôn quê, chúng ta thấy rằng
tất cả con người chúng ta đều Tây phương hóa từ đầu tới chân: Tóc hớt theo Tây
phương, áo và quần cắt theo lối Tây phuơng, may bằng những cái máy do Tây
phương sáng chế, giây nịt và giày là sản phẩm của Tây phương. Đi ra, chúng ta
dùng xe đạp của Tây phương hay xe hơi của Tây phương. Vì vậy cho nên, những người
còn ngồi nhà mà nói là phải giữ lại phong tục Việt Nam để bảo vệ quốc hồn quốc
túy là những người tự dối long mình.
Lời bàn của soạn giả:
Có lẽ tác giả lẫn lộn nếp sống văn-minh tinh-thần và nếp sống văn-minh vật-chất
với nhau. Hay câu văn không sáng tỏ nên có sự hiểu nhầm chăng? Vì ý của toàn
bài vẫn nhắc tới giá trị cổ truyền cần phải bảo vệ và phát huy. Tổ
tiên chúng ta đã căn dặn là phải có tinh thần Cầu Tiến và tinh thần Tự Trọng.
Cầu Tiến có nghĩa
là phải thay đổi cách sống (vật chất cũng như tinh thần; kể cả cách suy nghĩ)
cho phù hợp với bối cảnh lịch sử đương thời để tiến bằng người; đó là Tây
phương hóa để đủ sức bảo vệ tự chủ.
Tự Trọng là phải
bảo vệ sức mạnh Tâm Linh (tác giả gọi là giá trị cổ truyền, hay quốc hồn quý
túy) là để kết hợp dân tộc thì mới có sức mạnh Tâm Linh được, còn không thì Ta
không còn là Ta nữa.
Tỷ dụ cách Xưng Hô độc đáo, tục lệ thờ cúng Gia Tiên, nghi thức cưới xin
thì ta phải giữ lại vì nói không cản trở công việc Phát Triển.
Không phải vì Tây
phương hóa mà mày tao chí tớ, vong ân bội nghĩa với cha mẹ mình được. Cái này
thì Tây phương không có, ta nên phát huy nó trong xã hội tiếp cư để đóng góp
xây dựng nếp sống hài hòa giữa con người với nhau.
ØĐó là đóng góp văn minh tinh thần của dân Việt vào nền văn minh nhân loại,
để tạo cuộc sống hài hòa giữa các sắc tộc với nhau.
²
Nếu đã như thế
thì, trên kia chúng ta còn đặt thành vấn đề sự cần thiết của công cuộc Tây
phương hóa, có phải là một hành động thừa không? Thừa, mà cũng không thừa.
Thừa đối với những
người vẫn chưa chịu nhận rằng, dầu họ không
muốn Tây phương hóa và họ có chủ trương bảo cựu đến mức độ nào đi nữa,
thì chính con người của họ cũng đã Tây phương hóa đi rồi. Không thừa, đối với chúng ta, là những người
mong muốn thực hiện được công cuộc phát triển dân tộc bằng cách Tây phương hóa
toàn diện.
Công cuộc Tây
phương hóa xã hội chúng ta mà ngày nay chúng ta mục kích những hiện tượng, như
trên đã kể, là một công cuộc Tây phương hóa bắt buộc, dẫn dắt đến tình trạng
tan rã của xã hội chúng ta.
BỊ ĐỘNG:
Xã hội chúng ta
bị Tây phương hóa, chớ không phải tự ý Tây phương hóa. Vì vậy mà cuộc Tây
phương hóa đã được thực hiện một cách không đường hướng, không mục đích và chỉ
lên đến một mức độ thấp kém.
Cũng vì vậy mà
chúng ta không chủ động được công cuộc Tây phương hóa đã qua của chúng ta, và
không có thể dẫn dắt nó vào một chiều hướng và đến một mức độ có ích cho công
cuộc phát triển dân tộc.
CHỦ ĐỘNG:
Trái lại công cuộc
Tây phương hóa mà chính chúng ta phải thực hiện cho dân tộc là một công cuộc
Tây phương hóa tự ý muốn.
Do đó, có đường
hướng và có mục đích. Chúng ta sẽ chủ động cuộc Tây phương hóa này và sẽ đưa nó
đến một mức độ đủ cao để xã hội chúng ta tìm được những tiêu chuẩn giá trị mới
khả dĩ tạo cho nó một trạng thái điều hòa mới.
Ø Như thế nào là
Tây phương hóa có đường hướng?
Dưới đây chúng
ta sẽ chứng minh rằng, trên phương diện dân tộc, một công cuộc Tây phương hóa
chỉ hữu hiệu khi nào được thực hiện toàn diện và đạt đến mức độ đủ cao.
Như thế nào là
Tây phương hóa toàn diện?
Trong số các nhà
lãnh đạo các quốc gia bị Tây phương tấn công, những người có thái độ đóng cửa bảo
vệ giá trị cũ, như ở Trung Hoa và ở Việt Nam, cũng như những người có thái độ mở
cửa để đón văn minh Tây phương như ở Nga và ở Nhật, tất cả đều sớm nhận định rằng
sở dĩ Tây phương thắng thế là, trước tiên, nhờ ở kỹ thuật võ trang và kỹ thuật
tổ chức.
Và giữa hai thái
độ cực đoan như chúng ta đã phân tích trên đây phần đông lại lựa chọn một thái
độ dung hòa và khôn ngoan nhất.
Thái độ nửa chừng
dựa trên lý luận sau đây:
Tây phương hóa
có giới hạn. Chúng ta chiến bại vì vũ khí của chúng ta kém về độ tinh xảo và
quân đội chúng ta thua về tổ chức. Vậy, để chống lại địch thủ một cách hiệu quả
và lâm thời thắng địch thủ, chúng ta chỉ cần học, một là kỹ thuật sử dụng vũ
khí tối tân, lúc đầu mua của chính những quốc gia Tây phương, sau học kỹ thuật
để chế tạo lấy; hai là kỹ thuật tổ chức quân đội theo Tây phương.
Với hai khí giới
đó chúng ta có thể hy vọng thắng địch để bảo vệ được các tiêu chuẩn giá trị
truyền thống của xã hội của chúng ta. Như thế có nghĩa là chúng ta chỉ cần canh
tân quân trang và cải tổ quân đội là đủ, mọi cơ cấu khác trong xã hội vẫn giữ
nguyên vẹn.
Nhưng, lịch sử của
các quốc gia đã áp dụng thái độ đó trong hành động lại chứng minh rằng, sự thật
thì các sự kiện đã xảy ra không như những người lãnh đạo của các quốc gia ấy dự
định.
Sau khi đã quyết
định canh tân quân trang và cải tổ quân đội các nhà lãnh đạo nói trên một mặt gởi
người xuất dương du học các nuớc Tây phương để hấp thụ kỹ thuật mới, một mặt muớn
người chuyên viên Tây phương đến tại xứ để vừa huấn luyện người, vừa để xây cất
các xưởng chế tạo vũ khí.
Vì sao người Tây
phương lại đến nhận lãnh trách nhiệm chế tạo các vũ khí đó và vì sao các cường
quốc Tây phương lại nhận đào tạo các chuyên viên ngoại quốc như vậy, mặc dù họ
vẫn biết, cũng như mọi người đều biết, rằng làm như vậy là họ sẽ trao cho địch
thủ những khí giới đang bảo đảm ưu thế của họ?
***Có nhiều lý do khiến cho người Tây phương, cũng như
những cá nhân của các quốc gia khác, đã hành động như vậy.
Trước hết là vì
bị quyền lợi vật chất quyến rũ.
Thứ hai giữa các
cường quốc trong nội bộ xã hội Tây phương cũng có nhiều mâu thuẫn chính trị khiến
cho mỗi cường quốc, trong một cuộc tranh giành ảnh hưởng ác liệt, sẵn sàng tìm
đồng minh cho mình ở những quốc gia ngoài xã hội Tây phương.
Và sau hết,
trong thời kỳ đi chinh phục thế giới, kỹ thuật Tây phương đã đạt đến một trình
độ rất cao và tạo cho người Tây phương một sự hãnh diện và tự tin mãnh liệt cho
đến nỗi, nếu không phải vì lợi và vì ngoại giao, thì họ cũng không ngần ngại mà
hành động như họ đã làm.
Dầu sao, như
chúng ta sẽ thấy sau này, những lý do trên là những yếu tố thuận lợi, mà toàn bộ
tạo thành cơ hội giúp cho các dân tộc ngoài xã hội Tây phương thực hiện công cuộc
phát triển của mình.
TÂY PHƯƠNG HÓA NỬA VỜI : hậu quả ra sao?
Nếu Tây phương
hóa có giới hạn thì nhất định sẽ thất bại:
Trở lại vấn đề
canh tân quân trang và cải tổ quân đội.
Sau giai đoạn
thi hành các biện pháp nói trên một thời gian, các nhà lãnh đạo thu lượm được một
kết quả mong muốn: Quân đội, võ trang bằng vũ khí của Tây phương và tổ chức
theo lối của họ, đã trở thành một lực lượng làm cho ngoại quốc phải kính nể.
Nhưng, cũng chẳng
bao lâu sau đó, sang giai đoạn thứ hai, chính các nhà lãnh đạo đó lại nhận thấy
thêm rằng, nếu muốn duy trì cái lực lượng quí báu vừa mới tạo được thì việc huấn
luyện chuyên viên, chỉ giới hạn trong lãnh vực quân sự, lại không đủ.
Đi sâu vào một
chút, lại tìm ra là tinh xảo của vũ khí Tây phương bắt nguồn từ các phát minh của
khoa học gia Tây phương, và, ngoại trừ mọi vấn đề tổ chức vật chất, sức mạnh
tinh thần của quân đội Tây phương lại do tư tưởng cá nhân của mỗi người chiến
binh và tư tưởng cá nhân lại do hoàn cảnh xã hội tạo ra.
Như vậy, muốn
nuôi dưỡng một lực lượng quân sự, đã được canh tân, lại phải đặt vấn đề hấp thụ
học vấn Tây phương và như thế, là phải canh tân nền giáo dục.
Và muốn gieo cho
người chiến binh một sức mạnh tinh thần như của người chiến binh Tây phương lại
phải tạo cho họ hoàn cảnh xã hội tương tự, nghĩa là phải cải tạo xã hội.
Ø Mà cải tạo xã hội
thì phải thay thế các giá trị tiêu chuẩn cũ.
Như vậy thì, rốt
cuộc lại, phải bỏ giá trị tiêu chuẩn cũ, điều mà các nhà lãnh đạo đang nói đây
không dự định làm và cũng không muốn làm, vì sở dĩ các nhà lãnh đạo này chủ
trương canh tân quân đội là với mục đích bảo vệ các giá trị truyền thống của xã
hội của họ.
Ngoài ra, sự
canh tân quân đội lại đương nhiên mang đến một hậu quả khác mà các nhà lãnh đạo
cũng không ngờ. Những người muốn học về tổ chức quân đội theo Tây phương, trước
tiên phải học ngôn ngữ Tây phương
để đọc sách về kỹ thuật tổ chức quân đội của Tây phương.
Nhưng khi đọc được
ngôn ngữ của Tây phương rồi, thì không làm thế nào cấm họ đọc các sách khác của
Tây phương trong những lĩnh vực khác: Chính trị, văn hóa, hay xã hội.
Do đó, và vì đã
sẵn trong đầu sự cảm phục chính đáng đối với Tây phương trong lĩnh vực quân sự,
những người này tự nhiên nẩy ra sự cảm phục Tây phương trong lĩnh vực xã hội và
chính trị. Và họ sớm nhận thức rằng sức mạnh của quân đội Tây phương cũng như
tính cách tinh xảo của vũ khí Tây phương là những kết quả đương nhiên, trong
lĩnh vực quân sự của tổ chức xã hội và chính trị của Tây phương.
Như vậy, họ tin
rằng không thể nào có được một quân đội hùng mạnh theo mới mà không có một tổ
chức xã hội và chính trị theo mới. Và chính những người này sẽ biến thành những
cái mầm của cuộc cách mạng chính trị và xã hội sau này. Các sự kiện trên đây lại
giải nghĩa cho chúng ta thấy vì sao mà ở một nước Thổ Nhĩ Kỳ, và nhiều nước
khác ở Cận Đông, chính quân đội lại hướng dẫn các cuộc cách mạng chính trị và
xã hội trong đầu thế kỷ thứ 20 (1901-2000).
Trở lại vấn đề
canh tân quân đội trên đây, sau khi đã canh tân quân đội, trong giai đoạn thứ
nhất đến giai đoạn thứ hai, các nhà lãnh đạo sẽ đứng vào một tình trạng tiến
thoái lưỡng nan. Nếu họ tiếp tục cuộc canh tân quân đội, thì bắt buộc họ phải
đi đến chỗ cải tạo xã hội. Đó là điều họ không thể làm được, bởi vì mục đích của
họ khi canh tân quân đội là để bảo vệ các giá trị tiêu chuẩn cũ.
Nhưng nếu họ
ngưng lại cuộc canh tân quân đội, thì việc bảo vệ các giá trị tiêu chuẩn cũ,
cũng sẽ không thực hiện được đối với sự tấn công của Tây phương. Hơn nữa, một
cuộc duy tân, một khi đã manh nha, tự nó sẽ tạo ra trong cơ thể của xã hội, bắt
đầu duy tân, những lực lượng càng ngày càng bành trướng để phát triển cuộc duy
tân.
Ø Nếu những lực lượng ấy được hướng dẫn sẽ đưa đến một
cuộc duy tân có mục đích, nếu không, cuộc duy tân sẽ hỗn loạn.
Nếu các nhà lãnh
đạo lại dùng bạo quyền, như đã xảy ra ở Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ hồi đầu thế kỷ thứ
20, để hoặc là bãi bỏ công cuộc theo mới hoặc là ngưng cuộc canh tân trong những
giới hạn họ muốn, mặc dù họ vẫn biết rằng hành động như vậy vẫn không cho phép
họ bảo vệ các giá trị tiêu chuẩn cũ, thì lực lượng cách mạng, lãnh đạo do những
người ở trong quân đội đã hấp thụ được, chẳng những kỹ thuật quân sự mới, mà lại
thêm những tư tưởng chính trị và xã hội mới, sẽ nổi lên lật đổ các nhà lãnh đạo
này. Công cuộc Tây phương hóa, nhất định phải toàn diện.
Tóm lại:
Nếu đóng cửa
không đón tiếp văn minh Tây phương, thì, vì kém kỹ thuật, sẽ bị Tây phương làm
cho chiến bại, và biến thành thuộc địa hay bán thuộc địa. Sau khi chiến bại rồi
sẽ bị Tây phương hóa nhưng công cuộc Tây phương hóa sẽ không được hướng dẫn và
sẽ đưa đến những kết quả thảm hại mà chúng ta đã biết.
Nếu muốn Tây
phương hóa có giới hạn để bảo vệ các giá trị cũ thì, một là công cuộc bảo vệ sẽ
không thực hiện được và quốc gia sẽ lâm vào tình trạng của các nước đóng cửa
không tiếp đón kỹ thuật Tây phương. Hai là sẽ tạo hoàn cảnh cho một cuộc cách mạng
nội bộ để đưa đến một cuộc Tây phương hóa toàn diện; trong đó có chánh trị, vì chánh trị lãnh đạo mọi sự canh tân.
Như vậy thì, đằng nào rồi những sự kiện lịch sử cũng sẽ đưa đến một cuộc
Tây phương hóa toàn diện. Nếu đã thế thì thượng sách không phải là nên tự ý Tây
phương hóa toàn diện hay sao?
Có như vậy một mặt
chúng ta sẽ có thể rút ngắn thời gian, một mặt chúng ta mới có thể chủ động được
công cuộc Tây phương hóa để cho những chấn động, mà chắc chắn một công cuộc như
vậy sẽ gây ra cho xã hội ta, không có thể phá hoại xã hội ta, như trong trường
hợp một cuộc Tây phương hóa không hướng dẫn.
Tóm lại, một công
cuộc Tây phương hóa chỉ hữu hiệu khi nào chúng ta được tự ý thực hiện nó và thực
hiện toàn diện, nghĩa là trên lĩnh vực quân sự, chính trị, xã hội và theo đó là
kinh tế, văn hóa và chánh trị. Nghĩa là canh tân toàn bộ xã hội.
CHỦ ĐỘNG:
Nếu ta tự ý Tây
phương hóa, thì chúng ta chủ động được công cuộc Tây
phương hóa của chúng ta và chúng ta sẽ bảo vệ được độc lập và xã hội, nhưng nhiều giá trị tiêu chuẩn phải được đổi
mới.
BỊ ĐỘNG:
Nếu chúng ta
không tự ý Tây phương hóa thì rồi cũng bị Tây phương hóa.
Nhưng cuộc Tây
phương hóa sẽ không được hướng dẫn, không đường lối và không mục đích.
Sở dĩ sự kiện phải
diễn tiến theo cơ thức như đã phân tích trên đây là bởi vì một nền văn minh là
một toàn bộ quân bình, gồm có các tiêu chuẩn giá trị, có hiệu lực trong các
lĩnh vực.
Nếu chúng ta
thâu nhận những thực hiện của Tây phương trong một lĩnh vực nào đó thì sớm hay
muộn những thực hiện đó cũng lần lần kéo đến và bắt buộc chúng ta thâu nhận những
thực hiện của Tây phương trong một lĩnh vực khác có liên hệ.
Mặt khác, nếu
chúng ta đã thâu nhận những kỹ thuật trong một lĩnh vực thì lần lần chúng ta sẽ
thâu nhận những nguyên tắc khoa học, đã làm căn bản cho sự phát minh ra các kỹ
thuật đó. Và nếu chúng ta thâu nhận các nguyên tắc khoa học, thì chúng ta lại
đi đến chỗ thâu nhận lối suy luận đã tạo ra các nguyên tắc khoa học.
Nghĩa là cơ thức
của sự Tây phương hóa đi từ phạm vi hẹp đến phạm vi rộng, và từ cương vị thấp đến
cương vị cao, từ lĩnh vực cụ thể đến lĩnh vực trừu tượng. Và sự diễn biến, tự
nhiên sẽ đến không có gì ngăn trở được. Bởi vì những yếu tố, mà toàn bộ hợp
thành một trạng thái thăng bằng, trong một nền văn minh, không thể tách rời ra
được.
Sự sống, của từng
yếu tố, tùy thuộc sự có mặt của các yếu tố khác. Nếu chúng ta nhận yếu tố kỹ
thuật quân sự, sớm muộn gì chúng ta cũng phải nhận yếu tố khoa học, bởi vì, mỗi
yếu tố, không thể sống một mình được, tất sẽ tự gây lại trạng thái thăng bằng từ
đó nó đã phát sinh, và trong đó nó có thể sống mạnh.
Trong sự liên lạc
giữa hai văn minh, một việc này lại mang đến một việc khác và tuần tự sẽ mang đến
hết toàn bộ văn minh mới.
Ví dụ, nếu chúng
ta mặc vải dệt ở các nhà máy Tây phương, thì chẳng bao lâu chúng ta lại nhập cảng
những nhà máy tương tự để dệt vải theo Tây phương tại xứ ta. Lần lần, chúng ta
lại sản xuất các nhà máy tại chỗ, và, chừng đó người nông dân của chúng ta lại
bỏ đồng ruộng để lên làm việc tại các nhà máy, và lúc bấy giờ, ngoài giờ làm việc
họ lại thích các lối giải trí của Tây phương, và lần lần đầu óc của họ cũng
nghĩ theo Tây phương, và cuối cùng, họ sẽ Tây phương hóa, từ vật chất lẫn tinh
thần. Đó là một định luật xã hội nghiêm khắc.
------------------------------------------


0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil