T64 – Bí quyết bảo vệ Tự Chủ
T64(a) – Bí quyết bảo vệ Tự Chủ
Facebook Văn Hóa Thuần Việt (13.01.2022)
soạn giả : Hoàng Đức Phương
BÍ QUYẾT BẢO VỆ TỰ CHỦ
RẰNG :
Có đặt
vấn đề thì mới có người đầu tư trí tuệ đi tìm cách giải quyết :
Vậy
thì : Vấn đề đặt ra là QUYỀN TỰ CHỦ (ĐỘC LẬP) của dân Việt
Yếu
tố cần phải có để bảo vệ quyền Độc Lập Dân Tộc là gì ?
DÂN
TRÍ và DÂN KHÍ
·
Dân
có tinh khôn thì mới đủ khả năng để bảo vệ sự tự chủ (khai
phóng dân trí)
·
Dân
có khí phách thì mới bắt tay vào việc (phục hồi dân khí bằng nền VĂN HÓA THUẦU VIỆT HIỆN ĐẠI)
PHÁ VỠ VÒNG LUẨN QUẨN :
Vòng luẩn quẩn :
Ø Muốn
PHÁT TRIỂN thì phải có ĐỘC LẬP ; nhưng muốn có ĐỘC LẬP thì cần phải có
PHÁT TRIỂN
Ø Còn TỤT
HẬU thì mất ĐỘC LẬP ; mà mất ĐỘC LẬP thì càng ngày càng TỤT HẬU rồi TIÊU
VONG
Hiện nay xã hôi chúng ta tan rã hoàn toàn thì làm sao có thể PHÁT
TRIỂN để bảo vệ được ĐỘC LẬP ?
Chúng ta đã biết nguyên nhân tan rã là do nền giáo dục vong nô bắt
đầu khởi xướng dưới Triều vua Lê Thánh Tôn (1460), thay quan niệm người dân giữ
nước thành Đất của Chúa, lúa của Trời
Nay muốn vực dạy thì phải Phục Hồi nền Văn Hóa Thuần Việt hiện đại
với quan niệm CON HƠN CHA LÀ NHÀ CÓ PHÚC.
XÉT RẰNG :
Muốn phục hồi dân khí và khai phóng dân trí thì phải có chương trình
Nhân Văn Việt Tộc và lớp học Văn Hoá Thuần Việt. Dưới thời nô lệ thì dân ta không
có 2 điều kiện này nên rơi vào vóng luẩn quần.
Nhưng ngày hôm nay hoàn cảnh khác xưa nên tuy không nắm quyền nhưng
chúng ta vẫn làm được vì : Chúng ta có Cộng Đồng Hải Ngoại soạn thảo bài vở và có Diễn Đàn Ảo để dạy người dân
tinh khôn; và biết đoàn kết để lật đổ båo quyền, giành quyền tự chủ.
Vì thế nên chúng ta phải biết khai dụng Văn Minh khoa học để lật
ngược thế cớ đòi quyền Tự Chủ dễ nhu trở bàn tay…
Ø Bài
này chỉ có tính chất đóng góp để giúp thế hệ đương thời biết cách hành động để đòi
lại quyền tự chủ cho chính mình và xây dựng tương lai cho thế hệ con cháu.
Quý vị nghĩ xem có đúng không ? Nếu đúng thì chỉ cần mọi người
có ý chí bắt tay vào việc là xong ; còn khoanh tay đứng nhìn thì bọn Việt
Nô Cộng Sản vẫn còn đó
NHU
CẦU và GIẢI PHÁP :
Ø Dùng
mặt trận VĂN HÓA THUẦN VIỆT để bảo vệ TỰ CHỦ như nước NHẬT đã làm, điển hình là
nhà Hậu Lê đã làm : TA ĐÂY MƯU PHẠT CÔNG TÂM KHÔNG ĐÁNH MÀ NGƯỜI PHẢI KHUẤT.
Ø Dùng
sự TỰ CHỦ để PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
Ø Điều
kiện cần phải có là : TOÀN DÂN BẮT TAY VÀO VIỆC bằng một chương trình chủ
động chứ không phải làm theo HỨNG
CHƯƠNG
TRÌNH NGẮN HẠN :
Chúng ta có thể sửa soạn tinh thần và hành động ngay từ bây giờ
là : Lên chương trình để có hành động, trong vòng 6 tháng, phải giải quyết
được 4 vấn đề nổi cộm sau đây
1) Xung khắc săc tộc (54
sắc tộc bảo vệ dân Việt và 2 sắc tộc tiêu diệt dân Việt)
2) Hận thù phe nhóm (Nạn
nhân của Việt Cộng)
3) Vị trí của TÔN GIÁO
trong xã hội lấy VIỆT GIÁO làm căn bản để xây dựng con người theo Văn Hóa Lạc Hồng
và Khí Phách Rồng Tiên mà ta gọi là TRUYỀN THỐNG của dân Việt
4) Vị trí của nền VĂN HÓA MÁC LÊ và VĂN HÓA VIỆT LAI do đồng bào hải ngoại đem du nhập vảo xã hội theo VĂN HÓA THUẦN VIỆT từ ngày lập nước VĂN LANG (2.879BC)
CHƯƠNG
TRÌNH DÀI HẠN :
Phân công giữa Chế độ Dân Chủ Chế Tài và chế độ Tam Quyền Phân Lập :
Rằng Canh Tân Con Người và Canh Tân Đất Nước là việc phải làm
thương xuyên, không được sao lãng
Chúng ta chỉ bàn về « Dân Chủ Chế Tài » trong lãnh vực
sau đây mà Chánh Quyền phải thi hành đúng với thời hạn :
A.
CANH
TÂN CON NGƯỜI :
·
Chương trình giáo khoa : Phải có bài mới theo 17 tiêu chuẩn
cho các em từ 8 tuổi đến 18 tuổi về Việt GIÁO, Việt ĐẠO và Việt TRIẾT - Mỗi
năm phải có ít nhất là 1 bài cho mỗi môn
(Việt Giáo, Việt Đạo và Việt Triết)
·
Bình đẳng giáo dục ở bậc tiểu học : Thành quả đựa kiểm tra từng
tam cá nguyệt
·
Đào tạo Giảng Viên và Giảng Sư để có sự thăng tiến trong khoa NHÂN
VĂN VIỆT TỘC
B.
CANH
TÂN ĐẤT NƯỚC
·
Quy định rõ rệt quyền hạn và nhiệm vụ của giai cấp cầm quyền để
tránh nạn lạm quyền, ức hiếp người dân. Bước đầu thì có thể rộng quyền để thi
hành công vụ. Càng về sau, dân trí càng cao thì quyền hành sẽ giảm bớt đi.
·
Chương trình NHÂN QUYỀN và Dân Quyền
·
Chương trình huấn luyện nhân tài cho đất nước về : Võ Quan (bảo
vệ tự chủ cho đất nước) và Văn Quan (quản trị đất nước).
·
Chương trình phát triển đất nước như Sinh ngữ, Du Sinh (ngày nay học
pập, ngày mai giúp đời)
·
Giải quyết vấn đề thất nghiệp.
·
Giải quyến vấn đề no ấm cho dân
C.
CANH
TÂN và TRUYỀN THỐNG
a.
Truyền
thống thuộc khoa Nhân Văn Việt Tộc (tức DÂN KHÍ, nằm trong Quốc Hiệu VĂN
LANG, mang ý nghĩa TINH THẦN TỰ TRỌNG) dùng để kết hợp dân tộc thì mới bảo vệ
được quyền TỰ CHỦ trong một xã hội tan rã như xã hội chúng ta hiện nay.
b.
Canh
tân thuộc khoa học thực dụng, dùng để sánh vai cùng nhân loại, và
tránh tụt hậu (thời xưa gọi là TINH THẦN CẦU TIẾN, ý nghĩa của danh từ VIỆT là
danh xưng của chủng tộc ; TỘC DANH)
c.
Tương
khắc : Không Canh Tân Đất Nước thì mất Tự Chủ, không bảo vệ bản sắc
dân tộc thì TA không còn là TA nữa.
RẰNG : Vạn
vật thay đổi theo môi trường sinh sống do đó :
1)
Nếu truyền thống kết hợp dân tộc nào cản
trở cho công cuộc canh tân đất nước thì dẹp hết, không luyến tiếc (nước NHẬT đã
làm nên mới có ngày hôm nay)
2)
Đồng thời phải tạo ra những truyền thống
mới, phù hợp với môi trường sinh sống hiện nay, tỷ như quan niệm về chữ HIẾU về NAM NỮ bất bình đẳng
do Gia Long tạo ra mà trước đó không có…. .
3)
Còn những tuyền thống nào không ảnh hưởng
đến sự phát triển mà bọn thống trị đã xóa bỏ thì phải khôi phục lại như :
Chuyện Rồng Tiên là Lịch Sử Truyền Khẩu tả trận đánh của Việt Vương Câu Tiễn
giết Ngô Phù Sai rồi sát nhập dân NGÔ và dân VIỆT vào với nhau để tạo
thành nước BÁCH VIỆT với tinh thần ĐỒNG BÀO, với cách Xưng Hô (đi từ danh từ Đồng
Bào), với tục ngữ Bàu (NGÔ) ơi thương lấy Bí (Việt) cùng, tuy rằng khác giống
như chung một dàn (đi từ danh từ Đồng Bào) ; với Văn Hóa Lạc Hồng, Khí
Phách Rồng Tiên (đi từ Học Thuyết Rồng Tiên) mà ngày hôm nay chúng ta vẫn dùng
để kết hợp với nhau. Hay chữ Văn Lang, Hồ Động Đình cần phải khôi phục lại
trong tiềm thức của dân Việt với đầy đủ ý nghĩa của nó.
Muốn nắm vững con đường phát triền thì phải nhập tâm Sơ Đồ Biến Đổi
Văn Hóa và Kỹ Thuật bảo vệ Tự Chủ
-----------------------------------------
sơ đồ : Thay Đổi Nếp Sống



.........................................................................................................................................
·
Chính tay mình vẽ lại sơ đồ này 5 lần cho nhập
tâm thì bài học mới có kết quả tốt.
Theo sơ đồ này thì
ta thấy rằng: Xã hội loài người thăng tiến không ngừng là do phát minh khoa học,
không phát triển sẽ tiêu vong.
Ø Sáng chế
ra cái mới thì không bao giờ ngừng và đủ cả.
Vì thế nên chúng ta
cần phải hiểu rõ rằng: Sơ đồ thay đổi
nếp sống là một vòng xoáy đi lên, nếu theo không kịp thì sẽ bị tụt hậu
và tiêu vong theo luật đào thải bất biến.
· Khi nắm vững sự phát triển không ngưng nghỉ của
khoa học rồi thì chúng ta mới có thể đưa ra học thuyết thoát hiểm để tiến bằng
người được. Không
biết là đấu võ mù!
· Nếp
sống là tiếng Việt,Văn Hóa là tiếng Tàu, danh từ của ông PhạmQuỳnh vào thập
niên 1930.
· Mỗi
tầng là một thời đại mới đi từ: Mung-lung, biết cách dùng lửa, đồ gốm, đồng đồng,
đồ sắt, đồ thép, kỹ nghệ, nguyên tử và nay là thời điện tử thì dân ta lại sống
thụt lùi trong thời kỳ đồ đểu, lừa lọc, dối trá, điêu ngoa, ….….cái giá phải trả
là : Thế giới coi khinh!
¾
KỸ THUẬT BẢO VỆ TỰ CHỦ
![]()
![]()
·
Đây là lộ trình giáo dục phải theo thì toàn dân mới có đủ khả năng
bảo vệ sự tự chủ của mình được.
·
Việt Lực được suy ra từ lời căn dặn của cha LẠC LONG. Sơ đồ này là
chuyển ý từ thông điệp Rồng Tiên khai quốc: 100 trứng, 100 con. Chuyện Rồng
Tiên khai quốc là học thuyết căn bản của khoa nhân văn Việt tộc.
Chuyện
Rồng Tiên được dựng lên do nhu cầu chánh trị mà 2 ông Phạm Lãi, Văn Chủng đã lồng
trận đánh ‘diệt Ngô Đại Cáo’dưới dạng Huyền Thoại ở thời điểm chưa có chữ viết
(#600BC), để đem thông điệp cứu nước và giữ nước cho hậu thế noi theo.
ü Huyền
thoại chỉ là phần chuyên chở thông điệp. Thông điệp là triết lý của câu chuyện.
Muốn hiểu thì phải dùng tư duy huyền thoại.
ü Xin
coi thêm Đặc San Huyền Thoại với chủ để : Bạch hóa huyền sử thời vua Hùng (2.879BC-250BC) bằng các di vật ngời
Văn Lang để lại (Nhóm Nhân Văn Việt Tộc đã ấn hành/link :
http://vanhoathuanviet.blogspot.com
----------------------------------------
Xin
giới thiệu với quý vị 3 đường dẫn sau đây, và kính mời các vị hiền tài tiếp tay
cho chương trình này được phong phú.
http://nhanvanviettoc.blogspot.com
là nơi lưu trữ tài liệu để soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com
là nơi lưu trữ các bài đã soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm)
từ Tiểu Học đến Trung Học.
Nơi lưu trữ 3 kinh nhật
tụng
1.
Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18 tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)
SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ (Đủ Bộ)
https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT
CHO LỊCH SỬ (Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k
SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph
ØKênh Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ
là
nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu trữ
vô máy.
¾
Bài
T64(b) -Phản Ứng Của Nga và Nhật
Livestram Văn Hóa Thuần Việt (13.01.2022)
LUẬN VỀ LÃNH ĐẠO (tiếp theo)-
Tài liệu Học Thuyết Nhân Vị (Ngô Đình Nhu)
Rút kinh nghiệm trường hợp NGA và NHẬT
----------------------------------
Như
thế nào là Tây phương hóa đến mức độ đủ cao?
BÀI HỌC CỦA NƯỚC NGA
Trong lĩnh vực này lịch sử của nước Nga là
một bài học vô cùng quí báu.
Nước
Nga ở phía Đông Âu Châu. Đối với Âu châu, nước Nga là một tiền đồn, mỗi khi các
bộ lạc du mục Mông Cổ và Hung-nô ở các đồng hoang phía Đông Bắc Á châu xua quân
đánh phá các dân tộc đã định cư trên hai đại lục Âu, Á. Vị trí địa dư ấy, đã dẫn
dắt đến các sự kiện lịch sử quan trọng sau đây.
Quan
trọng đến nỗi, sau mấy ngàn năm biến cố khuynh đảo, nó vẫn còn chi phối nặng nề
các nguyên tắc ngoại giao giữa Nga và các cường quốc Âu Mỹ. Và đây là một ví dụ,
hết sức sáng tỏ, để chứng minh rằng, trong đời sống của một dân tộc, một thời
gian mấy thế kỷ hay mấy ngàn năm vẫn chưa thấm vào đâu. Và cuộc cách mạng Sô Viết
của nước Nga lại làm cho các sự kiện này trở thành một bằng cớ hết sức đích xác
để chứng minh rằng dĩ vãng của một dân tộc do hoàn cảnh địa dư và sự kiện lịch sử
tạo thành, không có thể san bằng được dù là bằng một cuộc cách mạng vô cùng táo
bạo, để xây dựng tương lai.
Ngay
từ thế kỷ thứ X (901-1000), nước Nga đã có những sự liên lạc thường xuyên và chặt
chẽ với đế quốc La Mã; khi đế quốc này chỉ còn ảnh hưởng ở phía Đông Địa Trung
Hải và đặt kinh đô tại Constantinople, phía Bắc nước Hy Lạp, Gia Tô giáo cũng
đã chia làm hai phái, Tây phái, Giáo chủ ở tại La Mã và Đông phái, Giáo chủ ở tại
Constantinople, chống báng nhau vì nhiều điểm về hành giáo và nghi lễ.
Nước
Nga, vì liên lạc với Constantinople nên ngả theo Gia Tô Đông phái, trong khi
các nước Âu châu đều được Tây phái La Mã truyền giáo. Sự kiện này vừa là cái mầm
chia rẽ giữa nước Nga và các nước Âu châu, lại vừa là một di sản tinh thần
chung cho hai bên. Vì vậy mà trong lịch sử bang giao giữa Nga và Âu châu, tùy
theo hoàn cảnh, có lúc thì sự kiện trên có hiệu lực như là một cái mầm chia rẽ,
có lúc lại có hiệu lực là một di sản tinh thần chung.
Từ
thế kỷ thứ X (901-1000) đến thế kỷ thứ XIII (1201-1300), tính cách di sản tinh
thần chung lấn thế, nên sự mậu dịch rất thịnh hành giữa hai bên. Và nhiều cuộc
hôn nhân chính trị, một yếu tố vô cùng quan trọng trong thời quân chủ, đã xảy
ra giữa giòng vua Nga và các giòng vua Anh Pháp. Nếu tình trạng này kéo dài thì,
mặc dầu những điểm dị đồng giữa hai phái Gia Tô, di sản tinh thần chung có lẽ
đã thắt chặt các nước Âu châu và nước Nga lại làm thành một khối, và lịch sử đã
có nhiều sự thay đổi lớn lao. Nhưng sau đó, vào thế kỷ thứ XIII, các bộ lạc
Mông Cổ, dưới sự lãnh đạo của Thành Cát Tư Hãn và các vị vua kế tiếp đã đưa
quân đánh chiếm gần hết Châu Á và một phần lớn Âu châu, lập thành một đế quốc gồm
các nước Đông Âu ngày nay (Ba Lan, Hung Gia Lợi, Ru-ma-ni, Bulgarie) cả nước
Nga, hết trung bộ Châu Á, nội Mông Cổ, Tây Tạng và hết nước Tàu.
Sự đế
quốc Mông Cổ thống trị nước Nga trên 150 năm, ngày nay, vẫn còn lưu lại nhiều
di tích vật chất và nhất là một sự kiện mà hậu quả lịch sử vô cùng lớn lao
trong nhiều thế kỷ là:
1) Sự
thống trị của Mông Cổ đã cắt đứt hết các dây liên lạc nối liền nuớc Nga với khối
văn minh Tây phương đang phát triển.
Trong
khi nước Nga bị xâm chiếm, và, nhờ vị trí tiền đồn của nước Nga mà các nước
khác ở Tây Âu đã thoát sự đô hộ của Mông Cổ, thì các nước này, chẳng những
không có lúc nào tìm cách cứu viện một đồng minh cùng chung một di sản tinh thần,
ngược lại, đã lợi dụng hoàn cảnh suy vong của Nga, để cắt xén và chiếm nhiều phần
đất thuộc lãnh thổ Nga. Trong những lúc đó, chính là tính cách mầm chia rẽ đã
thắng tính cách di sản tinh thần chung của sự kiện mà chúng ta vừa nêu lên ở
trên. Và sau khi đế quốc Mông Cổ tan rã, nước Nga thâu hồi độc lập, thì từ đó sự
bang giao giữa Nga và các nước Tây Âu lúc nào cũng mang dấu vết cay đắng của thời
kỳ vừa qua.
Do đó, lịch sử của cuộc bang giao giữa hai
bên chỉ là một cuộc chiến đấu không ngừng, kéo dài cho tới ngày nay, lúc thì
Tây Âu chiến thắng, lúc thì Nga chiến thắng; và chúng ta đang sống vào một thời
kỳ mà Nga đang chiến thắng Tây Âu.
Luôn
luôn, Tây Âu nắm phần thắng những lúc mà kỹ thuật của họ tiến bộ hơn của Nga.
Nhưng yếu tố dân đông và đất rộng của Nga, lần nào, cũng cứu Nga thoát khỏi một
sự chiến bại hoàn toàn.
Sau
đó, các nhà lãnh đạo Nga lại tìm cách thâu thập các kỹ thuật mới và khi hai bên
đã ngang nhau trên phương diện kỹ thuật thì yếu tố dân đông lại đưa phần thắng
cho Nga.
Thời
gian qua, kỹ thuật của Tây phương lại tiến bộ hơn trước và đồng thời mang thắng
lợi về cho Tây phương. Tấn tuồng lại cứ như thế mà tiếp tục diễn tiến, qua nhiều
thế kỷ, lúc bên này được bên kia thua, và lúc bên kia được bên này thua.
Thâu
thập kỹ thuật:
Lúc
đầu sự thâu nhập kỹ thuật Tây phương không khó khăn, bởi vì sự cách biệt giữa
hai nền kỹ thuật chỉ nằm trong một vài phát minh được xem như là những bí mật
quan trọng. Kỹ thuật chưa tiến bộ nhiều, phương pháp nghiên cứu chưa có qui củ,
các phát minh còn thô sơ và rời rạc, thỉnh thoảng tình cờ mới tìm được một phát
minh mới. Và quốc gia nào nắm được một phát minh mới, tuy thô sơ nhưng hiếm có
đó, thì đã nắm được trong tay một sức mạnh vô địch làm nghiêng hẳn cán cân lực
lượng về phía mình.
Ở
Trung Hoa, thời đại nhà Đường, vào thế kỷ thứ VII (601-700), sự tình cờ đã đưa
đến cho Đường Thế Dân một phát minh, ngày nay chúng ta xem là thông thường,
nhưng đã làm đảo lộn thế giới lúc bấy giờ. Đó
là yên ngựa có chân đứng.
Trước
đó, người cưỡi ngựa chỉ ngồi trên ngựa, hai chân buông lỏng, vì vậy mà thăng bằng
không vững và kỵ binh chỉ là một phương tiện vận tải. Với phát minh mới, người
ngồi trên lưng ngựa vững như dính liền với thú và kỵ binh trở thành một khí giới
tấn công vô cùng sắc bén và dũng mãnh.
Chỉ
nhờ có hai sợi dây da thô sơ buộc vào yên ngựa, nhưng lại có một tầm quan trọng
rộng lớn không ngờ, mà nhà Đường, đã chuyển thế lâm nguy của Trung Hoa lúc bấy
giờ, đang sống dưới sự đe dọa xâm lăng thường xuyên của các dân tộc du mục
Trung Á, thành một thế chiến thắng. Và nhà Đường chẳng những đã đánh bại các
dân tộc xâm lăng, giữ vững độc lập cho Trung Hoa, lại còn chinh phục ngược lại
các lãnh thổ của họ, lập thành một đế quốc hùng cường mà nền văn minh đã chói
sáng khắp thế giới lúc bấy giờ trong hơn ba thế kỷ. Tất cả những thành tựu đó
chỉ nhờ cặp chân đứng yên ngựa. Hơn thế nữa, cặp chân đứng yên ngựa, sau khi đã
chấn hưng Trung Hoa đến cực độ, lại còn mãnh lực xoay chiều luồng sóng chinh phục,
lúc đó đang chảy từ Tây sang Đông, thành một luồng sóng chinh phục từ Đông sang
Tây.
Các
dân tộc du mục Trung Á sau khi bị Trung Hoa chinh phục và đồng thời thâu thập
được phát minh mới, nguyên nhân chính yếu của sức mạnh của nhà Đường, đã quay lại
chinh phục các dân tộc láng giềng ở phía Tây và lần hồi làn sóng chinh phục lại
chuyển từ Đông sang Tây. Phát minh chân đứng yên ngựa cũng theo làn sóng đó mà
đi từ Đông sang Tây. Cuối thế kỷ VII (#800), cặp chân đứng yên ngựa đã nhập vào
xã hội Hồi Giáo, và nhờ nó mà xã hội này đã chinh phục gần hết các phần đất bao
quanh Địa Trung Hải.
Ví dụ
trên kia cho ta thấy vai trò vô cùng quan trọng của kỹ thuật trong đời sống của
các dân tộc. Lịch sử, trong thời kỳ khoa học chưa phôi thai, còn nhiều trường hợp
như vậy: Làm chủ được một phát minh kỹ thuật mới có nghĩa là làm bá chủ một
vùng.
Nhưng,
cũng chính ký ức những trường hợp như vậy đã làm cho những nhà lãnh đạo các quốc
gia ngoài xã hội Tây phương, sau này, như chúng ta đã thấy, lầm tưởng rằng, chỉ
thâu nhận được kỹ thuật mới của Tây phương là đủ bảo vệ nền văn minh cũ. Họ lầm
bởi vì, sau khi khoa học đã phát triển sự nghiên cứu đã có qui củ, sự tìm tòi
đã có phương pháp, các phát minh không còn rời rạc nữa và trở thành một toàn bộ
di sản của một nền văn minh hiện tại.
Cho
nên, như chúng ta đã biết, nếu chúng ta thâu thập một kỹ thuật Tây phương thì
chúng ta phải thâu thập hết toàn bộ kỹ thuật Tây phương.
²
Trở
lại vấn đề cuộc chiến đấu giữa Nga Sô và các cường quốc Tây phương, chúng ta hiểu
rõ vì sao, lúc đầu, sự thâu thập kỹ thuật Tây phương không khó đối với Nga.
Nhưng về sau, từ lúc khoa học đã bắt đầu phôi thai, các phát minh kỹ thuật càng
phức tạp hơn, và sự thâu thập càng khó khăn hơn.
Chúng
ta thấy rõ sự tiến triển của cường độ khó khăn, khi chúng ta ý thức rằng lúc đầu
sự thâu thập một kỹ thuật mới có thể thực hiện được một cách âm thầm, sau các
chiến trận hoặc trong những cuộc trao đổi thương mãi. Nhưng về sau, có lúc
chính đại đế Pierre nước Nga đã phải đích thân hai lần cải trang sang viếng các
nước Âu Châu cùng với một đội binh chuyên viên để thâu thập kỹ thuật Tây
phương. Và sau đó đã bắt đầu kêu gọi đến kỹ thuật gia Tây phương bằng những lợi
lộc hấp dẫn.
Thâu thập khả năng sáng tạo kỹ thuật:
Sự
thâu thập càng ngày càng khó khăn này là một lý do khả dĩ giải thích một phần
vì sao mà trong cuộc chiến đấu với Tây phương, Nga nhiều lần bị kỹ thuật của
Tây phương lấn áp. Lý do thứ hai dưới đây, có tính cách trừu tượng hơn nhưng lại
minh biện hơn. Trong việc thâu thập kỹ thuật, Nga vẫn theo các nếp cũ, cho nên
vẫn tìm cách thâu thập các kỹ thuật, chớ không bao giờ tìm cách thâu thập khả
năng của lý trí, khả dĩ sáng tạo được kỹ thuật. Do đó, một khi Nga vừa chế ngự
được một mớ kỹ thuật, thì óc sáng tạo của Tây phương đã đẻ ra những kỹ thuật mới,
tinh xảo hơn. Thành ra lối thâu thập cũ nếu có thể áp dụng ở thời kỳ tiền khoa
học, thì vào thời kỳ khoa học chỉ vừa đủ để cho những người áp dụng chạy theo
đuôi Tây phương.
Nguyên
do ở chỗ trước kia các phát minh kỹ thuật là một sự tình cờ, thỉnh thoảng mới nẩy
ra lúc thì nơi này lúc thì nơi khác. Nhưng từ ngày xã hội Tây phương đã chế ngự
được khoa học, phương pháp hóa sự nghiên cứu, qui củ hóa sự tìm tòi thì các cuộc
phát minh trở thành liên tục và biến thành một thế độc quyền của những ai chế
ngự được khả năng sáng tạo khoa học.
Vì vậy
mà vấn đề thâu thập kỹ thuật trước kia đơn sơ và ở vào trình độ bắt chước, sau
khi khoa học đã phát triển, phải được đưa lên đến trình độ chế ngự khả năng
sáng tạo khoa học. Phải như vậy, nếu những người thâu thập kỹ thuật Tây phương
không muốn lúc nào cũng chỉ chạy theo đuôi Tây phương và lúc nào cũng bị kỹ thuật
Tây phương chi phối.
Nghĩa
là công cuộc Tây phương hóa chỉ hữu hiệu khi nào được thực hiện đúng đến mức độ
đủ cao để tự mình sáng chế ra được những kỹ thuật mới. Mới đầu là dập khuôn (bắt
chước), sau đó là tự phát minh.
Ø Đó là bài học mà nước Nga, sau nhiều thế kỷ
kinh nghiệm và bằng một giá rất đắt, đã thâu thập được.
Ø Và đó cũng là một bài học vô giá cho các
nước ở trong tình trạng phải Tây phương hóa để bảo vệ sự sinh tồn của mình như
nước ta.
Chính
nước Nga đã áp dụng ngay bài học đó trong cuộc cách mạng 1917. Và chung qui cuộc
cách mạng 1917 của Nga chỉ là một cuộc Tây phương hóa toàn diện và tự đặt cho mục
đích phải đến mức độ đủ cao. Nghĩa là phải làm thế nào khắc phục được khả năng
sáng tạo khoa học của Tây phương.
Cuộc
Tây phương hóa ở Nga đã toàn diện, nhưng cuộc Tây phưƣơng hóa của Nga đã đến mức
độ đủ cao chưa? Thời gian còn sớm quá
nên chúng ta chưa có thể trả lời quả quyết được. Tuy nhiên, sự sáng tạo các hỏa
tiễn liên lục địa, các vệ tinh và hành tinh nhân tạo, các phi thuyền không
gian, và nhiều phát minh khác trong mọi lĩnh vực, tuy không kích thích dư luận
đại chúng, nhưng vẫn không kém phần quan trọng trên địa hạt khoa học, vượt hẳn
khả năng sáng tạo của nhiều quốc gia Tây phương, là những triệu chứng cho chúng
ta đoán rằng Nga đã thành công. Tuy vậy nhưng hãy còn sớm quá để chúng ta trả lời
một cách dứt khoát. Ví dụ dưới đây lại thêm phần rõ rệt về tính cách tối quan
trọng của mức độ đủ cao của công cuộc Tây phương hóa.
TRƯỜNG HỢP CỦA NHẬT
Cái
hay phi thường của các nhà lãnh đạo Nhật dưới thời Minh Trị lúc bị Tây phương tấn
công, là, mặc dầu không có cái kinh nghiệm chiến đấu trong mấy thế kỷ chống Tây
phương như Nga, lại nhìn thấy ngay sự cần thiết của một công cuộc Tây phương
hóa toàn diện.
Nhưng
có lẽ quan niệm về cao độ của công cuộc Tây phương hóa không được rõ rệt lắm
cho nên đến ngày nay, mặc dầu công cuộc Tây phương hóa của Nhật đã thành tựu một
cách không ai phủ nhận được, sự chế ngự khả năng sáng tạo khoa học của Nhật
chưa có dịp xuất lộ một cách rõ rệt như của Nga. Trái lại một vài trường hợp lịch
sử chứng minh rằng người Nhật trong công cuộc Tây phương hóa toàn diện, chưa đạt
đến mức độ đủ cao.
Lúc
khởi đầu cuộc chiến tranh Thái Bình Dương giữa Nhật và Mỹ, các phi công Mỹ đều
khiếp sợ thành tích, tốc độ tầm hoạt động, sự dễ lái, hỏa lực và sức chịu đựng
của loại phi cơ khu trục của Nhật gọi là Zéro. Và các cường quốc đều xem khu trục
cơ của Nhật là một thực hiện bậc nhất trong thế giới của khoa học hàng không Nhật.
Nhưng
sau hai năm chiến tranh, trong khi Mỹ lần lần cho xuất hiện những loại phi cơ
vượt hẳn loại phi cơ Zéro về mọi mặt; thì Tổng Tham Mưu Nhật và kỹ thuật hàng
không Nhật vẫn không sáng chế được một loại phi cơ nào hơn loại Zéro đuợc. Do
đó sự làm chủ không phận lọt vào tay Mỹ và chiến thắng cuối cùng về Mỹ như
chúng ta đều biết.
Có
thể nhiều yếu tố đã ảnh hưởng cùng một lúc để đưa đến sự kiện trên. Nhưng một
điều chắc chắn là trong số các yếu tố đó, có sự kiện là cuộc Tây phương hóa của
Nhật, mặc dù đã kết quả rất tốt đẹp, vẫn chưa đi đến chỗ chế ngự một cách đầy đủ
khả năng sáng tạo khoa học của Tây phương.
Trong
thời bình, mặc dầu những bí mật của quốc phòng vẫn được mỗi quốc gia giữ gìn kỹ
lưỡng, các tin tức khoa học vẫn được trao đổi giữa các cường quốc tiến bộ, hoặc
bằng lối trao đổi văn hóa thông thường, hoặc bằng lối tình báo bí mật. Do đó, sự
chênh lệch giữa các nước về kỹ thuật không đến đỗi to tát lắm.
Nhưng
trong thời kỹ chiến tranh, cố nhiên là những luồng giao hoán đều gián đoạn và mỗi
nước phải sống với cái vốn sáng tạo riêng của mình. Lúc bấy giờ, nếu trình độ
chế ngự khả năng sáng tạo khoa học của nước mình chưa đủ cao thì kỹ thuật sẽ
sút kém và ảnh hưởng nặng nề đến chiến cuộc.
Trường
hợp trên đây của Nhật xác nhận hai điểm là Tây phương hóa đến mức độ đủ
cao.
1.- Tính cách thiết yếu của sự đạt đến mức
độ đủ cao của công cuộc Tây phương hóa.
2.- Đạt đến mức độ đủ cao của công cuộc
Tây phương hóa là một điều vô cùng khó
khăn.
Nếu
chúng ta không đạt đến mức độ đủ cao trong công cuộc Tây phương hóa thì chính
là mục đích của công cuộc Tây phương hóa chúng ta không đạt được. Nghĩa là những
kết quả của một công cuộc Tây phương hóa không đủ cao, sẽ không giúp cho chúng
ta bảo vệ được sự tồn tại của dân tộc, lý do chính, vì đó mà chúng ta nhận định
rằng công cuộc Tây phương hóa là cần thiết.
Nước
Nhật, trong công cuộc Tây phương hóa của họ, đã đạt được nhiều kết quả mà, chẳng
những chúng ta và các nước cùng đang theo đuổi công cuộc Tây phương hóa, đều
thán phục, mà đến các nước Âu Mỹ cũng ngợi khen.
Thế
mà, trong giờ phút quyết liệt của cuộc chiến đấu quyết định sự thắng bại của
dân tộc, thì kỹ thuật của họ vẫn chưa sánh kịp với kỹ thuật Tây phương.
Lời soạn giả:
Lý do chưa đủ cao là vì “NGHÈO” không có ngân quỹ để
chi phí cho phòng nghiên cứu. Bằng cớ là xe moto của Nhật chiếm ưu thế trên thị
trường Âu Mỹ; chỉ vì hàng bán càng chạy thì kỹ sư nghiên cứu càng có phương tiện
nghiên cứu cái mới tinh xảo hơn: Đúng là nước chảy chỗ chũng.
Ø Xem thế đủ biết rằng, việc chế ngự được khả
năng sáng tạo khoa học không phải là việc dễ làm.
Nếu
chúng ta đã quan niệm rằng sự đạt đến mức độ đó là thiết yếu, thì việc đạt được
vẫn còn là một việc vô cùng khó khăn. Nay nếu chúng ta không đặt vấn đề ấy là cần
thiết, thì chắc chắn là không bao giờ chúng ta chế ngự được khả năng sáng tạo
khoa học của Tây phương. Và như thế là chúng ta đã đầu hàng trước khi ra trận.
Tất
cả các điều trình bày trên kia lại càng xác nhận quan điểm cho rằng, công cuộc
Tây phương hóa toàn diện và việc đạt được đến mức độ đủ cao là thiết yếu cho sự
sống còn của dân tộc chúng ta. Và bởi vì một công cuộc Tây phương hóa như vậy sẽ
vô cùng khó khăn và đòi hỏi ở toàn dân những nỗ lực lớn lao và những hy sinh nặng
nề, thì nếu không phải chính chúng ta chủ trương và lãnh đạo lấy, thì chắc chắn
rằng không làm thế nào chúng ta có thể thực hiện được công cuộc Tây phương hóa
của chúng ta.
Độc lập để Tây phương hóa:
Sau
khi đã phân tích như vậy rồi, chúng ta mới nhận thấy rằng chủ trương của một số
nhà cách mạng trước đây, đề nghị nên hợp tác với Pháp để duy tân Việt Nam, là một
chủ trương sai lầm.
Sai
lầm vì những người ấy đã không phân tích vấn đề thấu đến tâm, nên tưởng rằng
người ngoại quốc có thể giữ trách nhiệm công cuộc Tây phương hóa như chúng ta đã
trình bày ở trên.
Thật
sự, trong thời kỳ người Pháp ở đây, chúng ta đã có một cuộc Tây phương hóa rồi. Nhưng chính vì sự thống trị của người Pháp ở
đây, nên cuộc Tây phương hóa đó không làm sao được hướng dẫn theo một chiều hướng
có ích lợi cho đân tộc. Vì vậy cho nên, đã mang đến những hậu quả vô cùng tai hại,
mà chúng ta đều biết.
Như
thế, điều kiện tiên quyết và thiết yếu để thực hiện cho được công cuộc Tây
phương hóa là phải độc lập. Có độc lập chúng ta mới chủ động được vận mạng của
chúng ta và lãnh đạo được công cuộc Tây phương hóa, mà sự thành hay bại quyết định
tương lai của chúng ta trong mấy thế kỷ sắp tới đây.
Lời soạn giả: Ở thời điểm năm 1965 thì Độc Lập gắn liền với Tự Chủ.
Nhưng ở thế Toàn Cầu Hóa thì độc lập đồng nghiã với Cô Lập nên Độc Lập và Tự Chủ
là hai điều khác nhau, điển hình là:
Nước ta hiện nay đã có độc lập (tức là tự mình cai trị
lấy mình), nhưng người dân làm gì được quyền tham gia chánh trường, tức là
không có Tự Chủ. Mà không có Tự Chủ thì không thể phát triển có lợi cho dân tộc
được.
Theo
đó thì, những nhà cách mạng chủ trương hợp tác với Pháp đã đi sai đường lối. Chủ
trương của họ chỉ có thể dung nạp với tác dụng của một chiến thuật giai đoạn, để
có thể đỡ khổ cho dân chúng.
Chính
chủ trương của những nhà cách mạng chống Pháp một cách cực đoan là một chủ
trương đúng.
Tây
phương hóa và bản chất dân tộc:
Trong
phạm vi vấn đề Tây phương hóa, chúng ta còn phải trả lời một câu hỏi. Nếu chúng
ta phải thực hiện cuộc Tây phương hóa toàn diện và đến mức độ đủ cao như trên
đã nói thì liệu bản chất của dân tộc chúng ta có còn tồn tại nữa không?
Ø Và, nếu sau cuộc Tây phương hóa mà bản chất
của dân tộc đã mất, thì công cuộc Tây phương hóa có còn đáng để chúng ta theo
đuổi để thực hiện với tất cả sự gian lao và hy sinh của toàn dân chăng?
Ø Và đã như vậy thì chúng ta thực hiện công
cuộc Tây phương hóa để bảo vệ cái gì?
Trước
hết chúng ta nên nhận xét các sự kiện đã xảy ra nếu chúng ta không tự ý Tây
phương hóa. Như chúng ta đã thấy, nếu chúng ta không tự ý Tây phương hóa, thì
trước hết chúng ta sẽ mất độc lập và sẽ mất chủ quyền định đoạt vận mạng của
dân tộc chúng ta.
Sau
đó, cuộc Tây phương hóa vẫn sẽ thực hiện đối với chúng ta, nhưng không phải
chúng ta lãnh đạo và hướng dẫn. Một cuộc Tây phương hóa không được hướng dẫn sẽ
mang đến sự tan rã của xã hội chúng ta.
Và nếu
thật sự một cuộc Tây phương hóa tự ý và có lãnh đạo không làm tan rã xã hội, lại
có thể làm mất bản chất của dân tộc, thì chúng ta có thể quả quyết rằng một cuộc
Tây phương hóa bắt buộc và không hương dẫn, làm tan rã xã hội, chắc chắn sẽ làm
mất bản chất dân tộc mười lần hơn.
Như
vậy giữa hai thái độ tự ý Tây phương hóa và bắt buộc Tây phương hóa, không còn
có thể do dự nữa.
Làm
thế nào cũng phải lựa thái độ tự ý Tây phương hóa, dù mà, vì cuộc Tây phương
hóa đó mà bản tính dân tộc của chúng ta có bị mất ít nhiều. Nếu thật sự có mất,
ít ra chúng ta cũng còn bảo vệ được độc lập chủ quyền, sự toàn vẹn của xã hội.
Nhưng
chúng ta sẽ chứng minh dưới đây rằng, không có gì có thể cho chúng ta quả quyết
là công cuộc Tây phương hóa như chúng ta chủ trương, sẽ đưa đến sự mất bản chất
dân tộc. Trước hết chúng ta cần phải tìm hiểu một công cuộc Tây phương hóa toàn
diện đòi hỏi ở chúng ta những thực hiện gì.
Sau
đó chúng ta cũng tìm hiểu một công cuộc Tây phương hóa đến mức độ đủ cao đòi hỏi
ở chúng ta những thực hiện gì? Dựa trên đó chúng ta sẽ có đủ tài liệu để trả lời
câu hỏi nêu lên ở đầu chương này.
Cơ thức Tây phương hóa:
Như
đã trình bày trên đây, nguồn gốc của một cuộc Tây phương hóa tự ý, trước tiên hết
là ý chí muốn thâu thập kỹ thuật tổ chức quân đội và kỹ thuật võ trang quân đội.
Thường
thường thì các nhà lãnh đạo, chủ trương thâu thập các kỹ thuật trên, đều có ý định
muốn ngừng lại sau giai đoạn đó. Nhưng mà như thế là phủ nhận một định luật xã
hội không làm sao tránh được: Khi hai nền văn minh gặp nhau, liền tháo chốt cho
một giòng sự kiện tuần tự diễn tiến theo một cơ thức nhất định. Và với tất cả nỗ
lực và phương tiện có thể vận dụng được, thì ngay ở giai đoạn này, các nhà lãnh
đạo, đã bắt đầu công cuộc Tây phương hóa cũng không còn có thể ngưng lại được nữa.
Công cuộc Tây phương hóa sẽ tiếp tục thực hiện có họ hay là không có họ.
Theo
một cơ thức nhất định, sau lĩnh vực quân sự, làn sóng Tây phương hóa sẽ làm
tràn đến lĩnh vực cơ cấu chính trị. Ít khi mà lĩnh vực cơ cấu chính trị được
Tây phương hóa một cách êm ái, trừ ra khi nào chính các nhà lãnh đạo đã ý thức
được rõ rệt vấn đề tự ý Tây phương hóa, như ở nước Nhật.
Thường
thường thì sau nhiều cuộc chánh biến, các cơ cấu chính trị của chế độ cũ, nhường
chỗ cho những cơ cấu chính trị theo kiểu Tây phương.
Ví dụ
chế độ quân chủ chuyên chế nhường chỗ cho một chế độ quân chủ lập hiến theo kiểu
Anh hay một chế độ cộng hòa theo kiểu Pháp, hoặc một chế độ Tổng Thống chế theo
kiểu Mỹ. Bởi vì lĩnh vực chính trị là một lĩnh vực chi phối tất cả đời sống của
quốc gia, cho nên sức kháng cự lại làn sóng Tây phương hóa thường mạnh nhất ở
lĩnh vực này, và công cuộc Tây phương hóa cũng đẫm máu nhiều nhất ở lĩnh vực
này.
Nhưng
sau đó, từ lĩnh vực cơ cấu chính trị sang lĩnh vực giáo dục và sản xuất kinh tế
thì công việc lại trở nên dễ dàng và như không còn gặp trở lực nữa. Bắt đầu từ
đây, công cuộc Tây phương hóa lại bước sang một giai đoạn mới. Từ trước chủ
trương Tây phuơng hóa chưa hoàn toàn thắng lợi và phải nhiều cam go lắm mới lọt
vào được nội thành của xã hội bị tấn công.
Nhưng
từ đây, chủ trương đã chiếm được thành rồi, sang giai đoạn mới, công cuộc Tây
phương hóa toàn diện sẽ không gặp những trở lực do chủ trương thủ cựu dựng lên
nữa. Sự thành tựu hay không của công cuộc Tây phương hóa, từ lúc này, chỉ còn
tùy thuộc ở quan niệm một công cuộc Tây phương hóa đến mức hay không đến mức của
người lãnh đạo.
Tây
phương hóa sâu và rộng, hay là thất bại và sụp đổ.
Giai
đoạn mới này lại còn có một đặc điểm khác. Từ trước tới đây chủ trương Tây
phương hóa chỉ liên quan đến số người lãnh đạo. Chủ trương Tây phương hóa cũng
họ mà chống đối cũng họ.
Nhưng
từ đây trở đi, vân đề Tây phương hóa, đã ngã ngũ ở trong giới của họ, mới bắt đầu
lan ra đại chúng. Và cuối cùng thì sự thành công hay thất bại của công cuộc Tây
phương hóa lại ở chỗ sự Tây phương hóa có thật sự lan rộng và ăn sâu đến đại
chúng không?
Nếu
sự Tây phương hóa có lan rộng và ăn sâu đến đại chúng thì, trong một thời giai
ngắn hay dài, tùy theo những biện pháp áp dụng để thực hiện công cuộc Tây
phương hóa, sự Tây phương hóa sẽ ăn rễ ở quần chúng. Và ngược lại những sinh lực
phát sinh từ quần chúng đã bắt đầu Tây phương hóa, lại hợp thành một hậu thuẫn
vừa củng cố vừa thúc đẩy công cuộc Tây phương hóa.
Trái
lại, nếu sự Tây phương hóa không lan rộng và ăn sâu đến đại chúng thì, trong một
thời gian ngắn, quần chúng sẽ ly khai với nhóm người lãnh đạo, và xã hội sẽ rơi
vào một tình trạng phân ly rất là nguy hiểm cho sự tiến bộ của cộng đồng. Một
bên là thiểu số Tây phương hoá, một bên là khối đại đa số vẫn sống theo các giá
trị tiêu chuẩn cũ. Sự cách biệt sẽ rất trầm trọng giữa hai bên, và công việc
lãnh đạo không thể thi hành được, giữa hai khối người không sử dụng cùng một lối
suy tưởng và không cùng tôn trọng những giá trị tiêu chuẩn chung. Trong trường
hợp đó, sự nắm chính quyền của nhóm người, đã ly khai với đại chúng, là một hiện
trạng bất thường chỉ duy trì được bằng những biện pháp cảnh sát cứng rắn.
Tình
thế đã chín mùi cho một cuộc cách mạng. Và cách mạng sẽ bùng nổ, khi nào khối
quần chúng được một lãnh tụ qui tụ bằng uy tín cá nhân, hay được một đảng phái
qui tụ bằng một đường lối, hay nữa là khi nào có một cuộc ngoại xâm.
Ø Xem thế chúng ta nhận thấy rõ tất cả các
nguy hại nếu công cuộc Tây phương hóa thất bại trong giai đoạn này và đồng thời
cũng ý thức tính cách thiết yếu của một sự thành công.
Tây phương hóa nửa chừng:
Bây
giờ chúng ta trở lại các giai đoạn tiến triển của công cuộc Tây phương hóa. Những
công cuộc Tây phương hóa, phân nửa thất bại, của các quốc gia ở Cận Đông giúp
cho chúng ta một bản kê khai, khá đầy đủ, về sự tiến triển của công cuộc Tây
phương hóa trong từng giai đoạn. Nhờ đó chúng ta được biết chắc chắn các sự kiện
dưới đây. Từ lúc chủ trương Tây phương hóa đã lọt vào thành nội cơ cấu chính trị
của một quốc gia rồi, thì từ đó sự lan tràn sang lĩnh vực giáo dục và kinh tế
không gặp khó khăn nữa. Từ hai lĩnh vực này, công cuộc Tây phương hóa mới bắt đầu
ăn sâu và lan rộng vào đại chúng. Ở nhiều quốc gia Cận Đông ý chí Tây phương
hóa đến mức này là mãn hạn, vì sự kém khả năng huy động quần chúng của chính
quyền Trung ương.
Trong
trường hợp đó, công cuộc Tây phương hóa sẽ bắt đầu thất bại và sẽ mang đến những
hậu quả không tốt, như chúng ta đã thấy trên kia. Cũng nhờ ở những sự thất bại,
nhận thấy ở trên, mà chúng ta được biết rằng trong các lĩnh vực của đời sống quốc
gia, thì lĩnh vực đời sống thông thường, mà ngày nay chúng ta quen gọi là lĩnh
vực xã hội và lĩnh vực văn hóa, là hai lĩnh vực có sức kháng cự nhiều nhất đối
với sự Tây phương hóa, sau lĩnh vực tín ngưỡng mà chúng ta sẽ bàn đến, một cách
riêng biệt, sau này. Sở dĩ như vậy, là vì hai lý do.
1.- Trước hết sự Tây phương hóa càng đi
sâu vào những lĩnh vực liên quan đến số đông người, sức kháng cự càng mạnh, bắt
nguồn ở sức thụ động của quần chúng.
2.- Lý do thứ hai là, sức kháng cự càng mạnh
khi đụng đến các lĩnh vực liên quan đến những di sản tinh thần của dân tộc.
Nếu
hai lý do trên lại có cơ hội gặp nhau ở một lĩnh vực thì sức kháng cự lại còn
mãnh liệt hơn nữa: Ví dụ như lĩnh vực tín ngưỡng và tôn giáo.
Cho
đến ngày nay chưa có một cuộc Tây phương hóa nào, kể cả hai cuộc Tây phương hóa
thành công nhất của Nga Sô và của Nhật, đã vượt qua được lĩnh vực tôn giáo. Sự
kiện này giải thích vì sao mà thế giới hiện nay, mặc dầu ở dưới sự chi phối
hoàn toàn của kỹ thuật Tây phương, vẫn chia ra làm nhiều khu vực văn hóa và tôn
giáo rõ rệt.
ö
Nơi lưu trữ 3 kinh nhật tụng
1.
Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18 tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)
SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ (Đủ Bộ)
https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ
(Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k
SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph





0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil