dimanche 21 juillet 2024

T42-CHẾ ĐỘ NÀO CHO VIỆT NAM ?

T42 giảng ngày 05.08.2021

CHẾ ĐỘ NÀO CHO VIỆT NAM ?

 

Quan niệm về chủ nhân ông

Lập Quốc thì phải có NGUYÊN THỦ QUỐC GIA.

Vậy thì Nguyên Thủ Quốc Gia là ai ?

Nói một cách tổng quát thì chỉ có 2 quan niệm rõ ràng là :

1.      Dân có trước nước có sau.

Toàn Dân giữ nước chứ không phải Triều Đình giữ nước. Vậy thì Quốc Kỳ phải mang nền của sắc thái dân tộc. Sắc thái của dân Việt là màu vàng của tơ tầm ;

2.      Nưóc có trước dân có sau : ĐẤT CỦA CHÚA LÚA CỦA TRỜI.

Hai quan niệm này phát xuất từ 2 cuộc sống khác nhau là NÔNG NGHIỆP và DU MỤC. Khi xã hội loài người phát triển đế độ cần phải có nền GIÁO DỤC để toàn dân kết hợp để giữ nước hay để đi xâm lăng thì có 2 NỀN GIÁO DỤC để bảo vệ cách sống là :

·        Nền Giáo Dục khai phóng dùng cho quan niệm Toàn Dân Giữ Nước. Nền Giáo Dục này dựa vào nền VĂN HÓA của dân tộc.

·        Nền Giáo Dục Nô Dịch dùng cho quan niệm VỌNG NGOẠI VONG NÔ.

Từ 2 quan niệm về cách sống này mới nảy sinh ra những thể chế đã hiện hữu trong xã hội loài người.

Không thể chế nào có đủ khả năng giúp con người ỷ lại,  há miệng chờ sung cả.

Thể chế chỉ là phương tiện để người dân tự bảo vệ lấyquyền tự chủ của mình trong đấu tranh TỰ VỆ là :  ĐÒI LẠI NHỮNG GÌ MÌNH ĐÃ MẤT, tức đòi là QUYỀN LÀM NGƯỜI CỦA MÌNH và CỦA CON CHÁU MÌNH.

 

Nay cần phải tiên liệu thể chế nào trong tương lai nên chúng ta cần phải biết rõ những thể chế đã qua để rút kinh nghiệm đưa ra đề án cho thể chế mới cho tương lai của con cháu chúng ta.

LƯỢC KÊ CÁC CHẾ ĐỘ TRÊN THẾ GIỚI :

Chế độ BẠO CHÚA ,  Chế độ PHONG KIẾN

Chế độ QUÂN CHỦ : Lập Hiến, Chuyên Chế, Đại Nghị

Chế độ LÃNH CHÚA

Chế độ LÃNH VƯƠNG

Chế độ LIÊN BANG

Chế độ DÂN CHỦ có 3 loại :

1.      Phân Quyền.

2.      Ỷ Lại : khoán trắng – Tam Quyền phân lập

3.      Chế Tài.

Thời Hùng Vương (Văn Lang), Liên Bang VIỆT theo 2 chế độ là ;

·        Dân Chủ Phân Quyến (phép vua còn thua lệ làng) dành cho các tiểu bang

·        Dân Chủ Chế Tài dành cho chức vụ LIÊN BANG TRƯỞNG (Hùng Vương là một chức vụ như chức Quốc Trưởng, Tổng Thống ngày hôm nay)


ĐỊNH NGHĨA TỪNG CHẾ ĐỘ MỘT

 

Chế độ BẠO CHÚA

Chế độ BẠO CHÚA là chế độ của kẻ cướp, ỷ mạnh hiếp yếu. Dó là tư tưởng của dân DU MỤC, háo chiến háo thắng và háo sát

Chúng dùng bạo lực để chiếm đoạt đất đai, tận diệt thổ dân, nhận tổ tiên , văn hóa và văn minh của dân bị trị là của mình.

Từ đây chúng bắt người dân sống theo kiểu của chúng nên mới có chữ Thần Dân và Hạ Thần . Thần là thần phục Bạo Chúa.

Chế độ này được áp dụng bên Tàu tù nhà CHU đến ngéy hôm nay. Vì quan niệm như vậy nên mới cú vụ KHỦ TỊCH, Đốt sách giết học trò, Tứ Khố Toàn Thư hay Cách Mạng Văn Hóa của Mao.

Đặc biệt của chế đô này là :

1.      Bạo Chúa có danh xưng là THIÊN TỬ (con trời), người dân không có tên chủng tộc mà tất cả đều là THẦN DÂN. Trên nước thì do BẠO CHÚA đặt như : TẦN, HÁN, ĐƯỜNG, TỐNG, NGUYÊN, MINH, THANH hay TRUNG HOA (vùng đất chánh giữa của Đông Á Châu ; tức Viễn Đông)  

2.      Dân bị trị bỏ nước ra đi, người còn lại thì chấp nhân làm công cụ sản xuất cho Bạo Chúa hoặc nịnh hót để thành chối bỏ nguồn gốc hánh hạ đồng loại như bọn Việt Nô nè. Nô là nô lệ tư tưởng ngoại bang, đem chủ nghĩa Mác Lê Mao về để bắt dân làm NGHĨA VỤ QUỐC TẾ để xây dựng Đại Dồng Thế Giới cho giặc Tàu lãnh đạo với chủ nghĩa TAM VÔ (vô Gia Đình, vô Tổ Quốc  và vô Tôn Giáo) – Phóng tay phát động phong trào GIAI CẤP ĐẤU TRANH (người Việt giết người Việt), TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO đào tận gốc trốc tận rễ (triệt để tiêu diệt thành phần ưu tú của dân tộc để đi đến chỗ tiêu vong) – coi xã hội nướcTA dưới thời Hồ Chí Minh và bọn kế thừa ngày nay thì biết.

 

Chế độ QUÂN CHỦ

Chế độ QUÂN CHỦ là chế độ hành chánh tổ chức theo hàng dọc, dưới phải nghe lệnh trên.

Cấp dưới chỉ là nguời thi hành công vụ, không có quyền ra luật trong quản hạt của mình như chế độ Phong Kiến.

Người cao nhất là Nguyên Thủ Quốc Gia mà ta gọi là ông VUA hay ông ĐẾ, các cộng sự viên gọi là Bộ Trưởng từng bộ một ; làm vic phải ăn khớp với nhau.

Nh&m người này gọi là thành phần Chánh Phủ hay Triền Nhân chịu trách nhiệm hòa toàn về sự hưng thịnh của đất nước.

Nhiệm vụ của họ là tạo công ăn việc làm cho dân để tự lực cánh sinh vớ nguyên lý : DÂN VI QUÝ, DÂN GIÀU thì NƯỚC MẠNH và ngoại bang không thể cưỡng chiếm được.

Chế độ Quân Chủ không phải là một chế độ xấu, là vì chánh quyền tạo điều kiện thuận lợi để ngưìi dân phát triển tối đa năng khiếu của mình để phục vụ đất nước.

Chế độ này vun tồn thành phần ư tú quốc gia là TRÍ, PHÚ, ĐỊA, HÀO và nâng đỡ thành phần yếu kém trong khả năng kiếm sống với quan niệm là : Không ai chết đói, không ai ngủ đường, đau thì có nhà thưong miễn phí, nghèo thì  mỗi xã đều có nhà Tế Bần (cứu giúp ngươi nghèo khổ) – Coi luật HỒNG ĐỨC của ông Nguyễn Trãi sạn và đem thi hành vào năm 1471 dưới triều Hồng Đức (niên hiệu thứ nhì của vua Lê Thánh Tôn) với cái tên chánh là QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

Có 3 loại chế độ Quân Chủ là :

·        Lập Hiến : Nhà vua lập ra Hiến Pháp, Thủ Tướng đặt luật đề các bộ thi hành theo hiến pháp nhà vua, có Quốc Hội hay không có. Chế độ bên Anh là một điển hình

·        Chuyên Chế : Nhà Vua nắm trọn cả 3 cơ quan Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp, như chế độ Thục An Dương Vương  (257-207BC), chế độ Bạo Chúa Gia Long và Viêt Cộng họ coi đất nước là của riêng dòng họ của mình.

·        Đại Nghị : Nhà Vua chỉ hợp thức hóa quyết định các quan trong Triều Đình.

Chế độ này đòi hỏi các quan trong quản hạt nào thì phải là cư dân vùng đó do dân cháp nhập và do triều đình khảo thí tài năng.

Chế độ này đã từng được áp dụng ttên nước ta dưới thời nhà TRIỆU, nhà TẦN, Triều vua Lê Thánh Tôn, Triều Tây Sơn.  Tuy quan lại vùng nào thì phải là người vùng đó như tiéếu Đình có người giám sát thường xuyên xem có thi hành luật chung của nước hay không


Chế độ PHONG KIẾN

Chế độ PHONG KIẾN chỉ có dưới thời nhà CHU bên Tàu thôi.

Phong là cho và Kiến là nhìn : Tức nhìn trên bảng đồ, khoanh vùng rồi phong cho mảnh đất vừa ăn cướp được để KIẾN QUỐC, vì thế nên mới đẻ ra tước CÔNG, HẦU, BÁ, TỬ, KHANH để phong cho đất tốt hay xáu, to hay nhỏ là tùy ở tước được phong cho. Từ đây mới có danh từ Tanh  BÁ, đồ VƯƠNG, CÔNG TỬ (con trai ông có tước Công) và CÔNG CHÚA, CÔNG NƯƠNG, CÔNG TÔN ….

Vùng nào thì theo luật của ông Chúa vùng đó. Thiên Tử là vua CHU chỉ biết thu thuế hàng năm, còn việc cai trị thuộc quyền của ông Chúa. Ông này được gọi ltheo chức tước nhà CHU ban cho : Công Hàu B Tử Khanh.

Ông là QUẢN TRỊ VIÊN của vùng đất mà nhà CHU trao cho ông Quán Xuyến chứ không phải là đất của ông tạo ra.

·        Còn đất của chính ông dựng lên thì gọi là LÃNH CHÚA, không phải nộp thuế cho ai cả

Gặp QUẢN TRỊ VIÊN thương dân thì dân được nhờ, còn ác đức thì dân chịu khổ theo kiếp nô lệ Ngựa và Trâu, một cổ đeo tới 3,4 cái tròng.

Chế độ BẠO CHÚA phát xuất từ tư tưởng háo chiến, háo sát v háo thắng của nghê chăn nuôi gia súc ; vì ngày nào cũng phải đánh đập la hét gia súc, và ngày nào cũng phải giết chúng để ăn

 

Vì Hồ Chí Minh không hiểu lịch sử nên không phân tích được một cách rạch ròi các thể chế nên gọi tuốt luốt là  Chế độ Phong Kiến là chế độ đẳng cấp, vua quan. Nếu nói như vậy thì đánh bùn sang ao, vì chế độ Việt Cộng còn cay nghiệt hơn chế độ Phong Kiến.

Chế độ LÃNH CHÚA

LÃNH CHÚA  là ông làm chúa tể trong một vùng đất do chính ông tạo ra

Lãnh là vùng đất có ranh giới hẳn hoi do chinh ông tạo ra rồi cho người khác đế tá túc. CHÚA là người có uy quyền cao nhất như chủ một ngôi nhà rồi cho người khác đến tá túc, lẽ dĩ nhiên phải làm việc để trả nợ nơi ở đậu.

·        Chế độ Lãnh Chúa cũng phái sinh từ nếp sống Du Mục di tới Âu Châu là đất không chủ.



Hồi cư sau Đại Hồng Thủy, nước bắt đầu rút vào 5.000BC

(sau 10.000 năm lánh nạn lụt)

 

Chế độ LÃNH VƯƠNG

LÃNH VƯƠNG là ông vua trong một vùng nhưng ông ông không thể sống lẻ loi được, mà ông sống trong liên bang.

Trên ông còn có người lãnh đạo liên bang và phải lấy quyết định chung như : Thế chế Dân Chủ Phân Quyền của nước VĂN LANG hay nước Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ ;

Chế độ nước Văn Lang gồm 15 tiểu bang là 15 ông Lãnh Vương làm việc theo luật Liên Bang để song song cùng tiến ngang nhau.

Ông Lãnh Đạo Liên Bang Việt mang chức HÙNG VƯƠNG có nhiệm vụ biến Liên Bang Việt thành một khối kết hợp với nhau bằng tình nghĩa ĐỒNG BÀO (kết hợp với nhau bằng TÂM, cư xử vói nhau bằng ĐỨC, bình đẳng TỘT CÙNG, thân thương TỘT ĐỘ . Đó là biểu tượng của hìn 14 tia trên mặt trống đồng mà chúng ta ngộ nhận là Thần Mặt Trời ; trong khi đó dân Văn Lang không có lhái niệm thần linh mà chỉ có khái niệm KHOA HỌC và LÝ TRÍ đã được ký thác trong danh từ TẠO HÓA và LÝ DỊCH có từ 10.000BC ;

Chế độ LÃNH VƯƠNG được ghi trên TRÊN MẶT TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN (Thanh Hóa)  với  HOA VĂN 14 TIA (#800BC)


Nhận xét hoa văn tổng quát:

·        Mặt trời phải là 12 hay 16 tia chứ không thể nào là 14 tia đuọc. Lý do 14 là bội số của 7. Mà 7 lại số nguyên tố  khó chia nên 14 phải hàm chứa một cái gì đó chứ không phải thần mặt trời. Vì thông thường người ta chia vòng 2, rồ 4, rồi 8 rồi 16 ; hay chia là 3, rồi làm 6, rối 12, rồi 24.

·        Người ta chia mặt phẳng làm 14 góc đều nhau theo công thức : Do chi vi vòng tròn, chia làm 8 (chung đôi 3 lần) , bỏ di 3 phần. Còn lại chung đôi là đương kính (coi cách làm

 

    Đường kính  (chia làm 5)

                                                                           phần giữ lại là 5/8 (10/16)

                                                                              VẾT KÉO cắt đi    

                       1/5 đường kính                             phần bỏ đi là 3/8 (6/16)

              

·        14 tia là 14 tiểu bang phên giậu bảo vệ nước Văn Lang gồm 15 tiểu bang (Bộ Lạc = vùng an vui). Trung tâm điều khiển là Tiểu Ban vua HÙNG làm việc (cái u chính giữa để ra trống lệnh.

·        14 tia là hình thành nước Văn Lang theo tinh thần ĐỒNG BÀO : kết hợp với nhau bằng TÂM, cư xử với nhau bằng ĐỨC, bình đẳng Tột Cùng, thân thương Tột Độ.

·        Vòng kế cận là bộ BINH bảo vệ nước Văn Lang theo tinh thần Rồng Tiện (đấu tranh TỰ VỆ).

·        Vòng giữa là Bộ Kinh Tế dùng để nuôi quân và dân nưóc Văn Lang cho hùng mạnh.

·        Vòng ngoài là Bộ Giáo Dục, xây dựng nền VĂN HÓA LẠC HỒNG : Ta là ai và sống để làm gì ?

 

Vua HÙNG là người có bổn phận phải biến 14 sắc tộc Văn Lang thành một chủng tộc VIỆT nên mới gọi là Liên Bang Việt theo chế độ phân quyền, có bàu chức vụ như Lãnh Vương.

·        Lãnh Vương là vị NGUYÊN THỦ của một BỘ LẠC.

Bên cạnh có Quan Văn là Lạc Hầu và Quan Võ là Lạc Tướng như thời ông Lãnh Vương Câu Tiễn có ông Phạm Lãi (Quan Võ) và ông Văn Chủng (Quan Văn) giúp sức.

Ø  Coi việc Câu Tiễn đi Tù mà Hoàng Hậu đòi theo (Liên đới trách nhiệm)

 

Ông Phạm Lãi làm cố vấn trong tù cũng tự nguyện theo. Ông Văn Chủng ở nhà lo việc nước.

Đúng là ỏ Quốc Suy Vong Thất Phu hữu trách ; hay giặc đến nhà đành bà cũng đánh.

Muốn bôi bác và bóp méo lịch sử nên Thực Dân Pháp dịch chữ Bộ Lạc là TRIBU.

Trong khi mình có danh từ TÙ để chỉ TRIBU mà dân đinh có độ 1.000 người, ngang với Làng (1.000 người) và Xã (2.000 người) mà thôi

 

Đây là một loại chế độ phân quyền dới thòi HÙNG VƯƠNG (2.879BC-257BC). Di vật để lại là :

·        Phép vua cònh thua lệ làng

·        Trong làng không có ông Làng Tưởng mà có ông Lý Trường

·        Trong Xã thì lại có ông Xã Trưởng. Làng có tôi đa là 1.000 dân đinh cò nhiều hơn là Xã

·        Việc Cộng Đồng thì gọi là việc XÃ HỘI

·        LÝ là chung cư có lũy tre bao bọc , mỗi chiều dài một LÝ (tức 1,600 Km) ; khu đất này gọi là một LÝ ; việc hành chánh của cư dân thì có ông LÝ TRƯỞNG do dân cư bầu lên để lo việc chung đợc gọi là việc xã hội. Bên cạnh ông Lý Trưởng thì có Hội Đồng Kỳ Mục giám sát và khuyến cáo.

Ngày xưa người ta đo chiều dài bằng SÀO, TRƯỢNG, LÝ hay DẶM tùy theo nhu cầu. Phần lớn người ta đo bằng mắt nhìn con bò to bằng cho chó chằng hạn.

 

Ngày nay chữ Hải Lý vẫn còn dùng cho người đi biển vì không thể đo bằng thước như trên bộ được 

Ø  Trước khi lập nước Văn Lang (2.879BC) nông dân có ruộng phải coi, có lúa phải cho vào kho để giữ nên họ có nhu cầu thiết lập một khu dân cư để bảo vệ nhau. Mỗi nơi cho cái tên khác nhau như BUÔN, BẢN, ẤP, LÝ và cách quản trị theo lệ của dân cư nên mỗi nơi khác nhau như Quan Lang, Lý Trưởng, Ấp Trưởng ….. Khi tổ chức thành nước Văn Lang thì mọi danh xưng đều là LÀNG để tiện việc HÀNH CHÁNH, nhưng cách tổ chức trong mỗi chung cư vẫ giữ nguyên như cũ.

Ø  Do đó trong LÀNG mới có ông LÝ TRƯỞNG, nhưng trong XÃ (làng đông dân cư) mới có ông XÃ TRƯỞNG ; vì XÃ được thành lập sau ngàu dựng nuớc


Chế độ LIÊN BANG

Điều kiện để thành lập một Quốc Gia là để Tự Vệ, bảo vệ nếp sống tập thể của mình, nay ta gọi là Văn Hóa ; hoặc để đi xâm lăng các dân tộc khác.

Vì phải theo chế độ Phân Công nên phải có Hiến Pháp để quy định quyền hạn và bổn phận của mọi thành phần trong xã hội, phải có học thuyết để giành chánh nghĩa. Không có 2 văn kiện căn bản này thì không có Quốc Gia.

Nếu yếu thì phải kết hợp với nhau thành Liên Bang . Bang là một nước nhỏ trong một nưóc lớn

·        Văn Lang là một Liên Bang gồm 15 tiểu bang, lúc đó gọi là BỘ LẠC, Bộ là  vùng, Lạc là yên vui.

·        Nước Hiệp Chủng Quốc là một Liên Bang bình đẳng

·        Nước Nga là một Liên Bang nô lệ, trong đó bị một tiểu bang mạnh nhất chi phối toàn thể các tiểu bang khác.

·        Nước Tàu cũng là một Liên Bang, nhưng là Liên Bang Nô Lệ, vì không có Tiểu Bang Hùng Mạnh chi phối như Liên Bang Nga, và cũng không bình đẳng như Liên Bang Mỹ.

·        Nước Đức cũng là một Liên Bang

Ø  Nói một cách Tổng Quát thì Liên Bang là một nước có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống.


Chế độ DÂN CHỦ :

Chế độ dân chủ là chế độ có nhiều điều kiện để người dân có quyền làm chủ đất nước.

Ø  Phân Quyền :

Chế độ Dân Chủ Phân Quyền là người dân  chia quyền với chánh phủ. Tức là người dân tham gia vào công việc Quản Trị Đất Nước với chánh quyền Trung Ương. Chế độ này là cách quản trị đất nước dưới thời Hùng Vương : LỆNH VUA CÒN THUA LỆ LÀNG

Ø  Ỷ Lại : khoán trắng – tam quyền phân lập

Chế độ Dân Chủ Ỷ Lại là người dân không đưa ra được những đề án để Chánh Quyền làm theo.

·        Người dân ỷ lại vào chương trình làm việc của các ứng cử viên ; bàu xong là phủi tay ; bất mãn thì bày tỏ quan điểm và không đưa ra lối giải quyết chỉ vì không nắm vững sinh hoạt chánh trị trong nước và Quốc Tế.

·        Chế độ này đang gặp khó khăn vì người dân nhưng bị hướng dẫn bởi cơ quan Truyền Thông. Và Truyền Thông naytrở thanh cơ sở thương mại nên dễ bị ngoại chủng thao túng

Ø  Chế Tài :

Chế độ Chế Tài là người dân đưa ra chương trình làm việc và hạn định thời gian cho mỗi công đoạn.

Các ứng cử viên chánh trị chỉ làm công việc của CAI THẦU CHÁNH TRỊ để thi công. Vi phạm giao kèo thì bị truất phế.

Chế độ này cần có sự cải tổ toàn diện về cách tổ chức lại xã hội theo 3 thành phần thay cho 5 giới (sỹ, nông, công, thương, binh) khi trước:

1/- XƯỚNG :

Thầnh phần ưu tú Quốc Gia, khi trước gội là NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA, là người đẻ ra đề án Phục Hồi Dân Khí, Khai Phóng Dân Trì và Phát Triển Đất Nước.

·        Đây là thành phần TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO mà bọn CỘNG NÔ ra tay tiêu diệt để làm nô lệ cho Cộng Đảng TÀU, kẻ thù truyền kiếp của dân VIỆT.

2/- HỌA :

Thành phần Quấn Chúng phải có kiến thức cao về :

·        Khoa Nhân Văn Việt Tộc để đủ khả năng thẩm định giá trị của đề án và các Chánh Trị Gia khi bỏ phiếu

·        Khoa  Học Thực Dụng để phát triển đất nước trong thế PHỤ HỌA thi công

3/- THI CÔNG :

Thi hành chương trình và đề án do toàn dân đưa ra là các ứng viên CHÁNH TRỊ

Vì : Chế độ chỉ là phương tiện để người dân có nhiều phương tiện để kiểm soát khối hành pháp (triều đình hay chánh phủ). Do đó không có chế độ nào tự nó có thể bảo vệ được sự tự chủ cho người dân cả. NGƯỜI DÂN PHẢI TỰ BẢO VỆ LẤY QUYỀN SỐNG CỦA MÌNH

Nên : Muốn bảo vệ sự tự chủ thì ngưới dân phải tinh khôn (khai phóng dân trí) và biết kết hợp thành bó đũa (phục hồi dân khí)

 

Chế độ còn phù hợp với bối cảnh lịch sử lúc đó, nên không thể phê bình chế độ mà không nói tới DÂN KHÍ, DÂN TRÍ và hoàn cảnh lịch sử được. Những người thiếu hiểu biết mà phê bình chế độ thì phần lớn là nông cạn và họ không thể đưa ra được một đề án thoát hiểm nào cả ; họ chỉ trông mong vào chế độ sau dễ thở hơn, tức họ coi chế độ ban cho họ cuộc sống tốt thì được nhờ và xấu thì phải chịu.

Những người am tường thì luôn luôn họ nói cái sai nhầm của chế độ và họ đưa ra phương pháp sửa sai để phục vụ người dân như :

 

1.      NGÀY QUỐC TỔ :

Ý nghĩa và cách tổ chức 3 ngày toàn dân thảo luận chánh trị, phê bình đương kim chánh phủ. Buổi sáng là triển lãm các thành quả trong năm qua. Trưa Tế Tổ, hưởng lộc, góp gạo thổi cơm chung. Hạ cỗ hưởng lộc và ăn uống linh đình (góp gạo thổi cơm chung. Chiều hội thảo 4 tiếng để nói công đức người xư, nay ta phải làm gì… Từ đây mới phê bình chánh phủ. Sau đó ăn cơm tối và văn nghệ rồi giải tán, hôm sau họp tiếp.

Ø  Ngày Quốc Tổ đầu tiên là do người dân tranh đấu liên tục trong 3 năm Thục An Dương Vương mới nhượng bộ, đó là năm 250BC, ngôi miếu Quốc Tổ mời được xây dựng.

Ø  KHI NÔ LỆ thì hội thảo chánh trị bị cấm nên mới gọi là ngày GIỖ TỔ để dấm bếp ủ lò

 

LÝ DO : Thời Hùng Vương theo chế độ Dân Chủ Phân Quyền với tên nước là Văn Lang, nước của những người Hào Hoa, Phong Nhã, Phóng Khoáng, Hào Hiệp, Lịch Sự,  Bặt Thiệp (tức TỰ TRỌNG).

#600BC : Lãnh Vương vùng Lạc Việt (Quảng Đông) giết vua NGÔ là ¨Phù Sai rồi sát nhập 2 nước làm một dưới danh xưng là NƯỚC BÁCH VIỆT.

#300BC : Nhâm Ngao là người BÁCH VIỆT gốc NGÔ làm cách mạng lấy lại nước NGÔ và lãnh thổ Quảng Đông của Câu Tiễn. Ông ta không khôi phục lại nước NGÔ mà muốn lấy luôn nước Bách Việt, do đó Nhâm Ngao không xưng vương. Nhưng Nhâm Ngao giúp Thục Phán làm loại, rồi sau dó dứt Thục Phán để thống nhất đất nước.

257 BC : THỤC PHÁN dứt Hùng Vương và thay chế độ Dân Chủ Phân Quyền bằng chế độ QUÂN CHỦ CHUYEN CHẾ. Đổi luôn tên nước VĂN LANG thành ÂU LẠC, có nghĩa là từ nay dân Văn Lang bị thống trị bởi dân ÂU Việt (Quảng Tây) được giúp đỡ bởi dân LẠC Việt (Quảng Đông)… Lúc này Triệu Đà sinh ở Chiết Giang (Bách Việt gốc Ngô) mới được 1 tuổi. Khi lớn gia nhậpkháng chiến Nhâm Ngao tới chức PHỤ TA1 (người kế thừa khi Nhâm Ngao qua đời.

2.      Bình Ngô Đại Cáo của Quốc Sư Nguyễn Trãi : VIỆC NHÂN NGHĨA CỐT Ở YÊN DÂN, có nghĩa là nghĩa vụ của nhà cầm quyền là lo cho hạnh phúc của người dân có công ăn việc làm, có cơm no áo ấm, có nhà ở rộng rãi, có quyền ngôn luận, có quyền tham gia sinh hoạt chánh trị của đất nước mà mình làm chủ ; đó là thừa kết di sản của tổ tiên để lại.

Ø  Nay chúng ta đi từ QUAN NIỆM ĐẤT NƯỚC DO DÂN LÀM CHỦ có từ thời lập nước Văn Lang để thảo luận đường lối chánh trị trong tương lai cho con cháu chúng ta được nhờ

ö

 

TỘI ĐỒ CỦA HỒ CHÍ MINH đối với dân Việt

HỒ CHÍ MINH là một tên VIỆT NÔ, nô lệ tư tưởng ngoại bang, hăm hở phá nền độc lập mà ông Bảo Đại đã đm về cho dân tộc ta.

Hắn ta đem chủ nghĩa Cộng Sản về để gây chia rẽ dân tộc, sát hại đồng loại, tàn phá nước TA và xóa sổ nước Việt và dân Việt trên bản đồ nhân loại bằng :

 

Ø  Phóng tay phát động phong trào GIAI CẤP ĐẤU TRANH - người Việt gết người Việt.

Ø  Tiêu diệt nguyên khí Quốc Gia (thành phần ưu tú của đất nươc) bằng khẩu hiệu : TRÍ, PHÚ, ĐỊA, HÀO đào tận gốc trốc tận rễ để mấy thằng TAM ĐẠI BẦN CỐ NÔNG thi đua phá hủy đất nước, rồi đem cống cho TÀU

Ø  XÓA SỔ dân Việt bằng cách cưỡng bách dân ta đi làm NGHĨA VỤ QUỐC TẾ để xây dựng THẾ GIỚI ĐẠI ĐỒNG bằng chủ nghĩa TAM VÔ cho TÀU CỘNG LÃNH ĐẠO (tam vô là vô gia đình, vô tổ quốc và vô tôn giáo

 

HỒ CHÍ MINH đã ký văn tự bán nước cho PHÁP và cho MỸ cả thảy 6 lần

1)     06.03.1946 : Mời Pháp đem quân trở lại để bảo vệ an ninh và sinh mạng ngưòi dân

2)     14.09.1946 : Công nhận chủ quyền của Pháp ở nước Việt.

3)     19.12.1946 : Khai chiến để có lý do mời Tàu Cộng vô đánh Pháp cứu nước ĐAI ĐỒNG THẾ GIỚI.

4)     20.07.1954 : Bán nước cho PHÁP Miền Nam để biến nước Việt thành 2 nước thù nghịch.

5)     20.12.1960 : Rằng quân Bảo Đại đã đuổi Pháp đi và thu  hồi độc lập vào trung tuần tháng 7/1955. Hế nhiệm vụ thì Bảo Đại ra đi trong Chánh Danh và trao lại quyề cho dân tộc tự quyết vào ngày 23.10.1955 – Toàn dân chung quyết Hiến Pháp và nền Cộng Hòa ra đời vào ngày 26.10.1956… thì Hồ Chí Minh phá đám bằng cách thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, đem vũ khí tân tiên của Nga vào để bắt Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM mời Mỹ vô rồi vu vạ Diệm bán nước, rước Mỹ vô giết hại dân lành.

6)     11.06.1963 : Kế hoạch bất thành, vì Tồng Thống Diệm đã cho xây Ấp Chiến Lược để bảo vệ Tự Chủ nên từ chối MỸ đem quân vào miền Nam nước Việt ; thì Hồ Chí Minh dựng chuyện đốt sư rồi la làng là Diệm khát máu thày chùa để Mỹ  nương vào đó sát hại Tồng Thống Diệm vào ngày 02.11.1963 và khống chế miền Nam.

Ø  Thích Trí Quang là tên Việt Cộng nằm vùng chỉ huy việc gây rối, bị truy lùng thì hắn được tòa Đại Sứ Mỹ che chở.

Ø  Sau ngày 02.11.1963 thì miền Nam mất tự chủ, độc lập đã bị ồ Chí Minh phát nát nên Thiệu Kỳ và cả Hồ Chí Minh nữa, lúc này chỉ là con rối để NGA MỸ tha hồ thử vũ khí, thả cửa sát hại dân Việt (Bắc và Nam), và tự do phá hủy tài nguyên trên toàn cõi Việt Nam.

 

KẾT LUẬN :

Việt Cộng là một loại VIỆT NÔ, nô lệ tư tưởng ngoại bang. Đem chủ nghĩa Mác, Lê Mao vào để quyết tâm tiêu diệt tình nghĩa đồng bào và dân Việt bằng :

1)     Phong trào : GIAI CẤP ĐẤU TRANH, tức người Việt giết người Việt

2)     Chủ trương : TRÍ, PHÚ, ĐỊA, HÀO đào tận gốc trốc tận rễ, tức tiêu diệt thành phần ưu tú của đất nước để bọn TAM ĐẠI BẦN CỐ NÔNG tha hồ đập pháp< ;

3)     Chúng bắt dân Ta làm nô lệ cho Đế Quốc TÀU là kẻ thù không đội trời chung và truyền kiếp của dân VIỆT bằng cách cưỡng bức người dân phải hy sinh tất cả để phục vụ cho ĐẾ QUỐC ĐỎ bằng THI HÀNH NHIỆM VỤ QUỐC TẾ vô Nam để đánh chết đồng bào miền Nam, tiến tới Đại Đồng Thế Giới bằng chủ nghĩa TAM VÔ (vô gia đình, vô tổ quôc và vô tông giáo). Sau đó cho ca tụng sự hy sinh ngu xuẩn để tự diệt này bằng TỔ QUỐC CỘNG SẢN GHI ƠN

VẬY TẠI SAO chúng lại có quyền lãnh đạo đất nước ? Còn không thì quyền làm người của dân ta bị chúng dùng bạo lực để tước đoạt.

Khí phách Rồng Tiên của tổ tiên có cho phép chúng ta cúi đầu chịu nhục không ?

Nên nhớ là :

Chính Hồ Chí Minh cũng công nhận ông ta không phải là người Việt. Bằng chứng huìng hồn là ông ta chê Văn Hóa Thuần Việt nên mới du nhập Văn Hóa Mác Lê Mao ; và ông ta chỉ mặc SẮC PHỤC CỘNG SẢN QUỐC TẾ và không hề mặc QUỐC PHỤC khân đóng áo dài của cha ông như ông Bảo Đại.





HOÀNG ĐẾ BẢO ĐẠI THU HỒI ĐỘC LẬP LẦN THỨ NHẤT

Bảo Đại thu hồi Độc Lập lần thứ nhất vào ngày 16.8.1945, ai là người phá hủy nền độc lập này ? Hồ Chí Minh đã phá nát nề độc lập của dân Việt :

RẰNG :

Bảo Đại thoái vị ngày 25/8/1945 thì người XỬ LÝ THƯỜNG VỤ để tổ chức Quốc hội LẬP HIẾN là Chánh Phủ Trần Trng Kim, nhưng Hồ Chí Minh bóp chết chánh phủ ny và tổ chức cướp chánh quyền vào ngày 02.09.1945, không kèn không trống, khống danh nhân nào tham dự, tổ chức lúi xùi và vội vã đến độ không kiếm được một tên cò mồi lên chúc mừng thành công.

Sự khác biệt giữa Quốc Hội Lập Hiến và Quốc Hội Lập Pháp là :

Ø  Lập Hiến là văn kiện nói rõ về việc điều hành đất nước. Sau đó bàu Nguyên Thủ quốc Gia để thực thi Hiến Pháp. Muốn thực phi Hiến Pháp thì phải có Quốc Hội Lập Pháp đẻ ra luật dể bên HÀNH PHÁP dựa vào đó mà thi hành ; nên ta gọi là Tam Quyền Phân Lập : Hành Pháp, Tư Pháp và Lập Pháp đc lập với nhau

Ngày 02/9/1945 là ngày gì ???? Ngày chó nhảy bàn độc, ngày toán nghịch của Hồ Chí Minh để y đem chủ nghĩa TAM VÔ vào phá hủy đất nước và tàn sát dân Viêt. Trong ngày

qua Hương Cảng để Mỹ chi viện cho Pháp huấn luyện 175.000 quân tác chiến cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam do Quốc Trưởng Bảo Đại trực tiếp chỉ huy.

Điểm này là do phái đoàn ông Đặng Vũ Trứ, đảng trưởng đảng Đại Việt, 25 tuổi và là sinh viên Y Khoa năm thứ 5, ông là cháu gọi bà Cả Tế (Đặng thị Khiêm) chị Hai Tổng Thống Thiệu bằng bác ruột, đến gặp Đô Đốc Hải Quân Hạm đội 7 của Mỹ để xin cấp cho một cố vấn chánh trị.

Ông Đô Đốc thấy phái đoàn quá trẻ, lại có nhiệt tình nên coi như con và ân cần giải thích như sau.

1/- Nước Mỹ cần nước Việt Nam độc lập để ngăn làn sóng đỏ ở biên giới Việt Trung thì dễ hơn là để Pháp hay Tàu làm chủ nước Việt. Nếu Việt Nam mất với Cộng đó không có một danh nhân, đảng phái hay hội đoàn nào tham dự cả…. Y độc diễn cho y nghe, vội vàng đếnđộ không kiếm được một tên cò mồi !! Điều này chứng tổ sư lưu manh bất chính của đảng cướp… Chính đảng Việt Cộng cũng nói là : Chúng cướp chánh quyền trong tay CHÁNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM mà

 

QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI HỒI LOAN

TRONG CHÁNH DANH

THÁNG 3.1946 :

RẰNG :

Hoàng Đế Bảo Đại thoái vị ngày 25.7.1945, trả lại quyền TỰ QUYẾT cho dân.

Đúng ra thì Chánh Phủ Trần Trọng Kim tổ chức Quốc Hội Lập Hiến. Quốc hội này ra Hiến Pháp được người dân CHUNG QUYẾT thì mới bàu Chánh Phủ theo HIẾN PHÁP.

Đằng này Hồ Chí Minh phá đám, cướp chánh quyền trong thay CHÁNH PHỦ Trần Trọng Kim và cầm tù ông Bảo Đại với danh nghĩa là CỐ VẤN.

 

Vì thế nên ông BẢO ĐẠI phải vượt ngục sang Hương Cảng vào cuối tháng 3.1946, để cùng anh em tìm cách lấy lại chủ quyền. Lý do là Mỹ hứa chỉ giúp ông Bảo Đại đòi độc lập thôi ; vì họ đã giúp nhầm Hồ Chí Minh, bị y phản phé nên nay không biết tin ai ngoài ông Bảo Đại… Vì thế nên ông Bảo Đại phải vượt ngục Sản thì nước Mỹ phải lùi phòng tuyến đến Úc Châu là điều bất lợi cho chúng tôi.

2/- Do đó nước Mỹ không cho nguời Pháp đến tước khí giới quân Nhật để tái hồi thuộc địa, mặc dù họ năn nỉ ; mà chúng tôi đi nhờ người Tàu tước khí giới quân Nhật tới vỹ tuyến 16 thôi, vì sợ họ ở lỳ thì Việt Nam sẽ nô lệ Tàu.

3/- Nhưng chúng tôi đã nhầm đi giúp Hồ Chí Minh, nay nó phản bội theo Nga nên chúng tôi phải nhổ cái gai này mà chưa được.

4/- Chúng tôi đã nhờ Quân Nhật xin nhà vua cho dẹp loạn vào trưa ngày 21/8/45 ; thì nhà Vua Khước từ nên nó thoát chết.

5/- Chúng tôi đã nhờ quân Tàu lật đổ khi vào tước khí giới vào ngày 20/9/45 ; nhưng nó khôn đi quyên vàng đút lót cho tướng Lư Hán ; thế là bọn Tàu dựng lên chánh phủ Liên Hiệp Quốc Cộng.

6/- Chúng tôi phải dùng lá bài chót là giúp cho lính Pháp tái hồi thuộc địa rồi tính sau, vì chúng tôi không biết đất nước và con người dân Việt ra sao nên không dám mạo hiểm.

·        Cuối cùng người Pháp cũng bị nó lứa bằng Tạm Ước Sơ Bộ 06/3/14 công nhận Việt Nam là thuộc địa của Pháp để câu giờ đời Tàu Mao yểm trợ sau khi chiếm xong Hoa Lục.

 

Bây giờ chúng tôi có biết các cậu là ai đâu mà giúp ? Giúp xong thì các cậu lại phản phé như Hồ Chí Minh thì lúc đó chúng tôi là gì các cậu ?

Thực tâm thì nước Mỹ không muốn thống trị Việt Nam, mà chúng tôi cần người Việt làm bạn với nước Mỹ thì có lợi hơn là để người  Pháp hay Tàu là chủ nước Việt.

Nếu quả thực các cậu nghĩ đến đất nuớc thì nói với ông Bảo Đại bảo kê thì chúng tôi sẽ giúp.

Do đó phải lập mưu cứu ông Bảo Đại lúc đó là tên tù giam lỏng của Hồ Chí Minh với chức cố vấn chánh trị.

Trước hết phải nói với tướng Tàu là Lư Hán giúp phưong tiện đưa ông Bảo Đại qua Tàu vì sinhmạng bị đe dọa.

Tướng Lư Hán phải xin lệnh của Tổng Thống Tưởng Giới Thạch ; ông này đồng ý vì muốn dùng ông Bảo Đại làm Lê Chiêu Thống để mược cớ cướp nước ta.

Sau mới trình bày mọi việc và xúi ôn Bảo Đại khai bênh sang Tàu chữa và anh em gặp Ngài ở Hương Cảng để bàn việc nước, tay vo lấy lại chủ quyền và toàn vên lãnh thổ.

 

Hôm đó vào tháng TƯ dương lịch, Ngài khai đau mắt và Phạm Văn Đồng ký giấy cho Ngài sang Tàu chữa mắt và 11 giờ trưa. Ngài chỉ có 30 phút để thu xếp valise, tiền không có.

 

11 :30 anh em đến đón sang phi truờng Gia Lâm và 12 :00 máy bay cất cánh sang Côn Minh, Ngài bị giam lỏng ở đó đến khi gặp Tưởng Giới Thạch thì được trả tự do muốn đi đâu thì đi. Ngài sang Hương Cảng để gặp anh em.

 

14 :00 thì Hồ Chí Minh họp đám cận thần là Phạm Văn Đồng, Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp, đây là buổi họp hàng tuần.

PhạmVăn Đồng báo cáo là đã cho ông Bảo Đại sang Tàu chữa mắt. Võ Nguyên Giáp vỗ đùi đánh đét và bảo Chết Mẹ rồi, thả cọp về rừng. Thế là bàn cách chữa cháy : Cử phái đoàn sang Tàu điều đình và ông Bảo Đại làm trường đoàn.

Ông Bảo Đại đi rồn nên ông Phó là Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Nguyễn Tường Tam cầm 2 vạn đồng (600 dồng = 1tạ gạo) và dắt phái đoàn sang Tàu trao cho ông Bảo Đại.

Ông Nguyễn Tường Tam và phái đoàn xin tỵ nạn chánh trị ở Hương Cảng. Hồ Chí Minh tức nổ ruột ra lệnh cho báo Cứu Quốc và bộ Thông tin tuyên tuyền nguyền rủa Con Đĩ Nguyễn Tường Tam (những ai không thì thì có thể kiểm chứng bằng Báo Cứu Quốc Cơ Quan Ngôn Luận của Mặt Trận Việt Minh lúc đó thì rõ ; đừng để tư tưởng bị đầu độc nha)

Tháng 7 1947 :

Sau nhiều lần vận động Ngoại Giao thì giải phái Bảo Đại ra đời, được Mỹ và Pháp chấp nhận, và Bảo Đại thu hồi vùng Tây Nguyên làm Hoàng Triều Cương Thổ, lấy thuế nuôi quân,

 

Giải Pháp Bảo Đại 3 bước thu hồi độc lập và toàn vẹn lãnh thổ bằng cách lợi dụng vị thế chánh trị của nước Việt bằng Ngoại Giao trên sự tranh chấp thế giới.

Đây là bài học quý giá mà thế hệ ngày hôm nay phải học hỏi để rút kinh nghiệm trước mắt là Chính Hồ Chí Minh là NGỤY DANH đã phá hủy độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của dân Việt chứ không phải của Bảo Đại ; nhất là chính ông Bảo Đại đã giật sập triều đình nhà Nguyễn Gia Long chứ không ^hải là Hồ Chí Minh một tên lưu manh không làm lễ nhậm chức, giấu nhẹm tiểu sử và tên cúng cơm nên nay thành MA ĐÓI

Ba bước đó là :

1)                Đòi độc lập và toàn vẹn lãnh thồ trên chính trường Quốc Tế.

2)                Dựa vào quốc Tế thành lập Quân Đội với 172.000 tay súng

3)                Thay thế Quân Liên Hiệp Pháp mà Bảo Đại trả mọi tốn phí trong khi thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam.

Đồng thời kêu gọi lương dân về với chánh nghĩa dân tộc trước khi tung quân diệt trừ Phiến Loạn Cộng Sản.

 

Như vậy thì :

Ø    Từ ngày 06.3.1946 đến ngày 08.3.1949 quân Pháp đóng ở Việt Nam là Quân Xâm Lược do Hồ Chí Minh mời vô.

Ø    Từ ngày đòi được độc lập 08/3/1949 đến tháng 7/1955 quân Pháp đóng ở Việt Nam là Quân Liên Hiệp Pháp do Bảo Đả trả công để bảo vệ an ninh trong thời gian thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam .

Ø    Nói cách khác là : Liên Hiệp Pháp là lính đánh thuê cho Quốc Gia Việt Nam vì ông Bảo Đại thu thuế nên phải chi cho Quốc Phòng.

 

30.9.1947 : Hàng vạn người xuống đường biểu tình yêu cầu Bải Đai hồi loan.

Ông về trong chánh danh mà Hồ Chí Minh cướp quyền nên không có chuyện này.



Lịch sử Quốc Gia Việt Nam do

Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo

01.10.1947 :

BẢO ĐẠI HỒI LOAN để giành độc lập cho dân tộc.

Chánh Phủ Lâm Thời Quốc Gia Việt Nam lãnh đạo bởi QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI ra đời để đòi quyền độc lập.

12.1947 : Chọn quốc Kỳ Nền Vàng 3 sọc đỏ với ý nghĩa thống nhất lòng người và lãnh thổ

05.06.1948 :

Thông cáo chung Vịnh Hạ Long ra đời, bước đầu giành quyền độc lập

08/3/1949 :

Quốc Trưởng Bảo Đại ký với Tổng Thống Pháp ở điện Champs Elysée về việc trả lại Độc Lập vào toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam cho Quốc Trưởng Bào Đại, và được Quốc Hội thông qua.

Như vậy là Chánh Phủ Bảo Đại được Quốc Tế công nhận và được quyền cấp sổ THÔNG HÀNH cho công dân của mình mà Hồ Chí Minh không có vì chẳng nước nào công nhận ông Hồ Chí Minh làm đại diện cho dân Việt, kể cả Nga Sô.

Lý do : Hồ Chí Minh chỉ là PHIẾN QUÂN chui rúc trong rừng, không có thủ đô cố định để các nước gửi phái đoàn Ngoại Giao đến làm việc, hơn nữa lệnh ông ban hành chẳng ai tuân thero cả.

·        Đó là quy ước Quốc Tế khi nhìn nhận một nước có chủ quyền là phải có thủ đô , có quân đội, có hệ thống hành chánh, luật ban ra phải có người thi hành.

Ø  Hồ Chí Minh chỉ giữ vai trò Kháng Chiến chứ chưa phải là chánh phủ chánh danh ; vì thế nên không có quyền cấp sổ THÔNG HÀNH (Passeport) .

15.7.1951 :

Bảo Đại ký sắc lệnh thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam với số quân dự tù là 175.000 tay súng tác chiến .

Vào đàu tháng11/1953 thì quân số lên tới 70.000 tay súng , cũng là lúc quân Pháp đổ bộ Điện Biên, bên Tàu thì Mao Trạch Đông thâu tóm lục địa vào năm 1949, tình hình thế giới bất an

30.4.1955 :

Quân Đội Bảo Đại đánh Bình Xuyên , tay sai của Pháp ; vài ngày sau ông giải tán Ngự Lâm Quân đóng ở Đà Lạt và trao Hoàng Triều Cương Thổ về với đất mẹ (chứng tỏ Bảo Đại không tham quyền cố vị như Hồ Chí Minh)

 

Nên nhớ là Quân Đội Quốc Gia có nhiều phe phái. Lớp trẻ động viên năm 1951 chỉ lên đến cấp Đại Úy, cấp Tướng do người Pháp chỉ định.

Bảy Viễn (Bình Xuyên) được Quốc Trưởng Bảo Đại phong cho Tướng 1 sao trong uân Dội Quốc Gia Việt Nam nhưng ông có quân riêng và bảo vệ an ninh cho Saigon và Chợ Lớn (một quân đội trong 1 quân đội.

Do đó ông Bảo Đại phải vặt hết chân tay của Pháp để ông Diệm dễ dàng trong việc Truất Phế Bảo Đại (phần này nên coi thêm bài viết của các sử gia trung thực, ở đây chỉ nói tóm lược thôi)

 

QUỐC TRƯỞNG BẢI ĐẠI

THU HỒI ĐỘC LẬP LẦN THỨ NHÌ

Sau khi Quân Đội Quốc Gia Việt Nam của Quốc Trưỏng Bảo Đại đánh bại Bình Xuyên và ôn định tình thế vào cuối tháng 5.1955 thì người Pháp buộc phải trao trả độc lập cho NGÀI.

Lễ trao quyền đuợc cử hành trọng thể trước Dinh Độc Lập vào trung tuần tháng 7.1955 :

Người đại diện là đương kim Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

-         Người Pháp long trọng đọc bản văn trao quyền. Khi chấm dứt thì Quốc Ca Pháp trỗi dạy và cờ TAM TÀI củ nuóc Pháp kéo xuống.

-         Sau đó Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đọc diễn từ cám ơn, và chấp nhận tự quản lý lấy nền độc lập. Sau khi chấm dứt thì quan khách làm lễ chào Quôc Kỳ Việt Nam, Quốc Ca trỗi lên và lá cờ nền vàng 3 sọc được từ từ kéo lên

-         Khi cờ Vàng 3 sọc kéo xong thì Thủ Tướng Ngô Đình Diệm yêu cầu kéo cờ TAM TÀI lên để cùng cờ Quẻ Càn tung bay cho hết ngày hông nay để bày tỏ lòng thành đối với tình hữu nghị 2 dân tộc Việt và Pháp, cùng nhau  quên dĩ vãng để hướng tới tương lai…. Thế là bài Marseillaise lại trỗi dạy và cờ Tam Tài lại được keó lên.

Hồ Chí Minh không hề có buổi lễ trao quyền này. Vậy thì ông ta là kẻ thoán nghịch mà ta gọi là NGỤY TRIỀU.

Sự thực thì :

Lúc đầu ông ta tổ chức ngày 02.9.1945 để ông BẢO ĐẠI trao ấn kiếm và ông ta đọc TUYÊN THỆ trước bàn thờ Tổ Quốc…..

Nhưng ông Bảo Đại khước từ vì ông ta đã thoái vị vào ngày 25.8.45 rồi, nay còn quyền gì nữa đâu mà trao.

Vì hụt hẫng nên ông phải bẻ sang ngày đọc Tuyên Ngôn Độc Lập một cách trơ trẽn.

Hơn nữa, trên diễn đàn không có bất cứ danh nhân nào tham dự cả, ngoài một tên phóng viên báo chí, quốc tịch Mỹ làm phóng sự.

Ø  Thậm chí tên cò mồi lên chúc tụng vai câu cũng không có.

 

QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI TRẢ QUYỀN CHO DÂN

RA ĐI TRONG CHÁNH DANH

Quốc Trưởng Bảo Đại trả quyền cho dân sau khi hoàn thành nhiệm vụ thu hồi độc lập

23/10/1955 :

Bảo Đại làm cuộc trưng cầu dân ý vì muốn trả quyền cho dân khi ngài hết nhiệm vụ : Thu hồi độc lập ……

 

Ngược lại thì Hồ Chí Minh lại tham quyền cố vi, khi cách mạng thành công thì không chịu trao trả quyền làm chủ đất nước của mình… Như vậy là ông ta lợi dụng xương máu của dân Việt để xây dựng phe nhóm ; ông thay Pháp để thống trị dân Việt còn tàn bạo hơn thực dân…. Đảng Việt Cộng cướp đoạt quyền sống của dân Việt vậy mắc mớ chi phải mang ơn nó ??

Tổ Quốc của Cộng Sản là Đại Đồng Thế Giới để cho Tàu Cộng làm chủ… Trong khi đó thì GIẶC TÀU lại là kẻ thì truyền kiếp của dân Bách Việt, trong đó có chúng ta.

TÓM LẠI :

Hồ Chí Minh cướp chánh quyền, tiêu diệt dân Việt và tàn phá nước Việt cho quyền lợi của Cộng Đảng Quốc Tế ; đó là TỔ QUỐC ĐẠI ĐỒNG THẾ GIỚI do Đế Quốc Tàu Cộng, kẻ thù bất cộng đái thiên của dân Việt lãnh đạo !  

 

TIẾN TRÌNH THÀNH LẬP CHÁNH PHỦ

Hiến Pháp là gì ? Tại sao lại cần Hiến Pháp

Hiến Pháp là một bản văn quy định sinh hoạt của một Quốc Gia có tổ chức.

Ông Nguyễn Trãi gọi Hiến Pháp là VĂN HIẾN ; nhà Trần gọi là PHÈP NƯỚC. Nay ta gọi là Hiến Pháp tức bản Văn Hiến viết theo  cách hành văn của Luật. Khi thành lập Quốc Gia là lúc áp dụng chế độ PHÂN CÔNG vì thế nên phải có Hiến Pháp

Tiến trình xây dưng quốc gia trên Pháy Lý gồm 6 giai đoạn :

1.      Đấu tranh Cách Mạng là lật đổ chế độ.

2.      Tiếp theo là đấu tranh chánh trị, tức xây dựng xã hội, do đó phải có hiến pháp, và tổ chức lãnh đạo đấu tranh Cách Mạng phải giải tán để trả lại quyền cho dân…  còn không là dịch chủ tái nô ; vì tổ chức đấu tranh Cách Mạng đã lợi dụng xương máu của người dân để thâu tóm quyền lực và thế thế kẻ thùmà người dân cần lật đổ (điển hình là đảng Việt Cộng dương khẩu hiệu Dân Tộc Tự Quyết đánh đuổi ngoại bang xong rồi chễm trệ bóp cổ người dân còn khắc nghiệt hơn là bọn Thực Dân Pháp, Phát Xít Nhật hay Đế Quốc Mỹ, vì đó là bàn tay thép của Tàu Cộng kẻ thù truyền kiếp của dân Việt ;

3.      HIẾN PHÁP :

Trong khi đất nước vô chủ thì có một tổ chức đứng lên triệu tập ngay Quốc Hội Lập Hiến mà các ông nghị đều do dân bàu.

4.      THỜI KỲ CHUYỂN TIẾP :

Trong khi chờ đợi thì tổ chức này giữ vai trò XỬ LÝ THƯỜNG VỤ. Khi Hiến Pháp ra lò và được quốc dân CHUNG QUYẾT thì đem thi hành để chọn Nguyên Thủ Quốc Gia.

5.      BẦU NGUYÊN THỦ QUỐC GIA :

Sau khi chọn xong vị Nguyên Thủ Quốc Gia để thành lập chánh phủ thì công việc Xử Lý Thường Vụ Chấm dứt.

6.      QUỐC HỘI LẬP PHÁP :

Công việc điều hành Quốc Gia theo Hiến Pháp thì phải có LUẬT để bảo vệ Hiến Pháp, do đó cơ quan Hành Pháp phải tổ chức ngay Quốc Hội LẬP PHÁP thì có đó cách vận hành cơ quan Hành Chánh mới trơn chu.

 

HÃY CỨU VỚT LINH HỒN TRẺ THƠ

XÉT RẰNG :

Niên học năm nay (2020-2021) Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc đã cho thu hồi sách giáo khoa  lớp 1 (lớp đầu bậc tiểu học) với lý do : ĐẦU ĐỘC TRẺ THƠ .

Như vậy là ông đã công nhận : Chánh Phủ không đủ khả năng soạn sách giáo khoa cho nhi đồng. 

Vậy thì, chúng ta hãy giành lại quyền tự do giáo dục cho bậc tiểu học để đào tạo con cháu chúng ta thành những con người văn minh ở thế kỷ điện toán, đừng để  chúng trở thành công cụ sản xuất cho bọn thống trị.

ĐỀ NGHỊ :

Chúng ta hãy tổ chức những nhóm viết sách giáo khoa cho bậc tiểu để các em xứng đáng làm con cháu Rồng Tiên.

Trong hiện tình thì nên tổ chưc theo hàng ngang, nhưng thông tin thường xuyên với nhau để đạt hiệu năng cao. Rủi ro nếu có một nhóm nào đó bị phá thì cả mạng lưới vẫn còn.

Vì nhu cầu cấp bách này, nhóm Nhân Văn Việt Tộc xin đóng góp với quý vị : 17 TIÊU CHUẨN VIẾT SÁCH GIÁO KHOA để dạy con trẻ về môn Việt giáo, Việt đạo và Việt triết

 

A.- VIỆT GIÁO : Giáo lý học làm người Việt (7 tiêu chuẩn)

1/- Học để biết Hào-khí của tổ tiên.

2/- Học để hãnh-diện là con dân đất Việt với sự Tự-hào dân tộc.

3/- Học để biết Tự-lực, Tự-cường.

4/- Học để biết Tự-trọng cho người khỏi khinh.

5/- Học để biết Cư-xử cho người kiêng nể.

6/- Học để có Tâm Việt trong con người Việt.

7/- Học để thấm nhuần Tư-tưởng Việt Tộc.

 

B.- VIỆT ĐẠO : Kết hợp dân tộc thành bó đũa (6 tiêu chuẩn)

08/- Học để biết Việt Đạo với Tình Tự dân tộc.

09/- Học để biết Đùm Bọc nhau trong tinh thần Đồng Bào.

10/- Học để biết yêu quý Quê Hương thương yêu Nòi Giống.

11/- Học để khơi động dòng máu Việt trong huyết quản của mình.

12/- Học để có khả năng gìn giữ Quê Hương, bảo vệ Tự Chủ.

13/- Học để có tinh thần Cầu Tiến, song song đồng tiến với người văn minh hiện đại.

 

C.- VIỆT TRIẾT : Triết lý sống của dân Việt (4 tiêu chuẩn về Văn Hóa Thuần Việt)

14/- Học để biết khí phách Rồng Tiên : Uy-Dũng và Công Minh của Rồng; Hiền từ và Nhân Ái của Tiên

15/- Học để biết Độ Lượng và Bao Dong với kẻ thù sau khi Chiến Thắng.

16/- Học để biết cách đòi lại những gì dân tộc đã mất (đấu tranh tự vệ).

17/- Học để biết ứng phó với hoàn cảnh : Đi với bụt mặc áo cà-sa ; đi với ma mặc áo giấy

 

Tất cả những điều này : Học để xứng đáng làm người Việt tốt (giống nòi Rồng Tiên), thì không ai ưu-tư và có khả-năng dạy dỗ con em chúng ta bằng chính chúng ta (có Tâm và Hồn Việt

*** Vạn sự khởi đầu nan, chúng tôi xung-phong đi bước đầu và kêu gọi sự tiếp tay của toàn thể con dân đất Việt. Hãy góp gió thành bão, tích tiểu thành đại.

*** Chúng tôi đang chờ sự tiếp tay của quý vị, cùng nhau hợp soạn bài vở cho thêm phong phú; hoặc tiếp tay phổ-biến bài vở dạy dỗ con em của chúng ta nên ngưởi văn minh của thời đại Điện Toán để dân Việt TRƯỜNG TỒN TRONG VINH QUANG.

-------------------------------

 

Xin giới thiệu với quý vị 3 đường dẫn sau đây, và kính mời các vị hiền tài tiếp tay cho chương trình này được phong phú.
http://nhanvanviettoc.blogspot.com  là nơi lưu trữ tài liệu để soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com  là nơi lưu trữ các bài đã soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm) từ Tiểu Học đến Trung Học.

Nơi lưu trữ 3 kinh nhật tụng
1. Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để

    lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18

     tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu

    tranh)

SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ (Đủ Bộ)
https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a

SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ (Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k

SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph

ØKênh  Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ

là nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu trữ vô máy.

¾

 

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil