T44 -Giáo dục thời xưa
T44 : Giáo
dục thời xưa
Livestream ngày 19.8.2021
soạn giả : Hoàng Đức Phương
HUẤN LUYỆN NHÂN TÀI CHO ĐẤT NƯỚC
CÁCH
GIÁO DỤC THỜI XƯA
Trước
ngày lập quốc ngày 2.879BC :
Con người
xuất hiện đầu tiên ở vùng KENYA (gần somalie) ; vì da mỏng và không có lông
ấm nên chỉ sống được ở vùng nhiệt đới.
Từ ngày kiếm
ra lửa (thời đại đá ghè) phải mất cả hàng chục ngàn năm mới biết dùng lửa để sưởi
ấm nên chinh phục được vùng ôn đới và hàn đới vì nhu cầu kiếm ăn. Lúc đó đi lẻ
tẻ ; chưa có tiếng nói vì tư tưởng chưa có gì để diễn tả và hơn nữa sống
đơn lẻ nên chẳng biết nói để ai nghe. Lúc này sinh đẻ ít vì thiếu thực phẩm,
nhân số trên toàn thế giới chưa tới 1 triệu nhân mạng.
Ø Vào khoảng 23.000BC :
Vì đói ăn nên sáng chế ra đồ gốm để luộc tôm, luộc cá ăn đỡ tanh. Đồ gốm là đồ làm bằng đất nung như bát đĩa, nồi niêu, chum vại, chĩnh …. Mà ngày hôm nay chúng ta vẫn dùng ; nhưng phẩm chất và cách tạo hình phát triển theo mỹ thuật và nhu cầu của từng thời, do đó dựa vào đồ gốm thì chúng ta có thể dựng lại lịch sử tư tưởng và cách sống của loài người nó diễn tiến ra sao. Diễn biến nhanh thì ở vùng Đông Á và Trung Á (vùng Viễn Đông và Trung Đông) vì có nhu cầu tranh sống. Còn diễn biến chập thì ở các vùng có nhu cầu tranh đua như Đào Loan, Tích Lan ….. Tựu chung, quy luật diễn biến chỉ có một mà thôi.
Đến khi đói, tôm cá không còn thì luộc khoai, luộc sắn, có gì luộc đó kể cả những hạt như kê, như lúa để húp cháo. Sau đó nghiệm ra rằng Ngũ Cốc là lương khô cứu đói nên đẻ ra nghề nông ở vùng Viễn Đông.
Lúc này mực nước biển Thái Bình Dương thấp hơn ngày hôm nay là 130,5mètres. Đồng bằng Bắc Việt và đồng bằng Nam Việt chưa có. Từ Phi Luật Tân đến Trung Đông (IRAN, IRAK) đất phủ đầy băng tuyết nên gọi là thời kỳ băng hà.
Nên nhớ là số lượng nước trên mặt trái đất không đổi, như nó biến đổi trạng thái nên không có mặt ở nơi này thì có mặt ở nời khác. Lúc đầu nó ở thể hơi vì trái đất quá nóng, sau thành thể hơi và thể lỏng, cuối cùng ở thể hơi (mây, thể lỏng (nước) và thể đặc (băng đá) nên mới có sinh vật khi bàu không khí có dưỡng khí do thực vật tiết ra. Nước ngọt chỉ chiếm có 4% khối lượng nước, còn lại là nước mặn.
Từ chỗ luộc lúc húp cháo nên khởi thủy của nghề nông vào khoảng 13.000BC. Lúc này trên thế giới có rất nhiều trung tâm nông nghiệp, nhưng nay chỉ tích của nghề nông ven biển Thái Bình Dương là tổ tiên cua dân nông nghiệp (Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Chân Lạp, Chàm, Bách Việt, Sở ở vùng Tứ Xuyên, Tây Tạng) chủ nhân ông vùng Đông Á. Lúc này dân du-mục (TÀU) còn ở vùng Trung Đông chưa di sang Đông Á
Ø #13.000BC :
Nghề nông xuất hiện vào khoảng 13.000BC, tạo thành cuộc sống quần cư có của phải giữ nên tập trung vào nơi chung cư có lũy tre để bảo đảm an ninh ở ngay sát ruộng, đồng (ruộng trồng lúa nước gọi là lúa CHIÊM, đồng trồng lúa khô gọi là lúa MÚA hay ngũ cốc không càn nước như khoai, sắn.
Vì sống định cư bên cạnh ruộng đồng nên khi chết thì đem chôn ra ngoài ruộng nên mới có tục cúng tế. Vậy phong tục Tế Lễ để tưởng nhớ công đức người xưa là của dân nông nghiệp ; khi dân du-mục (Tàu) di sang cướp đất của con cháu Đế Nghi để có cuộc sống quần cư và định cư ở phía bắc con sông Hoàng Hà thì họ bắc chiếc phong tục tế lễ của dân nông nghiệp rồi phịa ra tế lể những vật vô tri như Trời, Đất mà họ phong cho chức Thần như Thần Tài, Thần Thổ Địa, Thần Núi, Thần Sông, Ngọc Hoàng Thượng Đế ….
Vì canh tác nên phải biết cách định mùa nên người ta nghĩ ra lịch tính theo vị trí một ngôi sao chuẩn nào đó trên bàu trời vào giữa đêm. Tôi cho nó cái tên là MIÊU LỊCH (lịch nhà nông, vì Miêu=Mễ=Ngũ Cốc).
Ø #11.000BC : Nông Lịch ra đời
Miêu lịch có vào khoảng 11.000BC, nhưng mãi tới 10.000BC thì dụng cụ đo mới chính xác nên không bị thất thu.
Ø #10.000BC, Triết gia ra đời :
Vì không phải lo ăn nên mới sinh ra Triết Gia, tự hỏi là ai sinh ra ta ? Ai sinh ra vạn vật ? vào khoảng 10.000BC. Do TRỰC GIÁC thì họ bảo do : TẠO HÓA sinh ra ; có nghĩa là do sự biến đổi trạng thái sinh ra. Tạo là sinh ra và Hóa là biến đổi. Thấy nói như vậy có vể quá dễ nên họ đẻ ra Lý Dịch, tức lý lẽ của sự biến đổi vạn vật, Dịch là di chưển. Vì nguyên lý này không chuẩn nên loay hoang chỉ tới : Nhất Nguyên sinh Lững Cực. Lưỡng Cực sinh Tam Tài và Tam Tài sinh Bát Quái vì họ chĩ nghĩ có quẻ đơn thôi. Lý luận này thuộc về khoa TRIẾT (triết=nguyên lý thay đổi vạn vật)
Ø
500BC,
Kinh Dịch :
Khổng Khâu vì không có lý cớ để giải thích thuyết THIÊN MỆNH
nên ông vớ ngay Lý Dịch, thêm vào Quẽ Kép (hai quẻ đơn chồng lên nhau). Quẻ đơn
có 3 hào (Tam Tài) ; quẻ kép có 6 hào. Tựu chung có 64 quẻ kép và 384 hào
(64x6=384) mà ông bảo là trong vũ trụ chỉ có 384 trạng thái. Theo khoa học ngày
hôm nay thì căn bản lý luận của Lý Dịch sai nên Kinh Dịch cũng sai luôn. Lý là
lý lẽ của tôi nó có thể sai ; nhưng Kinh là lý lẽ thiên nhiên nên không
bao giờ sai cả như Kinh Phật, Kinh Chúa (kinh ở đây là tiếng Tàu còn Kinh tiếng
Việt là lớn nhu kinh kỳ, kinh đô, kinh
hoàng…)
SAU NGÀY LẬP QUỐC
Ø 2.879BC Lập Quốc :
Khi bảo đảm được cuộc sống, sản xuất gia tăng thì nhân số tăng theo. Năm Trăm Năm sau (2.879BC) thì nước Ngô lập quô1c đề đi xâm lăng (giưa sông Dương Tử và sông Tây Giang) với học thuyết Thiên Tử (xâm lăng, theo chế độ Quân Chủ Chuyên Chế) thì nước Sở và nước Việt cũng phải lập quốc để tự vệ với học thuyết Vô Vi (nước Sở theo thể chế Quân Chủ Đại Nghị) và họcthuyết Rồng Tiên (nước Văn Lang của Liên Bang Việt theo thể chế Dân Chủ Phân Quyền)
Học thuyết kết hợp dân tộc còn sót lại là : Tinh thần Tự Trọng (Văn Lang), tinh thần Cầu Tiến (Việt) thuộc về lãnh vực Việt Giáo và thể chế dân chủ phân quyền thuộc Việt Đ’ạo với câu bất hủy : Lệnh vua cón thua lệ làng, chữ Lý Trưởng thay cho Làng Trưởng, chữ Xã Hội để nói căn bản của nước là Làng Xã chứ không phài Triều Đình cùng với nghi thức tế lễ nói lên quan niệm sống của dân Cổ Việt.
- Con cháu Đế Nghi
(nông nghiệp) theo triền sông Hoàng Hà (bị
nhà Chu tiêu diệt - 1.046BC)
* Con cháu Lộc Tục (nông nghiệp), chia làm 3 nước đánh nhau Ngô, Sở Việt, men theo triền sông : Dương Tử, Tây Giang, Hoàng Hà và sông Mã.
**Cuối Trường Sơn (VN) theo triền sông Cửu Long là dân Chàm và Khmer (nông nghiệp)
*** Văn Lang là một liên bang gồm 15 nước (Bộ Lạc) ;
trong khi đó dân Chàm còn sống khảng tảng nên không vào Liên Bang.
BẢN ĐỒ HỒI HƯƠNG
của dân Nông Nghiệp
(theo ven sông ra biển để canh
tác nông nghiệp)
ĐẠI HỒNG THỦY kéo dài 4.100 năm
(7.500BC – 3.400BC)
Ø #2.300BC Quy Lịch ra đời.
Khi đời sống
Quốc Gia được ổn định thì nhà nông (chưa biết là nước nào chủ xướng) trước khi
thất nghiệp vì mùa đông tới nên đẻ ra Tiết (Tết) Trung Thu, có nghĩa là giữa
mùa thu thiên nhiên ăn mừng giải lao để cho con nít vui tuổi ấu thơ. Vì là tết
của con trẻ nên được tổ chức vào khoảng xế chiều (17 giờ tới 21 giờ) đến chập tối
để con nít đi ngủ nên phải tính lại miêu lịch sao cho ngày đó có trăng mọc sau
khi mặt trời lặn (khoảng 19 giờ tối) và lặn sau 21 giờ. Cách tính hơi khác với Miêu Lịch nhưng được
khắc trên mai rùa để tặng nhà Chu. Nghe nói là của sứ giả Việt Thường, nếu đúng
vậy thì vùng đất Việt Thường ở Thanh Hóa đến đèo Hải Vân.
*Học thuyết kết hợp dân tộc là tình nghĩa cộng
đồng :
Tiết mừng xuân là của người lớn, tiết Trung Thu là của con nít .
Đây là quan
niệm sống trọn vẹn trong tinh thần cộng đồng của người thời đó :mà chúng
ta cần phải tìm hiểu sự gắn bó xã hội với nhau của người thời đó.
#600BC Sát
nhập nước Ngô vào nước Văn Lang :
Lãnh vương
vùng Lạc Việt (Quảng Đông) tên là Câu Tiễn đã bức tử vua Ngô là Phù Sai và sau
đó sát nhập dân Ngô vào với dân Việt dưới thể chế Dân Chủ Phân Quyền, hội nhập
Văn Hóa đã được nói rõ trong học thuyết Rồng Tiên
*Học thuyết
kết hợp 2 dân tộc thù nghịch nhau :
Đây là học
thuyết căn bản của khoa Nhân Văn Việt Tộc để lại bằng bia miệng ở thời chưa có
chữ viết, và được phân chia rõ ràng.
Việt Giáo
(giáo lý học làm người Việt) là Tự Lực Tự Cường, Tự Trọng và Cầu Tiến đi từ chữ
Văn Lang và Việt
Việt Đạo
(cách tổ chức xã hội) : Kết hợp với nhau bằng TÂM, cư xử với nhau bằng Đức,
bình đẳng tột cùng, thân thương tột độ (gói ghém trong danh từ Đồng Bào).
Từ ý niệm Đồng
Bào mới có danh từ Bách Việt (100 giống Việt chứ không phải 100 nước Việt). Cách
xưng hô trong vai vế gia đình (3 thế hệ) xuất phát từ đây để nói lên tinh thần
đùm bọc, văn minh và văn hóa ở thời đó. Câu ca dao Bàu (dân Ngô) ơi thương lấy Bí
(dân Việt) cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn cũng phát xuất từ đây.
Việt Triết (cách
đấu tranh của dân Việt) : 100 binh đội theo mẹ lên núi để bảo vệ biên giới
phía Bắc, 100 binh đội theo cha ra trấn giữ biển Đông để bảo vệ đất nước. Đân
là thế Toàn Dân Kháng Chiến, toàn Diện Đấu Tranh trong thế liên hoàn tiếp ứng với
câu : « Chừng nào Giặc Thù đế cướp phá, chống đỡ không nổi thì gọi Bố
ơi về cứu chúng con » Câu Bố ở đây nghĩa rộng là sức mạnh tâm linh bị lãng
quên (mưu trí, kết hợp bằng văn hóa thuần Việt mà cha Lạc Lonh là một biểu tượng
vô hình.
VIỆT LỰC : Việt Giáo+Việt Đạo+Việt Triết tạo ra Việt Lực mà thời nhà Lý, nhà Trần
và ông Nguyễn Trãi đã triệt để khai thác nên đã thành công và còn để lại di
tích cho chúng ta suy nghĩ.
Viện Sùng Chính (học) do ông Nguyễn Thiếp thời Hoàng Đế Quang
Trung cũng đi theo đường lối này.
Ấp Chiến Lược (sách lược bảo vệ Tự Chủ, chứ không phải sách
lược chống Cộng)+Học Thuyết Cần Lao Nhân Vị cũng nằm trong sách lược này
Ø
207BC -
Triệu Đà :
Triệu Đà thống nhất đất Nam Việt (phía Nam sông Dương Tử là lãnh thổ của dân Bách Việt (tuyên bố chủ quyền : Đất Nam của dân Việt – Lý Thường Kiệt, Trần Trọng Kim – Avril 1945, trong lá cờ Quẻ Ly)
*Học thuyết kết hợp 2 dân tộc Ngô+Việt (Bách Việt đã có từ 400 năm trước dưới thời Câu Tiễn #600BC) bằng thể chế Quân Chủ Đại Nghị : Hội nhập văn hóa, bình đẳng bình quyền, dân vùng nào thì quan lại ngườì vùng đó. Vua chỉ hợp thức hóa mọi văn bản cần thiết để thi hành chung cho liên bang
Ø
Từ 111BC
đến 43AD :
Liên Bang Bách Việt tan rã, nhưng đất Giao Châu Tự chủ theo chế độ bàu phiếu LỚN, tức là : Đại diện các tiểu bang cử người về đầu phiếu ở Mê Linh là nơi vua Hùng thứ 18 họp bàn việc nước, và « TÔN » bà Trưng Chắc lên làm Thủ Lĩnh (tôn tức là bỏ phiếu, mỗi tiểu bang có 1 phiếu được gọi là phiếu lớn):
Học thuyết kết hợp lòng người : Dân khí kiêu hùng, dân trí cao (ý chí quyết tâm bảo vệ tự chủ).
**Dân Khí tạo nên ý chí dấn thân cho đại cuộc (nghĩa lớn),
**Dân trí tạo sức mạnh phi thường trong thế kết hợp thành bó đũa….
Do đó nền Giáo Dục Nhân Văn Việt Tộc phải đặt lên hàng đầu. : Việc học ta lấy làm Đầu, Công Thương mọi việc dần dần tính sau – (Đông kinh nghĩa thục=trường dạy làm người)
Đông Kinh Nghĩa Thục ở phố hàng Gai, HÀ-NỘI của cụ Cử Can bị Thực Dân Pháp dẹp khi còn trứng nước.
Đông Kinh là Hà Nội, Tây Kinh là Thánh Hóa, Nghĩa Thục là trường học dạy làm người Việt tốt ; nay ta gọi là Nhân Văn Việt Tộc cho hợp với ngôn từ ngày
Tâm, cư xử với nhau bằng Đức, Bình Đẳng Tột Cùng, Thân Thương Tột Độ (Đồng Bào, và hình 14 tia trên mặt trống Đồng Đông Sơn)nay.
Ø
Thời nhà
LÝ :
Kết hợp lòng người bằng Nhân Nghĩa, lấy giáo lý nhà Phật để
bổ xung cho Việt Giáo.
Ø
Thời nhà
Trần :
Bổ xung Việt Giáo để kết hợp lòng người bằng Tam Giáo Đồng Nguyên (tức tư tưởng Lão, Phật và Khổng lớn ngang nhau.
Nguyên=lớn như Nguyên Thủ Quốc Gia), hành động điển hình là
Hội Nghị Diên Hồng, Binh Thư Yếu Lược - Quyết tâm diệt giặc : Sát Thát, Hịch
Tướng Sỹ để nâng cao sỹ khí (tức Hào Khí chánh đáng của dân tộc)
Ø
Thời Lê Lợi (1427)
:
Ông Nguyễn Trãi đã tận dụng khai thác sức mạnh Tâm Linh của con tim (Việt) và của bộ óc Việt với kế sách CÔNG TÂM (ta đây mưu phạt công tâm, không đánh mà người phải khuất với quan niệm «có dân mới có vua ». Vua thối nát bất lực thì dân chọn triều đình khác để dạy vua lo hạnh phúc cho dân như : Dân là nước, vua là thuyền, thuyền mục nát thì nước tràn vào nhận chìm thưyền đi.
Ø Thời Lê Thánh Tôn (1460) :
Thay đổi nền giáo dục nhân bản để thay bằng nền giáo dục : VUA ĐỘC TÔN với quan niệm « Đất Của Chúa Lúa Của Trời », dân là kẻ ăn nhờ ở đậu, chẳng có quyền chi cả. Tư duy suy thoái từ đây nên khẩu hièệu Diệt Mạc Phù Lê mới ăn khách và 2 con buôn chánh trị làm hại đất nước là Trịnh Kiểm và Nguyễn Kim. Thế hệ chúng ta lãnh đủ hậu quả của 2 tên lưu manh chánh trị này.
Ø
Thời Tây
Sơn (1789) :
Sùng Chính Viện ra đời để Phục Hồi Văn Hóa Thuần Việt không những là chất liệu kết hợp dân tộc và mà còn là động lực tạo ra khí phách hiên ngang và bất khuất trước bạo lực của dân Việt
Ø Thời nô lệ Thực Dân Pháp (1860):
Tuy không thành công nhưng các nhà ái quốc thời đó đã để lại kim chỉ Nam cho chúng ta là : Khai dân Trí (ý chí quyết tâm bảo vệ Độc Lập), chấn Dân Khí (lấy lại niềm tự hào chánh đánh của dân tộc…Hậu Dân Sinh
Học thuyết kết hợp lòng người : Cụ Phan Bội Châu đã nhắc chúng ta là : Đừng lo độc lập không tới, mà chỉ lo dân trí chưa đủ cao để giữ vững nền tự chủ là điều mà chúng ta phải suy nghĩ để tự cứu lấy mình và cứu tương lai của con cháu
Ø
Thời độc
lập Đệ Nhất Cộng Hòa 1956-1963 :
Nhóm Triết Gia Ngô Đình Nhu đã nghiên cứu cách cứu nước của tổ tiên trong suốt trên 15 năm để sáng tạo ra Học Thuyết Cần Lao Nhân Vi và Ấp Chiến Lược, nhưng giữa đường gãy gánh là điều chúng ta phải rút kinh nghiệm là : Chương trình Phục Việt không thể để trên vai một sáng lập viên hay tổ chức của họ, mà phải phổ biến và khuyến khích toàn dân (phụ họa) nhập cuộc để chương trình không bị bỏ dở khi các nhóm người để xướng chẳng may qua đời.
· Sách Lược của thời này là : Canh Tân con người và đất nước với tiêu đề «Chống Giặc Chậm Tiến» bằng cách
-Song song đồng tiến.
-Tham gia chánh trị là việc phải làm của toàn dân.
-Nắm vững học thuyết Nhân Văn Việt Tộc để tạo Việt Lực qua 3 môn học là :
1/- Việt
Giáo 2/- Việt Đạo 3/- Việt Triết
để thời nào thì người thời đó tạo ra Việt Lực Hợp Thời để bảo vệ sự tự chủ của mình. Canh tân con người có nghĩa là thay đổi não trạng cho có cái nhìn ngang tầm thời đại. Tức là Canh tân Tư Tưởng, thay đổi Tư Duy cho có cái nhìn ngang tầm thời đại.
Ø Thời Cộng Sản từ 02/09/1945 đến nay :
Nền giáo dục vong nô : Chủ trương tiêu diệt sức sông của dân Việt bằng chủ nghĩa Tam Vô (vô gia đình, vô tôn giáo và vô tổ quốc) với Giai Cấp Đấu Tranh, để người Việt giết hạy nguời Việt với khẩu hiệu Trí Phú Địa Hào đào tận gốc trốc tận rễ.
TÓM LẠI ĐỂ
GHI NHỚ
Trong thời vua HÙNG dựng nước là thời chưa có chữ viết (2.897BC-257BC) thì tổ tiên chúng ta đã để lại bằng bia miệng học thuyết xây dựng Việt Giáo, Việt Đạo và Việt Triết để kết hợp thành bó đũa có sức mạnh vô song là Việt Lực được tóm gọn trong các nguyên lý sau đây :
VIỆT GIÁO : Xây dựng tinh thần Tự Trọng và Cầu Tiến để biết Tự Lực, Tự Cường và Phục Thiện ; tức biết lắng nghe và có tư duy độc lập.
VIỆT ĐẠO : Xây dựng nguyên lý kết hợp thành bó đũa : Kết hợp với nhau bằng
VIỆT TRIẾT: Cương quyết bảo vệ Tự Chủ, không nhân nhượng với kẻ thù trong khi đấu tranh Tự Vệ ; nhưng độ lượng và khoan dung với kẻ thù sau khi chiến thắng (ký thác trong chuyện Rồng Tiên như đã phân tích ở các bài trước)
Ngoài ra còn dạy cách thoát vòng nô lệ với câu Thần Chú : « Chừng nào giặc thù đến cướp phá, chống đỡ không nổi thì gọi Bố ơi về cứu chúng con ».
Bố ở đây là nguyên lý căn bản để kết hợp lòng dân thành bó đũa, tức là sức mạnh Tâm Linh chưa dùng tới. Sức mạnh này gọi là VIỆT LỰC nó nằm trong nền VĂN HÓA THUẦN VIỆT ; và muốn phát huy thì phải có nền giáo dục Nhân Văn Việt Tộc với đội ngũ Giảng Huấn Viên chuyên nghiệp.
Giảng Huấn Viên chuyên nghiệp là người không những có Tâm Việt, có Hồn Việt mà còn phải có khả năng chuyên môn về Việt Học mà ta gọi là TẦM (phải có Tâm và có Tầm mới làm Giảng Huấn Viên Việt Tộc được). Đội ngũ này phải huấn luyện mới có.
Nay chúng ta học hỏi được gì đây để tự sáng tạo ra sách lược đấu tranh đòi quyền Tự Chủ ? Không những vậy còn phải huấn luyện Giảng Huấn Viên Việt Tộc nữa.
Thời kỳ có chữ viết, tức từ Thục Phán đến nay (257BC-2020AD)
Thời Triệu Đà : Kết hợp lòng dân bằng trau dồi Việt Học với chánh sách Quân Chủ Đại Nghị.
Thời nhà Lý : Vun trồng Việt Lực bằng triết lý đạo Phật.
Thời nhà Trần :
Vun trồng Việt Lực bằng Tam Giáo Đồng Nguyên, với hội nghị Diên Hồng « Dân
làm chủ, vua thi hành quyết sách của toàn dân » với câu châm ngôn để đời
là : Phép vua còn thua lệ làng.
Thời vua Lê Thánh Tôn (1460) thay đổi học thuật nên tư duy thay đổi từ Dân làm chủ, vua thi hành quyết sách của toàn dân sang tư duy Vua làm chủ, dân thi hành lệnh của vua. Tức « Đất của Chúa, lúa của Trời : Dân làm nô lệ ».
Thời Hoàng Đế Quang Trung với Viện Sùng Chính Học được dụng lên trong mục đích « Chấn Hưng nền Văn Hóa Phục Việt » – Bình đẳng sắc tộc và hội nhập văn hóa ; nhưng yểu mệnh nên chương trình bỏ dở.
Thời Đệ Nhất Cộng Hòa (1956-1963) : Cùng mục tiêu Phục Việt như nhà Tây Sơn, nhưng hoàn cảnh thay đổi nên cố sức xây dựng Ấp Chiến Lược và trau dồi Học Thuyết Cần Lao Nhân Vị, tương đương với Sùng Chính Viện. Công tác xây dựng bị bỏ dở vì yểu mệnh như Hoàng Đế Quang Trung.
Một kinh nghiệm xương máu là :
Mọi chương trình đều có người đề xướng và sự phụ họa của toàn dân nên phải chống giặc chậm tiến rồi mới thi hành chương trình cùng nhịp thay đổi não trạng của toàn dân để có sự PHỤ HỌA tối đa, và khi nhóm đề xướng chết đi thì còn có người thay thế đến nơi đến chốn ; tránh cảnh đánh trống bỏ dùi. Đây là trường hợp Hoàng Đế HỒ QUÝ LÝ ; Hoàng Đế Quang Trung và nhóm Triết Gia NGÔ ĐÌNH NHU.
Muốn người dân thay đổi não trạng thì phải mở trường để dạy Nền Văn Hóa Thuần Việt và chương trình Canh Tân Con Người , Canh Tân Đất Nước cho ngang tầm thời đại.
Ngoài ra còn phải huấn luyện đội ngũ Giảng Huấn Viên Chuyên Nghiệp về khoa Nhân Văn Việt Tộc…. không thể đốt giai đoạn được, và cũng không thể mơ ngủ là : Búng tay thì ra ngay chương trình Nhân Văn Việt Tộc và ra ngay đội ngũ Giảng Huấn Viên Chuyên Nghiệp.
Đây là những khó khăn mà chúng ta sẽ phải giải quyết qua kinh nghiệm của Tổng Thống Ngô Đình Diệm :
Tự do đầu phiếu : Cụ nói với báo chí Mỹ rằng cụ rất cám ơn nhân dân Hợp Chúng Quốc, nhưng cô coi dân Tây Nguyên đóng khố ở trần thì lá phiếu của họ làm gì có giá trị. Vì vậy nên phải khai Trí cho họ bằng cách xây Ấp Chiến Lược và giảng dạy học thuyết Cần Lao Nhân Vị là Quốc Sách của dân tôi.
Nhân tài thiếu hụt : Ngay đến như các vị Bộ Trưởng còn không nắm vững Quốc Sách này thì làm sao thi hành nghiêm túc được ? Do đó phải xây dựng đội ngũ « Cán Bộ Nông Thôn », vừa làm vừa học. Chừng nào đội ngũ này được tự huấn luyện xong thì mới có thế xúc tiến việc « Tự Do Đầu Phiếu » được.
Ngày hôm nay tuy chúng tôi đã bỏ ra trên 40 năm để soạn xong
chương trình huấn luyện Văn Hóa Thuần Việt như Hoàng Đế Quang Trung và Tổng Thống
Ngô Đình Diệm mong ước . Nhưng còn đội ngũ «Giảng Huấn Viên Chuyên Nghiệp» thì cần phải huấn luyện qua các buổi
hội thảo định kỳ. Đây là công việc của các tổ chức đấu tranh và các hội đoàn ý
thức được trách nghiệm của mình….It nhất là phải xây dựng cộng đồng Văn Hóa Thuần Việt để lo cho tương lai của
con cháu chúng ta đừng mất gốc ; và đó cũng là trách nhiệm của bố mẹ đối với
con cái… Rất mong có người hưởng ứng và tiếp
tay.
----------------------------------------------------




0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil