T48-Giáo dục thời suy thoái
T48 Giáo dục thời suy thoái
Facebook Văn Hóa Thuần Việt : 16.09.2021
soạn giả : Hoàng Đức Phương
GIÁO DỤC THỜI SUY THOÁI :
NGUYÊN NHÂN THẢM TRẠNG NGÀY NAY
Nến Giáo Dục lạc hướng của vua Lê Thánh Tông 1460AD
LẠC
HỒN DÂN VIỆT
1)
Thời
Lê Lợi :
Ông Nguyễn Trãi đã tận dụng khai thác sức mạnh Tâm Linh của con
tim (Việt) và của bộ óc Việt với kế sách CÔNG TÂM (ta đây mưu phạt công tâm,
không đánh mà người phải khuất với quan niệm «có dân mới có vua ». Vua thối
nát bất lực thì dân chọn triều đình khác để dạy vua lo hạnh phúc cho dân
như : Dân là nước, vua là thuyền, thuyền mục nát thì nước tràn vào nhận
chìm thưyền đi
.
2) Thời
Lê Thánh Tông (1460AD) :
Nguyên
nhân làm thay đổi nền giáo dục nhân bản : Toàn dân giữa nước với chế độ
DÂN CHỦ để thay bằng nền giáo dục QUÂN CHỦ CHUYÊN CHÍNH: VUA ĐỘC TÔN với
quan niệm « Đất Của Chúa Lúa Của Trời », dân là kẻ ăn nhờ ở đậu, chẳng
có quyền chi cả. Tư duy suy thoái từ đây nên khẩu hiệu Diệt Mạc Phù Lê mới ăn
khách và 2 con buôn chánh trị làm hại đất nước là Trịnh Kiểm và Nguyễn Kim. Thế
hệ chúng ta lãnh đủ hậu quả của 2 tên lưu manh chánh trị này.
Lý do là chế độ CUNG PHI của vua Thái Tông.
Đã cho Nghi Dân làm Thái Tử lại truất phế cho Bàng Cơ lên thay ; nên anh
em hận thù, giống HẠP LƯ vậy.
·
Ngoài
ra vì quá thiết tha với ngai vàng nên có lắm kẻ xu nịnh dưới trướng. Vua còn trẻ
nên chưa đủ trí khôn để phân biệt Nịnh Thần với Trung Thần và cũng tin dùng
Thái Sư Thị Lộ và ông Nguyễn Trãi là CAN THẦN nên mới định giết mẹ co Hoàng Tử
TƯ THẢNH. Vì nể Thái Sư Nguyễn Trãi mới biết án tử hình thành án tước bỏ liên hệ
Hoàng Tộc và đuổi ra ngoại thành nương náu cửa Phật.
·
Vụ
án Thị Lộ được dựng lên từ nhóm ông Ngoại BÀNG CƠ (2 tuổi đời), đưa đến chu di
tam tộc dòng Nguyễn Trãi (diệt khẩu) và đất nước suy thoái từ đây. Về sau tông
đường của ông Nguyễn Trãi được phục hồi danh dự là nhờ Vua Lê Thánh Tông (1460-
niên hiệu Thuận Thiên) – Chúng ta sẽ phân tích khúc lịch sử BI HÙNG. Bi là vì
anh em giết nhau. Hùng làm vì sát nhập nước Chàm vào nước Đại Việt vào năm 1471
(niên hiệu Hồng Đức)
·
Hoàng
Tộc là gì và có từ bao giờ ? Chiếu ban ra bởi Lý Thánh Tông (1054-1072) là
Lụa tơ tầm dành riêng cho tông đường nhà Lý, cấm dân không được dùng lụa tơ tầm.
Từ đây mới sinh ra danh từ HOÀNG TỘC
3) Thời Tây Sơn :
Sùng Chính Viện ra đời để Phục Hồi Văn Hóa Thuần Việt không những
là chất liệu kết hợp dân tộc và mà còn là động lực tạo ra khí phách hiên ngang
và bất khuất trước bạo lực của dân Việt
4) Thời nô lệ Thực Dân Pháp :
Tuy không thành công nhưng các nhà ái quốc thời đó đã để lại kim
chỉ Nam cho chúng ta là : Khai
dân Trí (ý chí quyết tâm bảo vệ Độc Lập), chấn Dân Khí (lấy lại niềm tự hào chánh đánh của dân tộc…Hậu Dân Sinh
Học thuyết kết hợp lòng người : Cụ
Phan Bội Châu đã nhắc chúng ta là : Đừng lo độc lập không tới, mà chỉ lo
dân trí chưa đủ cao để giữ vững nền tự chủ là điều mà chúng ta phải suy nghĩ để
tự cứu lấy mình và cứu tương lai của con cháu
5) Thời độc lập Đệ Nhất Cộng Hòa 1956-1963 :
Nhóm Triết Gia Ngô Đình Nhu đã nghiên cứu cách cứu nước của tổ
tiên trong suốt trên 15 năm để sáng tạo ra Học Thuyết Cần Lao Nhân Vi và Ấp Chiến
Lược, nhưng giữa đường gãy gánh là điều chúng ta phải rút kinh nghiệm là :
Chương trình Phục Việt không thể để trên vai một sáng lập viên hay tổ chức của
họ, mà phải phổ biến và khuyến khích toàn dân (phụ họa) nhập cuộc để chương trình
không bị bỏ dở khi các nhóm người để xướng chẳng may qua đời.
Sách Lược của thời này là :
Canh Tân con người và
đất nước với tiêu đề «Chống Giặc Chậm Tiến»
bằng cách
-Song song đồng tiến. -Tham gia chánh trị là việc phải làm của
toàn dân.
-Nắm vững học thuyết Nhân Văn Việt Tộc để tạo Việt Lực qua 3 môn học
là :
1/- Việt
Giáo , 2/- Việt Đạo, 3/- Việt Triết
để thời nào thì người
thời đó tạo ra Việt Lực Hợp Thời để bảo vệ sự tự chủ của mình.
Ø Canh
tân con người có nghĩa là thay đổi não trạng cho có cái nhìn ngang tầm thời đại.
Tức là Canh tân Tư Tưởng, thay đổi Tư Duy cho hợp thời đang sống.
ö
TÓM
LẠI ĐỂ GHI NHỚ
A. Trong thời vua HÙNG dựng
nước là thời chưa có chữ viết (2.897BC-257BC) thì tổ tiên chúng ta đã để lại bằng
bia miệng học thuyết xây dựng Việt Giáo, Việt Đạo và Việt Triết để kết hợp
thành bó đũa có sức mạnh vô song là Việt Lực được tóm gọn trong các nguyên lý
sau đây :
1) VIỆT GIÁO :
Xây
dựng tinh thần Tự Trọng và Cầu Tiến để biết Tự Lực, Tự Cường và Phục Thiện ;
tức biết lắng nghe và có tư duy độc lập.
2) VIỆT ĐẠO :
Xây
dựng nguyên lý kết hợp thành bó đũa : Kết hợp với nhau bằng Tâm, cư xử với
nhau bằng Đức, Bình Đẳng Tột Cùng, Thân Thương Tột Độ (Đồng Bào, và hình 14 tia
trên mặt trống Đồng Đông Sơn)
3) VIỆT TRIẾT:
Cương
quyết bảo vệ Tự Chủ, không nhân nhượng với kẻ thù trong khi đấu tranh Tự Vệ ; nhưng độ lượng và khoan dung với kẻ thù sau
khi chiến thắng (ký thác trong chuyện Rồng Tiên như đã phân tích ở các bài trước)
4) Ngoài
ra còn dạy cách thoát vòng nô lệ với câu Thần Chú : « Chừng nào giặc thù đến cướp phá, chống đỡ không nổi thì gọi Bố
ơi về cứu chúng con ».
5) Bố ở
đây là nguyên lý căn bản để kết hợp lòng dân thành bó đũa, tức là sức mạnh Tâm
Linh chưa dùng tới. Sức mạnh này gọi là VIỆT LỰC nó nằm trong nền VĂN HÓA THUẦN
VIỆT ; và muốn phát huy thì phải có nền giáo dục Nhân Văn Việt Tộc với đội
ngũ Giảng Huấn Viên chuyên nghiệp.
Giảng Huấn Viên
chuyên nghiệp là người không những có Tâm Việt, có Hồn Việt mà còn phải có khả
năng chuyên môn về Việt Học mà ta gọi là TẦM (phải có Tâm và có Tầm mới làm Giảng
Huấn Viên Việt Tộc được). Đội ngũ này phải huấn luyện mới có.
Nay chúng ta học hỏi được gì đây để tự sáng tạo ra sách lược đấu
tranh đòi quyền Tự Chủ ? Không những vậy còn phải huấn luyện Giảng Huấn Viên
Việt Tộc nữa.
B. Thời kỳ có chữ viết, tức
từ Thục Phán đến nay (257BC-2020AD)
C. Thời Triệu Đà :
Kết hợp lòng dân bằng trau dồi Việt Học với chánh sách Quân Chủ Đại Nghị.
D. Thời nhà Lý :
Vun trồng Việt Lực bằng triết lý đạo Phật.
E. Thời nhà Trần :
Vun trồng Việt Lực bằng Tam Giáo Đồng Nguyên, với hội nghị Diên Hồng « Dân
làm chủ, vua thi hành quyết sách của toàn dân » với câu châm ngôn để đời
là : Phép vua còn thua lệ làng.
F. Thời vua Lê Thánh Tông (1460)
thay đổi học thuật nên tư duy thay đổi từ Dân làm chủ, vua thi hành quyết sách của toàn dân sang tư duy Vua làm chủ, dân thi hành lệnh của vua.
Tức « Đất của Chúa, lúa của Trời : Dân làm nô lệ ».
G. Thời Hoàng Đế Quang Trung với
Viện Sùng Chính Học được dụng lên trong mục đích « Chấn Hưng nền Văn Hóa Phục Việt » – Bình đẳng sắc tộc
và hội nhập văn hóa ; nhưng yểu mệnh nên chương trình bỏ dở.
H. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa
(1956-1963) : Cùng mục tiêu Phục Việt như nhà Tây Sơn, nhưng hoàn cảnh
thay đổi nên cố sức xây dựng Ấp Chiến Lược và trau dồi Học Thuyết Cần Lao Nhân
Vị, tương đương với Sùng Chính Viện. Công tác xây dựng bị bỏ dở vì yểu mệnh như
Hoàng Đế Quang Trung.
MỘT KINH NGHIỆM XƯƠNG MÁU
Mọi chương trình đều có người đề xướng và sự phụ họa của toàn dân
nên phải chống giặc chậm tiến rồi mới thi hành chương trình cùng nhịp thay đổi
não trạng của toàn dân để có sự PHỤ HỌA tối đa, và khi nhóm đề xướng chết đi
thì còn có người thay thế đến nơi đến chốn ; tránh cảnh đánh trống bỏ dùi.
Đây là trường hợp Hoàng Đế HỒ QUÝ LÝ ; Hoàng Đế Quang Trung và nhóm Triết
Gia NGÔ ĐÌNH NHU.
Muốn người dân thay đổi não trạng thì phải mở trường để dạy Nền
Văn Hóa Thuần Việt và chương trình Canh Tân Con Người , Canh Tân Đất Nước cho
ngang tầm thời đại.
Ngoài ra còn phải huấn luyện đội ngũ Giảng Huấn Viên Chuyên Nghiệp
về khoa Nhân Văn Việt Tộc…. không thể đốt giai đoạn được, và cũng không thể mơ
ngủ là : Búng tay thì ra ngay chương trình Nhân Văn Việt Tộc và ra ngay đội
ngũ Giảng Huấn Viên Chuyên Nghiệp.
Đây là những khó khăn mà chúng ta sẽ phải giải quyết qua kinh nghiệm
của Tổng Thống Ngô Đình Diệm :
·
Tự
do đầu phiếu : Cụ nói với báo chí Mỹ rằng cụ rất cám ơn nhân dân Hợp
Chúng Quốc, nhưng cô coi dân Tây Nguyên đóng khố ở trần thì lá phiếu của họ làm
gì có giá trị. Vì vậy nên phải khai Trí cho họ bằng cách xây Ấp Chiến Lược và giảng
dạy học thuyết Cần Lao Nhân Vị là Quốc Sách của dân tôi.
·
Nhân
tài thiếu hụt : Ngay đến như các vị Bộ Trưởng còn không nắm vững Quốc Sách
này thì làm sao thi hành nghiêm túc được ? Do đó phải xây dựng đội ngũ
« Cán Bộ Nông Thôn », vừa làm vừa học. Chừng nào đội ngũ này được tự
huấn luyện xong thì mới có thế xúc tiến việc « Tự Do Đầu Phiếu » được.
Ngày hôm nay tuy chúng tôi đã bỏ ra trên 40 năm để soạn xong
chương trình huấn luyện Văn Hóa Thuần Việt như Hoàng Đế Quang Trung và Tổng Thống
Ngô Đình Diệm mong ước . Nhưng còn đội ngũ «Giảng Huấn Viên Chuyên Nghiệp» thì cần phải huấn luyện qua các buổi
hội thảo định kỳ. Đây là công việc của các tổ chức đấu tranh và các hội đoàn ý
thức được trách nghiệm của mình….It nhất là phải xây dựng cộng đồng Văn Hóa Thuần Việt để lo cho tương lai của
con cháu chúng ta đừng mất gốc ; và đó cũng là trách nhiệm của bố mẹ đối với
con cái… Rất mong có người hưởng ứng và tiếp
tay.
KỸ
THUẬT BẢO VỆ TỰ CHỦ
·
Đây là lộ trình giáo dục phải theo thì toàn dân mới
có đủ khả năng bảo vệ sự tự chủ của mình được.
·
Việt
Lực được suy ra từ lời căn dặn của cha LẠC LONG. Sơ đồ này là Đây
nhá : Đặc tính con RỒNG là : UY DŨNG VÀ CÔNG MINH
DỊCH
THUẬT SAI LẦM là HÀNH ĐỘNG PHẢN BỘI
Thực dân Pháp lưu manh, với chánh sách ngu dân nên khi chuyển ngữ
hoàn toàn sai với ý nghĩa nguyên thủy mà mấy ông Nho Tây tin đặc.
Đó là một cách để đầu độc tư tưởng dân bị trị.
·
Tỷ dụ :
Chuyện dựng lên do nhu cầu chánh trị mà 2 ông Phạm Lãi, Văn Chủng
đã lồng trận đánh « diệt Ngô Đại
Cáo » dưới dạng Huyền Thoại ở thời điểm chưa có chữ viết (#600BC), để
đem thông điệp cứu nước và giữ nước cho hậu thế noi theo.
Bọn Thống Trị Thực Dân Pháp khi không dịch con RỒNG thành DRAGON
nên bọn nho Tây mới chửi bới nguyền gốc nòi Việt.
Mặc dù bọn NHO TÂY này không đọc được NGÔN TỪ thời đó, mà họ cũng
chẳng thèm nhận cái sai lầm trong tư duy nhiễm độc bởi Rồng Tiên được nền giáo
dục vong nô do kẻ thống trị vu khống và bịa đặt.
Nay chúng ta lại gặp phải bọn NHO CỘNG, vong nô vọng ngoại nên chúng
tha hồ bóp méo lịch sử vì nhu cầu chánh trị…
Ø Vì
thế nên ph ải tìm hiểu sự thật của
lịch sử qua các di vật người xưa để lại như : Huyền Thoại, Ca Dao,, Hội Họa, Điêu Khắc ….
RẰNG :
1) Con Rồng họ
dịch là con DRAGON (quái vật), ỷ mạnh hiếp yếu. Từ chỗ này mấy ông NHO TÂY mới
gân cổ phỉ báng tổ tông nòi Việt.
2) Chữ BỘ LẠC là
một vùng an lạc, có LẠC VƯƠNG, LẠC HẦU và LẠC TƯỚNG, tiếng TÀU gọi là TIỂU
BANG…. Ông TÂY dịch sang là TRIBU, tiếng VIỆT là TÙ , nhân số tương đương với 1
làng. Mấy ông Sử Gia vì cả tin nên giới hạn nước VĂN LANG là nơi vua HÙNG làm
việc, tức thành Văn Lang
3) Chữ VĂN HÓA (tiếng
Tàu) là danh từ của học giả PHẠM QUỲNH sáng tạo vào thập kỷ 1930, có nghĩa là
kêu gọi người dân hãy thay đổi cách sống và cách suy nghĩa cho hợp với thời đại
một cách văn minh.
·
Mấy ông Nho Tây, không thạo tiếng Việt nên dịch là đồng nghĩa với chữ
CULTURE, rồi lấy định nghĩa của chữ
CULTURE bảo đó là định nghĩa của chữ VĂN HÓA.
Ø CULTURE tiếng
Việt là trau dồi, học hỏi, rèn luyện
·
Mấy ông Nho Tàu lại dùng chữ Tàu giảng nghĩa tiếng Việt, tức là ông
giảng nghĩa tiếng Việt qua người đẻ ra ký tự, mà chúng ta cứ phụcsát đất !!
·
Mấy ông Cộng Nho còn đi xa hơn.
Các ổng
chối bỏ cội nguồn, chối bỏ Hùng Vương và Văn Hóa Thuần Việt để nhận MARX,
LENINE và MAO làm TỔ của mình, và tôn thờ nền Văn Hóa vô luân : Con tố
cha, vợ thei trai tố chồng, anh em sát hại lẫn nhau vằi Phong Trào Giai Cấp Đấu
Tranh, tiêu diệt sức sống của dân Việt bằng Trí Phú Dịa Hào đào tận gốc, trốc tận
rễ.
Để đi
tôn thờ chủ nghĩa TAM VÔ (vô Gia Đình, vô Tổ Quốc và vô Tôn Giáo)
¾
ü Xin
coi thêm Đặc San Huyền Thoại với chủ để : Bạch hóa huyền sử thời vua Hùng (2.879BC-250BC) bằng các di vật ngời
Văn Lang để lại (Nhóm Nhân Văn Việt Tộc đã ấn hành/link : http://vanhoathuanviet.blogspot.com
----------------------------------------------------




0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil