samedi 20 juillet 2024

T48-Giáo dục thời suy thoái

 T48 Giáo dục thời suy thoái

Facebook Văn Hóa Thuần Việt : 16.09.2021

soạn giả : Hoàng Đức Phương

 

GIÁO DỤC THỜI SUY THOÁI :

 

NGUYÊN NHÂN THẢM TRẠNG NGÀY NAY

Nến Giáo Dục lạc hướng của vua Lê Thánh Tông 1460AD

 

LẠC HỒN DÂN VIỆT

1)     Thời Lê Lợi :

Ông Nguyễn Trãi đã tận dụng khai thác sức mạnh Tâm Linh của con tim (Việt) và của bộ óc Việt với kế sách CÔNG TÂM (ta đây mưu phạt công tâm, không đánh mà người phải khuất với quan niệm «có dân mới có vua ». Vua thối nát bất lực thì dân chọn triều đình khác để dạy vua lo hạnh phúc cho dân như : Dân là nước, vua là thuyền, thuyền mục nát thì nước tràn vào nhận chìm thưyền đi

.

2)     Thời Lê Thánh Tông (1460AD) :

Nguyên nhân làm thay đổi nền giáo dục nhân bản : Toàn dân giữa nước với chế độ DÂN CHỦ để thay bằng nền giáo dục QUÂN CHỦ CHUYÊN CHÍNH: VUA ĐỘC TÔN với quan niệm « Đất Của Chúa Lúa Của Trời », dân là kẻ ăn nhờ ở đậu, chẳng có quyền chi cả. Tư duy suy thoái từ đây nên khẩu hiệu Diệt Mạc Phù Lê mới ăn khách và 2 con buôn chánh trị làm hại đất nước là Trịnh Kiểm và Nguyễn Kim. Thế hệ chúng ta lãnh đủ hậu quả của 2 tên lưu manh chánh trị này.

Lý do là chế độ CUNG PHI của vua Thái Tông. Đã cho Nghi Dân làm Thái Tử lại truất phế cho Bàng Cơ lên thay ; nên anh em hận thù, giống HẠP LƯ vậy.

·        Ngoài ra vì quá thiết tha với ngai vàng nên có lắm kẻ xu nịnh dưới trướng. Vua còn trẻ nên chưa đủ trí khôn để phân biệt Nịnh Thần với Trung Thần và cũng tin dùng Thái Sư Thị Lộ và ông Nguyễn Trãi là CAN THẦN nên mới định giết mẹ co Hoàng Tử TƯ THẢNH. Vì nể Thái Sư Nguyễn Trãi mới biết án tử hình thành án tước bỏ liên hệ Hoàng Tộc và đuổi ra ngoại thành nương náu cửa Phật.

·        Vụ án Thị Lộ được dựng lên từ nhóm ông Ngoại BÀNG CƠ (2 tuổi đời), đưa đến chu di tam tộc dòng Nguyễn Trãi (diệt khẩu) và đất nước suy thoái từ đây. Về sau tông đường của ông Nguyễn Trãi được phục hồi danh dự là nhờ Vua Lê Thánh Tông (1460- niên hiệu Thuận Thiên) – Chúng ta sẽ phân tích khúc lịch sử BI HÙNG. Bi là vì anh em giết nhau. Hùng làm vì sát nhập nước Chàm vào nước Đại Việt vào năm 1471 (niên hiệu Hồng Đức)

·        Hoàng Tộc là gì và có từ bao giờ ? Chiếu ban ra bởi Lý Thánh Tông (1054-1072) là Lụa tơ tầm dành riêng cho tông đường nhà Lý, cấm dân không được dùng lụa tơ tầm. Từ đây mới sinh ra danh từ HOÀNG TỘC

3)     Thời Tây Sơn :

Sùng Chính Viện ra đời để Phục Hồi Văn Hóa Thuần Việt không những là chất liệu kết hợp dân tộc và mà còn là động lực tạo ra khí phách hiên ngang và bất khuất trước bạo lực của dân Việt

4)     Thời nô lệ Thực Dân Pháp :

Tuy không thành công nhưng các nhà ái quốc thời đó đã để lại kim chỉ Nam cho chúng ta là : Khai dân Trí (ý chí quyết tâm bảo vệ Độc Lập), chấn Dân Khí (lấy lại niềm tự hào chánh đánh của dân tộc…Hậu Dân Sinh

Học thuyết kết hợp lòng người : Cụ Phan Bội Châu đã nhắc chúng ta là : Đừng lo độc lập không tới, mà chỉ lo dân trí chưa đủ cao để giữ vững nền tự chủ là điều mà chúng ta phải suy nghĩ để tự cứu lấy mình và cứu tương lai của con cháu

5)     Thời độc lập Đệ Nhất Cộng Hòa 1956-1963 :

Nhóm Triết Gia Ngô Đình Nhu đã nghiên cứu cách cứu nước của tổ tiên trong suốt trên 15 năm để sáng tạo ra Học Thuyết Cần Lao Nhân Vi và Ấp Chiến Lược, nhưng giữa đường gãy gánh là điều chúng ta phải rút kinh nghiệm là : Chương trình Phục Việt không thể để trên vai một sáng lập viên hay tổ chức của họ, mà phải phổ biến và khuyến khích toàn dân (phụ họa) nhập cuộc để chương trình không bị bỏ dở khi các nhóm người để xướng chẳng may qua đời.

 

Sách Lược của thời này là :

Canh Tân con người và đất nước với tiêu đề «Chống Giặc Chậm Tiến» bằng cách

-Song song đồng tiến.  -Tham gia chánh trị là việc phải làm của toàn dân.

-Nắm vững học thuyết Nhân Văn Việt Tộc để tạo Việt Lực qua 3 môn học là :

      1/- Việt Giáo ,          2/- Việt Đạo,            3/- Việt Triết

để thời nào thì người thời đó tạo ra Việt Lực Hợp Thời để bảo vệ sự tự chủ của mình.

Ø  Canh tân con người có nghĩa là thay đổi não trạng cho có cái nhìn ngang tầm thời đại. Tức là Canh tân Tư Tưởng, thay đổi Tư Duy cho hợp thời đang sống.

ö

 

TÓM LẠI ĐỂ GHI NHỚ

A.    Trong thời vua HÙNG dựng nước là thời chưa có chữ viết (2.897BC-257BC) thì tổ tiên chúng ta đã để lại bằng bia miệng học thuyết xây dựng Việt Giáo, Việt Đạo và Việt Triết để kết hợp thành bó đũa có sức mạnh vô song là Việt Lực được tóm gọn trong các nguyên lý sau đây :

1)     VIỆT GIÁO :

Xây dựng tinh thần Tự Trọng và Cầu Tiến để biết Tự Lực, Tự Cường và Phục Thiện ; tức biết lắng nghe và có tư duy độc lập.

2)     VIỆT ĐẠO :

Xây dựng nguyên lý kết hợp thành bó đũa : Kết hợp với nhau bằng Tâm, cư xử với nhau bằng Đức, Bình Đẳng Tột Cùng, Thân Thương Tột Độ (Đồng Bào, và hình 14 tia trên mặt trống Đồng Đông Sơn)

3)     VIỆT TRIẾT:

Cương quyết bảo vệ Tự Chủ, không nhân nhượng với kẻ thù trong khi đấu tranh Tự Vệ ;  nhưng độ lượng và khoan dung với kẻ thù sau khi chiến thắng (ký thác trong chuyện Rồng Tiên như đã phân tích ở các bài trước)

4)     Ngoài ra còn dạy cách thoát vòng nô lệ với câu Thần Chú : « Chừng nào giặc thù đến cướp phá, chống đỡ không nổi thì gọi Bố ơi  về cứu chúng con ».

5)     Bố ở đây là nguyên lý căn bản để kết hợp lòng dân thành bó đũa, tức là sức mạnh Tâm Linh chưa dùng tới. Sức mạnh này gọi là VIỆT LỰC nó nằm trong nền VĂN HÓA THUẦN VIỆT ; và muốn phát huy thì phải có nền giáo dục Nhân Văn Việt Tộc với đội ngũ Giảng Huấn Viên chuyên nghiệp.

Giảng Huấn Viên chuyên nghiệp là người không những có Tâm Việt, có Hồn Việt mà còn phải có khả năng chuyên môn về Việt Học mà ta gọi là TẦM (phải có Tâm và có Tầm mới làm Giảng Huấn Viên Việt Tộc được). Đội ngũ này phải huấn luyện mới có.

Nay chúng ta học hỏi được gì đây để tự sáng tạo ra sách lược đấu tranh đòi quyền Tự Chủ ? Không những vậy còn phải huấn luyện Giảng Huấn Viên Việt Tộc nữa.

 

B.     Thời kỳ có chữ viết, tức từ Thục Phán đến nay (257BC-2020AD)

C.     Thời Triệu Đà : Kết hợp lòng dân bằng trau dồi Việt Học với chánh sách Quân Chủ Đại Nghị.

D.    Thời nhà Lý : Vun trồng Việt Lực bằng triết lý đạo Phật.

E.     Thời nhà Trần : Vun trồng Việt Lực bằng Tam Giáo Đồng Nguyên, với hội nghị Diên Hồng « Dân làm chủ, vua thi hành quyết sách của toàn dân » với câu châm ngôn để đời là : Phép vua còn thua lệ làng.

F.      Thời vua Lê Thánh Tông (1460) thay đổi học thuật nên tư duy thay đổi từ Dân làm chủ, vua thi hành quyết sách của toàn dân sang tư duy Vua làm chủ, dân thi hành lệnh của vua. Tức « Đất của Chúa, lúa của Trời : Dân làm nô lệ ».

G.    Thời Hoàng Đế Quang Trung với Viện Sùng Chính Học được dụng lên trong mục đích « Chấn Hưng nền Văn Hóa Phục Việt » – Bình đẳng sắc tộc và hội nhập văn hóa ; nhưng yểu mệnh nên chương trình bỏ dở.

H.    Thời Đệ Nhất Cộng Hòa (1956-1963) : Cùng mục tiêu Phục Việt như nhà Tây Sơn, nhưng hoàn cảnh thay đổi nên cố sức xây dựng Ấp Chiến Lược và trau dồi Học Thuyết Cần Lao Nhân Vị, tương đương với Sùng Chính Viện. Công tác xây dựng bị bỏ dở vì yểu mệnh như Hoàng Đế Quang Trung.

 

MỘT KINH NGHIỆM XƯƠNG MÁU

Mọi chương trình đều có người đề xướng và sự phụ họa của toàn dân nên phải chống giặc chậm tiến rồi mới thi hành chương trình cùng nhịp thay đổi não trạng của toàn dân để có sự PHỤ HỌA tối đa, và khi nhóm đề xướng chết đi thì còn có người thay thế đến nơi đến chốn ; tránh cảnh đánh trống bỏ dùi. Đây là trường hợp Hoàng Đế HỒ QUÝ LÝ ; Hoàng Đế Quang Trung và nhóm Triết Gia NGÔ ĐÌNH NHU.

Muốn người dân thay đổi não trạng thì phải mở trường để dạy Nền Văn Hóa Thuần Việt và chương trình Canh Tân Con Người , Canh Tân Đất Nước cho ngang tầm thời đại.

 

Ngoài ra còn phải huấn luyện đội ngũ Giảng Huấn Viên Chuyên Nghiệp về khoa Nhân Văn Việt Tộc…. không thể đốt giai đoạn được, và cũng không thể mơ ngủ là : Búng tay thì ra ngay chương trình Nhân Văn Việt Tộc và ra ngay đội ngũ Giảng Huấn Viên Chuyên Nghiệp.

 

Đây là những khó khăn mà chúng ta sẽ phải giải quyết qua kinh nghiệm của Tổng Thống Ngô Đình Diệm :

·        Tự do đầu phiếu : Cụ nói với báo chí Mỹ rằng cụ rất cám ơn nhân dân Hợp Chúng Quốc, nhưng cô coi dân Tây Nguyên đóng khố ở trần thì lá phiếu của họ làm gì có giá trị. Vì vậy nên phải khai Trí cho họ bằng cách xây Ấp Chiến Lược và giảng dạy học thuyết Cần Lao Nhân Vị là Quốc Sách của dân tôi.

·        Nhân tài thiếu hụt : Ngay đến như các vị Bộ Trưởng còn không nắm vững Quốc Sách này thì làm sao thi hành nghiêm túc được ? Do đó phải xây dựng đội ngũ « Cán Bộ Nông Thôn », vừa làm vừa học. Chừng nào đội ngũ này được tự huấn luyện xong thì mới có thế xúc tiến việc « Tự Do Đầu Phiếu » được.

Ngày hôm nay tuy chúng tôi đã bỏ ra trên 40 năm để soạn xong chương trình huấn luyện Văn Hóa Thuần Việt như Hoàng Đế Quang Trung và Tổng Thống Ngô Đình Diệm mong ước . Nhưng còn đội ngũ «Giảng Huấn Viên Chuyên Nghiệp» thì cần phải huấn luyện qua các buổi hội thảo định kỳ. Đây là công việc của các tổ chức đấu tranh và các hội đoàn ý thức được trách nghiệm của mình….It nhất là phải xây dựng cộng đồng Văn Hóa Thuần Việt để lo cho tương lai của con cháu chúng ta đừng mất gốc ; và đó cũng là trách nhiệm của bố mẹ đối với con cái… Rất mong có người hưởng ứng và tiếp tay.



KỸ THUẬT BẢO VỆ TỰ CHỦ



                  

·        Đây là lộ trình giáo dục phải theo thì toàn dân mới có đủ khả năng bảo vệ sự tự chủ của mình được.

·        Việt Lực được suy ra từ lời căn dặn của cha LẠC LONG. Sơ đồ này là Đây nhá : Đặc tính con RỒNG là : UY DŨNG VÀ CÔNG MINH

DỊCH THUẬT SAI LẦM là HÀNH ĐỘNG PHẢN BỘI

Thực dân Pháp lưu manh, với chánh sách ngu dân nên khi chuyển ngữ hoàn toàn sai với ý nghĩa nguyên thủy mà mấy ông Nho Tây tin đặc.

Đó là một cách để đầu độc tư tưởng dân bị trị.

·        Tỷ dụ :

Chuyện dựng lên do nhu cầu chánh trị mà 2 ông Phạm Lãi, Văn Chủng đã lồng trận đánh « diệt Ngô Đại Cáo » dưới dạng Huyền Thoại ở thời điểm chưa có chữ viết (#600BC), để đem thông điệp cứu nước và giữ nước cho hậu thế noi theo.

 

Bọn Thống Trị Thực Dân Pháp khi không dịch con RỒNG thành DRAGON nên bọn nho Tây mới chửi bới nguyền gốc nòi Việt.

Mặc dù bọn NHO TÂY này không đọc được NGÔN TỪ thời đó, mà họ cũng chẳng thèm nhận cái sai lầm trong tư duy nhiễm độc bởi Rồng Tiên được nền giáo dục vong nô do kẻ thống trị vu khống và bịa đặt.

Nay chúng ta lại gặp phải bọn NHO CỘNG, vong nô vọng ngoại nên chúng tha hồ bóp méo lịch sử vì nhu cầu chánh trị…

Ø  Vì thế nên ph           ải tìm hiểu sự thật của lịch sử qua các di vật người xưa để lại như :  Huyền Thoại, Ca Dao,, Hội Họa, Điêu Khắc ….

 

RẰNG :

1)     Con Rồng họ dịch là con DRAGON (quái vật), ỷ mạnh hiếp yếu. Từ chỗ này mấy ông NHO TÂY mới gân cổ phỉ báng tổ tông nòi Việt.

2)     Chữ BỘ LẠC là một vùng an lạc, có LẠC VƯƠNG, LẠC HẦU và LẠC TƯỚNG, tiếng TÀU gọi là TIỂU BANG…. Ông TÂY dịch sang là TRIBU, tiếng VIỆT là TÙ , nhân số tương đương với 1 làng. Mấy ông Sử Gia vì cả tin nên giới hạn nước VĂN LANG là nơi vua HÙNG làm việc, tức thành Văn Lang

3)     Chữ VĂN HÓA (tiếng Tàu) là danh từ của học giả PHẠM QUỲNH sáng tạo vào thập kỷ 1930, có nghĩa là kêu gọi người dân hãy thay đổi cách sống và cách suy nghĩa cho hợp với thời đại một cách văn minh.

·        Mấy ông Nho Tây, không thạo tiếng Việt nên dịch là đồng nghĩa với chữ CULTURE, rồi lấy định nghĩa của chữ CULTURE bảo đó là định nghĩa của chữ VĂN HÓA.

Ø  CULTURE tiếng Việt là trau dồi, học hỏi, rèn luyện

·        Mấy ông Nho Tàu lại dùng chữ Tàu giảng nghĩa tiếng Việt, tức là ông giảng nghĩa tiếng Việt qua người đẻ ra ký tự, mà chúng ta cứ phụcsát đất !!

·        Mấy ông Cộng Nho còn đi xa hơn.

Các ổng chối bỏ cội nguồn, chối bỏ Hùng Vương và Văn Hóa Thuần Việt để nhận MARX, LENINE và MAO làm TỔ của mình, và tôn thờ nền Văn Hóa vô luân : Con tố cha, vợ thei trai tố chồng, anh em sát hại lẫn nhau vằi Phong Trào Giai Cấp Đấu Tranh, tiêu diệt sức sống của dân Việt bằng Trí Phú Dịa Hào đào tận gốc, trốc tận rễ.

Để đi tôn thờ chủ nghĩa TAM VÔ (vô Gia Đình, vô Tổ Quốc và vô Tôn Giáo)

¾

ü  Xin coi thêm Đặc San Huyền Thoại với chủ để : Bạch hóa huyền sử thời vua Hùng (2.879BC-250BC) bằng các di vật ngời Văn Lang để lại (Nhóm Nhân Văn Việt Tộc đã ấn hành/link : http://vanhoathuanviet.blogspot.com

----------------------------------------------------

 

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil