T49 – Nguyên nhân suy thoái tư duy
T49 – Nguyên nhân suy thoái tư duy
Facebook Văn Hóa ThuầnViệt (23.09.2021)
soạn giả : Hoàng Đức Phương
KHỞI
ĐẦU SUY THOÁI
Giáo dục triều Lê Thánh Tông – 1460
HẬU QUẢ CỦA NỀN GIÁO DỤC VON.G NÔ
Ngày trước khoa học chưa phát triển nên còn nói được là :
Ngày lập quốc vào năm 2.879BC
là cha ông chúng ta phịa ra để lấy oai vì chưa có tính cách thuyết phục bằng
Khoa Học.
Hơn nữa là : Người xưa chỉ nói kết luận chứ không nói cách
tính thời đó nên các vị Tây Học (nho TÂY) bác bỏ lời nói của ông Nguyễn Trãi (1427) là nước Việt lập quốc
đã hơn 4.000 văn hìến (tức hiến pháp, nhà Trần gọi là Phép Nước.
Khi lập quốc thì phải có văn hiến ; mà đơn vị Văn Hiến là 1.000 năm thì nước mới trưng thành. Đòi sống của con người là 100 năm, của Thế Hệ là 20 năm.
Với sự tự tôn của đầu óc khoa học ngày hôm nay, nên chúng ta phủ
nhận chuyện huyền thoại và lịch sử thời
Hùng Vương với lý do là không có bia ký lưu truyền mà quyền rằng người thời
đó chưa có chữ viết và nhân sinh quan, vũ trụ quan của họ không giống chúng ta
ngày hôm nay ; chỉ vì chúng ta đọc huyền thoại với tư duy khoa học mà quên
rằng người xưa lưu truyền bằng bia miệng qua huyền thoại nên muốn đọc được
thông điệp ký thác trong Huyền Thoại để dựng lại lịch sử thì phải đọc với TƯ DUY HUYỀN THOẠI ; điều này
không khó đâu, chúng ta chỉ cần đặt mình vào bối cảnh sinh sống thời đó là nhìn
ra liền.
Ca dao : «Trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn năm bia miệng
vẫn còn trơ trơ»
Một
tỷ dụ : Chính cụ Trần Trọng Kim, xuất thân từ nền Giáo Dục Nô Lệ
Thực Dân Pháp còn quên tiếng Việt,
huống chi là chúng ta : Thời Hùng Vương người ta nói tiếng Việt chứ không
ai nói tiếng Tàu cả. Người xưa nói 18 đời Hùng Vương có nghĩa là 18 Triều Đại
mà cụ lại hiểu là 18 ông vua (AI
TAI !)
(xin coi đặc san Huyền Sử của nhóm Nhân Văn Việt Tộc để trong link :
http:/vanhoathuanviet.blogspot.com/Tự In Thành Sách).
Tóm lược sơ sài những điều đã học :
A. / XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI
·
160.000BC : Con người
sơ sinh ở vủng KENYA (Phi Châu - gần SOMALIE)
·
23.000BC : Văn Minh đầu tiên biết làm đồ
gốm luộc tôm cá vá lúa để húp cháo.
·
13.000BC : Văn Minh Nông Nghiệp/Quần cư
và định cư nên biết nói
·
11.000BC : Biết ngắm
sao ể định mùa cày cấy / Hoàn chỉng nghề nông
·
10.000BC: Phú quý sinh lễ nghĩa : Triết
gia ra đời / TẠO HÓA và LÝ DỊCH
Điều đáng nhớ là :
1)
Hình hài, màu sắc do môi
trường sinh sống làm thay đổi nhiễm sắc thể (CHROMOSOME) nhiễm sắc thể mà ra.
2)
Nghề nghiệp sinh sống làm
thay đổi nếp sống và cách suy nghĩ mà ta gọi là VĂN HÓA.
3)
VĂN MINH sinh ra VĂN HÓA,
VĂN HÓA sinh ra VĂN HIẾN (phép nước hay Hiến Pháp)
4)
Khởi thủy có 2 nền VĂN
HÓA là Nông Nghiệp phát xuất tử bở biển Thái Bình Dương ; và Du Mục phát
xuất từ IRAN.
5)
Nông Nghiệp sống nhờ đất
CANH TÁC nên có cuộc sống ĐỊNH CƯ bên cạnh ruộng và đồng, nương và rẫy
6)
Du Mục sống nhờ cánh đồng
cỏ (STEPPE) nên ta biết đường đi của họ.
7)
Văn hóa NÔNG NGHIỆP thiên
về NHÂN BẢN, bình đẳng theo chết độ phân công (MẪU HỆ, nhưng PHỤ QUYỀN) – VĂN
HÓA ĐỊNH CƯ
8)
Văn Hóa DU MỤC thiên về BẮP
THỊT : Lý kẻ khỏe bay giờ cũng cứng
nên theo chế độ PHỤ HỆ và PHỤ QUYỀN – VĂN HÓA DU CƯ
B. / NẠN ĐẠI HỒNG THỦY
C. / PHÂN VÙNG
a)
ĐÔNG Á (Viễn Đông)
b)
TRUNG Á (Trung Đông)
c)
TÂY Á (Cận Đông)
d)
Bắc Á TẾ Á
e)
Trung Á TẾ Á
f)
NAM Á TẾ Á = Nam Á Lục Địa
và Nam Á Hải Đảo
g)
Vùng ĐÔNG NAM Á
h)
VÒNG ĐAI ẤN ĐỘ và sự quan
trọng của nó
HÒI CƯ LẬP NGHIỆP (3.400BC)
NGÀY NAY NGỘ NHẬN VÌ NỀN GIÁO DỤC VONG NÔ
Chữ nghĩa lưu truyền mà có ai đọc được tư tưỏng ai oán của thế hệ Gia Long qua mấy dòng chữ
sau đây của ông Nguyễn Du :
« Đoạn Trường Tân
Thanh » « Trăm năm trong
cõi người ta, chữ Tài chữ Mệnh Khéo là ghét nhau (yêu nước đi tù) ;
Trải
Qua một cuộc bể dâu những điều trông thấy mà đau đớn lòng ».
Ngay 4 câu mở đầu đã nói rõ binh biến triền miên, dân tình khổ sở
dưới triều Gia Long rồi, nhưng ông cũng biết là hậu thế sẽ không hiểu nên ông
than rằng : « Bất tri tam bách
dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như »
Sở dĩ không hiểu nỗi lòng người xưa là vì một phần thì quên tiếng
Việt và một phần thì thiếu suy luận nên không nối kết được 3 cụm từ ở trên với
nhau.
Có ai nghĩ rằng thân phận ai oán của nàng Kiều do chế độ độc ác
gây ra lại chính là thân phận của ông Nguyễn Du dưới chế độ Gia Long ? Mà
khi nói đến chế độ thì thận phận Nguyễn Du lại là thân phận điển hình của chế độ
Gia Long ?
Nếu hiểu được thì đã thương sót cho thân phận hẩm hiu của thế hệ
Gia Long ; và đồng thời thương sót cho số phận lưu vong của chúng ta do chế
độ Cộng Sản gây ra. Vậy thì, tại sao chúng ta lại không bắt tay vào việc xây dựng
Cộng Đồng Văn Hóa ở Hải Ngoại để lo cho tương lai của con cháu chúng ta mà chỉ
chú trọng đến việc đả kích những sai lầm của nhau nhỉ ?
Nay chúng ta chỉ đọc được nền Văn Học tuyệt vời dưới ngòi bút của
thi hào Nguyễn Du qua truyện Kiều mà học giả Phạm Quỳnh muốn lưu lại. Vì lý do
chánh trị nên Học Giả Phạm Quỳnh là Tứ Trụ Triều Bảo Đại, đã tự ý đổi tiêu đề
Đoạn Trường Tân Thanh sang Truyện Kiều nên 2 cảm xúc của 2 chuyện chữ Nôm và chữ
Quốc-ngữ hoàn toàn khác nhau.
Ngày
hôm nay, với sự khám phá mới của khoa học thì chúng ta đã giải tỏa được mọi
thắc mắc vì chúng ta đã đọc được tư tưởng người Văn Lang qua di vật và qua Huyền
Thoại nên đã dựng lại được khúc lịch sử thời Hùng Vương (2.879BC-200BC).
Câu chuyện Huyền Thoại Rồng Tiên đã nói rất rõ 80% khúc lịch sử thời đó (2.879BC-600BC), chuyện Trọng Thủy Mỵ Châu nói rõ khúc lịch sử từ 280BC đến 200BC.
Không những dựng lại được lịch sử thời xa xưa để biết sự thật, mà chúng ta còn phục hồi được Hào Khí Chánh Đáng của nòi Việt để bức tung vòng kim cô trên đầu có từ năm 1460 (thời vua Lê Thánh Tôn đăng quang bất đắc dĩ) cho tới nay (2020) là do nền giáo dục Nhân Văn Việt Tộc lúc thì sai lầm, thiếu trung thực ; khi thì cấm đoán từ thời Gia Long (1802) nên thế hệ NHO TÂY mới tự kiêu tự mãn và vọng ngoại, vì nghĩ rằng Tây Phương đã khai sáng cho chúng ta.
Thực ra thì họ chỉ khai sáng cho chúng ta về khoa học thực dụng để kiếm ăn, còn họ bóp chết khoa Nhân Văn Việt Tộc nên chúng ta mất hồn dân Việt mà không hay ; vì thế nên chưa kết hợp được với nhau.
Về khoa học thực dụng thì Thực
Dân Pháp chỉ hé dạy cho đủ khả năng làm cán sự (technicien) để làm phụ tá mà
thôi ; vì thế nên khi Nhật trao trả độc lập cho Hoàng Đế Bảo Đại vào ngày
10/3/1945 thì Triều Đình không có người điều hành đất nước về khả năng cũng như
về số lượng. Đó là nguyên nhân để Việt Cộng phá hoại nền độc lập vào ngày
19/8/45 và cướp chánh quyền bằng lưu manh vào ngày 02/9/1945.
Các bạn không tin, tôi xin trích một đoạn báo cáo của Đại Quan Thực
Dân Pháp về việc thi hành chánh sách tiêu diệt dân Việt để chúng ta tự mình
nguyền rủa cha ông là không có tinh thần Cầu Tiến như Tây Phương nên may mắn mới
được nước Đại Pháp dạy dỗ là hạnh phúc lắm rồi ; còn không thì chng ta
thành Tàu rồi……. nó còn tuyệt vời đến độ : «Cứt Tây cũng thơm», ngày nay dưới chế độ Việt Cộng thì «cứt Tàu không thối»
Thế
hệ Gia Long với phong trào bài Việt « Nôm Na Là Cha Mách Qué » nên cấm dùng chữ CẢ để chỉ con trưởng,
vì đã ban chức này cho ông Bá Đa LỘC với cái tên CHA CẢ (lăng Cha Cả ở Tân Sơn
Nhứt) nên trong Nam không có anh Cả mà chỉ có anh Hai, Chị Hai, Cô Hai. Còn
ngoài Bắc họ chửi xéo Gia Long bằng sáng tạo ra chữ Phân Bắc, mặc dù đó là phần
phế thải từ bụng người Nam ra nhưng không có danh từ Phân Nam.
Thế
hệ nô lệ Thực Dân Pháp
Theo cuốn sử của Giáo Sư Sử Học NGUYỄN VĂN THỌ, viết theo tài liệu
lưu trữ trong thư viện Ngoại Giao thì 3
nước liên kết để mần thịt dân Việt. Đó là Bắc Kinh, Tây Ban Nha và PHÁP. Thực
dân Pháp là người trực tiếp khai thác nhưng phải nộp thuế cho TâyBan Nha và Bắc
Kinh.
Ông nói về SỰ THIẾT LẬP HỆ THỐNG THUỘC ĐỊA Ở VIỆT NAM một cách rõ
ràng và có kế hoặch tỷ mỷ đại khái như sau, sách ra năm 1991, nhà xuất bản
MEKONG PRINTING 2421 W. Frist Street Santa Ana CA 92703 USA – tél. (714)
558-9595 – Fax : (714) 558-7960
Thì : Giao ước
Versailles ký giữa ông Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine là tên Thực Dân đội lốt
thày tu) với Triều Đình Pháp, đại diện bởi bá tước DE MONTEMORIN là Bộ Trưởng bộ
Ngoại Giao, tại điện VERSAILLES (cung vua) ngày 28/11/1787 là văn tự bán nuớc của Nguyễn Ánh (tức Gia
Long khi lên ngôi 1802) có nhiều điều trói buộc như :
1. Nhường
hòn đảo áng ngữ cảng Hội An là cửa ngõ duy nhất để xuất nhập cảng, khi bị phong
tỏa chỉ có nước chết vì hàng hóa không bán được, hàng cần dùng cũng không mua
được.
Cảng
này được chúa Sãi (con Nguyễn Hoàng) xây lên để phát triển kinh tế. Hơn nữa ở HỘI
AN có 2 khu nhượng địa (nay ta gọi là ĐẶC
KHU, hay TÔ GIỚI) cho TÀU và NHẬT để họ phát triển kinh tế dùm vì chúa NGUYỄN
còn gặp rất nhoều khó khăn về tài chánh để chống quân Trịnh.
2. Nhường
hòn đảo Côn Sơn cho nước Đại Pháp để họ bảo vệ an ning bờ biển cho nhà Nguyễn,
và đồng thời nước Đại Pháp cũng có thể phong tỏa đuờng biển của ta
3. Dành
cho người Pháp độc quyền buôn bán (lệ thuộc kinh tế)
4. Cam
kết không được bang giao với các nước Tây Phương nếu không có sự ưng thuận của
nước Đại Pháp (cô lập chánh trị và ngoại giao)
5. Vụ
cho Hoàng Tử Cảnh lên 8 tuổi đi theo là yêu cầu của ông Bá Đá Lộc với mục đích
là giữ con tin. Trong khi ông đi thương thuyết thì Nguyễn Ánh không được quyền
nhờ bất cứ một nước nào can thiệp vào nội tình của nhà TÂY SƠN
Đây chỉ là một vài điểm đưa tới nô lệ Giặc Tây khi đã diệt xong
anh em Tây Sơn.
Cái điêu này đã được chứng minh bằng chương trình học ở trưòng THUỘC
ĐỊA ở Avenue de l’Observation - quận 6 Paris.
Ai muốn sang cai trị dân thuộc địa để thi hành chánh sách ngu dân
diệt chủng thì phải qua lớp huấn luyện của trường ..
Nguyễn Tất Thành có đơn xin vô nhưng bị bác vì lòng dạ bất trung.
Đơn này được lưu trữ ở Thư Viện quốcGia Hải Ngoại ỏ Aix-en-Provence (gần
Marseille)
Sau khi tốt nghiệp, được bổ nhiệm thì mỗi năm phải làm báo cáo
công tác 2 lần để Bộ Thuộc Địa còn biết đường thay đổi chánh sách : Mềm nắn,
rắn buông mà người Pháp gọi là kéo dây căng nhưng không được để đứt (bóp nhẹt
nhưng tránh bạo loạn, chó cùng cắn giậu). Các báo cáo này được cất kỹ trong Thư
Viện Thuộc địa, phải có quốc tịch Pháp mới được vào tra cứu.
Đây là vài dòng báo cáo định kỷ của ông PHILASTRE, giám đốc hình sự
Nam Kỳ vào năm 1879. Nguyên văn của bản văn tiếng Pháp như sau:
"L'Annam n'a aucun besoin de nos
bon office, et c'est un crime de lèse-humanité que de vouloir étouffer une
civilisation si unique et si vénérable"
Bản văn này hiện đang lưu trữ trong thư viện Quốc Gia ở
Aix-en-Provence (gần Marseille)
Dịch thoát ý như sau :
·
Người
Việt không cần sự khai phóng của chúng ta.
·
Thật
là một tội đồ lớn lao đối với nhân loại khi chúng ta chủ trương bóp nghẹt nền
văn hóa đặc thù và đáng kính của họ.
Nó đặc
thù và đáng kính ở chỗ nào thì công việc của nhóm sỹ phu, thành phần lãnh đạo
tư duy là phải đi tìm cho ra để phục hồi hào khí dân tộc.
THẾ HỆ VIỆT NÔ (1945 đến nay 2021)
Thiết
tưởng phải định nghĩa cho rõ : Người Việt,
người Bách Việt khác với Việt Nô ; Việt Gian và Việt Mất Gốc như
thế nào:
Bên
nước Văn Lang tổ chức hành chánh khác với bên Tàu, khác với nước CHÀM và nước
Chân Lạc ra sao thì xin khất trong dịp khác, nay chỉ chú trọng đến các ngôn từ
Việt để biết ai là bạn và ai là thù.
1.
Bên
Ta có tên nước, tên chủng tộc và tênTriều Đại riêng biệt vì ta theo quan niệm
DÂN TỘC có trước, đất nước có sau :
DÂN VI QUÝ nên dân ta có Văn Hóa truyền Thống
là văn hóa Lạc Hồng, khí phách Rồng Tiên.
Lạc Hồng và Rồng Tiên được dùng để ký thác
nếp sống của dân Việt
Còn Bên Tàu theo chế độ BẠO CHÚA là ĐẤT NƯỚC
CÓ TRƯỚC, CƯ DÂN CÓ SAU theo quan niệm « ĐẤT CỦA CHÚA, LÚA CỦA TRỜI »
nên họ chỉ có tên nước mà thôi, họ theo văn hóa đoản kỳ của Bạo Chúc
2.
Vào
năm 2.879BC, nước Ngô thành lập Binh
Đội để đi xâm lăng nước SỞ và nước VIỆT. Đây là 3 nước đâu tiên trên thế giới,
chiếm vùng Trung của đất ĐÔNG Á (Viễn Đông) nên gọi là vùng ĐẤT TRUNG HOA =
TRUNG Á TẾ Á là vùnbg đất văn minh đầu tiên của loài người, khác với nghĩa
Trung Hoa của mụ Lã Hậu (183BC), của TÔN DẬT TIÊN (1911) và của MAO TRẠCH ĐÔNG
(1949)
3.
Dân
VIỆT là một Liên Bang VIỆT, gồm 15 tiểu bang gọi là Bộ Lạc sinh
sống ở phía nam sông TÂY GIANG đế đèi Hải Vân ngày nay. Phía Tây đến tận sôngCửu
Long. Tên nước là VĂN LANG , tên Triều Đình là HÙNG VƯƠNG lo việc biến Liên
Bang thành chủng tộc, các ông Lãnh Vương có tên riêng của họ. Bên Cạnh Lãnh
Vương 2 bên VĂN và VÕ. Quan Văn gọi là LẠC HẦU, quan võ là LẠC TƯỚNG – Theo thể
chế DÂN CHỦ PHÂN QIUYỀN bằng lá phiếu nên mới có câu PHÉP VUA CÒN THUA LỆ
LÀNG
4.
Nước
Ngô chiếm vùng đất từ phía nam sông DƯƠNG TỬ đến phía bắc sông Tây Giang. Nói
cho dễ nhớ , chứ trong thực tế dân Ngô sinh sống ở 2 bờ sông Dương Tử và dân Việt
cũng sinh sống ở 2 bờ sông Tây Giang. Khi bị xâm lăng thì mất đất phía bắc (tả ngạn) vì thiếu hậu cần .
5.
Khoảng
600BC Lãnh vương Câu Tiễn vùng Lạc Việt (Quảng Đông ngày nay) giết vua nước NGÔ
là PHÙ SAI, sát nhập nước NGÔ vào nước VĂN LANG và đổi ten là nuớc BÁCH VIỆT và
dân BÁCH VIỆT cho phù hợp với chữ ĐỒNG BÀO trong chuyện Rồng Tiên ký thác quy
luật đấu tranh Cách Mạng và đấu tranh Chánh Trị để truyền cho hậu thế.
6. Vào năm 207, triệu Đà người Bách Việt gốc
Ngô ở Chiết Giang dứt ThụcPhán để thống nhất đất nước dưới danh xưng : Nước
Nam Việt, chủng tộcBách Việt, triz-éu Đại nhà TRIỆU mà bên Tàukhông có cách
chia như vậy. Đó là sự khác biệt giữa Bách Việt và TÀU
Từ đây mới thấy sự khác biệt giữa các danh xưng mà chúng ta phải định
nghĩa cho rõ theo quan niệm sống :
·
VIỆT :
Người
Việt là người có tinh thần TỰ TRỌNG
và CẦU TIẾN : cố gắng VƯỢT mọi
khó khăn để thăng tiến bằng người
·
BÁCH
VIỆT :
Nước
Bách Việt là sự hội nhập nước Ngô với nước Văn Lang vào khoảng 600BC, biên giới
lên đến con sông Dương Tử
Người
Việt là người sống theo : VIỆT GIÁO, VIỆT ĐẠO và VIỆT TRIẾT để tạo
VIỆT LỰC bảo vệ TỰ CHỦ, được ghi
trên mặt trống đồng Đông Sơn, 14 tia :
Cách xây dựng nước Văn Lang theo tinh thần Đồng Bào với bộ BINH, bộ KINH TẾ và bộ VĂN HOÁ.
Việt
Giáo :
Việt giáo là giáo lý học
làm người Việt tốt có tinh thần Tự Trọng
(Văn Lang), Cầu Tiến (Việt) từ đây mới
đẻ ra tinh thần Tự Lực Tự Cường, và Phục thiện.
Việt
Đạo : Việt Đạo là con đuờng đi của toàn thế con dân đất Việt để kết hợp
thành bõ đũa với tinh thần ĐỒNG BÀO,
tức kết hợp vứa nhau bằng TÂM, cư xử với nhau bằng ĐÚC, BÌNH ĐẲNG tột cùng,
THÂN THƯƠNG tột dộ.
Việt
Triết :
Việt Triết là cách sồng và cách suy nghĩa cao thượng của khí phách
Rồng Tiên, nay ta gọi là NỀN VĂN HÓA LẠC HỒNG ; được tóm lược như sau : Cương Quyết tiêu
diệt kẻ thù, không nhân nhượng, nhưng không truy kích hay trả thù trong lúc đấu tranh ( Uy Dũng và
Công Minh của Rồng).
Ngược lại phải Độ Lượng và Bao Dong với kẻ thù sau khi chiến thắng điển hình là
Giỗ Trận Đống Đa để làm lễ cầu siêu cho giặc thù đễ chết (Nhân Ái và Hiền Hòa của
Tiên)
Ø
Viêt
Giáo + Việt Đạo + Việt Triết = VIỆT LỰC: sức mạnh của bõ đũa
VIỆT
NÔ:
Nguyên lý căn bản : Ai cũng biết là Ý
CHÍ phát sinh ra hành động ; như TƯ TƯỞNG lãnh đạo hành động nên nô lệ tư
tuởng là nô lệ từ trong TÂM nô lệ ra, nô lệ từ đời cha truyền tới đời con và nó
trở thành di căn DỊCH CHỦ TÁI NÔ,
cái nguy hiểm là ở chỗ DI CĂN
mà chúng ta phải tìm cách hóa gỉải.
NÔ có
nghĩa là nô lệ Tư Tưởng Ngoại Bang, chối bỏ tư tưởng BÁCH VIỆT ; đem học
thuyết MÁC LÊ MAO về để tiêu diệt Việt Giáo, Việt Đạo và Việt Triết và tinh thần
ĐỒNG BÀO. Việt Nô Cộng Sản là
bọn người quyết âm tiêu diệt sức sống của dân Việt bằng các thủ đoạn sau đây:
·
Phong Trào Giai Cấp Đấu Tranh (tức người Việt giết người Việt).
·
Hủy diệt nhân tài nước Việt bằng hành động TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO đào tận
gốc trốc tận rễ như vậy tụt hậu về mọi mặt là hậu quả tất nhiên phải có.
·
Cưỡng bách dân Việt phải hy sinh quyền lợi của mình để LÀM NGHĨA VỤ
QUỐC TẾ, xây dựng Thế Giới Đại Đồng do Tàu Cộng lãnh đạo với chủ nghĩa TAM VÔ
(vô gia đình, vô tồ quốc và vô t-n giáo), tức tự mình xoá bỏ bản đồ nước Việt
trên thế giới, và xóa bỏ luôn dân Việt trong cng đồng nhân loại.
Đây là đặc tính của đảng Việt Cộng nên ta gọi đảng viên Việt Cộng
là VIỆT NÔ Cộng Sản cho được chánh xác. Danh Từ Cộng Nô không rõ nghĩa
VIỆT
GIAN :
Việt Gian là người vì quyền lợi cá nhân đem bán linh hồn cho giặc,
chúng chỉ là những ngưòi thừa hành chứ không thuộc giai cấp ĐIỀU HÀNH như bọn
VIỆT NÔ.
VIỆT MẤT GỐC :
Người Việt Mất Gốc là nguời chối bỏ nếp sống Việt mà ta gọi là Văn Hóa. Tức người mất Tâm Việt và Hồn Việt và họ sinh sống một cách vô tư với vận mạnh đất nước và dân tộc.
VIỆT
LAI :
Người Việt lai là người Việt vẫn giữ gốc gác của mình, nhưng vì lý
do chánh trị hay kinh tế nên phải sống lưu vong nơi quê người, nhập gia tùy tục .
Do đó họ có nếp sống lai căng, nhưng cũng có công đóng óp những nét tinh hoa của
nền văn hóa Việt cho xã hộitiếp cư để có cuộc sống hài hòa.
TRI TÂN : ĐỀ TÀI THẢO
LUẬN
Thế hệ ngày hôm nay phải làm gì để cứu với tâm linh con chó bằn nền Giáo Dục Bản
Sắc Dân Tộc là khai phónng và nhân bản ?
Hiện nay nền giáo dục trẻ thơ đang nằm trong tay bọn VIỆT NÔ từ
năm 1945 với chánh sách nhồi sọ, bưng bít sự thật, dạy con trẻ những điều xấu
xa mà các nền giáo dục chân chíng đề khước từ.
Làm sao chúng ta có thể thay thế bằng nền GIÁO DỤC VĂN HÓA THUẦN
VIỆT với phương tiện Giáo Dục Đại Chúng và Giáo Dục Gia Đình ? Không lý
khoanh tay đứng nhìn bọn VIỆT NÔ đầu độc tư tưởng trẻ thơ sao ?
Ø ĐÂY LÀ ĐỀ TÀI HỆ TRỌNG để cứu nguy dân tộc
Nền Giáo Dục của VIỆT NÔ đã dạy trẻ thơ rằng :
-
Thương cha thương mẹ thương chồng. Thương mình thương một thương
ông (STALINE) thương mười.
-
Thương biết mấy khi con học nói, tiếng đầu lòng con gọi STALINE
-
Bên đây là nhà, bên kia biên giới cũng là quê hương (của bọn Cộng
Nô).
Nên dân chúng mới kháo nhau là : « Cứt Tàu không thốỉ »
hay «trăng bên Tàu tròn hơn trăng bên Mỹ»…….
Chúng ta nên kiểm chứng lại nền giáo dục vong nô để còn biếtt rằng
phận sự hàng đầu của Giáo Dục là : Huấn
luyện nhân tài giúp dân cứu nước, đặng còn biết đường phát huy nền Giáo Dục Nhân Văn Việt Tộc với quyết tâm chấn hưng dân khí.
-----------------------------------------







0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil