T51-RồngTiên cho Tiểu Học
T51(a) : RồngTiên
cho Tiểu Học
Facebook Văn Hóa Thuần Việt (07/10/2021)
soạn giả : Hoàng Đức Phương
CHUYỆN RỒNG TIÊN (dạy ở bậc Tiểu Học)
MỤC
ĐÍCH của bài Giáo Khoa này là : Dạy các em học thuộc lòng về nguồn gốc của
nòi Việt để các em hãnh diện về nguồn gốc lung linh và huyền ảo của tổ tiên.
Nhấn
mạnh về bổn phận của các em khi lớn khôn là phải bảo vệ bản sắc của dân tộc là
SỐNG CHO MÌNH VÀ SỐNG CHO NGƯỜI với tình nghĩa ĐỒNG BÀO để kết hợp thành bó đũa
thì mới tạo được cuộc sống hài hòa với tinh thần TỰ TRỌNG và CẦU TIẾN là 2 đức
tính căn bản của nòi Việt .
Thêm
vào bản văn nguyên thủy là những bài văn vần vinh danh nòi Việt do các vị khác
bổ xung để các em dễ nhớ. Vỉ ở cái tuỏi thiếu nhi chưa có đủ trí khôn để phân
tích vấn đề nên chỉ giảng về bản văn nguyên thủy để dạy các em học thành người
Việt tốt (NHÂN VĂN VIỆT TỘC)
ö
Tiêu Đề : NGUỒN GỐC
DÂN VIỆT (theo chuyện RỒNG TIÊN KHAI QUỐC)
Tục
truyền rằng :
Ông Đế Minh đi tuần thú phươngNAM,đến dãy núi NGŨ LINH gặp bà TIÊN
lấy làm vợ, đẻ ra LỘC TỤC.
·
Phong cho LỘC TỤC làm vua ở phương Nam, lấy dãy núi NGŨ LĨNH làm lằn
ranh, và cho ĐẾ NGHI là con của vợ trước làm vua ở phương Bắc
·
LỘC TỤC lên ngôi vua lấy niên hiệu là KINH DƯƠNG VƯƠNG, lấy LONG NỮ
ở HỒ ĐỘNG ĐÌNH sinh ra SÙNG LÃM
·
SÙNG LÃM nối ngôi cha , lấy niên hiệu là LẠC LONG QUÂN.
·
LẠC LONG QUÂN lấy ÂU CƠ là dòng dõi Tiên, đẻ ra một bọc 100 trứng,
nở ra 100 con, tạo thành 100 giống Việt mà ta gọi là BÁCH VIỆT với 100 đặc tính
khác nhau nhưng thương yêu và đùm bọc nhau như một bó đũa, vì cùng một lò Lạc
Long và Âu Cơ mà ra.
·
Chọn màu VÀNG của lụa
tơ tầm làm sắc thái dân VIỆT, tức bản sắc của dân ta. . Quốc kỳ mang NỀN VÀNG của
lụa tơ tầm mang ý nghĩa là Nước Việt của toàn dân VIỆT ; người dân làm chú
đất nước cứ không phải nhà Vua làmchủ đất nước. Do đó mới có câu Lệnh Vua còn
thua Lệ Làng.
·
Gọi nhau bằng ĐỒNG BÀO.
Khi lớn lên thì chia nhau đi bảo vệ biên cương không cho giặc TÀU
đánh chiếm đất đai của mình.
1) 50
con theo mẹ lên dãy núi Ngu’ Lĩnh bảo vệ biên cương phía Bắc.
2) 50
con theo cha ra biển để trấn giữ vùng duyên hải ở phía Đông không cho giặc Tàu
từ biển vô.
3) Trước
khi chia tay thì cha LẠC LONG có căn dặn các con một cách kỹ càng là : CHỪNG
NÀO GIẶC THÙ ĐẾN CƯỚP PHÁ CHỐNG ĐỠ KHÔNG NỔI THÌ GỌI BỐ ƠI VỀ CỨU CHÚNG
CON
---------------------------------
GIẢI
THÍCH :
Ở 2 năm chót của bậc tiều học (11, 12 tuổi) thì giải thích cho các
em có ý niệm về ý nghĩa của các nhân vật và địa danh chia ra gia tài Anh (Đế
Nghi) phía bắc, Em (Lộc Tục) phía nam. NGHI là ngôi chính. Lộc là mầm non sinh
ra nhân loại
·
Đế Minh là thượng đế sáng tạo ra trái đất, ông phân chia gia tài
làm hai phần BẮC và NAM cho 2 người con trai là Đế Nghi và Lộc Tục
·
Đặc tính của RỒNG là : UY DŨNG và CÔNG MINH
·
Đặc tính của TIÊN là ; Hiền Hậu và Nhân Ái
·
Dãy núi NGŨ LĨNH nằm trong dãy núi TẦN LĨNH ở phía Nam sông DƯƠNG
TỬ
·
Địa danh của HỒ ĐỘNG ĐÌNH nằm ở vùng đất BÁCH VIỆT là nơi đẻ ra một
bọc 100 trứng, nay là vùng HỒ NAM thuộc giặc TÀU đã cướp đất của dân BÁCH VIỆT
là tổ tiên của chúng ta. Sau này các em tinh khôn vả tài giởi hơn cha ông sẽ
đòi lại
Bản
đồ hồi cư sau trận đại hồng thủy (8.000BC – 3.400BC)
A/- Cương
vực con cháu Đế Nghi ở giữa sông
Hoàng Hà và Trường giang – vào năm 1.046BC bị tuyệt tự do bọn dân du-mục từ
IRAN đến đánh chiếm.
B/-
Con cháu Lộc Tục chiếm phía
nam sông Dương Tử tới đềo Hải Vân. Đánh nhau chia làm 3 nước NGÔ, SỞ và ViệtT51(b)- YẾU TỐ CẦN CÓ ĐỂ PHỤC VIỆT
T51(b)
PHỤC VIỆT
Facebook
Văn Hóa Thuần Việt (07.10.2021)
soạn
giả Hoàng Đức Phơng
YẾU
TỐ KẾT HỢP
xóa bỏ xung khắc sắc tộc và hận thù phe
nhóm
Nguyên nhân của xung khắc sắc tộc và hận thù phe nhóm là chính sách
chia để trị của bọn con buôn chánh trị tạo ra. Đây là những yếu tố tiêu diệt tiềm
năng dân tộc mà bất cứ chế độ vì dân, vì nước đều phải tìm cách xóa bỏ càng
nhanh càng tốt. Trước khi thi hành phải có sự đồng thuận của người dân mà ta gọi
là sự phụ hoạ.
Chánh quyền chỉ là người đề xướng, cần phải giải thích cho người
phụ họa là toàn dân đồng thuận thì khi thi hành mới có kết quả tốt; vì thế vai
trò của sỹ trong việc cổ xúy cho lợi ích quốc gia và dân tộc là rất quan trọng.
Trong
thể chế Dân Chủ Ỷ Lại mà chúng ta đang ca tụng
Tam Quyền Phân Lập, thì mọi chương trình đều do chánh quyền đưa ra.
Đây là thể chế Phổ Thông Đầu Phiếu, các ứng cử viên đưa ra chương
trình Đoản Kỳ thi hành trong 1 nhiệm kỳ để toàn dân lựa chọn mà ta gọi là Đa Đảng
Đa Nguyên, Tam Quyền Phân Lập. Thể chế này cần sự hiểu biết giới hạn của người
dân, giới sỹ phu không có chỗ đứng, nghĩa là nếu có chương trình thì phải ra ứng
cử chứ không thể giữ vai trò cố vấn dân chúng được.
Ø Đây
là nhược điểm cần phải điều chỉnh.
Trong
chế độ Dân Chủ Phân Quyền, lệnh vua còn thua lệ làng
thì phân chia công tác, ai lo đâu thì tự mình sáng tạo ra chương trình của
mình. Chế độ này rất tốt nhưng nó cản trở sự phát triển theo văn minh khoa học
vì thiếu sự phân công nên không có chuyên ngành mà ta gọi là chuyên môn nghề
nghiệp ; giống như đã là Bác Sỹ thì phải chữa bách bệnh chứ không chia
ngành như ngày hôm nay.
Ø Đây
là phản ảnh của chế độ « Dân Chủ Đích Thực » một cách khái quát.
Chế
độ Dân Chủ Chế Tài là sự phối hợp giới hạn của Dân Chủ Ỷ Lại
và Dân Chủ Phân Quyền. Nguời dân đưa ra chương trình dài hạn để Quốc Hội phê
chuẩn rồi phổ thông đầu phiếu (hay có phiếu lớn là tùy ở trình độ cao thấp của
người dân và cũng tùy thời, tùy lúc) để chọn ứng viên. Các ứng viên phải đưa ra
chưong trình ngắn hạn đúng với nhiệm kỳ để thi hành.
Trong thời gian nhiệm kỳ thì người dân có quyền bãi nhiệm nến ứng
viên đi trái với những gì đã cam kết thi hành chương trình dài hạn.
Vì người dân không đủ khả năng đưa ra chương trình và thẩm định công
việc làm của chánh phủ nên cần có sự cố vấn của khối sỹ phu là người không tham
chính nhưng có khả năng thẩm định công việc làm của triều đình (tương đương với
Hội Đồng Kỳ Mục dưới thới Hùng Vương –dân chủ phân quyền).
Nói cho dễ nhớ là : Giới Sỹ Phu là người
đề xướng, toàn dân là người phụ họa, chánh phủ là người thi công.
Ø Chế
độ dân chủ chế tài cần sự hiểu biết đồng đều của toàn dân và ở trình độ cao.
Ø Vì
thế nên cần phát huy chương trình Nhân Văn Việt Tộc tới hang cùng ngõ cụt, từ
thành thị đến thôn quê, từ miền xuôi lên miền ngược, từ nơi đô hội đến nơi hiu
quạnh ; không được bỏ sót bất cứ thành phần nào trong đất nước. Vì môi trường
sinh sống phát sinh ra nhân tài. Con người không học sẽ ngu đi, dù cho có trí
thông minh phi thường cũng ngu luôn khi người đó sống với khỉ Trường Sơn. Gần mực
thì đen (u tối), gần đèn thì sáng (thông minh, sáng dạ).
Điểm lại lịch sử xem người xưa giải quyết vấn đề xung khắc sắc tộc
và hận thù phe nhóm ra sao để rút kinh nghiệm.
A. Thời Văn Lang :
Nhiệm
vụ của 18 triều đại (đời) vua Hùng là làm sao để thuần nhất nếp sống tâm linh của
15 tiểu bang, lúc đó gọi là Bộ Lạc=vùng an lạc có Lạc Vương, Lạc Hầu là quan
văn và Lạc Tướng là quan võ .
Người
Pháp chơi sỏ, gọi Bộ Lạc là Tribu ; trong khi đó dân mình gọi Tribu là Tù,
Chef de tribut là Tù Trưởng.
Nhân
số của một Tribu tương đương với số dân đinh trong một làng hay một xã (xã đông
dân cư hơn làng ; trung bình một làng có một ngàn người trong cùng một đại
tộc).
·
Tiêu chuẩn đặt ra lúc ban đầu đã đạt được sau 2.622 năm cố gắng hoàn
thành nhiệm vụ là :
-
Biến Liên Bang Việt thành chủng tộc Việt với tinh thần Tự Trọng
(Văn Lang) và Cầu Tiến (Việt).
Thời
đó người ta dùng tiếng Việt 100% chứ không dùng tiếng Tàu nên chữ đời chỉ Triều
Đại (tiếng Tàu) như đời nhà Lý, đời nhà Trần….chứ không phải đời 1 ông vua như
cuốn sử Trần Trọng Kim nói. Bạch hóa thông điệp người xưa qua hoa văn 14 tia
trên mặt trống đồng ĐÔNG SƠN : Bảo vệ cách sống của dân VĂN LANG với 3 bộ
là BINH, KINH TẾ và VĂN HÓA bằng quy luật đấu tranh tự vệ, để đòi lại những gì
mình mất :
« CƯƠNG
QUYẾT TIÊU DIỆT KẺ THÙ KHÔNG NHÂN NHƯỢNG, nhưng không được truy kích là trả thù
trong lúc đấu tranh : Uy dũng và công minh của RỒNG.
Nhưng
phải ĐỘ LƯỢNG VÀ BAO DONG VỚI KẺ THÙ sau
khi chiến thắng : Hiền Từ và Nhân Ái của Tiên) - Trường hợp Câu Tiễn giết Ngô Phù Sai, Nhà Trần đối với bại binh Mông Cổ
và bọn Việt Gian, Lê Lợi đố với
Vương Thông. Hoàng Đế QUANG TRUNG đối với công thần nhà Lê và Chúa trịnh cùng với
sự phóng thích tù binh nhà THANH…… Tồng Thống Ngô Đình Diệm với chánh sách CHIÊU
HỒI là những bài hp(c quý giá để ổn đinh lòng dân và phát triể đất nước
-
BÁCH
VIỆT :
Danh từ Bách Việt cùng học thuyêt Rồng Tiên xuất phát trong thòi kỳ
DỰNG NƯỚC VĂN LANG.
Rằng : Khoảng
600BC, Lãnh Vương vùng Lạc Việt tên là CÂU TIỄN, giết vua NGÔ là PHÙ SAI rồi
sát nhập nước Ngô vào nước Văn Lang và gọi tên lãnh thổ Ngô + Việt là nước BÁCH
VIỆT, dân Ngô và dân Việt gọi chung là dân Bách Việt (100 giống Việt chứ không phải 100 nước Việt) theo chế độ DÂN CHỦ
PHÂN QUYỀN (phép vua còn thua lệ làng) bằng cách : Bình Đẳng Săc Tộc và Hội
Nhập Văn Hóa. Sai Phạm Lãi và Văn Chủng soạn bản văn lịch sử này dưới dạng Huyền
Thoại để lưu truyền khí phách Rồng Tiên và Văn Hóa Lạc Hồng cho hậu thế noi
theo khi nguy khốn để phục hồi vị thế của dân Bách Việt với tinh thần độc đáo
là : ĐỒNG BÀO, tức VIỆT ĐẠO đó
-
NAM
VIỆT (207BC) :
Triệu Đà là người Bách Việt gốc NGÔ, sinh đẻ ở vùng Chiết Giang
vào năm 258BC, dứt Thục Phán để thống nhất đất nước với Quốc Hiệu là : NAM
VIỆT tức phí nam sông Dương Tử là đất của dân Bách Việt. Theo ch‰ độ Quân Chủ Đại
Nghị, dân vùng nào thì quan vùng đó chứ không phải Triều Đình bổ nhiệm như ngày
hôm nay – Vua theo ý kiến Triều Thần và không có quyền Độc Đoán, trên bảo dưới
nghe như kỷ luật nhà binh
-
VIỆT
ĐẠO dưới thời Hùng Vương :
Thống nhất lòng người bằng chế độ bình đẳng mà nay ta gọi là « Dân Chủ Phân Quyền »
còn sót lại câu «Lệnh Vua còn thua
Lệ Làng» hay chữ XÃ HỘI là các xã hợp lại thành Bộ Lạc, 15 Bộ Lạc hợp lại
thành nước Văn Lang. Vì thế nên không có ông Làng Trưởng mà lại có ông Lý Trưởng
đã nói rõ ràng cách thành lập Quốc Gia như thế nào rồi.
Nên nhớ là trước khi xây dựng nước Văn Lang để tự vệ chống quân
NGÔ thì dân nông nghiệp ở rải rác quanh đồng ruộng nên tập trong vào một khu
dân cư mỗi chiều là một Lý (tức mile như Hải Lý mà ta vẫn dùng) có hàng rào bảo
vệ an ninh.
Ø Đây
cũng là kho thực phẩm phải bảo vệ để chống cướp.
Người chết thì đem chôn ngoài đồng nên có ngày giỗ, đó là nếp sống
của dân nông nghiệp.
Khi có nhu cầu thành lâp nước Văn Lang thì các chung cư đều mang một
danh xưng cho thống nhất nên chữ Lý, chữ Bản, chữ Buôn, chữa Sóc … chỉ còn
trong ký ức.
Tuy thống nhất danh xưng đơn vị căn bản là Làng nhưng vì là Dân Chủ
Phân Quyền nên không ai đụng đến tổ chức hành chánh của chung cư cả ; vì
thế không có ông Làng Trưởng mà có ông Lý Trưởng, ông Quan Lang, ông Trưởng
Sóc, ông Trưởng Ấp ….
Về nhân số thì khu Làng tương đương với TRIBU của Tây
Phương ; còn về quản trị thì khác hẳn Tribu.
Nguyên thủy chữ Ấp là nơi hoang dã nên Ấp tương đương với Làng
nhưng dân đinh chỉ bằng 1 xóm, diện tích thì lớn hơn Làng ; nhưng đất canh
tác chẳng có bao nhiêu, họ sống về chăn nuôi nhiều hơn là canh tác vì đó là đất
đồi.
B. Thời Lãnh Vương Câu Tiễn :
Sát nhập nước Ngô vào nước Văn Lang (#600BC) thì theo chế độ Hội
Nhập Văn Hóa trong một Liên Bang 18 Bộ Lạc. Thêm 3 bộ lạc mới là :
-
Vùng Ngô Việt, tức
người Việt gốc Ngô ở Chiết Giang ; sinh quán của Triệu Đà sinh năm 258BC.
-
Vùng Mân Việt, tức
người Việt ở sông Mân, vùng Thiều Châu mà thủ phủ là Phúc Kiến.
-
Vùng Bách Việt
là nơi sinh ra bọc trứng 100 con cùng cha cùng mẹ, sinh nở cùng một lúc nói lên
tình gia đình và nghĩa Đồng Bào của 18 vùng an lạc. Đây là lúc sinh ra danh từ
Bách Việt (100 giống Việt cùng chung sống trong một nước, chứ không phải 100 nước
Việt như người ta nghĩ đâu), câu Bàu (dân
Ngô) ơi thương lấy Bí (dân Văn Lang)
cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Hãy coi gương con cháu Đế Nghi (phía bắc sông Dương Tử) đã bị nhà Chu tiêu diệt vào năm 1.046BC, để
cùng nhau lo bảo vệ mảnh đất Bách Việt mà sống; nếu còn giữ hận thù thì sẽ tiêu
vong cả 2 giống Ngô và Việt (đó là ý
nghĩa của chữ Đồng Bào).
Lãnh thổ của dân Bách Việt là lãnh thổ nước Nam Việt dưới thời Triệu
Đà, từ dãy núi Ngũ Lĩnh ở hữu ngạn sông Dương Tử tới đèo Hải Vân ngày hôm nay,
phía Tây đến tận sông Hoài (nơi Hạng Võ
tự tử) và tả ngạn sông Cửu Long.
Học thuyết Rồng Tiên và hoa văn trên mặt Trống Đồng 14 tia đã nói
rõ phương cách xây dựng xã hội đa chủng gồm sắc dân Ngô và 15 sắc tộc Việt với
16 nền văn hóa khác nhau được tóm lược như sau :
Muốn có tự chủ thì phải có Việt
Lực. Việt Lực là sức mạnh đoàn kết toàn dân như bài học về sức mạnh của một
chiếc đũa với sức mạnh của một bó đũa.
Muốn có Việt Lực thì phải vun trồng Việt Giáo, Việt Đạo và Việt
Triết (lời cha Lạc Long…gọi Bố ơi !
về cứu chúng con)
·
Việt
Giáo, tức Giáo Lý học làm người Việt, dùng để xây dựng nhân cách con
người Việt với tinh thần Tự Trọng (ý
nghĩa của chữ Văn Lang) và Cầu Tiến (ý
nghĩa của danh từ Việt)
·
Việt
Đạo, tức đường đi của toàn dân Việt dùng để xây dựng cộng đồng, bảo vệ
quốc gia.
Nay
ta gọi là Canh Tân Con Người và Canh Tân đất nước sao cho bằng người.
Học
thuyết thời đó được gói ghém trong danh từ Đồng Bào với ngụ ý là : Kết hợp
với nhau bằng Tâm, cư xử với nhau bằng Đức; bình đẳng tột cùng và thân thương tột
độ.
·
Việt
Triết tức triết lý sống của dân Việt: Sống cho mình và sống cho người
được biểu thị trong hình ảnh đấu tranh tự vệ bằng cách chia binh đồng đều ra
biên giới (phía Bắc là dảy núi Ngũ Lĩnh
và phía Đông là biển cả bao la) để thủ với chiến thuật Tự Vệ: Toàn Dân Kháng
Chiến, Toàn Diện Đấu Tranh trong thế liên hòa tiếp ứng.
Thế
liên hoàn : 50 binh đội theo mẹ lên núi để chặn đứng âm mưu chiếm đất của giặc
Tàu (nhà Chu), 50 binh đội theo cha ra biển Đông để phòng ngừa giặc nhà Chu đổ
bộ đánh cạnh sườn.
Thế
tiếp ứng : Là câu căn dặn của cha Lạc Long : « Chừng nào giặc thù đến
cướp phá, chống đỡ không nổi thì gọi Bố ơi ! về cứu chúng con ».
Hình ảnh chia quân đi phòng vệ biên cương được diễn nôm như
sau :
1)
Trong khi đấu tranh tự vệ để đòi lại những
gì đã mất thì : Cương quyết tiêu diệt kẻ thù không nhân nhượng ;
nhưng không đưọc truy kích hay trả thù trong khi đấu tranh (uy dũng và công minh của RỒNG) .
2)
Sau khi chiến thắng thì : Độ lượng
và khoang dung với kẻ thù sau khi chiến thắng (hiền từ và nhân đức của TIÊN)… .
Nên nhớ là sau khi chiến thắng chứ không phải lúc đang đi đòi cái
gì mình bị giặc chiếm đoạt, nếu hiểu lộn thì biến nhân từ thành đầu hàng giặc.
Đó là triết lý sống của Rồng và của Tiên do cha mẹ dạy bảo từ bé
cho đến lúc trưởng thành tự sống lấy một mình được.
C. Thời Triệu Đà,
người Việt gốc Ngô dứt Thục Phán để thống nhất đất nước cũng theo triết lý :
Hội nhập Văn Hóa, Bình Đẳng sắc tộc bằng chế độ Quân Chủ Đại Nghị ;
dân vùng nào thì quan lại người vùng đó chăm lo dạy dân thành người hữu dụng
cho đời : Biết sống cho mình và sống cho người như câu chúc đám cưới là Rồng
Tiên Song Hiệp ; có nghĩ là Trai Gái phối hợp với nhau cho trọn vẹn để sống
cho mình và sống cho cộng đồng. Còn dân Tàu vì sống trong chế độ Bạo Chúa, cấm
làm chánh trị để lo cho đất nước nên họ chỉ có vui thú xác thịt nên chúc nhau
Long Phụng Giao Duyên (chuyện đời không
ngó tới).
D. Thời nhà Lý :
Nghiền ngẫm giáo lý đạo Phật để vun trồng Việt
Lực mà thời đó gọi là TU XUẤT THẾ, giúp nước cứu đời. Thời nhà Hậu Lê
đã thay đổi cách tu thành Xuất Thế, tức tu ích kỷ chỉ lo cho mình sớm siêu
thoát thành Phật, còn chuyen đời thì mũ ni che tai. Cái này là do quan niệm sống
ở thời đó tạo ra là : Đất của Chúa, lúa của Trời.
E. Thời nhà Trần :
dưới thời nhà Trần di chuyển thuận tiện hơn nên mỗi làng bắt buộc phải có 1 cái
đình là nơi sinh hoạt công cộng của dân trong làng, và cũng là nơi để quan lại
đến làm việc với dân để cùng nhau lo việc nước có chỗ tá túc ; không gây tốn
phí hay phiền hà đến sinh hoạt của dân làng.
Vì di chuyễn dễ dàng hơn nhà Lý nên nhà TRẦN mới vun trồng Việt Lực
bằng Tam Giáo Đồng Nguyên. Có nghĩa là 3 đạo, Lão, Phật và Khổng đều có triết
lý về đời sống có giá trị cao như nhau cần phải thông hiểu để vun trồng Việt Lực.
Nguyên có
nghĩa là cao nhất như Nguyên Thủ Quốc Gia.Vì nền học vấn chú trọng đến mặt trận
Văn Hóa Thuần Việt cộng với thể chế Quân Chủ Đại Nghị nên mới có chuyện hỏi việc
dân như Hội Nghị Diên Hồng, vua chỉ là người đại diện như Quốc Hội ngày hôm nay
phê chuẩn các sắc lệnh của toàn dân qua ý kiến của quần thần. Do nền học thuật
đi cùng thể chế nên nhà Trần mới có rất nhiều Nhân Tài. Đó là điều người ngày
nay phải suy ngẫm mà noi theo : Châu chấu lại đòi đá xe, tưởng chừng chấu
chết chẳng de xe nghiêng ; để đừng ươn hèn như thế Việt Cộng Hèn với Giặc
nhưng ác với dân.
F. Thời vua Lê Thánh Tôn
(1471) hội nhập nước Chàm vào nước Đại Việt bằng Bình Đẳng sắc Tộc và Hội Nhập
Văn Hóa nên mới chấm dứt vĩnh viễn chiến tranh Chàm và Việt cứ trung bình 25
năm xúc sức tích nhuệ thì vua CHÀM lại kéo quân Bắc Tiến tàn phá nước Đại Việt,
thu chiến lợi phẩm, bắt nô lệ rồi lại kéo về. Đây là cuộc chiến Tư Thù của vua
Chàm chứ không phải là cuộc chiến xâm lăng lấn đất giành dân. Đây là bài học về
cách xóa bỏ xung khắc sắc tộc mà ta nên nghiền ngẫm.
G. Thời Quang Trung lập
Sùng Chính Viện theo đề nghị của ẩn sỹ La Sơn Phu Tử.
Đây là chương trình Phục Việt, tức là phục hồi vị trí Việt tộc
trong cộng đồng nhân loại sau 200 năm huynh đệ tương tàn cho quyền lợi của 2
dòng họ Trịnh/Nguyễn một cách u mê.
Sùng Chính Viện là viện phục hồi mặt trận văn hóa thuần Việt do
ông Nguyễn Thiếp khuyên Hoàng Đế Quang Trung và chính ông được bổ nhiệm để lo
cho việc phục hồi Văn Hóa Thuần Việt cho toàn dân.
Tuy Gia Long, vì quyền lợi cá nhân đã dẹp bỏ chương trình nay vì
muốn đề cao phong trào « nôm na là
cha mách qué » để khinh rẻ tổ tông, tôn thờ ngoại chủng nhưng chương
trình này đáng để chúng ta học hỏi.
Nên nhớ Gia Long là kẻ thất học chỉ biết hận thù cá nhân và háo
sát. Mới 13 tuổi thì ông đã bị Tây Sơn truy nã gắt gao, trốn chui trốn nhủi thì
làm gì có tiền và có thì giờ để học làm người.
H. Thời Đệ Nhất Cộng Hoà (1956-1963)
với chương trình Cán Bộ Nông Thôn xây dựng Ấp Chiến Lược (bảo vệ Tự Chủ) với học
thuyết Cần Lao Nhân Vị, tức tự mình cố gắng cần cù học hỏi để thăng tiến bằng
người (tạo thế đứng trong xã hội).
Chương trình này cũng đặt nặng lên việc xây dựng Việt Lực bằng Văn
Hóa Thuần Việt có nói rỏ trong Học Thuyết Cần Lao Nhân Vị.
Quốc Sách Ấp Chiến Lược (chiến
lược bảo vệ tự chủ chứ không phài chỉ có chống Cộng không thôi) đi với học
Thuyết Cần Lao Nhân Vị thành công đã làm cho Tổng Thống KENNEDY phải ra lệnh giết
chết cả 3 anh em ông Ngô Đình Diệm ; chỉ vì nó phá tan chương trình thử vủ
khí của Nga/Mỹ trên đất Việt.
Nay chúng ta oán Mỹ, chửi Nga-Tàu ; nhưng chúng ta có nghĩ rằng
chính dân Việt đem chiến tranh thử vũ khí của 2 siêu cường NGA/MỸ để đảng Việt
Cộng hưởng lợi trên sự banh xác của dân Việt không ?
Chúng ta nên học hỏi đường lối xây dựng Việt Lực của nền Đệ Nhất Cộng
Hòa, nó nguy hiểm ra sao mà Tổng Thống Kennedy phải ra lệnh triệt hạ bằng cách
giết cả 3 anh em ông Diệm và phá hủy Quốc Sách Ấp Chiến Lược đang trên đà phát
triển.
Quay lại ngày 19/8/1945:
Phá
đám. Hớ hênh một chút trả nợ cả đòi chưa xong !
Sự thật không thể chối cãi được là :
-
Ngày 06/8/1945 nước Nhật
ăn một quả bom Nguyên Tử, thành phố Hiroshima ra tro
-
Ngày 09/8/1945 nước Nhật
ăn quả bom thứ nhì ở Nagasaky
-
Ngày 11/8/1945 Nhật
Hoàng lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng người Mỹ vô điều kiện.
-
Ngày 15/8/1945 Nhật
Hoàng đích thân lên chiếm hạm Mỹ để chính thức ký giấy đầu hàng vô điều kiện.
Sau đó Nhật Hoàng ra lệnh cho quân đội Nhật án binh bất động và
trao trả chủ quyền cho thổ dân mà quân Nhật đang quản trị, vì trong văn kiện đầu
hàng không có mục lính Nhật phải bảo vệ an ninh và trật tự nơi trú quân trước
khi trao khí giới cho quân Mỹ đến thay thế.
Đây là sơ hở của bản văn do người Mỹ soạn thảo và dân Việt lãnh đủ
hậu quả.
Vì sơ hở này nên mới có chiến tranh Đông Dưong từ năm 1945 đến
ngày 30/4/1975 mà kết quả là 4 triệu người chết vì chiến tranh thử vũ khí của Nga/Mỹ
trên đất Việt, và 10 triệu ngời tàn phế để có ngày hôm nay : Gái thì hớn hở
xuất khẩu làm đĩ dưới vỏ bọc lấy chồng ngoại quốc, trai thì tìm cách vượt biên
để làm lao nô ; đất nước bỏ hoang để Tàu Khựa đến khai thác và làm chủ.
-
Ngày 16/8/1945 quân Nhật
đã trao trả trọn vẹn nước Việt Nam cho Hoàng Đế Bảo Đại. Độc Lập và Thống Nhất
Lãnh Tổ đã có, chỉ việc dùng chánh trị để bảo vệ nó mà không xong.
-
Ngày 17/8/1945 (thứ Sáu
ngày làm việc) Hoàng Đế Bảo Đại cho công chức nghỉ việc để tập trung trước dinh
Tỉnh Trưởng (có dàn âm thanh) để nghe Hiệu Triệu Quốc Dân do chính Ngài đọc qua
làn sóng phát thanh ở Huế thì ở Hà-Nội, bọn Việt Cộng phá đám gây rối để cướp
chánh quyền, gây tang tóc cho toàn dân…
Nên nhớ là lúc đó dân đói, nghèo nên không ai có radio để nghe cả,
radio là đồ xa-xỉ vì lo ăn chưa xong thì thì giờ đâu để nghe tin tức, truyền
thông thì bế tắc. Báo chí thì 95% mù chữ cho không cũng không ai lấy.
-
Ngày 19/8/1945 (chủ nhật
ngày nghỉ) ; chỉ có ở Hà-Nội thôi bọn Việt Cộng tổ chức làm loạn, đi đập
phá các công sở để hôi của mà chúng gọi là
ngày cách mạng (thô phỉ thì đúng hơn) - giống như bên Mỹ ngày hôm nay, tổ
chức biểu tình để bọn cướp trà trộn biến thành phản loạn, giật đổ biểu tượng
dân tộc và cướp bóc ngay ban ngày
-
Ngày 25/8/1945 Việt Cộng
ép Hoàng Đế Bảo Đại thoái vị, kể từ lúc này đất nước vô chủ. Vì Hoàng Đế Bảo Đại
chỉ đọc chiếu thoái vị chứ không làm lễ trao quyền cho ai cả.
-
Ngày 02/9/1945 Việt Cộng
tổ chức lễ TUYÊN THỆ trước bàn thờ Tổ Quốc (đúng ra phải gọi là Hồn Thiêng Sông Núi, Anh Hùng Liệt Nữ đồng lai chứng
giám lời thề độc địa của Hồ Chí Minh) với ý định mời vua Bảo Đại trao ấn kiếm
và trao quyền cho hắn, sau đó hắn mới thề thốt lung tung….
Không ngờ Cựu Hoàng khước từ với lý do là : Các ông đã bắt
tôi thoái vị từ ngày 25/8, nay tôi có còn quyền gì nữa đâu mà trao cho các ông.
Vì hụt hẫng nên mới nói là Tuyên Ngôn Độc Lập, mà lúc đó Hồ chí Minh là một tên
vô danh làm gì có quyền đọc tuyên ngôn đôc lập mà Triều Đình Huế đã đọc vào
ngày 11/3/1945 trước đó rồi.
Hơn nữa trong buổi lễ này vắng bóng Cựu Hoàng Bảo Đại nên chúng ta
có thể nói rằng buổi lễ bịp này là một trò hề trình diện Chánh Phủ không ai
bàu, tự biên tự diễn và tự ý thay đổi quốc hiệu từ nước Việt Nam sang nước Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hòa… Đây là một bằng chứng thoán nghịch.
Nếu lúc đó dân ta tinh khôn thì làm gì có ngày 02/9/1945 và cũng
chẳng có cuộc chiến 1945-1975 để Nga/Mỹ thử vũ khí trên xương máu dân Việt và
phá hủy tài nguyên của đất nước chúng ta…
Ø Có
đúng là Hồ Chí Minh đem chiến tranh Nga/Mỹ tranh hùng trên đất Việt đến nước ta
để cướp quyền cho dễ không ? Tức là Rước Voi về dày mả tổ vì quyền lợi của
đảng Việt Cộng làm tay sai cho đệ Tam Quốc Tế.
------------------------
Sau đây là 2 bản văn lịch sử ra trước ngày 19/8/1945 để vạch rõ âm
mưu ám muội diệt chủng của bọn Việt Cộng bán nước cầu vinh :
Bản văn ra ngày 11/3/1945 (tuyên bố độc
lập)
Tuyên ngôn độc lập của Hoàng
Đế Bảo Đại
Đây là một bản văn tương đối ngắn so với những bản văn cùng loại,
nhằm ba mục tiêu chính yếu là hủy bỏ một hòa ước Triều Đình Huế đã ký với nước
Pháp, tuyên bố Việt Nam độc lập,đứng vào khối Đại Đông Á trong chương trình
phát triển chung, đồng thời bày tỏ sự tin tưởng vào lòng thành của nước
Nhật với nguyên văn như sau:
“ Cứ tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng
cõi Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này điều ước bảo hộ với
nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập .
“ Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và
theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh
vương chung. Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế
quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được
mục đích như trên”
Bản Tuyên Bố được đề ngày 11 tháng Ba năm 1945 tức ngày 27 tháng
Giêng năm Bảo Đại thứ 20 được Bảo Đại ký tên với sáu thượng thư phó thự. Sáu vị
thương thư gồm có:
Phạm Quỳnh, bộ Lại, Hồ Đắc Khải, bộ Hộ, Ưng Úy, bộ Lễ, Bùi Bằng
Đoàn, bộ Hình, Trần Thanh Đạt, bộ Học, và Trương Như Định, bộ Công. Theo Bảo Đại
đây là lần đầu tiên trong lịch sử một văn kiện được ký bởi nhà vua và tất cả
các nhân vật quan trọng nhất trong triều đình.
Nguồn: Wikipedia
Sử Gia Phạm Cao Duơng
-----------------------------
Bản
văn ra ngày 17/8/1945, Phát sóng trên
Radio Huế lúc 10 giờ sáng ngày 17/8/1945 : Hiệu triệu Qốc Dân
Việt Nam Hoàng Đế ban chiếu số 105:
" Cuộc chiến tranh thế giới đã kết liễu, lịch sử
nước Việt Nam tiến tới một thời kỳ nghiêm trọng vô cùng.
Đối với dân tộc Nhật Bản, trẫm có nhiệm vụ tuyên bố rằng:
dân tộc ta có đủ tư cách tự trị và nhất quyết huy động tất cả lực lượng, tinh
thần và vật chất của toàn quốc để giữ vững nền độc lập cho nước nhà.
Trước tình thế quốc tế hiện thời, Trẫm muốn mau có một
Nội Các mới.
Trẫm thiết tha hiệu triệu những nhà ái quốc hữu danh
và ẩn danh đã nỗ lực chiến đấu cho quyền lợi dân chúng và nền độc lập nước nhà
mau mau ra giúp Trẫm để đối phó với thời cuộc.
Muốn củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền lợi
của dân tộc, Trẫm sẵn sàng hy sinh tất cả các phương tiện. Trẫm để hạnh phúc của
dân Việt lên trên ngai vàng của Trẫm.
Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn là làm vua một
nước nô-lệ. Trẫm chắc rằng toàn thể quốc dân cùng một lòng hy sinh như Trẫm.
Trong cuộc chiến đấu mà ta cần phải đương đầu với một
cuộc tái hồi ngoại thuộc, toàn thể dân tộc Việt Nam chắc chắn ở sự đắc thắng của
công lý và nhân đạo và tin rằng chỉ có một nước Việt Nam độc lập mới có thể cộng
tác một cách hiệu quả với tất cả các nước để gây dựng một nền hòa bình vững chắc
ở hoàn-cầu"
Khâm thử: Phụng ngự ký: Bảo Đại
Ban chiếu tại Thuận Hóa ngày mồng 10 tháng
7 năm Bảo Đại thứ 20 (17/8/45)
-----------------------------------
NHỮNG THỜI KỲ ĐEN TỐI
Đây
là thời kỳ hấp thụ nền học vấn nô dịch nên Tâm Tư bất an, Tinh Thần thác loạn,
do đó con dân đất Việt không thiết giữ nước vì Hồn nước đã mất trước rồi thì nước
mất sau.
Vậy
thì ‘Đừng lo độc lập không tới, mà chỉ
lo người dân không đủ khả nằng giữ vững nền độc lập » - Lời cụ Phan Bội
Châu.
Biết
vậy thì ta phải làm ngược lại là : Khai Phóng Dân Trí (ý chí quyết tâm bao
vệ tự chủ), chấn hưng Dân Khí rồi Hậu Dân Sinh. -Lời cụ Phan Chu Trinh.
Dân
khí có cao thì mới có ý chí dấn thân, dân trí có hùng thì mới bắt tay vào việc.
Do đó chúng ta phải đi ngược chiều là Phục Hồi Dân Khí và Khai Phóng Dân Trí bằng
xây dựng cộng đồng Văn Hóa để lo chiều dài cho tương lai con cháu bằng chương
trình Văn Hóa Thuấn Việt.
Ø Chương trình đã có, nay chỉ việc tự tu luyện
để có đội ngũ Giảng Huấn chuyên nghiệp
là đoạn khó khăn đầu tiên phải đi qua.
Ø Vạn sự khởi đầu nan, các đoạn sau cứ thế
tiến bước dễ dàng
¾




0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil