T20 : Hiệp Định Genève 20.7.1954
T20 : Hiệp Định Genève 20.7.1954
Livestream ngày 26.02.2021
soạn giả : Hoàng Đức Phương
tài liệu lấy trên Web Site
Bản HIỆU TRIỆU QUỐC DÂN ra ngày 17/8/1945
Phát sóng trên Radio Huế lúc 10 giờ sáng
Việt Nam Hoàng Đế ban chiếu số 105:
" Cuộc chiến tranh thế giới đã kết liễu,
lịch sử nước Việt Nam tiến tới một thời kỳ nghiêm trọng vô cùng.
Đối với dân tộc Nhật Bản, trẫm có nhiệm vụ
tuyên bố rằng: dân tộc ta có đủ tư cách tự trị và nhất quyết huy động tất cả lực
lượng, tinh thần và vật chất của toàn quốc để giữ vững nền độc lập cho nước
nhà.
Trước tình thế quốc tế hiện thời, Trẫm muốn
mau có một Nội Các mới.
Trẫm thiết tha hiệu triệu những nhà ái quốc
hữu danh và ẩn danh đã nỗ lực chiến đấu cho quyền lợi dân chúng và nền độc lập
nước nhà mau mau ra giúp Trẫm để đối phó với thời cuộc.
Muốn củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo
vệ quyền lợi của dân tộc, Trẫm sẵn sàng hy sinh tất cả các phương tiện. Trẫm để
hạnh phúc của dân Việt lên trên ngai vàng của Trẫm.
Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn là
làm vua một nước nô-lệ. Trẫm chắc rằng toàn thể quốc dân cùng một lòng hy sinh
như Trẫm.
Trong cuộc chiến đấu mà ta cần phải đương
đầu với một cuộc tái hồi ngoại thuộc, toàn thể dân tộc Việt Nam chắc chắn ở sự
đắc thắng của công lý và nhân đạo và tin rằng chỉ có một nước Việt Nam độc lập
mới có thể cộng tác một cách hiệu quả với tất cả các nước để gây dựng một nền
hòa bình vững chắc ở hoàn-cầu"
Khâm thử:
Phụng ngự ký:
Bảo Đại
Ban chiếu tại Thuận Hóa ngày mồng 10 tháng 7 năm Bảo Đại
thứ 20
(tức ngày thứ Sáu, 17/8/1945)
ö
Thảo Luận về Hiệp Định
Genève 20/7/1954
Tài liệu:
·
Sử gia Phạm Cao Dương và Trần Gia Phụng
·
65 Năm Nhìn Lại: Từ Bảo Đại đến Hồ Chí
Minh: Hai Bản Tuyên Ngôn Độc Lập
Phạm Cao Dương, TS
September 10, 20100 Bình Luận
Dưới cái nhìn của sử gia Phạm
Cao Dương
Trong
lich sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai
lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập.
Lần
thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ nhì vào
ngày 2 tháng 9 năm 1945 bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa Hồ Chí Minh.
Hai
lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ
biết hay chỉ được học bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết
hay không được học bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3.
Lịch
sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn. Bài này nhằm bổ khuyết cho
tình trạng thiếu sót đó, đồng thời phân tích nội dung và ý nghĩa của từng bản.
TUYÊN NGÔN CỦA HOÀNG ĐẾ BẢO ĐẠI
Hoàn
cảnh được công bố:
Bản
tuyên ngôn độc Lập của Hoàng Đế Bảo Đại được công bố ngày 11 tháng 3 năm 1945,
hai ngày sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và sau một thời gian dài hơn
bốn năm, từ tháng 9 năm 1940, sau khi quân Nhật vào phần đất này của Đông Nam
Á, gần năm tháng trước khi Nhật Bản đầu hàng và Thế Chiến Thứ Hai kết thúc.
Trong thời gian này Việt Nam bị sống dưới sự cai trị của cả người Pháp, từ sau
khi Hòa Ước 1884 được ký kết, lẫn người Nhật, từ ngày 22 tháng 9 năm 1940, với
một hậu quả khủng khiếp là Trận Đói Tháng Ba Năm Ất Dậu. Hoàn cảnh này đã làm
cho không chỉ riêng những người Cộng Sản, vốn chủ trương đánh đổ chế độ quân chủ
để cướp chính quyền (chữ của chính người Cộng Sản) để từ đó thực thi cách mạng
vô sản mà luôn cả những người không những không có cảm tình với chế độ quân chủ
đương thời mà còn chủ trương lật đổ chế độ này để thay thế bằng một chế độ dân
chủ, không nhìn nhận giá trị đích thực của bản tuyên ngôn này. Lý do là vì Bảo
Đại luôn luôn bị coi như một ông vua bù nhìn, trước kia trong tay người Pháp và
lúc đó trong tay người Nhật. Theo họ trước kia người Pháp bảo sao, ông làm vậy
và sau đảo chính 9 tháng 3 năm 1945, người Nhật bảo ông tuyên bố độc lập thì
ông tuyên bố độc lập, thế thôi. Người ta hiểu hay được học đơn giản như vậy. Nền
độc lập mà Bảo Đại tuyên bố theo họ chỉ là do người Nhật ban cho và bản tuyên
ngôn của ông chẳng có một giá trị gì trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của
người Việt. Thực chất của nó chỉ là “sự tuyên bố công khai việc thay thầy đổi
chủ của triều đình Bảo Đại”(1) không hơn không kém. Sự thực không đơn giản như
vậy. Người Nhật có lý do làm đảo chính lật đổ người Pháp và Bảo Đại có lý do phải
chấp nhận yêu cầu của người Nhật tuyên bố Việt Nam độc lập. Lý do của Bảo Đại
đã được ông giải thích khi tiếp kiến Trần Trọng Kim và cố gắng thuyết phục ông
này chấp nhận làm thủ tướng đầu tiên của chính phủ Nam Triều độc lập. Nguyên
văn câu nói của Bảo Đại được Trần Trọng Kim kể lại như sau:
“-Trước
kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta, để
quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa,
nên Bộ thượng thư đã tuyên hủy hiệp ước ấy. Trẫm phải dứng vai chủ trương việc
nước và lập chính phủ để đối phó mọi việc.” (2)
Người
ta cần phải nhớ là hơn mười năm trước đó, sau khi du học từ Pháp về tới Huế được
hai ngày, ngày tháng 10 tháng 9 năm 1932, Bảo Đại đã ra Dụ số 1 tuyên bố chấp
chính và khẳng định chế độ quân chủ của Nam Triều hủy bỏ Quy Ước 6 tháng 11 năm
1925 do Hội Đồng Phụ Chính, đứng đầu là Tôn Thất Hân, ký với Toàn Quyền Đông
Dương thời ông còn nhỏ tuổi và đang du học bên Pháp, tước bỏ hầu hết các quyền
hành còn lại của nhà vua trừ các quyền có tính cách nghi lễ, ân xá, sắc phong,
tế lễ…kèm theo nhiều dụ khác nhằm thực hiện những cải cách qui mô trong nền
hành chánh của chính phủ Nam Triều, nhưng đã bị người Pháp ngăn cản và bị thất
bại. Đảo chính 9 tháng 3 năm 1945 và lời yêu cầu tuyên bố độc lập của người
Nhật dù gì đi chăng nữa cũng là điều vị hoàng đế còn trẻ tuổi từ lâu mong đợi.
Ngoài ra theo nhận định và giải thích nhằm thúc đẩy Trần Trong Kim chịu khó lập
chính phủ mới. Ông nói:
-“Trước
kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng
mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người
Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho
nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.”(3)
Hai
tiếng “cơ hội” Bảo Đại dùng ở đây cho ta thấy ông từ lâu mong có dịp này. Đồng
thời ông cũng hiểu rằng nền độc lập mà ông tuyên cáo chưa phải độc lập hẳn.”
Chưa hết, tuyên bố rồi ông còn có nhu cầu phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập
và nhất là để tránh không cho người Nhật “lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh
rất hại cho nước ta.””(3) Một sự e ngại chỉ có những người có kiến thức về
lịch sử và chính trị học mói biết được. Ngoài ra những tiếng “rất có hại cho nước
ta” cũng cho người ta thấy đối tương của hành động tuyên cáo độc lập của ông
không phải là ngôi vua mà là đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam, đất nước của
ông và thần dân của ông. Cái nhìn và quan điểm này cũng như sự hiểu biết của
ông về tình hình thế giới và thế tất bại của người Nhật về sau đã được ông nói
rõ trong hồi ký của ông. Riêng đối với người Nhật, ông đã không tin tưởng ở họ
cũng như chiêu bài Đại Đông Á của họ. Nói cách khác Bảo Đại ở vị thế phải chấp
nhận nhập cuộc dù ông hiểu rõ sự phức tạp của vấn đề. Phần khác như ông cũng
nói tới trong hồi ký của ông: Độc lập là ước mơ của tất cả mọi người Việt Nam
thời đó.
Nội
dung bản Tuyên ngôn:
Đây
là một bản văn tương đối ngắn so với những bản văn cùng loại, nhằm ba mục tiêu
chính yếu là hủy bỏ một hòa ước Triều Đình Huế đã ký với nước Pháp, tuyên bố Việt
Nam độc lập,đứng vào khối Đại Đông Á trong chương trình phát triển chung, đồng
thời bày tỏ sự tin tưởng vào lòng thành của nước Nhật với nguyên văn như
sau:
“
Cứ tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi Đông Á, chính phủ
Việt Nam tuyên bố từ ngày này điều ước bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam
khôi phục quyền độc lập.
.
“ Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và
theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh
vương chung.
“Vậy
Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp
tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như
trên.(4)
Bản
Tuyên Bố được đề ngày 11 tháng Ba năm 1945 tức ngày 27 tháng Giêng năm Bảo Đại
thứ 20 được Bảo Đại ký tên với sáu thượng thư phó thự. Sáu vị thương thư gồm
có: Phạm Quỳnh, bộ Lại, Hồ Đắc Khải, bộ Hộ, Ưng Úy, bộ Lễ, Bùi Bằng Đoàn, bộ
Hình, Trần Thanh Đạt, bộ Học, và Trương Như Định, bộ Công. Theo Bảo Đại đây là
lần đầu tiên trong lịch sử một văn kiện được ký bởi nhà vua và tất cả các nhân
vật quan trọng nhất trong triều đình.
Đọc
bản Tuyên Ngôn Độc Lập này của Bảo Đại, người ta cần chú ý tới những chi tiết
sau đây:
Thứ nhất: Gọi là tuyên ngôn nhưng thực sự đây chỉ
là một văn kiện hủy bỏ một điều ước đã được ký kết trước đó vì do tình hình biến
chuyển một trong hai phía đã không tôn trọng những gì mình đã ký kết hay không
thực thi được những gì mình đã ký kết trong một sinh hoạt quốc tế. Điều ước bị
hủy bỏ ở đây là Hòa Ước Giáp Thân được ký kết giữa Triều Đình Huế và người Pháp
ngày 6 tháng 6 năm 1884, đặc biệt hai điều khoản của hòa ước này là điều
khoản thứ nhất, theo đó Việt Nam công nhận và chấp nhận Quyền Bảo Hộ của nước
Pháp và điều khoản thứ mười lăm, theo đó nước Pháp cam kết bảo đảm sự toàn vẹn
lãnh thổ của các xứ do vua Việt Nam cai trị và bảo vệ nhà vua chống lại những sự
xâm nhập từ bên ngoài và những cuộc nổi loạn từ bên trong..(5). Sự
hủy bỏ này phải được hiểu là do người Pháp bất lực không bảo vệ được Việt Nam
trước sự bành trướng của quân đội Nhật và cuối cùng là chính người Pháp đã bị
người Nhật lật đổ trong cuộc Đảo Chính ngày 9 tháng 3 năm 1945. Sự hủy bỏ này
cũng có tính cách đơn phương từ phía Bảo Đại với tư cách là người kế vị chính
thống của Triều Đình Nhà Nguyễn căn cứ vào những gì đã xảy ra vào thời điểm
này. Điểm cần được lưu ý ở đây là từ ngữ hòa ước trong văn kiện này được
dùng theo số ít, trong tiếng Việt, không có chữ “các” hay “những” đi kèm và
trong tiếng Pháp không có chữ “s” theo sau. Điều này có nghĩa là bản
tuyên cáo chỉ hủy bỏ hòa ước bảo hộ tức Hòa Ước Giáp Thân 1884 mà thôi thay vì
hủy bỏ tất cả các hòa ước đã được ký kết trước đó. Đó là các Hòa Ước Nhâm Tuất
1862 và Hòa Ước Giáp Tuất 1874 liên hệ tới xứ Nam Kỳ theo đó xứ này đã bị nhường
dứt cho người Pháp là và trở thành thuộc địa của họ, không còn thuộc quyền cai
trị của Vua và Triều Đình Huế nữa. Vấn đề thâu hồi xứ Nam Kỳ do đó chưa được giải
quyết ngay nhưng đã trở thành mối bận tâm và một phần hành quan trọng của chính
Bảo Đại ngay từ buổi nhà vua tiếp kiến Đại Sứ Nhật Yokoyama và của Chính Phủ Trần
Trọng Kim trong gần suốt thời gian chính phủ này tồn tại. Xứ Nam Kỳ chỉ được
người Nhật trao trả trong những ngày cuối của chính phủ này và chỉ chính thức
trở về với lãnh thổ quốc gia Việt Nam ngót năm năm sau, vào giữa tháng 6 năm
1949, và do Bảo Đại với tư cách Quốc Trưởng tiếp nhận từ tay người Pháp.
Đây cũng là một sự kiện ít người biết đến.
Thứ hai: ”Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng
đáng một quốc gia độc lập….giúp cho cuộc thịnh vượng chung.” Câu này xác định
phương thức hoạt động nhằm thực hiện tư cách độc lập (tự phát triển như một quốc
gia độc lập không phụ thuộc vào nước ngoài cho xứng đáng một quốc gia độc lập)
và thế đứng của Việt Nam trên trường quốc tế (tự coi mình là một phần tử Đại
Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vượng chung). Nên để ý tới khẩu hiệu
Châu Á của Người Á do người Nhật đưa ra trong thời gian này, một khẩu hiệu hàm
chứa sự độc lập của các nước Á Châu lúc đó còn là thuộc địa của các đế quốc Âu
Châu. Đây cũng là một cách nói trước một cách khéo léo để ngăn chặn trước sự
can thiệp vào nội tình Việt Nam của người Nhật.
Thứ ba: “Chính phủ Việt Nam một
lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc…”. Câu này nhằm buộc chặt lời hứa của
người Nhật bằng cách nhấn mạnh vào sự trung thành với những gì họ đã nói, với
quan niệm trung thành như một truyền thống chung của các dân tộc Á Đông.
Thứ tư: “Quyết chí hợp tác với nước Nhật đem hết tài sản
trong nước để cho đạt được mục đích như trên.” Mục đích như trên là mục đích
gì? Phải hiểu mục đích này bao gồm hai phần là “tự tiến triển cho xứng đáng một
quốc gia độc lập” và “giúp cho cuộc thịnh vương chung” như là một phần tử của
khối Đại Đông Á.”
Nói cách khác, đây là một bản văn tuy ngắn ngủi, cô đọng nhưng rất
quan trọng vì nó vừa mang tính cách pháp lý, có liên hệ tới nhiều văn kiện ngoại
giao khác đã được hình thành trước đó, vừa biểu lộ chủ trương của một quốc
gia được trao trả độc lập trong một hoàn cảnh không nhận không được, vô cùng tế
nhị và phức tạp vào lúc tình hình thế giới biến chuyển quá nhanh và hoàn
toàn bất lợi cho quân đội và quốc gia đảm nhận sự trao trả nền độc lập này. Mỗi
điều nói ra, mỗi chữ được viết đều đòi hỏi người soạn thảo phải vô cùng thận
trong và ước tính kỹ càng .
ü Ai
là tác giả của bản tuyên ngôn này?
Người
được nói đến nhiều nhất là Phạm Quỳnh, lúc đó đang giữ chức thượng thư bộ lại.
Điều này có nhiều phần đúng nếu người ta để ý tới khả năng nghị luận và viết
văn, viết báo kèm theo sự hiểu biết và kinh nghiệm của một học giả, một người
làm báo, và sau đó là một ngự tiền văn phòng tổng lý của nhà vua cũng như
thượng thư bộ lại trước đó. Nó cũng được Phạm Khắc Hòe, đương thời là ngự tiền
văn phòng tổng lý của Bảo Đại, trong hồi ký của ông này xác nhận. (6)
Ngoài
ra cho tới ngày 2 tháng 9 năm 1945, cái tên Hồ Chí Minh hoàn toàn xa lạ ở trong
nước cũng như ở ngoài nước. Võ Nguyên Giáp, một trong những cộng sự viên thân cận
nhất của Hồ Chí Minh trong thời gian này, đã viết trong hồi ký của mình rằng:
“Ba tiếng HỒ CHÍ MINH không bao lâu đã vang đi khắp thế giới với những truyền
thuyết mà người ta thường dành cho các bậc vĩ nhân. Nhưng vào ngày hôm ấy, cái
tên mới của Bác vẫn còn mới lạ với nhiều đồng bào. Số người biết Bác chính là đồng
chí Nguyễn Ái Quốc khi đó không nhiều.”(8) Ngay vua Bảo Đại ngày 23 tháng 8 năm
1945, khi nhận được điện tín của của các ông Nguyễn Xiển, Nguyên Văn Huyên, Ngụy
Như Kon-Tum và Hồ Hữu Tường nhân danh Ủy Ban Nhân Dân Cách mạng, yêu cầu nhà
vua thoái vị nhường quyền lãnh đạo quốc gia cho Chính Phủ Nhân Dân Cách mạng với
chủ tịch là “Cụ Hồ Chí Minh” đã không biết Hồ Chí Minh là ai. Còn Phạm Khắc
Hòe, người được Việt Minh gài vào cạnh nhà vua cũng không biết nốt, phải chạy
đi hỏi Tôn Quang Phiệt, một đảng viên Cộng Sản, rồi Đào Duy Anh nhưng Tôn Quang
Phiệt đi vắng và Đào Duy Anh lục lọi, truy tìm các tài liệu, sách vở ông có
nhưng cũng không ra tên này.
Cuối
cùng Vũ Văn Hiền, ở Bắc về mới xác nhận Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc.(9) Tuyên
bố Việt Nam độc lập đối với Hồ Chi Minh vào thời điểm này do đó là cách tự giới
thiệu mình tốt nhất và hữu hiệu nhất vói toàn thể đồng bào và để được nhìn và
được chấp nhận như là lãnh tụ đầu tiên đã mang lại được độc lập cho tổ quốc và
cho toàn dân Việt Nam, một nhu cầu tối cần thiết, dầu rằng nền độc lập này hoàn
toàn không phải do ông hay do Mặt Trận Việt Minh tạo ra mà là do những biến cố
khác của lịch sử, trong đó quan trọng nhất là Đảo Chính 9 tháng Ba năm 1945,
trong đó người Nhật đã loại bỏ người Pháp, kèm theo là bản Tuyên Ngôn Độc Lập của
Hoàng Đế Bảo Đại nói trên, và cuối cùng là sự bại trận sau này của người Nhật.
Chúng ta cũng cần để ý là đối với đa số người Việt Nam thời đó, ngày 2 tháng 9
là Ngày Độc Lập, đúng như Nguyễn Hữu Đang, người được Hồ Chí Minh chỉ định tổ
chức ngày này, gọi qua các văn thư chính thức ông đã gửi cho các cơ quan
liên hệ, trong đó có thư gửi cho Thị Trưởng Hà Nội (10) và theo bìa in bản
tuyên ngôn của bản đầu tiên năm 1945, do Chủ Tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt
Nam Hồ Chí Minh đọc trong Ngày Độc Lập”. (11) Nhưng đối với Hồ Chí Minh ngày 2
tháng 9 còn có một ý nghĩa quan trọng hơn nữa. Đó là “ngày khép lại cuộc
Cách mạng tháng Tám, và khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa”, theo lời ông
nói với Nguyễn Hữu Đang, “Chú phải nhớ…(12) Tại sao vậy? Tại vì Hồ Chí Minh phải
làm chuyện này trước khi quân Đồng Minh kéo vô Việt Nam, đặc biệt là thủ đô Hà
Nội, nhằm đặt họ trước một sự đã rồi, không thể đảo ngược đươc.. Sự kiện vua Bảo
Đại thoái vị được nhắc tới và câu “Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên
quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp” là nhằm vào mục tiêu này.
õ
BẢN TUYÊN NGÔN CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA HỒ CHÍ MINH
Hoàn cảnh được công bố:
Bản
tuyên ngôn này đã được Hồ Chí Minh một mình soạn thảo, một mình đứng tên và đọc
tại Quảng Trường Ba Đình ở Hà Nội vào buổi chiều ngày 2 tháng Chín năm 1945,
ngót năm tháng sau bản tuyên ngôn của Bảo Đại, hơn hai tuần lễ sau khi Nhật Bản
đầu hàng, mười ba ngày sau khi Việt Minh cướp được chính quyền ở Hà Nội và hai
ngày sau khi Bảo Đại chính thức thoái vị. Vì được công bố sau bản tuyên ngôn của
Bảo Đại, sau khi người Nhật đã đầu hàng cũng như chế độ bảo hộ của người Pháp
đã bị người Nhật lật đổ trước đó, bản tuyên ngôn này đã bị nhiều người cho là
thừa, không cần thiết, chưa kể tới sự kiện là chính phủ mới do Hồ Chí Minh
thành lập là kế vị chính phủ Nam Triều do Bảo Đại thoái vị nhường cho dựa theo
chiếu thoái vị của Bảo Đại. Chiếu này đã được Hồ Chí Minh và chính phủ mới của
ông chấp nhận.
Chính Phủ Lâm Thời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa trong những điều kiện này đương nhiên kế tục những gì Bảo Đại và chính phủ
Trần Trọng Kim đã làm trước đó, trong đó có Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 11
tháng 3 năm 1945. Lập luận như vậy là hoàn toàn hợp lý đứng trên phương diện
công pháp quốc tế. Một lập luận đơn giản và hoàn toàn dễ hiểu. Câu hỏi được
đặt ra là Hồ Chí Minh, và những cộng sự viên của ông, khi đưa ra bản tuyên ngôn
của mình có biết là trước đó Bảo Đại đã làm công việc này rồi hay không ? Và biết
như vậy tại sao ông lại còn làm lại việc đó một lần nữa? Cho câu hỏi thứ
nhất, câu trả lời là chắc chắn có; Hồ Chí Minh chắc phải biết là Bảo Đại trước
đó đã tuyên cáo hủy bỏ hòa ước bảo hộ 1884 rồi. Nhưng ông vẫn làm lại công việc
này vì ông có nhu cầu phải làm. Những nhu cầu đó là những nhu cầu gì?
Thứ
nhất là vì từ lâu toàn dân ai nấy đếu khao khát được thấy nước nhà độc lập,
đúng như Bảo Đại đã viết trong hồi ký của ông, độc lập là ước mơ của mọi người
dân Việt (7), cũng như nó được phản ảnh ở khắp nước ngay trước và sau ngày 2
tháng 9 năm 1945. Nói tới độc lập vào lúc đó là gõ đúng tần số của bất cứ một
người dân Việt Nam nào từ đó đem lại công lao và thanh thế cho người chính thức
công bố ra điều đó.
Nội
dung bản Tuyên Ngôn:
Bản
Tuyên Ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh, vì được phổ biến rộng rãi và hầu như được
coi là duy nhất gắn liền với ngày 2 tháng 9, ngày Quốc Khánh của Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa rồi Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nên đã được nhiều người đọc,
phân tích và tìm hiểu. Trong phần này người viết chỉ nêu lên những gì ít được mọi
người nhắc hay để ý đến.
Trong
khi Tuyên Cáo của Bảo Đại đơn giản chỉ là một bản văn thuần túy pháp lý nhằm hủy
bỏ hòa ước bảo hộ mà triều đình Huế đã ký trước đó căn cứ vào sự bất lực của
người Pháp, vì người Pháp đã không giữ được cam kết ghi trong điều khoản thứ nhất
và điều khoản thứ mười lăm của hòa ước này, mà không nhằm vào một đối tượng- quần
chúng hay quốc tế, thì bản Tuyên Ngôn của Hồ Chí Minh nhằm vào toàn thể người
Việt qua lời mở đầu “Hỡi đồng bào cả nước…”. Tuy nhiên ở những đoạn cuối
tác giả lại nhắm vào các nước Đồng Minh. Điều này phải tinh ý người ta mới
nhận ra được. Về tư cách, Bảo Đại nhân danh Hoàng Đế Việt Nam, người đứng
đầu của một quốc gia độc lập đã tồn tại từ trước khi người Pháp xâm lăng và là
người kế thừa chính thống của các vua Nhà Nguyễn, thì Hồ Chí Minh đã nhân danh
“Lâm Thời Chính Phủ của nước Việt Nam mới.”” Mới là vì đến ngày đó chính phủ
này mới chính thức được ra mắt trước quốc dân. Lời văn do đó phản ảnh hai tư
cách của hai bản chất con người khác nhau. Một người là hoàng đế kế thừa chính
thống của một triều đại đã trị vì một quốc gia từ hơn một trăm năm trước dù cho
là chỉ còn hư vị; người kia là lãnh tụ của một phong trào cách mạng vừa chủ
trương chống Pháp, vừa chủ trương chống Nhật và lật đổ chế độ quân chủ để
giành chính quyền. Văn phong trong bản tuyên ngôn của Bảo Đại là văn phong bình
thường của người cầm quyền; còn văn phong của Hồ Chí Minh mang tính cách kêu gọi
và ở một mức độ nào đó có tính cách bình dân, kể lể dài dòng và nhất là xách động.
Mở đầu cho bản tuyên ngôn, Hồ Chí Minh đã trích dẫn một số
câu trong phần đầu của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của người Mỹ và một câu trong Bản
Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp. Sự trích dẫn này, vào
lúc mà sự hiểu biết của quần chúng Việt Nam còn thấp kém, đặc biệt là về lịch sử
Hoa Kỳ và thế giới, chắc chắn không nhằm vào quần chúng người Việt mà nhằm vào
người Mỹ và người Pháp. Lý do là Hồ Chí Minh như là một đảng viên Cộng Sản Quốc
Tế chắc chắn đă hiểu hơn ai hết là người Mỹ vào thời điểm này đã đóng một vai
trò vô cùng quan trọng trong chính tình ở Á Châu, trong đó có Việt Nam. Được
nguời Mỹ công nhận là coi như làm chủ được chính quyền. Hiểu được như vậy, ngay
từ khi còn ở chiến khu Hồ Chí Minh khi tiếp xúc với người Mỹ đã yêu cầu họ cung
cấp cho ông một bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ, đồng thời nói về lịch sử nước
Mỹ như là một cách để chinh phục cảm tình của họ. Cũng vậy, với những gì chứa đựng
trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của người Pháp. Có điều sự trích dẫn
nàychỉ nhằm mục tiêu lôi cuốn sự chú ý và cảm tình của người Mỹ mà thôi. Hồ Chí
Minh không cần đi xa hơn nữa và rất có thể ông cũng không hiểu rõ hơn hay cố tình
không hiểu sự khác biệt trong quá trình giành độc lập của mười ba thuộc địa của
người Mỹ vào cuối thế kỷ XVIII và của nước Việt Nam thời ông. Vì vậy ông đã áp
dụng quan điểm của người Mỹ về quyền bình đẳng, quyền được sống tự do và mưu cầu
hạnh phúc của mọi – người – như-là-những-cá-nhân vào trường hợp Việt Nam
như một – quốc – gia đòi quyền độc lập một cách gượng ép hay ít ra là suy luận
theo quan điểm chủ quan của mình với dụng ý riêng của mình. Cũng vậy với những
gì ông trích dẫn từ bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng
Pháp.
Phần kế tiếp, Hồ Chí Minh lên án người Pháp và người Nhật, đồng thời
ông kể công cho Việt Minh: “Trước ngày mồng 9 tháng 3, đã bao lần Việt minh đã
kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật…”, sau đó “đã giúp cho nhiều người
Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo
vệ tính mạng và tài sản cho họ” và kết luận rằng “Sự thật là dân ta đã lấy lại
nước Việt-nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”. Điều như người viết đã
nói ở trên là không đúng sự thật. Sự thật là Chính Phủ Bảo Đại – Trần Trọng Kim
đã lấy lại được toàn thể nước Việt Nam từ trước khi người Nhật đầu hàng kể cả lấy
lại xứ Nam Kỳ và Việt Minh đã cướp chính quyền từ trong tay của chính phủ Bảo Đại
-Trần Trọng Kim trong những ngày 17 và 19 tháng 8 năm 1945 sau đó. Lý do là vì
Việt Minh “đã có đường riêng của họ rồi”, nói theo Phan Anh, Bộ Trưởng Thanh
Niên trong Chính Phủ Trần Trọng Kim và sau này là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng trong
Chính Phủ Liên Hiệp của Hồ Chí Minh.Trong những đoạn này Hồ Chí Minh đã dùng
các từ ngữ ta hay “dân ta” hay “đất nước ta”, nhưng mục đích không nhằm vào người
Việt Nam mà vào người Pháp.
Phần cuối cùng của bản văn, từ “Bởi thế cho nên…” cho đến hết, lời
văn cho người ta thấy Hồ Chí Minh không hướng về người Việt mà về cả thế giới.
Trong phần này ông xưng là “chúng tôi, Lâm thời Chính phủ, đại biểu cho toàn
dân Việt -nam “ để tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, kêu gọi các nước Đồng
Minh công nhận quyền độc lập của dân Việt-nam…Phần này Hồ Chí Minh thay vì quyền
được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của mọi – người – như – những
– cá – nhân do Tạo Hóa ban cho, những quyền phải hiểu là tự nhiên ai cũng có,
đã nói về quyền hưởng tự do và độc lập của – cả – nước – Việt – Nam. Điều này
hoàn toàn không đúng với tinh thần của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Người Mỹ và
nhất là của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách mạng Pháp mà danh
xưng của nó đã nói lên một cách rõ ràng: Nhân Quyền và Dân Quyền, không thể hiểu
sai được. Độc lập không phải luôn luôn đồng nghĩa với tự do, dân quyền và nhân
quyền.
Không
những thế, thay vì coi những quyền này là do Tạo Hóa ban cho, Hồ Chí Minh lại
lý luận là vì dân tộc Việt Nam là “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của
Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống
phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc ấy phải được độc lập!”.
Lý
luận như vậy người ta phải hiểu, theo Hồ Chí Minh, rằng những dân tộc không gan
góc chống lại những thế lực đè nén, áp bức mình và không gan góc đứng về phe Đồng
Minh, chống phát-xít là không đáng được tự do, độc lập. Cũng vậy, với các quyền
độc lập, tự do và mưu cầu hạnh phúc của con người như là những cá nhân trong xã
hội. Chính vì vậy Luật Sư Trần thanh Hiệp,khi được Đài Á Châu Tự Do phỏng
vấn ngày 2 tháng 9 năm 2007, đã có lý khi ông gọi bản tuyên ngôn của Hồ Chí
Minh này là một bản tuyên ngôn phi nhân quyền,(13) dù cho là nó đã được chính
tác giả của nó trích dẫn và soạn thảo theo của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân
Quyền của Cách mạng Pháp. Nhưng dù nói thế này hay thế khác sự kiện này đã phản
ảnh chủ trương cách mạng bạo lực của những người Cộng Sản mà Hồ Chí Minh ở đây
là một trường hợp điển hình. .
Người
ta có thể giải thích sự thiếu rõ ràng trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí
Minh kể trên là do nó đã được soạn thảo trong một thời gian quá ngắn và trong
tình trạng tác giả của nó còn phải bận rộn với nhiều vấn đề cấp bách
khác.
Điều
này không đúng vì trước đó từ lâu, khi tiếp xúc với một sĩ quan người Mỹ, Hồ
Chí Minh đã xin một bản tuyên ngôn nhân quyền của người Mỹ rồi. Nói cách khác,
Hồ Chí Minh đã nghĩ tới và đã thai nghén bản tuyên ngôn của ông từ lâu chứ
không phải chỉ ít ngày trước ngày 2 tháng 9 năm 1945.
Do
đó những gì ông nói tới, những từ ngữ ông dùng đều được cân nhắc kỹ càng và đều
có dụng ý riêng với những mục tiêu riêng mà chỉ sau này phải phân tích kỹ, đối
chiếu kỹ và có thể sau này khi mọi việc liên hệ đã xảy ra rồi, người ta mới có
thể hiểu được.
Phạm
Cao Dương
--------------------------------------
NHỮNG ĐIỀU CẦN PHẢI LÀM SÁNG TỎ
để biết đường đòi quyềnlàm người
1/- Hồ Chí Minh là ai mà lại có quyền đọc
tuyên ngôn độc lập.
2/- Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoàng Đế Bảo
Đại có giá trị hay không mà Hồ Chí Minh lại đọc bản văn này
3/- Nội dung bản văn là Tuyên Ngôn Độc Lập
hay Tuyên Ngôn Nhân Quyền ?
4/- Sự thật thì ý nghĩa của ngày 02/9/1945
là gì ? Lúc đầu dự tính ra sao và sau
đó biến chứng ra sao
--------------------------------------------------
Hiệp định
Genève (20-7-1954)- Phần I
02:17:am 19/07/10
I.- Diễn
tiến đưa đến Hội nghị Genève
Chiến tranh Triều
Tiên hay Cao Ly (Korea) kết thúc bằng hiệp ước đình chiến được ký kết ở
Panmunjon (Bàn Môn Điếm), ngày 27-7-1953, chia Triều Tiên thành hai vùng Bắc và
Nam Triều Tiên, ranh giới là vĩ tuyến 38. Đây chỉ là hiệp ước đình chiến,
chứ không phải là hòa ước giữa các bên lâm chiến. Dầu vậy, hiệp ước và
giải pháp chia hai nước Triều Tiên được một số nước, kể cả Pháp, xem là mẫu mực
để giải quyết vấn đề Đông Dương.
Ngày 4-8-1953 Liên
Xô đề nghị họp hội nghị ngũ cường gồm Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Liên Xô và Cộng Hòa
Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) vào tháng 9-1953 để tiếp tục giải quyết những tranh
chấp ở Triều Tiên, đồng thời tại khu vực Á Châu, trong đó nóng bỏng nhất là vấn
đề Việt Nam.
Đề nghị nầy bị
Hoa Kỳ bác bỏ ngày 2-9-1953. Trong cuộc họp tay ba Anh, Pháp và Hoa Kỳ
trong ba ngày kể từ 16-10-1953, cả ba nước đưa ra tuyên bố không chấp nhận đề
nghị của Liên Xô, chủ yếu vì các cường quốc Tây phương không muốn thừa nhận
CHNDTH là một cường quốc ngang hàng với họ. Lúc đó, CHNDTH chưa được vào
Liên Hiệp Quốc (LHQ). Chiếc ghế thường trực tại Hội đồng Bảo an LHQ do
Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) nắm giữ.
Lúng túng trong chiến
tranh Việt Nam, ngày 27-10-1953, thủ tướng Pháp là Joseph Laniel tuyên bố sẵn
sàng tìm kiếm cơ hội tái lập hòa bình ở Đông Dương. Ông được quốc hội
Pháp ủng hộ để thương thuyết và đi đến một giải pháp chính trị. Ra trước
thượng viện Pháp ngày 12-11-1953, thủ tướng Laniel lập lại ý kiến trên thêm một
lần nữa. Laniel hy vọng kế hoạch hành quân của đại tướng Henri Navarre
tại Việt Nam sẽ có thể đem lại thành công trên chiến trường, để có thể thương
thuyết trong thế mạnh.
Đề nghị của Laniel
được phía cộng sản đáp ứng ngay. Trong một cuộc phỏng vấn của báo
Expressen (Norway = Na Uy) vào cuối tháng 10-1953, Hồ Chí Minh cho biết rằng
chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) do đảng Lao Động (LĐ) và mặt trận
Việt Minh (VM) điều khiển, sẵn sàng tìm hiểu các đề nghị của Pháp và chỉ thương
thuyết với Pháp, chứ không nói chuyện với chính phủ Quốc Gia Việt Nam (QGVN) do
cựu hoàng Bảo Đại làm quốc trưởng.
Về phía Liên Xô, vừa
trả lời cho tam cường Tây phương, vừa trả lời cho đề nghị của thủ tưóng Pháp
(Laniel), ngoại trưởng Mikhailovich Molotov tuyên bố ngày 26-11-1953 đồng ý
tham dự hội nghị tứ cường Anh, Pháp, Hoa Kỳ, và Liên Xô, nhưng dành quyền sẽ
triệu tập hội nghị ngũ cường sau đó. Mãi đến ngày 29-11-1953, bài phỏng
vấn Hồ Chí Minh mới được báo Expressen công bố, và được Nhân Dân Nhật Báo ở Bắc
Kinh đăng lại ngày 1-12-1953, kèm theo bài xã luận hoàn toàn ủng hộ lập trường
của VM.
Ngày 6-12-1953, theo
quyết định của các cố vấn CHNDTH, quân đội VM bắt đầu mở cuộc tấn công Điện
Biên Phủ.(1) Một tuần sau, Hồ Chí Minh tuyên bố chấp nhận thương thuyết
với Pháp ngày 14-12-1953. Hỗ trợ ý kiến của Hồ Chí Minh, ngày 26-12-1953,
Liên Xô đưa ra đề nghị họp tứ cường tại Berlin ngày 25-1-1954, và được các nước
Anh, Pháp, Hoa Kỳ chấp thuận.
Vào ngày nói trên
(25-1-1954), hội nghị tứ cường vừa khai mạc tại Berlin, thì ngoại trưởng Liên
Xô, Mikhailovich Molotov, đề nghị mời CHNDTH cùng họp để giải quyết các vấn đề
tranh chấp trên thế giới. Mãi đến ngày 18-2-1954, ý kiến của Liên Xô mới
được ba nước tây phương đồng ý. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa được mời tham
dự hội nghị Genève, sẽ bắt đầu từ ngày 26-4-1954 để bàn về các vấn đề Triều
Tiên và Đông Dương.
Hội nghị ngũ cường
Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Liên Xô, CHNDTH tại Genève chính thức khai mạc ngày
26-4-1954, một ngày bàn về Đông Dương, một ngày bàn về Triều Tiên. Liên
Xô đề nghị mở rộng những nước tham dự bằng cách mời thêm các phe lâm chiến ở
Đông Dương. Ý kiến nầy được chấp thuận tại phiên họp ngày 2-5-1954.
Như thế, về vấn đề Đông Dương, hội nghi Genève sẽ có tất cả là 9 phái đoàn tham
dự: Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Liên Xô, CHNDTH, QGVN, VNDCCH (VM), Lào và Cambodge
(Cambodia).
Hội nghị Genève về
Đông Dương với sự tham dự của 9 phái đoàn, chính thức khai mạc ngày
8-5-1954. Một ngày trước đó, cứ điểm Điện Biên Phủ tại Việt Nam của liên
quân Pháp-Việt bị thất thủ vào tay quân đội VM ngày 7-5-1954.
II.- Hội nghị Genève
Hội nghị Genève về
vấn đề Đông Dương có thể chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất từ
khi khai mạc (8-5-1954) đến khi tạm nghỉ ngày 20-6-1954. Giai đoạn thứ
hai bắt đầu từ ngày 10-7 đến ngày 21-7-1954. Giữa hai giai đoạn là sự
thay đổi chính phủ tại Pháp và hội nghị Liễu Châu giữa Châu Ân Lai (Trung Cộng)
và Hồ Chí Minh (Việt Minh).
Giai đoạn
thứ nhất Hội nghị Genève
Hội nghị Genève về
Đông Dương với 9 phái đoàn là ngũ cường Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Liên Xô, CHNDTH, và
bốn chính phủ liên hệ ở Đông Dương là QGVN, VNDCCH (VM), Lào, Cambodge
(Cambodia), bắt đầu ngày 8-5-1954, một ngày sau khi kết thúc trận Điện Biên
Phủ.
Tạ Quang
Bửu, trưởng phái đoàn VNDCCH đang ký Hiệp định Genève. Ảnh Wikipedia
http://www.danchimviet.info/wp-content/uploads/2010/07/Taquangbuukyhiepdinhgeneve.jpg
Thời điểm khai mạc
hội nghị Genève về Đông Dương rõ ràng rất thuận lợi cho phía cộng sản:
Liên Xô và CHNDTH lúc đó chưa rạn nứt mà còn liên lạc ngoại giao gắn bó trong
tinh thần Cộng sản Quốc tế, tích cực giúp đỡ VM. Trong khi đó, sau khi
thất trận Điện Biên Phủ (7-5-1954), nội tình nước Pháp chia rẽ. Pháp đang
muốn kiếm cách rút lui khỏi Đông Dương. Chính phủ Quốc Gia Việt Nam gặp
nhiều khó khăn, quân đội mới được thành lập nên chưa vững mạnh.
Phái đoàn QGVN do
ngoại trưởng Nguyễn Quốc Định cầm đầu khi hội nghị bắt đầu. Sau đó, để
tăng cường, QGVN gởi phó thủ tướng Nguyễn Trung Vinh làm trưởng đoàn, Nguyễn Quốc
Định phụ tá. Khi Ngô Đình Diệm chấp chánh ngày 7-7-1954, thì tân
ngoại trưởng Trần Văn Đỗ đến thay Nguyễn Trung Vinh. Phái đoàn VM do Phạm
Văn Đồng lãnh đạo. Lúc đó ông Đồng đã được chỉ định làm phó thủ tướng
VNDCCH.
Sau gần 20 ngày hội
họp tại Genève, ngày 26-5-1954, Pháp và VM thỏa thuận ngừng bắn ở Việt Nam, rút
quân về những khu vực chỉ định. Phạm Văn Đồng đề nghị cách phân chia thật
giản dị là chia hai nước Việt Nam ở vĩ tuyến 13.(2) Việt Minh rút
về Bắc, Pháp rút về Nam. Pháp chưa quyết định. Anh Quốc tán thành,
Hoa Kỳ phản đối. Chính phủ QGVN chủ trương thống nhất, không chia cắt.
Tại Sài Gòn, thủ đô của chính phủ QGVN, Quốc Dân Đại Hội họp phiên bất thường
cũng trong ngày 26-5-1954, phản đối mạnh mẽ việc chia hai đất nước.(3)
Tại Genève, trong
cuộc họp mật riêng với Pháp ngày 10-6-1954, Tạ Quang Bửu, thứ trưởng Quốc phòng
VM, nói với đại diện Pháp là Delteil rằng: “Chúng tôi cần một thủ đô [Hà Nội]
và cần một hải cảng [Hải Phòng].”(4) Hội nghị toàn thể tại Genève
gặp bế tắc ngày 12-6 khi phái đoàn VM không chấp nhận sự kiểm soát quốc tế, mà
đòi rằng ban kiểm soát chỉ có đại diện Pháp và VM. Việt Minh còn đòi giải
pháp ngưng bắn ở Đông Dương bao gồm luôn cả vấn đề Việt-Miên-Lào.
Khi họp riêng ngày
15-6-1954, với đại diện Liên Xô (ngoại trưởng Molotov) và đại diện CHNDTH (thủ
tướng kiêm ngoại trưởng Châu Ân Lai), Phạm Văn Đồng bị đại diện hai nước nầy ép
phải chấp nhận những giải pháp riêng biệt về ba nước Đông Dương, nghĩa là VM phải
rút quân ra khỏi Lào và Miên. Kể từ 20-6-1954, các ngoại trưởng tạm nghỉ
và về nước tham khảo ý kiến.
Những diễn tiến trong thời
gian Hội nghị Genève tạm nghỉ
Mendès France, thủ
tướng Pháp: Sau thất bại Điện Biên Phủ (7-5-1954), chẳng những Pháp thay
lãnh đạo ở Đông Dương, mà thay luôn cả chính phủ Pháp ở Paris. Nội các
Joseph Laniel từ chức ngày 13-6-1954, và Mendès-France, người Pháp gốc Do Thái,
thuộc đảng Xã Hội Cấp Tiến (Socialiste Radical), một thành viên Hội Tam Điểm
Pháp,(5) được mời lập chính phủ.
Điều trần trước quốc
hội Pháp, Mendès-France tuyên bố sẽ giải quyết vấn đề Đông Dương trong vòng bốn
tuần lễ (chưa đầy một tháng). Nói cách khác, với ý nguyện của quốc hội
Pháp, chính phủ Mendès-France quyết định bỏ rơi QGVN, và bằng mọi giá ký kết
hiệp ước đình chiến, rút quân Pháp ra khỏi Đông Dương. Mendès-France
chính thức nhậm chức ngày 21-6-1954. Nếu tính thêm bốn tuần lễ thì vào
khoảng 21-7-1954.
Hội nghị Liễu Châu: Trong thời gian nghỉ họp, Châu Ân Lai về lại Trung
Quốc. Ông mời Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp qua Liễu Châu (Liuzhou), thuộc
tỉnh Quảng Tây (Kwangsi hay Guangxi), hội họp từ ngày 3-7-1954.
Trong cuộc gặp gỡ
nầy, đại để Châu Ân Lai cho rằng có ba cách để đối phó với tình hình mới:
1) Thượng sách là hòa. 2) Trung sách là đánh rồi hòa. 3) Hạ sách là
đánh tiếp.
Châu Ân Lai khuyên Hồ
Chí Minh chấp nhận thượng sách là hòa để tránh mở rộng chiến tranh, vì nếu tiếp
tục mở rộng chiến tranh, Hoa Kỳ sẽ can thiệp. Theo Châu Ân Lai, VM nên
giải quyết riêng biệt chuyện Lào và Miên, đồng thời chia hai nước Việt Nam ở
khoảng vĩ tuyến 16. Với kinh nghiệm chiến tranh Triều Tiên, Châu Ân Lai
khuyên VM không nên đòi hỏi thái quá, khiến Pháp sẽ ở thế phải nhờ Hoa Kỳ can
thiệp.
Cũng theo Châu Ân
Lai, trong trường hợp Hoa Kỳ can thiệp vào chiến tranh Việt Nam, với binh lực
hùng hậu, Hoa Kỳ sẽ có thể lật ngược tình thế như trong chiến tranh Triều Tiên
trước đây. Như vậy VM sẽ đuổi được kẻ địch yếu, nhưng lại rước kẻ địch
mạnh. Hơn nữa, VM nên giúp tân thủ tướng Pháp là Mendès-France, để ông ta
không bị quốc hội Pháp lật đổ. Nếu Mendès-France không thành công, chính
phủ Mendès-France sẽ bị đổ, thì có thể sẽ bất lợi đối với phía CS.(6)
Về phía phái đoàn
VM, trong hội nghị nầy, Võ Nguyên Giáp cho biết nếu phải rút đi, thì chỉ rút những
người làm công tác chính trị bị lộ diện, phần còn lại thì ở lại miền Nam chờ thời
cơ, có thể khoảng 10,000 cán bộ.(6)
Hội nghị Liễu Châu
giữa Châu Ân Lai và Hồ Chí Minh kết thúc sau phiên họp cuối cùng tối ngày
5-7-1954. Nhân Dân Nhật Báo của Bắc Kinh ngày 8-8-1954, đăng “Tuyên bố về
cuộc hội đàm Trung Việt của chính phủ Trung Quốc”, được dịch nguyên văn như
sau:
“Thủ tướng nước Cộng
Hòa Nhân Dân Trung Hoa Châu Ân lai và Chủ tịch nước Việt Nam dân Chủ Cộng Hòa
Hồ Chí Minh đã cử hành hội đàm tại biên giới Trung Việt từ ngày 3 đến ngày 5
tháng 7 năm 1954. Thủ tướng Châu Ân Lai và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao
đổi ý kiến đầy đủ về vấn đề khôi phục hòa bình ở Đông Dương và các vấn đề có
liên quan khác. Tham gia hội nghị còn có: Hoàng Văn Hoan, đại sứ nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại Trung Quốc và Kiều Quán Hoa, cố vấn Đoàn đại biểu
nước Cộng Hòa Nhận Dân Trung Hoa tại Hội nghị Genève.”(5)
Về lại Việt Nam, Hồ
Chí Minh họp Bộ chính trị đảng Lao Động (tức đảng CSVN) tại Thái Nguyên, ra nghị
quyết theo quyết định của hội nghị Liễu Châu, nghĩa là VM chấp nhận giải pháp
chia hai đất nước, tạm thời hòa hoãn và chuẩn bị tiếp tục tranh đấu sau khi ký
kết hiệp ước đình chiến.(7)
Chủ trương mới nầy
được Hồ Chí Minh nêu ra trong báo cáo ngày 15-7-1954 tại Hội nghị lần thứ sáu
Ban chấp hành Trung ương đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản) khóa II từ 15 đến
17-7-1954 tại Việt Bắc, trong đó có đoạn viết: “Trước kia khẩu hiệu của ta là:
‘Kháng chiến đến cùng’. Nay vì tình hình mới, ta cần nêu khẩu hiệu mới là
hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ.”(8)
Trong khi đó, thực
hiện sự thỏa thuận ngày 26-5 tại hội nghị Genève, các phe lâm chiến ở Việt Nam
mở hội nghị Trung Giá từ ngày 4 đến 27-7-1954 để bàn về chi tiết việc ngưng bắn.
Trung Giá, hay Trung Giã, nằm về phía nam thị xã Thái Nguyên khoảng 30 cây số.
Đại diện cho Pháp là đại tá Lennuyeux, đại diện cho QGVN là thiếu tá Nguyễn Phước
Đàng, đại diện cho VM là thiếu tướng Văn Tiến Dũng.
Giai đoạn thứ hai Hội nghị Genève
Tân thủ tướng Pháp là Mendès-France đích thân
đến Genève để hội đàm với ngoại trưởng Liên Xô là Mikhailovich Molotov ngày
10-7, và ngoại trưởng CHNDTH là Châu Ân Lai trong hai ngày 12 và 13-7.
Pháp, Liên Xô và CHNDTH thỏa thuận giải pháp chia hai nước Việt Nam. Pháp
đòi chia ở vĩ tuyến 18. Trung Hoa đề nghị vĩ tuyến 16, rồi đổi vĩ tuyến 17.
Sau đó, khi Châu Ân Lai gặp Phạm Văn Đồng, đại biểu của VM, Châu Ân Lai áp đặt
ý định của các cường quốc. Phạm Văn Đồng đành chấp nhận. Đại biểu
QGVN là bác sĩ Trần Văn Đỗ phản đối việc chia cắt đất nước bất cứ ở đâu.
Cuối cùng, sau những tranh cãi và mặc cả vào
buổi chiều ngày 20-7-1954, hiệp ước đình chiến được soạn thảo xong và ký kết
sau 12 giờ đêm 20-7, qua sáng 21-7-1954 trong lúc đồng hồ ở trụ sở ký kết vẫn
giữ nguyên ở 12 giờ đêm 20-7-1954.(9)
III.-
Hiệp định Genève: Đình chỉ chiến sự
Danh xưng chính thức
của hiệp định Genève là Hiệp định đình
chỉ chiến sự ở Việt Nam. Hiệp định nầy được viết bằng hai thứ tiếng
Pháp và Việt, có giá trị như nhau. Hai nhân vật chính ký vào hiệp ước
đình chiến Genève là Henri Delteil, thiếu tướng, thay mặt Tổng tư lệnh Quân đội
Liên hiệp Pháp ở Đông Dương và Tạ Quang Bửu, thứ trưởng Bộ Quốc phòng chính phủ
VNDCCH. Các nước khác cùng ký vào hiệp định Genève còn có Anh, Liên Xô,
CHNDTH, Lào, Cambodia. Hai chính phủ QGVN và Hoa Kỳ không ký vào bản hiệp
định nầy. Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam gồm có 6 chương, 47
điều, trong đó các điều chính như sau:
- Việt
Nam chia làm hai vùng tập trung, ranh giới tạm thời từ cửa sông Bến Hải (tỉnh
Quảng Trị), theo dòng sông, đến làng Bồ-Hô-Su và biên giới Lào Việt. [Không nói
đến vĩ tuyến 17. Trong thực tế, sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17 nên người ta
nói nước Việt Nam được chia hai ở vĩ tuyến 17.] Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
ở phía bắc và Quốc Gia Việt Nam ở phía nam.
- Dọc hai
bên bờ sông, thành lập một khu phi quân sự rộng 5 cây số mỗi bên, để làm “khu
đệm”, có hiệu lực từ ngày 14-8-1954.
- Thời
hạn tối đa để hai bên rút quân là 300 ngày kể từ ngày hiệp định có hiệu lực.
-
Cuộc ngưng bắn bắt đầu từ 8 giờ sáng ngày 27-7 ở Bắc Việt, 1-8 ở Trung
Việt và 11-8 ở Nam Việt.
- Mỗi bên
sẽ phụ trách tập họp quân đội của mình và tự tổ chức nền hành chánh riêng.
- Cấm phá
hủy trước khi rút lui. Không được trả thù hay ngược đãi những người đã
hợp tác với phía đối phương.
- Trong
thời gian 300 ngày, dân chúng được tự do di cư từ khu nầy sang khu thuộc phía
bên kia.
- Cấm đem
thêm quân đội, vũ khí hoặc lập thêm căn cứ quân sự mới.
- Tù binh
và thường dân bị giữ, được phóng thích trong thời hạn 30 ngày, kể từ khi thực
sự ngừng bắn.
- Sự giám
sát và kiểm soát thi hành hiệp định sẽ giao cho một Uỷ ban Quốc tế.
- Thời
hạn rút quân riêng cho từng khu vực kể từ ngày ngừng bắn: Hà Nội (80
ngày), Hải Dương (100 ngày), Hải Phòng (300 ngày), miền Nam Trung Việt (80
ngày), Đồng Tháp Mười (100 ngày), Cà Mau (200 ngày). Đợt chót ở khu tập
kết Trung Việt (300 ngày).
Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam chỉ
là một hiệp định có tính cách thuần tuý quân sự. Cũng giống như hiệp ước
đình chiến Panmunjon (Bàn Môn Điếm) ngày 27-7-1953, hiệp định đình chiến Genève
không phải là một hòa ước, và không đưa ra một giải pháp chính trị nào cho
tương lai Việt Nam.
(Trích Việt sử đại cương
tập 5.)
(Còn tiếp) © Trần Gia Phụng, (Toronto, 19-7-2010)
—————————————————————————————-
Chú thích:
1. Qiang Zhai, China & the
Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina Press, 2000, tt.
45-46. Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập B: 1947-1954, Houston, Nxb. Văn
Hóa, 1997, tr. 355.
2. Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân lai và Hội nghị
Genève], Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, bản dịch của Dương
Danh Dy, tựa đề Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27, “Hội
nghị Liễu Châu then chốt”. (diendan@diendan.org) (trích ngày 1-2-2009.).
Xem thêm: tạp chí Thế Kỷ 21, California: số 219, tháng 7-2007, tr. 13.
3. Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua: Việc từng ngày (1945-1964), Sài Gòn 1966, Xuân
Thu California, tái bản không đề năm, tr. 147.
4. Chính Đạo, sđd. tr. 390.
5. Tạp chí L’Histoire, Paris, số 256, tháng 7 và 8-2001, tr. 53. Mendès
France gia nhập Hội Tam Điểm Paris năm 1928, khi mới 21 tuổi. Suốt đời,
ông hoạt động cho Tam Điểm.
6. Tiền Giang, sđd. chương 27 (Hội nghị Liễu Châu then chốt) và chương 28 (Lãnh
tụ đã quyết thì vũ trụ cũng chẳng là cái gì.) Về Hội nghị Liễu Châu, xin
đọc thêm Qiang Zhai, sđd. tt. 58-60.
7. Chính Đạo, sđd. 404.
8. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7 (1953-1955), xuất bản lần thứ hai, Hà Nội: Nxb.
Chính trị Quốc Gia, 2000, tr. 316. Theo chú thích của sách nầy, cuộc họp
giữa Châu Ân Lai và Hồ Chí Minh diễn ra ở biên giới Việt Trung, và không nói
địa điểm cụ thể.
9. Theo tài liệu của Chính Đạo, lúc đó là 1 giờ sáng (Chính Đạo, sđd. tr.
409). Theo Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Nxb.
Trình Bày, Sài Gòn 1973, tr. 11, thì lúc đó là 3 giờ 15 phút sáng.
Hiệp định Genève (20-7-1954)-
Phần II
04:18:am 25/07/10
IV.- Bản tuyên bố cuối cùng không chữ ký:
Sau khi Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký kết, các phái đoàn họp tiếp ngày 21-7-1954 và “thông qua” bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”. Đây chỉ là lời tuyên bố (Déclaration) của bảy phái đoàn, có tính cách dự kiến tương lai Việt Nam, và đặc biệt không có phái đoàn nào ký tên vào bản tuyên bố nầy, nghĩa là bản tuyên bố không có chữ ký.
Khi chủ tịch phiên họp là Anthony Eden (ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, thì 7 phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, CHNDTH, VNDCCH, Lào và Cambodge (Cambodia) trả lời miệng rằng “đồng ý”.(10) Phái đoàn Hoa Kỳ và phái đoàn QGVN không đồng ý, và tự đưa ra tuyên bố riêng của mình.
Bản “Tuyên bố cuối
cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” gồm 13
điều, trong đó quan trọng nhất là điều 7. Điều nầy ghi rằng:
“Hội nghị tuyên
bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị thực hiện trên
cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải
làm cho nhân dân Việt nam được hưởng những sự tự do căn bản, bảo đảm bởi những
tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín. Để cho
việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể
tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự
kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám
sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ
ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những
cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó.” (Bản dịch của Thế Nguyên, Diễm Châu,
Đoàn Tường) (11a)
Điều 7 của bản Tuyên
bố được xem là dự kiến về một giải pháp chính trị trong tương lai, theo
đó một cuộc tổng tuyển cử sẽ có thể được tổ chức để thống nhất đất nước, mà sau
nầy Bắc Việt dựa vào điều nầy để đòi hỏi Nam Việt tổ chức tổng tuyển cử trên
toàn quốc.
Bắc Việt thường nói
và viết rằng việc tổ chức tổng tuyển cử giữa hai miền Bắc và Nam Việt Nam là
theo quyết định của Hiệp định Genève. Thật ra Hiệp định Genève
chỉ là một hiệp định đình chỉ chiến sự (đình chiến) mà không đưa ra một giải
pháp chính trị nào. Giải pháp chính trị về một cuộc tổng tuyển cử giữa
hai miền Bắc và Nam Việt Nam dự tính tổ chức vào năm 1956 nằm trong điều 7 của
bàn “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở
Đông Dương”
Trong bản tuyên
bố riêng của phái đoàn QGVN, bác sĩ Trần Văn Đỗ, trưởng phái đoàn, giải thích
vì sao phái đoàn QGVN không ký kết hiệp định Genève. Sau khi phản
đối việc chia cắt đất nước và việc đại diện quân đội Pháp tự ý ký kết hiệp định
mà không đếm xỉa gì đến quyền lợi của quân đội Quốc Gia và nhân dân Việt Nam,
bản tuyên bố của phái đoàn QGVN viết:
“Vì thế cho nên
chính phủ Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam
long trọng phản đối cách ký kết Hiệp định cùng những điều khoản không tôn trọng
nguyện vọng sâu xa của dân Việt. Chính phủ Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi
nhận rằng Chính phủ tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ
quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc
lập, và Tự do cho xứ sở.”(11b)
Vì phái đoàn QGVN
không ký vào bản Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam (hiệp định Genève)
và nhất là không tham dự vào bản “Tuyên bố cuối cùng”, nên chính phủ QGVN tự
cho rằng không bị ràng buộc vào điều 7 của bản tuyên bố nầy.
Về phiá Hoa Kỳ, trưởng
phái đoàn là Bedell Smith cũng đưa ra bản tuyên ngôn ngày 21-7-1954 theo đó,
tuy không ký vào hiệp định, nhưng Hoa Kỳ cam đoan không đe doạ hay dùng võ lực
để sửa đổi hiệp định; Hoa Kỳ sẽ nghiêm xét bất cứ một hành vi tái gây hấn vi phạm
thoả hiệp trên, đe doạ hòa bình và an ninh thế giới; Hoa Kỳ tôn trọng việc thực
hiện thống nhất Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do đặt dưới sự giám sát của Liên
Hiệp Quốc. Ông Bedell Smith kết luận:
“Chúng tôi chia
sẻ niềm hy vọng rằng các thỏa hiệp nầy sẽ cho phép Cao Miên, Lào và Việt Nam
nắm giữ điạ vị của họ, trong độc lập hoàn toàn và chủ quyền đầy đủ, giữa cộng
đồng yêu chuộng hoà bình của các quốc gia, và sẽ khiến cho các dân tộc ở các
vùng đó có thể tự định đoạt lấy tương lai của mình.”(11c)
V.- Việc thi hành Hiệp định Genève
Hội nghị Genève kết
thúc với ba văn kiện chính thức (ngày 20-7-1954) và một bản tuyên bố chung (ngày
21-7-1954) là: 1) Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam. 2) Hiệp định
đình chỉ chiến sự ở Lào. 3) Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Cambodge
(Cambodia). 4) Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại
hòa bình ở Đông Dương.
Ngoài bốn văn kiện trên, còn có hai văn kiện
do hai phái đoàn đưa ra là: 1) Tuyên ngôn của phái đoàn QGVN. 2) Tuyên ngôn của
phái đoàn Hoa Kỳ.
Cần chú ý hai
điểm:
Thứ nhất, Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam tức Hiệp định
đình chiến Genève chỉ có tính cách thuần túy quân sự, nói về việc rút
quân, tập trung quân, thời hạn chuyển quân… mà hoàn toàn không đề cập đến giải
pháp chính trị.
Thứ hai, không có phái đoàn
nào ký tên vào bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập
lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954. Một điều rất lạ lùng là sự
việc bất thường nầy, một văn kiện quốc tế mà không có chữ ký, lại ít được chú ý
và ít được sách báo viết đến.(12)
Điều 7 của bản tuyên bố nầy mở đầu bằng
câu “Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam…” (La Conférence déclare
qu’en ce qui concerne le Vietnam…), nghĩa là về vấn đề Việt Nam, Hội nghị
nghĩ rằng, đưa ra ý kiến rằng, hay dự kiến rằng … một cuộc Tổng tuyển cử sẽ
được tổ chức vào tháng 7-1956…, còn làm theo hay không làm theo, nghĩa là thi
hành hay không thi hành, là tùy các bên liên hệ. Hội nghị không cam kết
và cũng không yêu cầu các bên liên hệ cam kết là sẽ thi hành tổng tuyển cử, vì
bằng chứng rõ ràng nhất là Hội nghị không yêu cầu bên nào ký vào bản tuyên bố
nầy, để cam kết hay để giữ lời cam kết. Những hiệp định với đầy đủ chữ
ký mà còn bị vi phạm trắng trợn, huống gì là những bản tuyên bố không chữ ký.
Hơn nữa, đây là một
bản tuyên bố chứ không phải là một bản hiệp ước. Một bản tuyên bố lại
không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nước nào, kể các các chính phủ liên hệ đến
cuộc chiến ở Đông Dương, có được xem là một văn kiện có giá trị pháp lý để
thi hành hay không?
Vì những lý do
căn bản nầy, bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại
hòa bình ở Đông Dương”, trong đó đặc biệt điều 7 của bản tuyên bố nầy về dự
kiến một cuộc tổng tuyển cử trong năm 1956, không có tính cách pháp lý
để bắt buộc bất cứ nước nào thi hành. Nói cho cùng, có thể nói rằng bản
tuyên bố nầy khá mơ hồ và không đưa ra một giải pháp chính trị cụ thể cho tương
lai Đông Dương sau khi hai bên đình chiến.
Tinh thần của bản
tuyên bố Genève ngày 21-7-1954 khiến người ta liên tưởng đến “Tối hậu thư
Potsdam” mà các nước Anh, Hoa Kỳ và Trung Hoa Dân Quốc (Tưởng Giới Thạch) gởi
cho Nhật Bản ngày 26-7-1945. Tối hậu thư Potsdam buộc Nhật Bản đầu hàng
vô điều kiện và quy định rằng ở Đông Dương quân đội Trung Hoa sẽ giải giới quân
đội Nhật ở phía bắc vĩ tuyến 16, và quân đội Anh sẽ giải giới quân đội Nhật ở
phía nam vĩ tuyến 16 (ngang qua Tam Kỳ). Tuy nhiên tối hậu thư nầy không
đề cập đến việc ai sẽ cai trị Đông Dương sau khi quân đội Nhật bị giải giới và
rút về nước, nghĩa là không đưa ra một giải pháp chính trị cho Đông Dương.
Điều nầy sẽ tạo ra
một khoảng trống hành chánh và chính trị tại Đông Dương sau năm 1945 một khi
những quyết định trong tối hậu thư Potsdam được thi hành, vì nếu Nhật đầu hàng,
chính phủ Trần Trọng Kim do Nhật bảo trợ, cũng sẽ sụp đổ, thì ai sẽ là người có
thẩm quyền tại Đông Dương? Đây là thâm ý của Anh và Hoa Kỳ, cố tình bỏ
ngỏ khoảng trống chính trị để tạo điều kiện cho Pháp trở lại Đông Dương.
Nay bản “Tuyên bố
cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”
cũng đi vào vết xe cũ, không đưa ra một giải pháp chính trị cụ thể cho tương
lai Đông Dương, ngoài một bản tuyên bố không có người ký. Từ đó, các bên
liên hệ đến bản tuyên bố có thể tùy tiện giải thích bản tuyên bố một cách khác
nhau, tùy theo chủ trương chính sách của mỗi bên, và nhất là tùy theo “lý của kẻ
mạnh”.
Ngay trong Hội nghị Liễu Châu từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, cả CHNDTH lẫn
VNDCCH đã thỏa thuận tạm hòa để tiếp tục chiến tranh. Cũng trong hội
nghị Liễu Châu, những nhà lãnh đạo VNDCCH đã trình bày kế hoạch hậu chiến,
trường kỳ mai phục, gài người cùng chôn giấu vũ khí tại miền Nam để chờ đợi thời
cơ nổi dậy. Như thế có nghĩa là kế hoạch tấn công miền Nam, vi phạm hiệp
định Genève đã được phía cộng sản dự tính trước khi ký kết hiệp định.
Cho đến nay, chưa
có một giải thích cụ thể nào cho biết tại sao bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội
nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”, lại không không có
chữ ký của phái đoàn các nước?
Phải chăng sau nhiều
tháng hội họp, các phái đoàn quá mệt mỏi với những tranh cãi triền miên, nên chỉ
hỏi ý kiến bằng miệng cho chóng thông qua? Hay phải chăng có một âm mưu
muốn tính chuyện về sau, nên chỉ hỏi bằng miệng để bỏ ngỏ vấn đề, nhằm dọn đường
cho những tính toán chính trị kế tiếp sau hiệp định Genève?
Và ai là người đã
chủ xướng biện pháp chính trị lập lững nầy? Nước nào chủ xướng thì chưa
biết, nhưng chính phủ QGVN rất yếu thế, ngay từ đầu đã bác bỏ việc chia cắt đất
nước, phản đối hiệp định Genève, nên chắc chắn QGVN không phải là nước
chủ xướng.
Ngày
22-7-1954, thủ tướng chính phủ QGVN là Ngô Đình Diệm ra tuyên cáo phản đối việc
chia hai nước Việt Nam. Tuy nhiên cuối cùng chính phủ QGVN vẫn chấp nhận
thi hành hiệp định Genève ngày 20-7-1954, chia hai đất đất nước ở sông
Bến Hải, vùng vĩ tuyến 17. Như thế, từ năm 1954, tại Bắc và Nam Việt Nam,
có hai chính phủ riêng biệt, theo hai chính thể riêng biệt, tức có hai nước
Việt Nam riêng biệt.
Thi hành hiệp định
đình chiến Genève, việc ngưng bắn chính thức có hiệu lực ngày 27-7-1954
tại Bắc Việt, ngày 1-8-1954 tại Trung Việt, và ngày 11-8-1954 tại Nam Việt.
Vấn đề cấp thời của hai chính phủ là tập trung và di chuyển quân đội, công chức,
cán bộ của mình và cả dân chúng, về khu vực cai trị của mình. Điều 2 của
Hiệp định Genève (20-7-1954) cho phép thực hiện việc di chuyển các lực
lượng của hai bên về vùng tập hợp ở hai bên giới tuyến tạm thời trong thời gian
300 ngày.
Ngày 9-10-1954 là hạn
chót cho những người muốn di cư vào Nam di tản khỏi Hà Nội. Hôm sau, ngày
10-10-1954, quân đội VM vào tiếp thu Hà Nội. Chủ tịch Uỷ ban Quân quản Hà
Nội của VM là Vương Thừa Vũ tức Nguyễn Văn Đồi, người đã chỉ huy cuộc tấn công
Hà Nội ngày 19-12-1946 và trở thành tư lệnh sư đoàn đầu tiên của VM là sư đoàn
308. Hải Phòng, điểm tập trung đồng bào miền Bắc muốn di cư bằng tàu thủy
vào miền Nam, do VM tiếp thu ngày 13-5-1954. Ba ngày sau, toán lính Pháp
cuối cùng rút lui khỏi đảo Cát Bà (vịnh Hạ Long, vùng Hải Phòng) ngày
16-5-1955. (Nếu tính từ ngày ngưng bắn có hiệu lực ở Bắc Việt (27-7-1954) cho đến
ngày 16-5-1955 là 9 tháng 20 ngày.)
Số người từ miền Nam
tập kết ra Bắc không được thống kê đầy đủ. Theo sự trình bày của Võ
Nguyên Giáp tại Hội nghị Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Hoa) từ ngày 3-7-1954 giữa
Hồ Chí Minh và Châu Ân Lai, trước khi chiến tranh kết thúc, VM dự tính bước đầu
rút khoảng 60,000, trong đó 50,000 người là bộ đội và 10,000 người làm công tác
chính trị, nhất là những người “đỏ” quá, không thể ở lại. Ngoài ra, VM dự
tính sẽ lưu lại miền Nam từ 5,000 đến 10,000 người để chờ thời cơ, và vũ khí
nào cất giấu được thì cất giấu sau khi quân đội rút đi.(13) Theo một tài
liệu khác cũng của cộng sản, số người tập kết ra Bắc khoảng 175,000 người và
15,0000 học sinh.(14) Số lượng nầy có thể đã được phóng đại và
không thể kiểm chứng được.
Số người từ miền Bắc
di cư vào miền Nam lên đến khoảng gần 900,000 người.(15) Trong số nầy,
nhân viên chính quyền (tức công chức) và quân nhân chiếm một phần ít, còn đại
đa số là dân chúng. Đây là đợt tỵ nạn cộng sản lớn lao đầu tiên trong lịch
sử hiện đại, cũng là đợt di dân nội địa lớn lao nhất trong lịch sử nước ta.
Vài điểm đáng chú ý về cuộc di cư vĩ đại
của dân chúng miền Bắc vào miền Nam như sau
Thứ nhất, số người ra đi đông
đảo như trên rời đất Bắc có lợi cho đảng Lao Động, vì những thành phần chống
cộng, đối lập, bất đồng chính kiến, những nhân vật theo các đảng phái Quốc gia,
đều rút về miền Nam, nên không còn, hay ít còn người ở lại đối kháng với chế độ
mới ở ngoài Bắc.
Thứ hai, người Việt Nam vốn rất ràng buộc với quê cha đất tổ, mà gần một triệu người
đành phải bỏ xứ ra đi. Trong chiến tranh, bộ máy tuyên truyền của Việt
Minh luôn luôn ca tụng chế độ cộng sản và chê bai chính thể QGVN. Nay cuộc
di cư vĩ đại có thể xem là cuộc trưng cầu dân ý cho thấy số người miền Bắc chọn
lựa vào miền Nam đông hơn số người miền Nam tập kết ra Bắc, chứng tỏ lòng dân
như thế nào đối với chế độ của đảng Lao Động (tức là đảng CSVN)?
Thứ ba, sự chọn lựa nầy củng cố niềm tin nơi chính phủ QGVN, giúp chính phủ QGVN
vững tâm hành động, và làm tăng giá trị của chính thể QGVN đối với thế giới.
Thứ tư, ngoài những cán bộ
cộng sản được cài lại ở miền nam, sống lẫn lút trà trộn trong dân chúng,(16)
chắc chắn đảng Lao Động không bỏ qua cơ hội cho đảng viên cốt cán len lõi vào
đoàn người di cư vào miền Nam để làm tình báo, như trường hợp Vũ Ngọc Nhạ,(17)
hay Vũ Bằng…(18)
Đúng một năm sau hiệp
định Genève, để kiếm cớ gây chiến, Phạm Văn Đồng, thủ tướng Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa (VNDCCH), tức Bắc Việt gởi thư ngày 19-7-1955 cho thủ tướng Quốc
Gia Việt Nam (QGVN) tức Nam Việt là Ngô Đình Diệm, yêu cầu mở hội nghị hiệp
thương bắt đầu từ ngày 20-7-1955, để bàn về việc tổng tuyển cử thống nhất đất
nước theo quy định của hiệp định Genève.
Ngày 10-8-1955, thủ
tướng Ngô Đình Diệm đã bác bỏ đề nghị của thủ tướng Phạm Văn Đồng, dựa vào lý
do rằng chính phủ QGVN không ký vào hiệp định Genève và nhất là vì
không có bằng chứng nào cho thấy VNDCCH đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi
Quốc tế Cộng sản.
Chính thể QGVN đổi
thành Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) vào ngày 26-10-1955. Tuy chính phủ VNCH
nhiều lần từ chối, Phạm Văn Đồng vẫn nhắc lại đề nghị nầy hằng năm vào các ngày
11-5-1956, 18-7-1957, và 7-3-1958 để tuyên truyền với quốc tế. Lần cuối,
Ngô Đình Diệm, lúc đó là tổng thống VNCH, bác bỏ đề nghị trên vào ngày
26-4-1958.
Do vào sự bác bỏ của
của chính phủ Nam Việt, Bắc Việt tố cáo chính phủ Nam Việt không tôn trọng hiệp
định Genève. Trong khi đó, hiệp định Genève chỉ là một hiệp
định đình chiến và đã được các phe liên hệ tức là chính phủ VM và chính phủ
QGVN thi hành xong ngay từ 1954, chia hai nước Việt Nam thành Bắc Việt và Nam
Việt duới sự giám sát của Uỷ hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến, gồm đại diện các
nước Canada (Gia Nã Đại), Poland (Ba Lan), India (Ấn Độ). Còn bản “Tuyên
bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”
không có chữ ký, thì chẳng có giá trị pháp lý để thi hành. Tuy nhiên, k
Kết luận
Sau trận Điện Biên
Phủ (7-5-1954), khi Pháp quyết định rời bỏ hẳn Việt Nam, các cường quốc trên
thế giới, Quốc tế Cộng Sản cũng như Quốc tế Tư bản, lại một lần nữa can thiệp,
và áp đặt một giải pháp chính trị theo quyền lợi của họ, buộc các phe phái ở
Việt Nam phải thi hành.
Để bỏ chạy an toàn,
Pháp thỏa mãn những đòi hỏi về phía khối cộng sản, thỏa hiệp với cộng sản chia
hai nước Việt Nam và ấn định lịch tổng tuyển cử năm 1956, mà không cần đếm xỉa
đến ý nguyện của chính phủ QGVN. Pháp quyết ký hiệp định Genève (20-7-1954),
để vĩnh viễn rút quân ra khỏi ba nước Đông Dương, không còn liên hệ gì đến Việt
Nam. Như thế, Pháp dựa vào tư cách nào để ấn định lịch tổng tuyển cử vào
năm 1956 về tương lai chính trị nước Việt Nam? Lịch tổng tuyển cử nầy lại
không được các phái đoàn tham dự ký kết để bảo đảm thi hành. Kinh nghiệm
lịch sử cho thấy cộng sản luôn luôn ký kết hiệp ước để làm kế hoãn binh và
không bao giờ tôn trọng hiệp ước đã ký kết, huống gì là những văn bản không có
chữ ký như bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại
hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954.
Cần chú ý điểm chót:
Khi Mao Trạch Đông
chiếm lục địa Trung Quốc, các cường quốc Tây phương không công nhận CHNDTQ và
không cho CHNDTQ thay thế Trung Hoa Dân Quốc tại Liên Hiệp Quốc. Nhờ chiến
tranh Việt Nam, Trung Quốc được các cường quốc mời họp Hội nghị Genève.
Nghĩa là Trung Quốc được ngồi ngang hàng với các cường quốc Tây phương nhờ
chiến tranh Việt Nam, nhờ xương máu của dân tộc Việt Nam. (Việc nầy tái
diễn trong chiến tranh 1960-1975, vì do cuộc chiến nầy, Nixon qua Bắc Kinh dàn
xếp với Mao Trạch Đông và Châu Ân Lai. Sau đó, Hoa Kỳ mở cửa cho Trung Quốc
cộng sản vào LHQ.)
Chính phủ QGVN non
trẻ, bị động theo chính sách của Pháp, là chuyện đành phải chấp nhận.
VNDCCH (VM), dầu đã lợi dụng và sử dụng xương máu người Việt để chiến đấu, và tự
cho rằng đã chiến thắng đế quốc Pháp, cũng không thể cưỡng chống lại những ý đồ
của Liên Xô và CHNDTQ.
Nói cách khác, người
Việt ở cả hai phía nói chung, hoàn toàn không thể tự quyết định tương lai của chính
mình, mà phải bị động trước những áp đặt của ngoại bang, dù đó là ngoại bang tư
bản hay ngoại bang cộng sản. Bất cứ một ngoại bang nào đến với Việt Nam
cũng đều vì quyền lợi riêng tư của họ, chứ chẳng phải vì yêu thương hay giúp đỡ
nước Việt Nam. Chẳng bao giờ có tình nghĩa xã hội chủ nghĩa hay tình
nghĩa tư bản chủ nghĩa. Chỉ có “quyền lợi chủ nghĩa” giữa các nước mà thôi.
Đất nước bị chia hai,
dân tộc bị chia hai, nhưng Hiệp định Genève chỉ là một hiệp định “đình
chiến”, tức mới chỉ ngừng tay đánh nhau, chứ chưa phải là hiệp ước hòa
bình. Sau chín năm chiến tranh triền miên (1946-1954), dân chúng Việt Nam
rất khao khát hòa bình, nhưng giấc mơ hòa bình vẫn còn ngoài tầm tay của người
Việt. Lòng dân muốn hòa bình, nhưng những kẻ chủ trương độc tài luôn luôn
muốn tóm thâu quyền lực, luôn luôn muốn xâm lấn để toàn trị. Và như thế,
vận nước chưa hết nổi trôi, người Việt sẽ vẫn còn tiếp tục thống khổ…
(Trích Việt sử
đại cương tập 5.) (Toronto, 19-7-2010) © Trần Gia Phụng
————————————————————————————————-
Chú
thích:
Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, cuốn 5, Paris: Nam Á 2002,
tr. 2642. Trong sách Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, sđd. tr. 54,
đăng bài dịch của bản “Tuyên bố” nầy, nhưng phía dưới không có tên người
ký. Tài liệu Pentagon Papers cũng không có tên ai ký dưới bản
tuyên bố.
Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, sđd. tr. 53 (11a), tr. 56 (11b), tr.
58 (11c). Nguyên văn tiếng Pháp điều 7 như sau: “La Conférence
déclare qu’en ce qui concerne le Vietnam, le règlement des problèmes
politiques, mis en oeuvre sur la base du respect des principes de
l’indépendance, de l’unité et de l’intégrité territoriales, devra permettre au
peuple vietnamien de jouir des libertés fondamentales, garanties par des
institutions démocratiques formées à la suite d’élections générales libres au
scrutin secret. Afin que le rétablissement de la paix ait fait des progrès
suffisants et que soient réunies toutes les conditions nécessaires pour
permettre la libre expression de la volonté nationale, les élections générales
auront lieu en juillet 1956, sous le contrôle d’une commission internationale
composée de représentants des Etats membres de la Commission internationale
pour la surveillance et le contrôle visée à l’accord sur la cessation des
hostilités. Des consultations auront lieu à ce sujet entre les autorités
représentatives compétentes des deux zones à partir du 20 juillet 1955. (http://www.ena.lu/conference_geneve_20_21_juillet_1954-010703174.html). Có thể xem thêm bản tiếng dịch Anh: Gravel
(ed.), Pentagon Papers, Vol. 1, pp. 279-282.
Ngày nay, vào
Google.com, tìm “Déclaration finale de Genève en 1954”, thì có ghi rõ câu nầy
ngay từ tiểu mục của các bài viết: “Une déclaration finale en treize points,
non signée par les participants.. “ [Môt bản tuyên bố cuối cùng gồm 13 điểm,
không chữ ký của những người tham dự..]
Tiền Giang, Chu Ân
Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân lai và Hội nghị Genève], Bắc
Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, bản dịch của Dương Danh Dy, tựa đề Vai
trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27, “Hội nghị Liễu Châu then
chốt”. (diendan@diendan.org) (trích ngày 1-2-2009.) Xem thêm Thế
Kỷ 21, số tháng 8-2007, tr. 29. Ông Nguyễn Văn Trấn, trong sách Viết
cho Mẹ & Quốc hội, Nxb. Văn Nghệ, California, 1995, có đề cập đến vấn
đề người miền Nam tập kết ra Bắc, nhưng cũng không cho biết cụ thể số lượng
người tập kết là bao nhiêu?
Đặng Phong chủ
biên, Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập II 1955-1975, Hà Nội: Nxb.
Khoa Học Xã Hội, 2005, tr. 45.
Theo Đoàn Thêm, đến
ngày 30-10-1955 là ngày chính thức chấm dứt cuộc di cư, số lượng người di cư tỵ
nạn là 887,890 người. (Đoàn Thêm, sđd. tr. 195.) Thực tế ở ngoài
còn cao hơn nhiều.
Điển hình là Lê Duẫn,
bí thư Xứ uỷ Nam bộ, ở lại miền Nam đến 1957 mới ra Bắc. (Về sau, người ta mới
biết điều nầy.) (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập I-C: 1955-1963,
Houston, Nxb. Văn Hóa, 2000, tr. 17.)
Vũ Ngọc Nhạ:
Khi di cư vào Nam năm 1954, Vũ Ngọc Nhạ làm giám thị tại một trường học do linh
mục Hoàng Quỳnh phụ trách. Nhờ linh mục Hoàng Quỳnh giới thiệu, Vũ Ngọc
Nhạ dần dần được đưa vào làm việc ở phủ tổng thống dưới thời Đệ nhất Cộng
Hòa. Vũ Ngọc Nhạ bị nghi ngờ, bị bắt một thời gian, nhưng không có bằng
chứng cụ thể nên được thả ra. Qua thời Đệ nhị Cộng Hòa, Vũ Ngọc Nhạ tiếp
tục hoạt động, và bị bắt trở lại vào ngày 28-7-1969 vì tội làm gián điệp trong
cụm tình báo chiến lược A 22 của cộng sản.
Vũ Bằng (1914-1984),
tên thật là Vũ Đăng Bằng, còn có những bút danh khác là Tiêu Liêu, Lê Tâm, Vũ
Tường Khanh, Hoàng Thị Trâm, nguyên quán tỉnh Hải Dương, là một nhà báo khá nổi
tiếng ở Hà Nội trước năm1954 và Sài Gòn sau 1954. Đặc biệt, theo tiết lộ
của báo chí Hà Nội (báo Nhân Dân ngày 9-3-2000, báo An Ninh Thế Giới số 172,
ngày 13-4-2000), Vũ Bằng hoạt động cho Cục tình báo chiến lược quân sự của cộng
sản từ năm 1952. Năm 1954, Vũ Bằng di cư vào Sài Gòn tiếp tục hoạt động
với tư cách là cơ sở khai thác tin tức phục vụ tình báo cho đến 30-4-1975.
Tác phẩm để lại: Lọ văn (1936), Một mình trong đêm tối (1937), Truyện
hai người (1940), Tội ác và hối hận (1940), Để cho chàng khỏi khổ
(1941), Cai (1948), Ăn tết thủy tiên (1956), Khảo về tiểu
thuyết (1960), Bốn mươi năm nói láo (1969), Món lạ miền Nam (1970),
Cái lồng đèn (1971), Nhà văn lắm chuyện (1971), Những cây cười
tiền chiến (1971), Nói có sách (1972), Thương nhớ mười hai
(1972), và một số sách dịch.
Hiệp Định Genève 20.7.1954 /
Trần Gia Phụng
bản pdf
Mời tham gia thảo luận về việc thành lập Hội đồng Trọng tài của dự án
Hiệp định Genève,
1954
Bách khoa toàn thư
mở Wikipedia
Mục từ
"Hiệp định Genève" dẫn đến bài này. Xin đọc về các nghĩa khác tại Hiệp định Genève (định hướng).
Hội nghị Genève.
Hiệp định Genève 1954 (tiếng Việt: Hiệp định
Giơ-ne-vơ năm 1954) là hiệp định được kí kết
để khôi phục hòa bình ở Đông Dương. Được kí kết
tại Thành Phố Genève của Thụy Sỹ. Hiệp định dẫn đến chấm dứt sự hiện diện của
quân đội Pháp trên bán đảo Đông Dương,
chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại
Đông Dương.
Nguyên ủy, Hội nghị Genève khai mạc
ngày 26 tháng 4 năm 1954 để bàn về
vấn đề khôi phục hoà bình tại Triều Tiên và Đông Dương. Do
vấn đề Triều Tiên không đạt được kết quả nên từ ngày 8 tháng 5 vấn đề Đông Dương
được đưa ra thảo luận.
Mục lục [ẩn]
·
3 Lập trường
và quan điểm của các bên tham dự
o 3.1 Lập trường
của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
o 3.3 Lập trường
của Quốc gia Việt Nam
o 3.4 Lập trường
của Vương quốc Campuchia
o 3.5 Lập trường
của Vương quốc Lào
o 3.9 Lập trường
của Trung Quốc
·
5 Các hoạt
động có liên quan
·
6 Nội dung
cơ bản của Hiệp định Genève
o 6.1 Hiệp định
đình chỉ chiến sự tại Việt Nam
o 6.2 Hiệp định
đình chỉ chiến sự tại Lào
o 6.3 Hiệp định
đình chỉ chiến sự tại Campuchia
·
7 Tuyên bố
cuối cùng ngày 21 tháng 7 năm 1954
o 8.1 Phản đối
sự chia đôi đất nước
o 8.2 Lực lượng
vũ trang tập kết và dân chúng di cư
o 8.3 Quốc gia
Việt Nam từ chối tổng tuyển cử
o 8.4 Mỹ hỗ trợ
quân sự cho Quốc gia Việt Nam
o 8.5 Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa đề nghị tổng tuyển cử
Bối cảnh [sửa]
Bài chi tiết: Kế hoạch Navarre, Cuộc hành quân Atlante, Chiến cục đông-xuân 1953-1954, và Chiến dịch Điện Biên Phủ
Quân đội Nhân dân Việt Nam phất cờ chiến thắng trên nóc hầm chỉ huy của
Pháp tại Điện Biên Phủ
Tháng 7 năm 1953, chỉ huy mới của quân Pháp, tướng Henri Navarre, đến Đông Dương. Được sự hứa
hẹn về việc Mỹ tăng viện trợ quân sự, Navarre chuẩn bị cho
một cuộc tổng phản công mà báo chí Pháp và Mỹ gọi là "Kế hoạch Navarre".
Ngày 18 tháng 7 năm 1953, Navarre mở cuộc hành quân Hirondelle ("Con
én") vào Lạng Sơn và cuộc hành binh
"Camargue" vào Quảng Trị nhằm phá hủy được
một số dụng cụ và máy móc của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ở Lạng Sơn, quân Pháp lùng sục các kho tàng rồi
vội vã rút chạy. Sau đó truyền thông Pháp loan tin quân đội đã diệt được hai
tiểu đoàn, một số căn cứ trong khu tam giác là mối đe dọa trên quốc lộ số 1.
Liên tiếp với hai cuộc hành quân này,
ngày 9 tháng 8 năm 1953 Pháp rút quân ra khỏi Nà Sản bằng không vận. Trước đây,
năm 1952, Pháp đặt cứ điểm Na Sản để ngăn Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến công
quân Pháp ở Lào.[1]
Ngày 15 tháng 10 năm 1953, Navarre mở Cuộc hành quân Moutte vào Ninh
Bình và Thanh Hóa hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường chính. Mục đích
chính lại là phá các căn cứ hậu cần tiền duyên của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc
tiến công 1953-1954 được cho là sẽ diễn ra ở đồng bằng. Nhưng thực sự trong kế
hoạch Quân đội Nhân dân Việt Nam được đề ra
hồi tháng 9, đồng bằng Bắc Bộ chỉ là
chiến trường phối hợp. Cuộc hành quân Moutte diễn ra là
sự suy đoán sai của Navarre cùng sự xuất sắc của bộ đội mật mã Việt Nam.
Tháng 11 năm 1953, Navarre mở cuộc hành quân Castor đánh chiếm Điện Biên Phủ - Khu vực mà
ông cho rằng có vị trí chiến lược chặn giữa tuyến đường chính của Quân đội Nhân dân Việt Nam sang Lào.
Navarre xem căn cứ này vừa là một vị trí khóa chặn, vừa là một cái bẫy để nhử
đối phương vào một trận đánh lớn theo kiểu kinh điển và có tính chất quyết định
mà tại đó Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ bị tiêu diệt bởi pháo binh và hỏa lực không quân vượt trội của Pháp.
Navarre đã chọn Điện Biên Phủ - vùng đất
nằm trong một thung lũng lớn, cách Hà Nội 200 dặm đường không,
với sự chi viện của khoảng 400 máy bay. Quân Pháp sau những trận đánh nống
thất bại đã nhường các điểm cao xung quanh cho Quân đội Nhân dân Việt Nam, Navarre cho
rằng khi đó Quân đội Nhân dân Việt Nam không đủ khả
năng đưa pháo lên Điện Biên Phủ nên sẽ không có nguy hiểm gì từ các điểm cao. Điện Biên Phủ được Navarre
xem như là một "cái nhọt tụ độc", hút hết phần lớn chủ lực của
Quân đội Nhân dân Việt Nam và đảm bảo
an toàn cho đồng bằng Bắc Bộ.
Khi đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang nghĩ
tới một cuộc tấn công, hy vọng sẽ mở được một con đường xuyên Lào thọc qua
Campuchia. Sau đó đưa lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Bắc
vào chi viện bổ sung cho lực lượng sẵn có ở Nam Bộ. Trong cuộc
họp tháng 11 năm 1953 của Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, các chỉ huy quân sự quyết định mở Chiến cục đông-xuân 1953-1954 để xé lẻ
khối quân chủ lực của Pháp đang co cụm đồng bằng Bắc Bộ. Các vị trí tiến công
được xác định ở Lai Châu, Trung-Hạ Lào và Tây Nguyên. Ý tưởng tuyến đường chiến
lược xuyên Lào sẽ được thực hiện một phần trong tương lai thông qua con đường mòn Hồ Chí Minh.
Chiến dịch Lai Châu và Chiến dịch Trung Lào tháng 12 năm
1953 đến tháng 1 năm 1954 đã giúp Quân đội Nhân dân Việt Nam nắm giữ mảng
lớn còn lại của vùng Tây Bắc (Điện Biên Phủ chỉ là một thung lũng nhỏ) và phần
lớn vùng Trung và Nam Lào.[2]
Để đối phó, Navarre tăng cường cho
Điện Biên Phủ khiến nó trở thành một "pháo đài bất khả xâm phạm"
trong con mắt phương Tây. Nhưng Navarre không hề biết rằng bản thân đã rơi vào
một cái "bẫy" của Võ Nguyên Giáp khi
"đặt bẫy" đối thủ của mình. Việc xây dựng một tập đoàn cứ điểm ở vùng
núi Tây Bắc hiểm trở hút đi của Pháp những đơn vị thiện chiến nhất. Điều đó tạo
nên khoảng trống không thể bù vào ở đồng bằng Bắc Bộ.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định
vào "bẫy", và đưa vào Điện Biên Phủ 4 sư đoàn với một số
lượng lớn pháo xấp xỉ quân Pháp ở Điện Biên Phủ, dù
cơ số đạn hạn chế (chủ yếu là thu được của Pháp; phần Trung Quốc viện trợ rất
hạn chế do nước này tham chiến tại Triều Tiên). Những cuộc
tiến công trên toàn Đông Dương không cho Pháp tập hợp một đội quân
cơ động ứng cứu. Những đơn vị phòng không đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam được huấn
luyện ở Liên Xô về nước tham chiến. Một lực lượng
khổng lồ dân công làm công tác vận tải. Các đơn vị mạnh nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam bao vây quân
Pháp ở Điện Biên Phủ.
Cuộc vây hãm Điện Biên Phủ diễn ra từ
ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5 khi quân Pháp đầu
hàng. Ở Washington đã có cuộc
tranh luận về việc Mỹ có nên trực tiếp can thiệp bằng quân sự, nhưng tổng thống
Eisenhower đã quyết
định loại bỏ khả năng này do chính quyền Anh sẽ không ủng hộ.
Cục diện chiến trường
Đông Dương, tại thời
điểm trong và sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát
khoảng 2/3 lãnh thổ Việt Nam, nhưng chủ
yếu là các vùng nông thôn và rừng núi, một số thị xã nhỏ, chưa kiểm soát được
các thành phố lớn, Pháp kiểm soát một số tỉnh đồng bằng và các thành phố lớn đông dân cư, một
số tỉnh đồng bằng nằm trong vùng tranh chấp. Việt Minh kiểm soát gần như toàn
bộ miền Bắc Việt Nam nhưng tại miền Nam Việt Nam, Quân đội Quốc gia Việt Nam và quân đội
Pháp chiếm ưu thế, quân đội riêng của các giáo phái tự trị cũng khá mạnh nên
Việt Minh chỉ kiểm soát được một số vùng tại Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây
Nam Bộ.
Sau 56 ngày đêm, cứ
điểm Điện Biên Phủ thất thủ,
toàn bộ 16000 quân Pháp bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh. Điện Biên Phủ là
chiến thắng quân sự lớn nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong toàn
bộ chiến tranh Đông Dương. Trên phương
diện quốc tế trận này có một ý nghĩa rất lớn: lần đầu tiên quân đội của một
quốc gia thuộc địa châu Á đánh thắng bằng quân sự một quân đội
của một cường quốc châu Âu.
Trận Điện Biên Phủ đã
đánh bại ý chí duy trì Đông Dương là lãnh thổ
thuộc Liên hiệp Pháp của Pháp và buộc nước này ra khỏi Đông Dương. Ngày 8 tháng 5, hội nghị Geneva bắt
đầu họp bàn về vấn đề khôi phục hòa bình ở Đông Dương.
Bản đồ Đông Dương tháng 7 năm 1954, Nguồn:
The Pentagon Papers Gravel Edition, Volume 1, Chapter 3, "The Geneva
Conference, May-July, 1954", page 123 (Boston: Beacon Press, 1971)
Thành phần
tham dự[sửa]
·
Phái
đoàn Anh, do Anthony Eden làm trưởng đoàn.
·
Phái
đoàn Hoa Kỳ, do Bedell Smith làm trưởng đoàn.
·
Phái
đoàn Liên bang Xô viết, do Viacheslav Molotov làm trưởng đoàn.
·
Phái
đoàn Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, do Chu Ân Lai làm trưởng đoàn.
·
Phái
đoàn Pháp, do Georges Bidault làm trưởng đoàn.
·
Phái
đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn[3].
·
Phái
đoàn Quốc gia Việt Nam, do Nguyễn Quốc Định làm trưởng đoàn sau thay thế bởi Nguyễn
Trung Vinh rồi Trần Văn Đỗ.
·
Phái
đoàn Vương quốc Lào, do Phumi Sananikone làm trưởng đoàn.
·
Phái
đoàn Vương quốc Campuchia, do Tep Than, làm trưởng đoàn.
·
Hai
phái đoàn Pathet Lào và Khmer Issarak không được chính thức tham gia hội nghị mà
chỉ có quan hệ với phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tất cả các nguyện vọng của hai đoàn này được
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trình bày trước hội nghị.
Hai đồng chủ tịch Hội
nghị là Liên Xô và Anh.
Lập trường và
quan
điểm của các bên tham dự[sửa]
Lập trường của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[sửa]
Phía Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng đề ra lập trường 8 điểm[4]:
1.
Pháp
công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia.
2.
Ký một
hiệp định về việc rút quân đội nước ngoài ra khỏi 3 nước trong thời hạn do
các bên tham chiến ấn định. Trước khi rút quân, đạt thỏa thuận về nơi đóng quân
của lực lượng Pháp hay Việt Nam trong một số khu vực hạn chế.
3.
Tổ chức
tổng tuyển cử tự do trong 3 nước nhằm thành lập chính phủ duy nhất
cho mỗi nước.
4.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố ý định xem xét việc tự nguyện gia
nhập Liên hiệp Pháp và những điều kiện của việc gia nhập đó.
5.
3 nước
thừa nhận các quyền lợi kinh tế, văn hóa của Pháp tại mỗi nước. Sau khi chính phủ duy
nhất được thành lập, các quan hệ kinh tế và văn hóa được giải quyết theo đúng
các nguyên tắc bình đẳng và củng cố.
6.
Hai bên
cam kết không truy tố những người hợp tác với đối phương trong thời
gian chiến tranh.
7.
Trao đổi
tù binh và dân thường bị bắt trong chiến tranh
8.
Các biện
pháp nói trên sẽ được thực hiện sau khi đình chỉ chiến sự [cần dẫn nguồn].
Lập trường
của Pháp[sửa]
Ban đầu phái đoàn
Pháp tham dự Hội nghị giữ lập trường khá cứng rắn: đàm phán với Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa để xoa dịu dư luận và để chính phủ của Thủ tướng Laniel tránh bị
mất tín nhiệm, đồng thời tranh thủ thời gian cứu nguy cho quân đội Pháp ở Đông
Dương. Sau một thời gian giữ lập trường cứng rắn thì Pháp gánh chịu thất bại
lớn ở trận Điện Biên Phủ, nội các của
thủ tướng Laniel bị nhân dân Pháp lên án, buộc phải từ chức ngày 12 tháng 6.
Phe chủ chiến ở Pháp
bị đánh đổ, Mendès France thuộc phái
chủ hòa lập chính phủ mới. Ngày 18 tháng 6, khi nhậm chức, Mendès France tuyên
bố sẽ từ chức nếu trong vòng một tháng không đạt được ngừng bắn ở Đông Dương.[4] Pháp muốn
rút khỏi chiến tranh Đông Dương trong danh dự đồng thời duy trì những lợi ích
kinh tế và ảnh hưởng văn hoá tại Lào, Campuchia và miền Nam Việt Nam.[5]
Lập trường
của Quốc gia Việt Nam[sửa]
Ngày 4/6/1954, trước
khi Hiệp định Genève được ký kết 6 tuần, Pháp đã ký một Hiệp định với Quốc gia Việt Nam công nhận
Quốc gia Việt Nam hoàn toàn độc lập. Theo đó chính phủ Quốc gia Việt Nam sẽ tự
chịu trách nhiệm với những hiệp định quốc tế được ký bởi Pháp trước đó nhưng có
liên quan tới họ, cũng như không còn bị ràng buộc bởi bất cứ hiệp ước nào do
Pháp ký sau này. Nhưng cũng có những lập luận cho rằng Quốc gia Việt Nam vẫn bị
ràng buộc bởi Hiệp định Genève, bởi vì chính phủ này chỉ sở hữu một vài thuộc
tính của một chủ quyền đầy đủ, và đặc biệt là nó phụ thuộc vào Pháp về quốc
phòng.[6]
Ông Trần Văn Đỗ, trưởng đoàn đại
diện của Quốc gia Việt Nam tuyên bố sẽ không ký vào Hiệp định Genève với lý do
hiệp định gây chia cắt Việt Nam[7] và đẩy Quốc
gia Việt Nam vào thế nguy hiểm[8]. Đại diện
phái đoàn Quốc gia Việt Nam ra một tuyên bố riêng:
“Việc ký hiệp định giữa Pháp và Việt Minh có những điều khoản gây nguy hại
nặng nề cho tương lai chính trị của Quốc gia Việt Nam. Hiệp định đã nhường cho
Việt Minh những vùng mà quân đội quốc gia còn đóng quân và tước mất của (Quốc
gia) Việt Nam quyền tổ chức phòng thủ. Bộ Tư lệnh Pháp đã tự ấn định ngày tổ chức
tuyển cử mà không có sự thỏa thuận với phái đoàn quốc gia Việt Nam... chính phủ
Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam
long trọng phản đối cách ký kết Hiệp định cùng những điều khoản không tôn trọng
nguyện vọng sâu xa của dân Việt. Chính phủ Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị
ghi nhận rằng Chính phủ tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo
vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất,
Độc lập, và Tự do cho xứ sở.”[8][9]
Tuy vậy, lời phản
kháng và đề nghị của đại diện Quốc gia Việt Nam đã không được Hội nghị bàn tới.
Ngoại trưởng Trần văn Đỗ từ Genève tuyên bố với các báo chí như sau: "Từ
khi đến Genève, phái đoàn không bao giờ được Pháp hỏi về ý kiến về điều kiện
đình chiến, đường phân ranh và thời hạn Tổng tuyển cử. Tất cả nhưng vấn đề đó
đều được thảo luận ngoài Hội nghị, thành ra phái đoàn Việt Nam không làm thế
nào bầy tỏ được quan niệm của mình"[cần dẫn nguồn]
Tuy lên tiếng phản
đối, nhưng sau khi hiệp định được kí kết, Chính phủ và quân đội Quốc gia Việt
Nam vẫn cùng quân Pháp tập kết về phía nam vĩ tuyến 17. Ngày 28/4/1954, Uỷ ban
Bảo vệ Bắc Việt Nam của Quốc gia Việt Nam tìm cách kêu gọi dân chúng di cư vào
Nam. Một kế hoạch di cư được đặt ra và một Uỷ ban di cư được thành lập. Ngày
30/7/1954, Thủ tướng Ngô Đình Diệm phát biểu cổ
vũ dân chúng miền Bắc di cư vào miền Nam.
Sau đó, hậu thân của
Quốc gia Việt Nam là Việt Nam Cộng hòa, với sự hậu
thuẫn của Hoa Kỳ đã từ chối tổ chức tuyển cử thống nhất Việt Nam, trái với
Tuyên bố chung của Hiệp định.
Lập trường
của Vương quốc Campuchia[sửa]
Chính phủ Hoàng gia
Campuchia mong muốn hoàn toàn độc lập đồng thời chấm dứt chiến tranh trên lãnh
thổ Campuchia. Lực lượng Khmer Issarak phải giải
giáp, đổi lại Chính phủ Hoàng gia Campuchia chấp nhận một cuộc tổng tuyển cử tự
do bầu ra Chính phủ mới, trong đó những thành viên Khmer Issarak có thể tham
gia với tư cách là ứng cử viên hoặc cử tri. Những thành viên Khmer Issarak sẽ không bị
phân biệt đối xử dưới bất cứ hình thức nào.[5]
Campuchia cam kết
trung lập, không tham gia vào bất cứ liên minh quân sự nào trái Hiến chương
Liên Hợp Quốc trừ khi an ninh của Campuchia bị đe doạ.[5]
Lập trường
của Vương quốc Lào[sửa]
Lập trường của Chính
phủ Hoàng gia Lào tương tự Chính phủ Hoàng gia Campuchia. Lào mong muốn hoàn
toàn độc lập và chấm dứt chiến tranh trên lãnh thổ Lào. Lực lượng quân sự Pathet Lào phải tập kết về hai
tỉnh Phongsaly và Xamneua dưới sự giám sát quốc tế, đổi lại
Chính phủ Hoàng gia Lào chấp nhận một cuộc tổng tuyển cử tự do bầu ra Chính phủ
mới trong đó những thành viên Pathet Lào có thể tham gia với
tư cách là ứng cử viên hoặc cử tri. Những thành viên Pathet Lào sẽ không bị phân
biệt đối xử dưới bất cứ hình thức nào.[5]
Lào cam kết trung
lập, không tham gia liên minh quân sự và hạn chế việc cho phép nước ngoài xây dựng
căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình trừ khi an ninh của Lào bị đe doạ.[5]
Lập trường
của Anh[sửa]
Nước Anh không muốn
dính líu vào chiến tranh Đông Dương cùng với Mỹ nhưng cũng không muốn gây tổn
hại đến quan hệ đồng minh với Mỹ. Anh kiên trì khuyên Mỹ trì hoãn những hành
động quân sự tại Đông Dương bao gồm việc thành lập khối SEATO cho đến khi
"lực lượng cộng sản đưa ra giải pháp hoà bình" được Mỹ chấp thuận do
đó không phải lựa chọn ủng hộ hay không ủng hộ Mỹ.[5] Ngoài ra,
Anh chủ trương ủng hộ Pháp thương lượng trên thế mạnh.[4]
Lập trường
của Hoa Kỳ[sửa]
Phái đoàn Hoa Kỳ từ
chối ký và không công nhận Hiệp định Genève nhưng ra Tuyên bố nước này "sẽ
coi mọi sự tái diễn của các hành động bạo lực vi phạm Hiệp định là điều đáng lo
ngại và là mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế”.[10]
Trong Tuyên bố của
mình, đối với sự chia cắt Việt Nam trái nguyện vọng của hai miền Nam - Bắc,
chính phủ Mỹ cũng nêu rõ quan điểm "tiếp tục cố gắng đạt được sự thống
nhất thông qua những cuộc tuyển cử tự do được giám sát bởi Liên Hiệp Quốc để
bảo đảm chúng diễn ra công bằng"[10].
Lập trường
của Liên Xô[sửa]
Mục tiêu của Liên Xô
là ngăn chặn nguy cơ chiến tranh vượt ra khỏi phạm vi Đông Dương khiến phương
Tây đoàn kết lại ủng hộ Mỹ và buộc Liên Xô phải cam kết bảo vệ Trung Quốc. Liên
Xô cũng muốn ngăn ngừa việc quốc hội Pháp thông qua kế hoạch thành lập Cộng
đồng Phòng thủ Châu Âu. Đồng thời Liên Xô muốn tạo dựng hình ảnh là người bảo
vệ hoà bình thế giới và nâng đỡ vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế.[5]
Lập trường
của Trung Quốc[sửa]
Hội nghị Geneve là cơ
hội quan trọng để đưa Trung Quốc thành một thế lực chính tại Châu Á mà không
nước nào có thể bỏ qua.
Trung Quốc không quan
tâm đến lợi ích của những người cộng sản và dân tộc chủ nghĩa tại ba nước Đông
Dương. Trung Quốc thoả hiệp với các nước phương Tây trong giải pháp phân chia
lãnh thổ bất lợi đối với lực lượng bản xứ chống Pháp tại các nước này.[11]
Mục tiêu cao nhất của
Trung Quốc là mong muốn các bên ký kết một hiệp định về Đông Dương để tránh mọi
sự can thiệp của Mỹ. Trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc Chu Ân Lai ra tuyên bố:
"Ba nước Đông Dương sẽ không tham gia vào bất cứ khối liên minh quân sự
nào và không một nước ngoài nào được phép thành lập căn cứ quân sự trên lãnh
thổ của họ." Tuyên bố của Trung Quốc kết thúc bằng câu "Chúng ta hãy
hết sức tin tưởng và tiếp tục đấu tranh để bảo vệ hoà bình thế giới."[11]
Diễn biến hội
nghị[sửa]
Tạ Quang Bửu, phía đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và tướng
Pháp Henri Delteil, Quyền Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương,
Phái đoàn Pháp đang ký Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam
Vào ngày 26 tháng 4
năm 1954, hội nghị Genève về Đông Dương chính thức được khai mạc. Từ ngày 8
tháng 5 đến ngày 23 tháng 6, các bên trình bày
lập trường của mình về cách giải quyết vấn đề Việt Nam và Đông Dương. Do lập
trường giữa các đoàn có một khoảng cách khá lớn nên các cuộc đàm phán tiến
triển rất chậm chạp. Tuy nhiên, sự nhân nhượng lẫn nhau chỉ xuất hiện trong các
cuộc thảo luận riêng. Cuối cùng, Pháp và Trung Quốc đã thỏa thuận một
giải pháp chung cho vấn đề Đông Dương: giải quyết vấn đề quân sự trước, tách
rời giải pháp chính trị tại ba nước Đông Dương.
Từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 20 tháng 7, phái đoàn Pháp và
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán trực tiếp để giải quyết các vấn đề cụ thể,
xoay quanh các vấn đề: quyền tham gia hội nghị của các đại biểu chính phủ kháng chiến Lào và chính phủ kháng chiến
Campuchia; chọn vĩ tuyến để khẳng định giới tuyến quân sự tạm
thời và thời hạn tổ chức tổng tuyển cử tự do để thống nhất Việt Nam.
Ngay từ đầu, Pháp đã đưa ra đề nghị tạm chia đôi Việt Nam
và lập một chính phủ Liên hiệp. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp nhận ý kiến và
đưa ra những đề nghị về làn phân ranh. Hai bên mặc cả với nhau, Pháp thì đề
nghị ở vĩ tuyến 18, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì muốn ở vĩ tuyến 13. Ngày
9-7-1954, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra đề nghị hạ xuống vĩ tuyến
14, Pháp vẫn giữ vững vĩ tuyến 18. Ngày 13-7, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa lại hạ yêu cầu xuống vĩ tuyến 16 và đến ngày 19-7 thì hai bên thoả thuận
ranh giới tạm thời sẽ ở độ vĩ tuyến 17, phù hợp với ý kiến
của Anh và Mỹ.
Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định
Genève về Đông Dương bắt đầu được ký kết với nhiều văn kiện, chủ yếu là:
1.
Ba hiệp
định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam, Lào và Campuchia
2.
Bản
tuyên bố cuối cùng của hội nghị (không có chữ ký)
Ngoài ra còn những
tuyên bố riêng và những văn kiện ngoại giao riêng giữa các nước tham gia
như :
1.
Bản
tuyên bố riêng ngày 21 tháng 7 của Mỹ tại Hội nghị Genève
2.
Bản
tuyên bố của chính phủ Pháp ngày 21 tháng 7, trong đó nêu rõ Pháp sẵn sàng rút
quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, Lào, Campuchia theo lời yêu cầu của chính phủ
những nước có liên quan trong một thời gian do các bên thoả thuận.
3.
Các
công hàm trao đổi giữa Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng và Thủ tướng Pháp Pierre Mendès-France.
Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam và Lào được ký
bởi đại diện của hai lực lượng quân sự chính có liên quan, đó là Thiếu tướng Delteil, thay mặt
cho Tổng Tư lệnh Quân đội Liên hiệp Pháp ở Đông Dương, và Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng
Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thay mặt cho Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Phái đoàn
Hoa Kỳ từ chối công nhận Hiệp định Genève nhưng tuyên bố rằng nước này "sẽ
coi mọi sự tái diễn của các hành động bạo lực vi phạm hiệp định là điều đáng lo
ngại và là mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế"[12]. Chính phủ
Quốc gia Việt Nam từ chối ký và theo Bernard B. Fall không đủ thực quyền để ký
kết Hiệp định.[13] Trưởng đoàn
Quốc gia Việt Nam, Trần Văn Đỗ, lên tiếng phản đối sự chia cắt đất nước.
Các hoạt động
có liên quan[sửa]
Trong khi Hội nghị
Genève đang tiến hành, thì tại miền Bắc Việt Nam, Hội nghị Trung Giá đã khai sinh
từ 1 cuộc họp sơ bộ ngày 29 tháng 5/1954. Hơn 1 tháng sau, hội nghị chính đã
khai diễn ngày 4 tháng 7/1954 và bế mạc ngày 27/7/1954.
Tham gia Hội nghị
gồm:
·
Phái
đoàn Quốc gia Việt Nam gồm có Trung tá Trang Văn Chính (trưởng phái đoàn), sau đó Trung tá Lâm Ngọc Huấn thay thế, Thiếu tá Nguyễn Phước Đàng, Đại úy Nguyễn Bửu, sau thay thế bởi Đại úy Trần Ngọc Huyến.
·
Phái
đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam do Văn Tiến Dũng (Thiếu tướng) làm trưởng đoàn, Lê Linh, Lê Quang Đạo (Đại tá), Song Hào, Nguyễn Văn Lung (Trung tá), thông dịch viên tên Lê (thiếu
tá).
·
Phái
đoàn Pháp do Đại tá Lennuyeux làm trưởng đoàn, Trung tá Le Roy, Thiếu tá Le
Flahec, Sanani, Sacquin và Đại uý Lohmann thông dịch viên.
Hội viên chính thức
của Hội nghị là 2 đoàn Pháp và Quân đội Nhân dân Việt Nam (đại diện
cho bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Đại diện
của Quân đội Quốc gia Việt Nam chỉ là bộ
phận thứ yếu bên cạnh phái đoàn Pháp và theo giao kết thì chỉ có các trưởng phái
đoàn Pháp và Quân đội Nhân dân Việt Nam phát biểu ý kiến. Mọi vấn đề đem ra
thảo luận để quyết định với Việt Minh hoàn toàn do Pháp đưa ra, phái đoàn Quốc
gia Việt Nam chỉ được thông báo sau đó. Trong các buổi họp thu hẹp, chỉ có các
trưởng phái đoàn Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự, đại biểu của Quốc
gia Việt Nam không được mời dù với tính cách quan sát viên. Tại hội nghị chỉ
treo 2 lá cờ Pháp và cờ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong khi Pháp có thái độ
vội vã trong buổi họp, thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại tỏ ra ung dung thong
thả để tạo thêm lợi thế khi thảo luận.
Sau Hiệp định,
hơn 1 triệu người đã rời miền Bắc Việt Nam theo chương trình Passage to Freedom (Con đường đến Tự Do) hay di cư (tháng 8 năm 1954)
Hội nghị Trung Giá
đã thỏa thuận và quyết định "đại diện các Bộ Tư lệnh tối cao hai bên
phải gặp nhau tại Genève và các cuộc tiếp xúc cũng phải được thực hiện tại chỗ.
Quyết định này cũng định rõ vai trò của các đại diện Bộ Tư lệnh tối cao phải
nghiên cứu tình trạng quân sự để thiết lập ngay sau khi đình chiến các dữ kiện
đình chỉ mọi hoạt động chiến đấu. Hội nghị tại chỗ phải thông báo càng sớm càng
tốt cho Hội nghị tại Genève các kết quả rút tiả được cùng những đề nghị của
họ."
Hội nghị quân sự tại chỗ là hội nghị quân sự
địa phương (tức là Hội nghị Trung Giá) có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với các
phái đoàn tại Hội nghị Genève. Trong hơn 3 tuần, từ 4/7 đến 27/7/1954, Hội nghị
Trung Giá đã thảo luận các vấn đề tù binh, ngưng bắn, và thiết lập các tiểu ban
hỗn hợp về tù binh, tiểu ban nghiên cứu thủ tục thi hành ngưng bắn và các tiểu
ban hỗn hợp lãnh thổ. Cuối cùng có những thỏa hiệp được ký kết nhằm "làm
cho các đơn vị đối lập cách biệt nhau ra, trở về các căn cứ, hoặc tập trung ở
những địa điểm trú quân tạm thời cốt để tránh mọi giao tiếp có thể gây ra xung
đột giữa hai bên."
Hội nghị Trung Giá bị
ràng buộc bởi các điều khoản của Hiệp định Genève nên việc tổ chức kiểm soát
các thỏa hiệp và quyết định bởi các ban hỗn hợp đã không mang lại kết quả.
Trong thực tế, các ban hỗn hợp cũng không có quyền hạn gì ngoài những nhận xét,
báo cáo và trình cấp trên của mỗi bên để xin giải quyết.
Nội
dung cơ bản của Hiệp định Genève[sửa]
Hiệp định
đình chỉ chiến sự tại Việt Nam[sửa]
Hiệp định Genève có
nội dung cơ bản như sau[14] :
·
Các nước
tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của 3
nước Việt Nam, Lào, Campuchia, không can thiệp vào công việc nội bộ 3 nước.
·
Các bên
tham chiến thực hiện ngừng bắn, lập lại hòa bình trên toàn Đông Dương
·
Các bên
tham chiến thực hiện cam kết, chuyển quân, chuyển giao khu vực, trao trả tù
binh
·
Dân
chúng mỗi bên có quyền di cư sang lãnh thổ do bên kia kiểm soát trong thời gian
quân đội hai bên đang tập kết
·
Cấm đưa
quân đội, nhân viên quân sự,vũ khí nước ngoài vào Đông Dương. Nước ngòai không
được đặt căn cứ quân sự tại Đông Dương
·
Thành lập
Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình
chiến Đông Dương (tiếng Anh: International Control Commission, ICC; tiếng Pháp: Commission Internationale pour la Surveillance et le
Contrôle, CISC) gồm Ấn Độ, Ba Lan và Canada, với Ấn Độ làm chủ tịch.
·
Sông Bến Hải, vĩ tuyến 17, được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam
làm hai vùng tập kết quân sự tạm thời. Chính quyền và quân đội Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa tập trung về miền Bắc; Chính quyền và quân đội khối Liên hiệp Pháp tập
trung về miền Nam. Khoản a, điều 14 ghi rõ : "Trong khi đợi tổng
tuyển cử thống nhất Việt Nam, bên nào có quân đội của mình tập hợp ở vùng nào
theo quy định của Hiệp định này thì bên ấy sẽ phụ trách quản lý hành chính ở
vùng ấy."
Điều 6 Bản Tuyên bố
chung ghi rõ: “các bên không nên coi đường ranh giới quân sự là biên giới
lãnh thổ hay chính trị”.[15]
Hiệp định Genève
không có điều khoản nào quy định chi tiết về thời điểm cũng như cách thức tổ
chức Tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam-Bắc Việt Nam. Nhưng Bản tuyên bố
cuối cùng của Hội nghị Genève (không một
nước nào ký tên cả, vậy có giá trị pháp lý hay không?) ghi rõ cuộc Tổng
tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7/1956 (dân
tộc Việt Nam bị đào thải, vậy có giá trị hay không?...Đây đúng là một cuộc tạm
ngưng để sửa soạn cho một cuộc chiến thảm khốc khác mà bên ký phải chịu trách
nhiệm với dân tộc Việt Nam, tức Việt Minh và Pháp)
Hiệp định
đình chỉ chiến sự tại Lào[sửa]
Hiệp định
đình chỉ chiến sự tại Campuchia[sửa]
Tuyên bố cuối
cùng ngày 21 tháng 7 năm 1954[sửa]
Tuyên bố cuối cùng
ngày 21 tháng 7 năm 1954 có nội dung như sau[15]:
1. Các đại biểu tham dự hội nghị đã ký hiệp định
đình chiến tại Việt Nam, Lào và Campuchia; tổ chức cơ quan quốc tế giám sát việc
thực hiện các điều khoản trong hiệp định.
2. Hội nghị bày tỏ sự hài lòng trước việc chấm dứt
chiến sự tại 3 nước Việt Nam, Lào và Cạmpuchia. Hội nghị tin rằng việc thực hiện
những điều khoản trình bày trong tuyên bố này và trong những hiệp định đình chiến
sẽ tạo điều kiện giúp Việt Nam, Lào, Campuchia có được nền độc lập, tự chủ hoàn
toàn.
3. Tại hội nghị, chính phủ Lào và Campuchia đã
đưa ra các tuyên bố về việc áp dụng quy tắc cho phép công dân tham gia kỳ tổng
tuyển cử dự kiến được tổ chức trong năm 1955 phù hợp với hiến pháp của mỗi nước,
thông qua hình thức bỏ phiếu kín và với điều kiện tôn trọng quyền tự do cơ bản.
4. Hội nghị ghi nhận các điều khoản trong hiệp định
đình chiến tại Việt Nam, cấm các nước đưa quân đội và nhân viên quân sự cũng
như tất cả các loại vũ khí, đạn dược vào Việt Nam. Hội nghị cũng ghi nhận các
tuyên bố chung của chính phủ Lào và Campuchia về việc không yêu cầu viện trợ nước
ngoài, cả thiết bị chiến tranh, nhân viên hay người hướng dẫn, trừ trường hợp
yêu cầu được đưa ra vì mục đích phòng thủ lãnh thổ của họ.
5. Hội nghị ghi nhận những điều khoản trong hiệp
định đình chiến tại Việt Nam: không thiết lập căn cứ quân sự mới tại vùng tập kết,
mỗi bên có trách nhiệm canh chừng những khu vực tập kết của mình để đảm bảo
không tham gia bất cứ liên minh quân sự nào và không sử dụng khu tập kết vì mục
đích tiếp tục chiến sự hoặc phục vụ cho một chính sách hiếu chiến. Hội nghị ghi
nhận tuyên bố của chính phủ Lào và Campuchia về việc không tham gia bất kì hiệp
định nào với nước khác nếu hiệp định này bao gồm điều khoản phải tham gia liên
minh quân sự trái với Hiến chương Liên Hiệp Quốc.
6. Hội nghị công nhận mục đích chính của hiệp định
liên quan tới Việt Nam là để giải quyết vấn đề quân sự theo hướng chấm dứt xung
đột và các bên không nên coi đường ranh giới quân sự là biên giới lãnh thổ
hay chính trị. Hội nghị bày tỏ sự tin tưởng rằng việc thực hiện những điều
khoản đề ra trong hiệp định đình chiến sẽ tạo cơ sở cho việc đạt được một giải
pháp chính trị tại Việt Nam trong tương lai gần.
7. Hội nghị tuyên bố, giải pháp cho những vấn đề
chính trị ở Việt Nam dựa trên cơ sở tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ sẽ cho phép người dân Việt Nam được hưởng nền tự do cơ bản thông qua kết
quả tổng tuyển cử tự do sẽ được tổ chức tháng 7/1956.
8. Những điều khoản trong hiệp định đình chiến
nhằm đảm bảo sự an toàn cho người dân và tài sản phải được tuân thủ một cách
nghiêm túc và phải cho phép mỗi người dân Việt Nam được quyền tự do quyết định
nơi họ sinh sống.
9. Các bên không được phép trả thù những cá nhân
đã hợp tác với đối phương trong thời chiến cũng như gia đình của những người
này.
10. Hội nghị ghi nhận tuyên bố của chính phủ Pháp
về việc sẵn sàng rút quân khỏi lãnh thổ Việt Nam, Lào và Campuchia theo yêu cầu của chính phủ những nước
liên quan trong thời gian do các bên lựa chọn.
11. Hội nghị ghi nhận tuyên bố của chính phủ Pháp
về giải pháp khôi phục và củng cố hoà bình tại Việt Nam, Lào và Campuchia.
Chính phủ Pháp sẽ tôn trọng sự tự do, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
của 3 nước.
12. Trong quan hệ với Việt Nam, Lào, Campuchia, mỗi
thành viên tham dự Hội nghị Genève sẽ tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước; không can thiệp vào công việc nội bộ của 3 nước.
13. Các thành viên tham dự hội nghị đồng ý hỏi ý
kiến nhau về bất kỳ vấn đề nào Uỷ ban Giám sát quốc tế đưa ra.
Bản tuyên bố cuối
cùng về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương không có chữ ký của bất cứ phái đoàn
nào tham dự hội nghị.[16] Tuy nhiên
văn bản này đã được các nước dự hội nghị chấp thuận cam kết chính thức.[17] Đại diện Mỹ
ra tuyên bố riêng trong đó thừa nhận tôn trọng Hiệp định Genève.[17]
Các sự kiện hậu hiệp định[sửa]
Phản đối sự
chia đôi đất nước[sửa]
Một ngày sau khi Hiệp
định được ký kết, tức ngày 22 Tháng Bảy, Thủ tướng Ngô Đình Diệm ra lệnh treo cờ rủ toàn Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào
để bày tỏ quan điểm chống đối sự chia đôi đất nước.[18]
Ngày 22-7-1954. Chủ tịch Hồ Chí
minh ra lời kêu gọi đồng bào cả nước: "Đấu tranh để củng cố hoà bình,
thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu
dài và gian khổ”., và khẳng định: “Trung, Nam, Bắc đều là bờ cõi của
nước ta, nước ta nhất định thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải
phóng”....(Lời người đọc: Đúng là Hồ Chí Minh ký để câu giờ, sửa soạn tái võ
trang để gieo thảm khốc cho dân Việt!).[19]
Lực lượng vũ
trang tập kết và dân chúng di cư[sửa]
·
Quân đội Nhân dân Việt Nam, lực lượng vừa giành được thắng lợi quan trọng
tại chiến dịch Điện Biên Phủ, tập kết về miền Bắc.
·
Tuy
không ký kết Hiệp định Genève và đã tách ra khỏi Liên hiệp Pháp trước khi Pháp ký Hiệp định Genève nhưng lực
lượng Quốc gia Việt Nam vẫn theo quân đội Pháp tập kết về miền Nam.
Trên 1 triệu người dân từ miền Bắc được sự trợ giúp cũng như ảnh hưởng tuyên
truyền của Mỹ đã di cư vào Nam (trong đó có khoảng 800.000 người Công giáo, chiếm khoảng 2/3 số người Công giáo ở miền Bắc), và
140.000 người từ miền Nam (phần lớn là lực lượng kháng chiến của Việt Minh) tập
kết ra Bắc[20].
Những gười di cư bằng
thuyền năm 1954 từ miền Bắc
·
Quân đội
Pháp dần dần rút khỏi miền Nam trong 2 năm và trao quyền lực cho chính quyền Quốc
gia Việt Nam.
Quốc gia Việt
Nam từ chối tổng tuyển cử[sửa]
Sau khi Hiệp định
Genève được ký kết, Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm tuyên bố: "Chúng
tôi không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà
bình và dân chủ", nhưng đồng thời còn nói thêm là ông "nghi
ngờ về việc có thể bảo đảm những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc"[21]. Thủ tướng
Ngô Đình Diệm tuyên bố rằng, mục tiêu của Quốc gia Việt Nam là "thống
nhất đất nước trong tự do chứ không phải trong nô lệ".[21].
Theo Tuyên bố cuối
cùng của Hiệp định Genève thì tổng tuyển cử ở cả hai miền được dự trù vào tháng
7 năm 1956 nhưng Tổng thống Ngô Đình Diệm bác bỏ mọi cuộc thảo luận sơ khởi,
hành động này khiến Ngô Đình Diệm bẽ mặt ở phương Tây.
Nhưng theo Duncanson
thì sự thật phức tạp hơn nhận định của các nhà phê bình.
Miền Bắc có dân số
đông hơn miền Nam 2 triệu người (tính cả gần 1 triệu người miền Bắc đã di cư
vào Nam). Hơn nữa, vào thời điểm 1955 – 1956, trước sự hỗn loạn bởi các giáo
phái và do hoạt động bí mật của Việt Minh tại miền Nam, cuộc Cải cách ruộng đất tại miền
Bắc Việt Nam tạo ra bầu không khí căng thẳng dẫn đến cuộc nổi dậy của
nông dân tại các vùng lân cận Vinh (Quỳnh Lưu), những tình hình diễn ra ở cả hai
miền khiến Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình
chiến Đông Dương không có hy vọng đảm bảo một cuộc bầu cử
thật sự tự do trong đó cử tri có thể bỏ phiếu theo ý muốn mà không sợ bị trả
thù chính trị.[22]
Tuy nhiên, trái ngược
với quan điểm của Ducanson, theo các báo cáo của Ủy ban giám sát quốc tế thì
trong giai đoạn 1954-1956, họ chỉ nhận được 19 đơn khiếu nại về việc trả thù
chính trị trên toàn lãnh thổ miền Bắc Việt Nam[23].
Mỹ không công nhận
kết quả Hiệp định Genève tuy nhiên vẫn tuyên bố ủng hộ nền hòa bình tại Việt
Nam và thúc đẩy sự thống nhất hai miền Nam Bắc Việt Nam bằng các cuộc bầu cử tự
do dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, những nguồn tin khác nhau
chỉ ra cho Tổng thống Mỹ Eisenhower thấy khoảng
80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh nếu cuộc tổng tuyển
cử được thi hành.[24], do đó Mỹ
thực tế lại ủng hộ việc Việt Nam Cộng Hòa từ chối tổ chức Tổng tuyển cử tự do
thống nhất Việt Nam.[cần dẫn nguồn] Cuộc tổng
tuyển cử tự do cho việc thống nhất Việt Nam đã không bao giờ được tổ chức. (Lời
người đọc: Giả thử bản văn có giá trị pháp lý thì cuộc bầu cử sẽ diễn ra giữa
nước Pháp (Paris) và Việt Cộng để xem người dân thích làm Tây hay làm công cụ
sản xuất cho Nga-Sô? Lý do: Tây ký với Việt Cộng mà, chứ dân Việt có ki-lô nào
đâu; mà Việt Cộng cũng chưa được dân bàu lấy một lần)
Mỹ hỗ trợ
quân sự cho Quốc gia Việt Nam[sửa]
Bài chi
tiết: Quá trình can thiệp của Mỹ vào
chiến tranh Việt Nam
Mỹ từ lâu đã coi miền
Nam Việt Nam là địa bàn quan trọng trong chiến lược chống sự lan rộng của chủ
nghĩa cộng sản tại Đông Nam Á và đã viện trợ tích cực cho Pháp chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau khi
Pháp thất bại, Mỹ đẩy mạnh các hoạt động tại Việt Nam, chuẩn bị cho những bước
can thiệp sâu hơn. Năm 1954, đội bán quân sự của Mỹ do Edward Lansdale, người của CIA và đã làm cố
vấn cho Pháp tại Việt Nam từ 1953, chỉ huy đã thực hiện các hoạt động tuyên
truyền tâm lý chiến để kêu gọi và vận động dân chúng miền Bắc di cư vào Nam[25]; giúp huấn
luyện sỹ quan Việt Nam tại các căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Bình Dương; huấn luyện
các lực lượng vũ trang của Quốc gia Việt Nam (sau là Việt
Nam Cộng hòa); xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ quân sự tại Philippines; bí mật đưa một
lượng lớn vũ khí và thiết bị quân sự vào Việt Nam; giúp đỡ phát triển các kế
hoạch "bình định Việt Minh và các vùng chống đối"[26].
Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa đề nghị tổng tuyển cử[sửa]
Năm 1956, Việt Nam
Cộng hòa được thành lập trên cơ sở Quốc gia Việt Nam. Dưới sự hậu thuẫn của Hoa
Kỳ, Việt Nam Cộng hòa tiếp tục theo đuổi chính sách của Quốc gia Việt Nam là từ
chối tổng tuyển cử với lý do "nghi ngờ về việc có thể bảo đảm những điều
kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc".
Trong khi chính phủ
Việt Nam Cộng hòa từ chối hiệp thương tổng tuyển cử tự do, đồng thời ra sức
củng cố quyền lực, đàn áp khốc liệt những người kháng chiến cũ, cùng những Đảng
viên Đảng Lao động trung thành còn lại ở miền Nam bằng những chiến dịch
"tố cộng"-"diệt cộng", thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn
chuẩn bị cho tổng tuyển cử và cố gắng theo đuổi các giải pháp hòa bình.
Nghị quyết tháng 3
năm 1955 của Ủy ban Trung ương Đảng Lao
động chính thức tuyên bố chính sách đặt ưu tiên cao nhất cho
việc xây dựng miền Bắc trong khi sử dụng ngoại giao để kêu gọi một giải pháp
hòa bình cho miền Nam.[28]
Hà Nội tìm kiếm hỗ
trợ quốc tế, kêu gọi các đồng chủ tịch hội nghị Genève, nhắc nhở Pháp về trách nhiệm đối với việc thống nhất hai miền Việt
Nam thông qua Tổng tuyển cử tự do theo đúng tinh thần của Bản Tuyên bố cuối
cùng tại Hội nghị Genève
(Nên nhắc lại là Bản Tuyên Bố này không có
chữ ký của bất kỳ phe nào cả).
Tháng 6 năm 1955 Hà
Nội tuyên bố sẵn sàng mở hội nghị hiệp thương với Sài Gòn nhưng không được đáp
ứng, đã gửi thư cho hai đồng chủ tịch hội nghị (Anh - Liên Xô) yêu cầu ứng phó
và vạch rõ chính quyền Sài gòn bị ràng buộc, hai đồng chủ tịch sao các bức thư
của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi các nước tham dự hội nghị và các
nước trong Ủy ban quốc tế, yêu cầu nhận xét và mở lại hội nghị Genève.
Chính quyền Hà Nội
đồng ý mở lại hội nghị. Tháng 4 năm 1956 hai chủ tịch hội nghị hội đàm, gửi ba
thư cho chính quyền 2 miền Việt Nam, chính quyền Pháp và ủy ban quốc tế, xác
nhận giá trị pháp lý của hiệp nghị. Miền Bắc cũng ra sách trắng (Dịch chữ bạch
thư thành sách trắng là chửi cha tiếng Việt!. Người Việt gọi là sách nói toạc
móng heo hay sự thật lịch sử) "Tài
liệu về việc thi hành Hiệp nghị Genève".
Tháng 7 năm 1956, sau khi yêu cầu đàm
phán không được chính quyền Ngô Đình Diệm trả lời, Hà Nội yêu cầu các đồng chủ
tịch hội nghị Genève tổ chức một cuộc hội nghị mới, yêu cầu này lại được lặp
lại vào tháng 8. Các yêu cầu đàm phán với chính phủ Ngô Đình Diệm tiếp tục được
gửi vào tháng 6 và tháng 7 năm 1957, tháng 3 và tháng 12 năm 1958, tháng 7 năm
1959, và tháng 7 năm 1960, nhưng đều bị từ chối.
(Lời người đọc:
Sự thực thì
Tổng Thống Ngô Đình Diệm không từ chối, mà là đưa ra những điều kiện sửa soạn
môi trường tự do để người dân được bày tỏ ý nguyện trung thực của mình sau khi
được biết rõ đường lối chánh trị của 2 bên. Đó là tự do ngôn luận mà Việt Cộng
đang cố bưng bít nên Tổng Tuyển Cử không thành. Vì Việt Cộng chỉ thành công khi
có tự do bưng bít thông tin và trói chặt tư duy; còn phá bỏ bưng bít thông tin
là Việt Cộng thua to: Bằng cớ ngày hôm nay nè, ai có ý kiến khác Đảng là đi tù
mút chỉ).
Trong khi tiến trình
yêu cầu và từ chối đàm phán vẫn tiếp diễn, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn cố tái
lập quan hệ thương mại giữa 2 miền[29], để giúp "nhân
dân hai vùng trao đổi kinh tế, văn hóa và xã hội, nhằm tạo thuận lợi cho việc
khôi phục cuộc sống bình thường của người dân." Hội nghị Ban Chấp hành
Trung ương lần thứ tám (khoá II) dự kiến: "Muốn thống nhất nước nhà
bằng phương pháp hoà bình, cần phải tiến hành thống nhất từng bước; từ chỗ tạm
thời chia làm hai miền tiến đến chỗ thống nhất chưa hoàn toàn, từ chỗ thống
nhất chưa hoàn toàn sẽ tiến đến chỗ thống nhất hoàn toàn." Nhưng cũng
như vấn đề bầu cử, chính quyền Việt Nam Cộng hòa thậm chí còn từ chối cả việc
thảo luận.
GHI CHÚ CỦA NGƯỜI ĐỌC/MỘT
ĐIỂM THIẾU SÓT
{{Miền Nam tiếp thu
nền độc lập từ tay người Pháp trao cho Quốc Gia Việt Nam do Trưởng Bảo Đại lãnh
đạo vào giữa tháng 7 (Juillet) 1955 ; tức là ngay sau khi quân đội Quốc
Gia Việt Nam đánh tan quân Bình Xuyên.
Bình Xuyên do Bảy
Viễn lãnh đạo là quân trung thành với Thực Dân Pháp làm đảo chánh Thủ Tướng Ngô
Đình Diệm do Quốc Trưởng Bảo Đại bổ nhiệm, với mục tái hồi chế độ Thực Dân thì
ông Bảy Viễn làm thủ tướng chánh phủ thay ông Ngô Đình Diệm, phe ông Nguyễn Văn
Hinh nắm quân đội, dựa hoàn toàn vào Pháp để hất cẳng Mỹ đi.
Ø Quốc Gia Việt
Nam do Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo được thành lập vào ngày 01/10/1947, nghĩa
là sau 2 tháng thâu hồi chủ quyền miền Tây Nguyên với danh nghĩa là HOÀNG TRIỀU
CƯƠNG THỔ (đất của nhà vua).
·
Vì Giải Pháp Bảo Đại 3 bước giành độc lập
được Mỹ và Pháp đồng thuận nên người Pháp mi chÎu nhả Tây Nguyên cho ng Bảo Đại
Ø
BA bước đó là :
1. Đòi lại chủ quyền trên giấy tờ qua hiệp
định Vịnh Hạ Long ngày 05/6/1948.
2. Thành lập quân đội Quốc Gia Việt Nam với
80.000 lính tác chiến hoàn toàn Việt Nam (15/7/1951-30/11/1953)
để thay thế Quân Pháp, nhưng người Pháp phản phé nên mới có trận Điện Biên Phủ
và hiệp định Geneva.
3.
Sau
chót là chiêu hồi người dân về vùng đất Tự Do để cô lập Việt Minh (tức Việt Cộng) rồi mới dùng quân lực thanh
toán.
Vì có hiệp định Genève nên bước thứ NHÌ phải dùng quân lực để
đuổi Pháp đi, và bước thứ BA
chỉ đủ sức phá vỡ toàn thể cơ sở nằm vùng của Việt Cộng ở miền Nam, mà theo hiệp
định Genève thì các cơ sở này không được quyền hoạt động…
Những cán binh Việt Cộng về chiêu hồi đều
được trọng dụng, có người (trong làng
tôi) được bổ nhiệm làm trưởng khu đảo CÔN SƠN giam tù Việt Cộng. Chẳng
có ai bị trả thù như Việt Cộng tuyên truyền cả.
Và cũng vì có hiệp định Genève nên Quốc
Trưởng Bảo Đại mới giải tán Ngự Lâm Quân đóng ở Đà Lạt để bảo vệ vùng Tây
Nguyên, và trao Hoàng Triều Cương Thổ về với đất mẹ vào tháng Mai 1955 (tháng 5/1955).
Tiếp theo là giải tán chế độ Quốc Trưởng để chuyển sang chế độ Cộng Hòa trong
ôn hòa sau cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 23/10/1955 và Chế Độ Quốc Trưởng chánh
thức giải tán vào ngày 26/10/1956 để thống nhất lòng dân và xây dựng phòng
tuyến chống chương trình NGA MỸ thử vũ khí trên đất Việt do chính Hồ Chí Minh
hăm hở và quyết tâm đem tới xuyên qua các hiệp ước mà ông ta đã ký làm bằng
chứng không thể chối cãi được như :
·
Tạm
Ước Sơ Bộ 06/3/1946, ký với Saintenay vào lúc 3 giờ sáng ở Hà Nội – đng ý cho
quân Pháp vào đóng ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Còn Nam Kỳ là đất của Pháp không nói
tới
·
Hiệp
Định Fontainebleau 14/9/1956, ký lúc 2 giờ sáng trên đầu giường ngủ của tên
Thực Dân MOUTET là Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa, chứ không phải Bộ Ngoại Giao như Hồ
Chí Minh nói. Đồng ý giữ nguyên trạng : Người Pháp làm chủ nước Việt Nam
·
Chạy
làng 19/12/1956 bằng cách khai chiến với Thực Dân Pháp để người dân không còn dịp
hỏi tội bán nước của y; trong khi đất
nước đang cần hòa bình để tái thiết sau vụ đói và đệ nhị thế chiến mới chấm dứt.
·
Hiệp
Định Genève 20/7/1954 ; dâng miền Nam cho Thực Dân Pháp
·
Không
kể các bản văn ký ngầm với Mao Trạch Đông khi ông ta còn đeo mặt nạ KHÁNG CHIẾN
chống : Chánh Phủ Trần Trọng Kim, Quốc Trường Bảo Đại và Thực Dân Pháp do
chính ông ta mời vào - coi tạm ước sơ bộ 06/3/1946 ký lúc 3 giờ sáng tại Hà Nội
vớí Saintenay để mời quân Pháp vào Việt Nam .
Quốc Gia Việt Nam được thành lập vào ngày
10/10/1948 ở SAIGON, giải tán vào ngày 26/10/1956 để thay bằng Nến Đệ Nhất Cộng
Hòa Việt Nam
Quân Đội Quốc Gia Việt Nam được thành lập
vào ngày 15/7/1951 và đổi tên thành Quân Đội Cộng Hòa Việt Nam vào ngày
26/10/1956. Sau khi ông Diệm bị thảm sát thì đổi tên thành QUÂN LỰC VIỆT NAM
CỘNG HÒA}}
------------------------------------------------
Chiến tranh
tiếp diễn[sửa]
Lo ngại trước việc
những người kháng chiến cũ của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hoạt động
bí mật tại miền Nam tiến hành hoạt động tuyên truyền và tổ chức quần chúng đấu
tranh chính trị, chính phủ Việt Nam Cộng hoà mở Chiến dịch "tố cộng, diệt
cộng" từ mùa hè năm 1955
Chiến dịch này đã dẫn
đến hàng nghìn người kháng chiến cũ bị bắt, bị giết, số còn lại phải chạy về
các vùng chiến khu chống Pháp cũ để sống sót.
Những người kháng
chiến cũ đáp trả bằng cách ám sát các viên chức Việt Nam Cộng hòa qua các chiến
dịch "diệt ác ôn" và tập hợp lại thành các đơn vị vũ trang quy mô
trung đội, đại đội hoặc tiểu đoàn tấn công vào quân đội Việt Nam Cộng hoà (Lời người đọc: Đây đích thực là vi phạm
Hiệp Định Genève mà Việt Cộng đã cam kết....Gái đĩ già mồm) [30].
Đến cuối năm 1959, Những người kháng chiến cũ ở miền
Nam đã thay đổi từ phương thức đấu tranh chính trị với sự hỗ trợ của đấu tranh
vũ trang sang đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị. Cũng trong
năm 1959, đoàn cán bộ đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà dưới tên gọi Đoàn 559 bí mật vượt Trường Sơn vào chi viện
cho miền Nam (đây đúng là hành động hiếu chiến, vi phạm Hiệp Định Genève).
Tháng 9 năm 1960, Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao Động Việt Nam quyết định cho chính phủ Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức ủng hộ các hoạt động đấu tranh vũ trang và
chính trị của những người kháng chiến cũ ở miền Nam (với nòng cốt là các Đảng
viên Đảng Lao động), mở ra một giai đoạn mới của Chiến tranh Việt Nam (Đây là Việt
Cộng đã thú nhận hành động gây chiến để đưa toàn dân Việt vào gông cùm Cộng
Sản)[31].
Nguồn tham
khảo[sửa]
1.
^ p 497 Việt Sử
Toàn Thư
2.
^ Spencer
C.Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, ABC-CLIO, 2000, tr. 190.
3.
^ Giao lưu trực tuyến với Đại tá
Hà Văn Lâu và ông Lê Danh, Đài tiếng nói Việt Nam
4.
^ a b c Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về
Đông Dương
5.
^ a b c d e f g The Pentagon Papers, Gravel
Edition, Volume 1, Chapter 3, "The Geneva Conference, May-July, 1954"
(Boston: Beacon Press, 1971)
6.
^ The Pentagon Papers Gravel
Edition Volume 1, Chapter 5, "Origins of the Insurgency in South Vietnam,
1954-1960" (Boston: Beacon Press, 1971) Trích : "France, as the third
party in Vietnam, then became pivotal to any political settlement, its executor
for the West. But France had agreed to full independence for the GVN on June
4, 1954, nearly six weeks before the end of the Geneva Conference. By the terms
of that June agreement, the GVN assumed responsibility for international contracts
previously made on its behalf by France; but, there having been no reference to
subsequent contracts, it was technically free of the Geneva Agreements. It
has been argued to the contrary that the GVN was bound by Geneva because it
possessed at the time few of the attributes of full sovereignty, and especially
because it was dependent on France for defense. But such debates turn on
tenuous points of international law regarding the prerogatives of newly
independent or partitioned states. France speedily divested itself of
responsibilities for "civil administration" in South Vietnam."
7.
^ Lịch Sử Việt Nam: Từ Bảo Đại Hồi
2 Tới Ngô Đình Diệm
8.
^ a b Quân sử
(QLVNCH) tập 4. NXb Đại Nam. Chương 3: Các diễn tiến trong việc hình thành quân
đội quốc gia. Trang 202
9.
^ Hiệp định Genève 20-7-1954, Trần
Gia Phụng, Việt báo Online
10. ^ a b Tuyên bố của Mỹ tại Hội nghị
Genève 1954 (bản tiếng Anh)
11. ^ a b Francois
Joyaux, Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ I,
Nhà xuất bản Thông tin lý luận, năm 1981, trang 299,306
12. ^ Washington had
indicated at Geneva that "it would view any renewal of the aggression in
violation of [the agreement] with grave concern and as seriously threatening
international peace and security". Nguồn: Duiker, William, Ho Chi Minh
- A Life, Hyperion, 2000, tr. 470
13. ^ Bernard B.
Fall, The Two Vietnams: A Political and Military Analysis (New York: Praeger,
1964) . Theo Fall thì phái đoàn Quốc gia Việt Nam không có quyền tham gia ký do
lực lượng quân sự của chính quyền này quá nhỏ
14. ^ GENEVA AGREEMENT ON THE
CESSATION OF HOSTILITIES IN VIET-NAM, JULY 20, 1954
15. ^ a b Modern History Sourcebook: The
Final Declaration of The Geneva Conference: On Restoring Peace in Indochina,
July 21, 1954, The Department of State Bulletin, XXXI, No. 788 (August 2,
1954), p. 164.
16. ^ The Pentagon Papers, Gravel
Edition, Volume 1, Chapter 3, "The Geneva Conference, May-July, 1954"
(Boston: Beacon Press, 1971). Trích: Despite article 27 of the
agreement on Vietnam, which bound "successors" (such as Vietnam) to
the signatories to respect and enforce the agreement, Vietnam was in a legally
persuasive position to argue that France could not assume liabilities in its
behalf, least of all to the political provisions contained in the Final
Declaration, which was an unsigned document..
17. ^ a b Lê Mậu Hãn (chủ
biên), Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư..., Đại cương Lịch sử Việt Nam - Tập 3'.NXB
Giáo dục. Hà Nội. 2007. Trang 125.
18. ^ Nguyễn Văn Lục.
Lịch sử còn đó. Garden Grove, CA: Tân Văn, 2008. Trang 125.
19. ^ Nguyễn Quang Ngọc 2006, Chương
XI – Việt Nam trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp và xây dựng chế độ
dân chủ mới (1945-1954), Tiến trình Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Giáo Dục,
Tr.315-324
20. ^ Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người
tị nạn, Flight from Indochina, trang 80-81
21. ^ a b The
Reunification of Vietnam, PRESIDENT NGO DINH DIEM'S BROADCAST DECLARATION ON
THE GENEVA AGREEMENTS AND FREE ELECTIONS (July 16, 1955), page 24, Vietnam
bulletin - a weekly publication of the Embassy of Vietnam in United States,
Special issue No.16, Available online Trích: "Our policy is a policy for
peace. But nothing will lead us astray of our goal, the unity of our country, a
unity in freedom and not in slavery. Serving the cause of our nation, more than
ever we will struggle for the reunification of our homeland. We do not reject
the principle of free elections as peaceful and democratic means to achieve
that unity. However, if elections constitute one of the bases of true
democracy, they will be meaningful only on the condition that they be
absolutely free. Now, faced with a regime of oppression as practiced by the
Viet Minh, we remain skeptical concerning the possibility of fulfilling the
conditions of free elections in the North." dịch là "Chính sách của
chúng tôi là chính sách hoà bình. Nhưng không có gì có thể khiến chúng tôi đi
chệch khỏi mục tiêu của chúng tôi là sự thống nhất đất nước, thống nhất trong tự
do chứ không phải trong nô lệ. Vì dân tộc, chúng tôi sẽ đấu tranh hết sức mình
cho sự thống nhất đất nước. Chúng tôi không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để
thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ. Tuy nhiên nếu những cuộc bầu
cử tạo thành một trong những nền tảng cơ bản của nền dân chủ thật sự thì chúng
chỉ có ý nghĩa với điều kiện chúng hoàn toàn tự do. Hiện nay, thực tế phải đối
mặt với chế độ áp bức của Việt Minh, chúng tôi nghi ngờ về việc có thể bảo đảm
những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc."
22. ^ Duncanson,
Dennis J. Government and Revolution in Vietnam. New York: Oxford
University Press, 1968. tr 223, trích "But Diem set his face against even
the preparatory discussions about elections which the Final Declaration had
enjoined (its force, if any, was uncertain); his behaviour was put down in the
West most commonly to obstinacy and avidity for despotic power". Trích
"yet the truth was more complicated then either these critics, or the
drafter of the agreement, may have realized. Obstinate and avid for power Diem
may also have been, but the decisive factor for him was the balance of
population between North and South: before the cease-fire the Commumists had
had under their control barely a quater of the total population of the country,
and perhaps not that; the cease-fire had awarded them, with their slightly
smaller half of the national territory, a clear majority (even taking account
of their transfer of population) of close on 2 millions".
Trích :"In the circumstances prevailing in 1955 and 1956 - anarchy
of the Sects and of the retiring Vietminh in the South, terror campaign of the
land reform and resultant peasant uprising round Vinh in the North - it was
only to be expected that voters would vote, out of fear of reprisals, in favour
of the authorities under whom they found themselves; that the ICC had no hope
of ensuring a truly free election at that time has been admitted since by the
chief sponsor of the Final Declaration, Lord Avon."
23. ^ Clark Clifford.
Set a date in Vietnam, Stick to it, Get out. The Life, 22nd May, 1970. P. 38
24. ^ Dwight D. Eisenhower, Mandate
for Change, 1953-56 (Garden City, NY: Doubleday & Compnay, Inc., 1963),
trang 372
25. ^ Bernard B.
Fall, The Two Vietnams (New York: Praeger, 1964) pp. 153-4
26. ^ Trích tại The
CIA: A Forgotten History; All other actions: The Pentagon Papers,
Document No. 15: 'Lansdale Team's Report on Covert Saigon Mission in '54 and
'55,' pp. 53-66.
27. ^ Nghị quyết của Quốc hội Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 31 tháng 12 năm 1959 kéo dài nhiệm kỳ của các đại
biểu miền Nam trong quốc hội, website Bộ Tư pháp, truy cập ngày 19 tháng 8 năm
2007
28. ^ Nguồn: Duiker,
tr. 470-471
29. ^ Vietnam News
Agency, 7 tháng 2 năm 1955
30. ^ Lê Mậu Hãn (chủ
biên), Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư..., Đại cương Lịch sử Việt Nam - Tập 3.
NXB Giáo dục. Hà Nội. 2007. Trang 163-164.
31. ^ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ 3 của Đảng Lao Động Việt Nam, phần Niên biểu toàn khoá Website Đảng cộng sản Việt Nam, truy cập
ngày 6-9-2007
Liên kết
ngoài[sửa] -
Tiếng Anh:
·
Toàn văn hiệp định Genève 1954 Nguồn: U.S. Congress, Senate, Committee on
Foreign Relations, 90th Congress, 1st Session, Background Information Relating
to Southeast Asia and Vietnam (3d Revised Edition) (Washington, DC: U.S.
Government Printing Office, tháng 7 năm 1967), pp. 50–62
·
Negotiations and Vietnam: A
Case Study of the 1954 Geneva Conference (Các thương thuyết và Việt Nam: Nghiên cứu tình huống
của cuộc đàm phán Geneva năm 1954), Melvin Gurtov.
Tiếng Pháp: Toàn văn hiệp định Genève 1954: Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Hiệp_định_Genève,_1954&oldid=14091227”
·
Hiệp ước liên quan tới Việt
Nam
·
Văn kiện trong Chiến tranh
Đông Dương
·
Ngoại giao trong Chiến tranh
Đông Dương1954
------------------------------------------
THẢO
LUẬN ĐỂ LÀM SÁNG TỎ VẤN ĐỀ
1/- Nguyên nhân đưa đến Hiệp Định Genève ?
2/- Hai vai chính là Bảo Đại và Hồ Chí Minh, vậy tại
sao Hồ Chí Minh lại ký nhượng cho Pháp nửa nước ; trong khi Bảo Đại không
ký
3/- Giá trị của bản văn này tới đâu ?
¾









0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil