T22 – PHÙ ĐỔNG TÁI THẾ
T22 – PHÙ ĐỔNG TÁI THẾ /
Livestream (12.03.2021)
THẢO
LUẬN CÁC GIẢI PHÁP
GIÀNH
QUYỀN TỰ CHỦ
soạn gỉả: Hoàng Đức Phương
CẦU HIỀN:
Nhóm Nhân Văn Việt Tộc xin
được hân hạnh giới thiệu với quý vị chương trình tu luyện để thành người Việt
Tốt đáp ứng cho cuộc sống hiện tại của dân Việt ở Hải Ngoại cũng như ở trong
nước. Chương trình sơ khởi đã có nhưng còn thiếu đội ngũ Giảng Huấn Viên Việt
Tộc và Phương Tiện Truyền Bá.
·
Các bài biên khảo để ở link : http://nhanvanviettoc.blogspot.com
·
Các bài Giáo Khoa để ở link: http://vanhoathuanviet.blogspot.com
-
Các bài đều đánh số
VHV hay TNT (lớp học Văn Hoá Thuần Việt hay Radio Tiếng Nước Tôi)
·
Tất cả các bài ở 2 links này đều thuộc tài sản dân
tộc, chúng tôi không giữ bản quyền vì: Không phải vì nghèo mà người Việt không
được quyền biết đến Lịch Sử và Hào Khí của Tổ Tiên, xin quý vị tiếp tay phổ
biến.
·
Vì muốn con em chúng ta sinh trưởng ở hải ngoại biết
đến Văn Hóa Rồng Tiên, Tư Tưởng Lạc Hồng và Lịch Sử dân Việt một cách trung
thực, xin các vị Hiền Tài hãy chuyển những bài Giáo Khoa sang ngoại ngữ và gửi
về cho chúng tôi để in ra sách khổ A5 rồi phổ biến: Địa chỉ nhận bài ngoại ngữ:
vuvietnhan532@gmail.com
Xin lưu ý quý vị là sách viết về Lịch Sử dân Việt soạn
trước năm 1975 và dưới Triều Đại Việt Cộng đều bị bóp méo một cách rất tinh vi
cần cho nhu cầu Chánh Trị để phục vụ cho quyền lợi của Thực Dân Pháp và Cộng
Đảng Nga và Tàu; vậy khi dùng những tài liệu này thì nên thận trọng; mặc dù người
viết là các nhà đại khoa bảng người Việt như cuốn Sử của cụ Trần Trọng Kim mà
chúng tôi đã chứng minh tinh thần Yếm Thế, Tự Ti và Vọng Ngoại rất nguy hiểm
cho sự tồn vong của nòi Việt.
Để giải quyết nhu cầu này,
chúng tôi đã hướng dẫn cách tiếp cận tư tưởng người xưa qua di vật và cách đọc
Thông Điệp trong các chuyện Huyền Thoại cùng với cách thẩm định giá trị của một
tài liệu do chính nhóm của chúng tôi đã tìm thấy trong thời gian nghiên cứu.
Nhờ đó chúng ta có thể đi thẳng vào Việt Sử. Phương Pháp mới tìm ra này đã được
để trong cuốn: Bạch Hóa Lịch Sử Huyền Thoại bằng di vật của người Văn Lang. Bài
để ở link Giáo Khoa: http://vanhoathuanviet.blogspot.com
Ban Học Vụ kính báo.
ĐÔI
LỜI PHI LỘ:
Nhóm Nhân Văn Việt Tộc của
chúng tôi thiết nghĩ là:
1.
Dân Tộc vạn đại, Quan Lại nhất thời.
2.
Có dân thì mới có vua quan, vua không dân là vua ô
nhục, vua nô lệ ngoại bang.
3.
Lịch sử đã chứng minh: Dân tộc tồn tại trong vinh
quang thì tất cả còn ngửa mặt nhìn đời; dân tộc sống leo lét như ngày hôm nay
thì tất cả đều tủi nhục như nhau. VUA QUAN tự sát trước, dân sẽ từ từ chết theo
sau. Vì: Sống tủi làm chi đứng chật trời! (Phan Bội Châu)
Tình hình ngày hôm nay rất bi
đát, thiết nghĩ những ai còn lý trí và lương tâm thì nên ngồi lại với nhau để
chung đầu góp ý tìm lối thoát cho dân tộc; dù quá khứ ra sao thì cũng nên độ
lượng bao dong cho nhau, miễn là biết hồi tâm trở về với chánh nghĩa của dân tộc; đó là ý nghĩa của danh từ HỒI CHÁNH.
Bài này chỉ là gợi ý, khơi mào
để các sỹ phu cùng nhau đóng góp và thảo luận để đưa ra một sách lược hữu hiệu
được toàn dân hưởng ứng và phụ họa, mà sách lược này có thể hoàn toàn khác với
ý kiến ban đầu của chúng tôi đề nghị.
Mục tiêu của giải pháp là
giành quyền tự chủ, xây dựng tương lai cho con cháu nhờ; nhất là đừng hy sinh
xương máu dại dột như thế hệ 1945, lăn cổ ra chết để xây giấc mộng Đại Đồng Thế
Giới, tự đặt mình làm nô lệ cho Nga Sô và Tàu Cộng. Nay tổng kết: Độc lập chưa
có, tự do cũng không, 4 triệu người chết, 10 triệu người tàn phế mà thế hệ
đương thời phải trả gánh nợ này rồi mới vươn lên được. Còn không trả nổi thì sẽ
tiêu vong!
Tại sao có lý luận nghịch lý
này mà thế hệ 1945 lại hăm hở kéo cả dân tộc xuống hố? Xét cho cùng, nguyên
nhân là LẠC HỒN DÂN VIỆT; vậy thì
thế hệ ngày hôm nay có còn lạc bước hay không mà sao cả thế giới đã ra khỏi chế
độ Cộng Sản mà dân ta vẫn loay hoay chưa ra nổi? Đây là điều mọi người phải suy
nghĩ nghiêm túc và tự nghiêm khắc với chính mình để quyết tâm tìm ra cho được
một lối thoát.
PHÙ
ĐỔNG ĐÃ TÁI THẾ 1955
Tại sao lại không phải năm
nay, 2019?
Năm 1954 thế giới
đã đưa dân Việt ra làm vật Tế Thần trong hội nghị Genève ngày 20/7/1954. Phần vì NHỤC, phần vì UẤT nên thế hệ 1955 đã nhất tề đứng lên tự tạo
cho mình sức mạnh kết hợp của bài học bó đũa: Dẹp tan Bình Xuyên, đá đít Thực
Dân, Giành Quyền Tự Chủ là do sự biết kết hợp giữa cậu bé 3 tuổi là Quân Đội
Quốc Gia Việt Nam dưới quyền lãnh đạo của Quốc Trưởng Bảo Đại, các sỹ phu đương
thời và toàn thể đồng bào tham chiến để ổn định tình thế, cứu nguy dân tộc.
NOI GƯƠNG
NGƯỜI XƯA (1955)
Phù Đổng Tái Thế năm 2019?
Năm nay 2019, tình hình thế
giới biến chuyển mau lẹ như năm 1945. Học hỏi kinh nghiệm người xưa, chúng ta
quyết chớp thời cơ để lật đổ chế độ công Sản, đá đít bọn Tàu về nước , ổn định
tình thế và xây dựng Dân Chủ Phân Quyền trong xã hội đa đảng, toàn dân tham gia
việc nước.
Thành quả này phải làm trước
khi thế giới mang dân ta ra làm dê tế thần vì quyền lợi của họ như năm 1954.
Không phải đồng bào Hải Ngoại không làm được mà là chưa biết cách làm đấy mà
thôi.
Ø
Nếu thờ ơ thì con
cháu chúng ta sẽ mang họa và mối nhơ này ngàn đời cũng khó phai.
Vì nhận thấy đây là việc trọng
đại của tất cả các sỹ phu, cùng nhau thảo luận để đưa ra đề án. Chúng tôi chỉ
là người đề xướng và mong rằng mọi người sốt sắng tham gia công tác này để mỗi
người đóng góp phần mình cho việc nước, tiết kiệm xương máu cho thanh niên nam
nữ ngày hôm nay.
Ø
Hãy tĩnh tâm nghĩ lại xem: Có phải Quốc Nội Tiêu Vong thì Hải Ngoại Bơ Vơ không?
õ
Để cho thảo luận dễ dàng,
chúng tôi chia đề tài ra là 5 phần tuần tự như sau:
T22 : Phù Đồng Tái Thế / LUẬN CỔ
Phần 1 : Tổng Quan /Luận Cổ (ngẫm chuyện xưa)
Phần 2 : Thảo Luận / Yếu tố
cần phải có để dân Việt tồn tại trong vinh quang
T23 : Phù Đồng Tái Thế / SUY LIM
Phần 3 : Thẩm Định / Biến động chánh trị hình
thế giới
Phần 4 : Thảo Luận / Các
Phương Án Thoát Hiểm + điều kiện cần và
đủ để thực thi
Phần 5 : Thực Hành / Bắt Tay Vào Việc
Chú ý về cách dùng ngôn từ cho rõ nghĩa:
·
HẢI là vùng
biển nằm trong đất liền (MER, SEA).
·
DƯƠNG là
vùng biển bao quanh đất liền (OCEAN).
·
HÀ là con
sông có sóng dữ thuyền bè coi chừng bị lật.
·
GIANG là con
sông ít sóng lớn, an ninh trong di chuyển.
Thủy Binh rất cần
những chi tiết này để phòng ngừa nguy hiểm; không những vậy còn cần phải biết
lòng sông nông sâu ra sao, rộng hẹp như thế nào, mực nước lên xuống theo ngày
giờ (tuần trăng hay mùa mưa ngập lụt ….).
Còn dân thường hay
lẫn lộn danh xưng. Nay chúng ta nghiên cứu đề án thoát hiểm thì nên dùng ngôn
từ cho đúng cách của người chuyên ngành thủy lợi. Thay vì gọi cụt ngủn SÔNG thì
nên gọi CON SÔNG , hay BIỂN thì nên gọi VÙNG BIỂN cho rõ nghĩa, không những cho
người đọc mà còn nói lên sự hiểu biết của mình nữa.
PHẦN 1 : TỔNG QUAN
(luận cổ , ngẫm
chuyện xưa)
Năm nay 2019 tình hình thế
giới biến động mau lẹ.
Vấn đề đặt ra là chúng ta phải
làm gì để lợi dụng thiên thời, giành lại quyền TỰ CHỦ phải được đem ra để các
sỹ phu cùng nhau thảo luận. Mục đích là cùng nhau đồng thuận cho một giải pháp
tốt nhất; chứ đừng bỏ lỡ thời cơ như các thế hệ 1945 đến nay (2018).
Làm sao để có Phù
Đổng Tái Thế như thế hệ 1955: Do cái nhục của hiệp định Genève 20/7/1954 đã
thúc đẩy Quân Đội Quốc Gia Việt Nam
mới hơn 3 tuổi đã oai hùng với sự hỗ trợ của toàn dân đập tan quân Bình Xuyên
vào lúc 13 giờ ngày 28/1955 trong vòng chưa đầy 1 tháng. Nhờ chiến thắng này
nên các Chánh Trị Gia với sự hỗ trợ của các sỹ phu đã buộc Thực Dân Phảp trao
trả quyền độc lập cho dân ta. Đó là nhờ uy tín của Quốc Trưởng Bảo Đại trên
chính trường quốc tế.
Ngày hôm nay chúng ta có
nguyên nhân thúc đẩy là: Cái nhục của thế hệ đương thời thôi thúc. Nó giúp
chúng ta mau mau kết hợp thành một bó đũa.
Cái nhục đó là: Đã 40 năm qua,
vấn đề kết hợp vẫn chưa đạt được nhu cầu nên cả thế giới đã ra khỏi chế độ Cộng
Sản mà chúng ta vẫn dậm chân tại chỗ vì không biết nắm bắt thời cơ.
Mặc dù ngày hôm nay
chúng ta không có một lực lượng võ trang như Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, chúng
ta cũng không có một lãnh tụ chánh trị có uy tín trên chánh trường quốc tế như
ông BẢO ĐẠI, nhưng thế giới đã biến đổi: Sức mạnh ngày hôm nay là sức mạnh của
lý trí, của mưu lược thì chúng ta có thừa nhưng thiếu sức mạnh của đoàn kết nên
chúng ta thất bại.
Muốn có sức mạnh đoàn kết thì
các sỹ phu phải gột bỏ tính tự kiêu tự mãn và vọng ngoại, hãy tin rằng chỉ có
người Việt mới tự giải cứu cho mình mà đừng há miệng chờ sung: Ỷ lại vào người
là chấp nhận nô lệ.
·
Các sỹ phu phải nghĩ rằng Khoa Học Thực Dụng
dùng để Canh Tân dất Nước (phát triển đất nước để đừng tụt hậu).
Còn canh tân Tư-tưởng thay đổi
Tư-duy để có cái nhìn ngang tầm thời đại, mà ta gọi là Canh Tân Con Người được
vun bồi bằng Khoa Học Nhân Văn Việt Tộc (học làm người Việt tốt) . Môn
học này đã bị cấm từ thời Gia Long (1802) và thay thế vào bằng Chương trình học
để chấp nhận nô lệ Triều Đình – coi chương trình học về nhân văn của Việt Cộng
ngày hôm nay thì rõ: dân Việt không biết cách sống nên phải nhờ ánh sáng MÁC,
LÊ và MAO dẫn đường. Còn Gia Long thì "Nôm Na là cha Mách Qué" nên quay về học thuyết Khổng Tử trong
khi ở quê hương ông thì nhà Thanh đã chôn vùi học thuyết này từ trên 300 năm qua
không ai biết tới cả. Còn bên ta thì nhà Lý và nhà Trần coi trọng Việt Đạo mà
chúng ta gọi là Quốc Đạo là đạo có khả ngay kết hợp dân Việt bằng Tâm và bằng
Đức.
Canh Tân con người và Canh Tân
đất nước là công việc phải làm thường xuyên, do đó chúng ta cần phải quảng bá
Chương trình Văn Hóa Thuần Việt
không những để kết hợp toàn dân mà còn để tỏ lòng biết ơn con đường mà tổ tiễn
đã vạch ra từ ngày lập nước Văn Lang và Liên Bang Việt vào năm 2.879BC.
Căn bản của Việt Giáo (giáo lý
học làm người Việt) Tự Trọng và Cầu
Tiến. Văn Lang có nghĩa là Tự-trọng và Việt có nghĩa là Cầu Tiến. Văn Lang là
tên nước, Việt tên nòi giống.
·
Văn Lang là người Hào Hoa, Phong Nhã, Phóng Khoáng,
Hào Hiệp; Lịch Sự Bặt Thiệp.
·
Việt là vượt mọi khó khăn vật chất và tình thần để thăng
tiến cùng người; tụt hậu là tiêu vong.
·
Hai đức tính này bắt buộc phải có tinh thần Phục Thiện
thì mới tiến được. Phục thiện cần 2 yếu tố là biết nghe và biết suy luận
(tư-duy độc lập). Đừng chê người không biết nói mà hãy tự nghiêm khắc với chính
mình mà tự hỏi là Ta có biết nghe hay không? Tiên trách kỷ, hậu trách nhan; tức
là hãy tự trách mình trước khi quy lỗi cho người.
Ngày hôm nay chúng ta mất hết
cả 3 đức tính cần phải có để xây dựng cộng đồng, tạo sức mạnh tập thể là do
sách vở về môn Việt Học bị bọn Thực Dân Pháp bóp méo một cách tinh vi nên chúng
ta cứ đinh ninh là dân Việt sinh ra để làm Nô Lệ cho người, nguyền rủa cha ông
không biết đấu tranh để phải chấp nhận nô lệ giặc Tàu 1.000 năm. Trước đó ông
Nguyễn Trãi nói là tuy đánh nhau đấy, nhưng nô lệ thì không (Bình Ngô Đại Cáo)
Khi tôi sang chơi đất Tàu thì
họ nói là: Chính dân Tàu đang bị dân Bách Việt thống trị chứ họ có thống trị
được toàn cõi Giao Châu bao giờ đâu chứ đừng nói đến 1.000 năm!
Coi lại Bình Ngô Đại Cáo thì
Quốc Sư Nguyễn Trãi cũng nói:
Tự TRIỆU, ĐINH, LÝ, TRẦN chi
triệu tạo ngã quốc,
Dữ HÁN, ĐƯỜNG, TỐNG, NGUYÊN
nhi các đế nhất phương.
Diễn
nôm: Từ nhà Triệu (Triệu Đà), nhà
Đinh, nhà Lý, nhà Trần cùng nhà Hán (Tàu),
nhà Đường (Tàu); nhà Tống (Bách Việt) nhà Nguyên (Rợ Hồ), mỗi nơi tự quản trị lấy đất nước của mình.
Rõ ràng là Ta đâu có nô lệ Tàu
một ngày nào đâu. Đánh nhau liên miên thì có; nhưng nô lệ thì không… Tướng Lý
Thường Kiệt (nhà Lý) và Đức Thánh
Trần (nhà Trần) cũng nói như vậy.
Gần
ta nhất là cụ Phan Bội Châu
nói :
·
Đừng lo độc lập
không tới mà chỉ sợ người dân chưa đủ sức để bảo vệ sự độc lập của mình.
·
Do đó cụ đã viết
hịch : ĐỀ TỈNH QUỐC DÂN HỒN để đánh thức lòng người trước vận nước suy
vong.
Cụ
Phan Chu Trinh đã nói : Phải
CHẤN HƯNG DÂN KHÍ, KHAI DÂN TRÍ, nhưng dưới thời nô lệ nên làm không được. Nay
chúng ta ở Hải Ngoại tại sao lại không làm nhỉ ?
Trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở hàng Gai Hanoi cũng có rất nhiều bài thơ Chiêu Hồn
Nước. Trường mở ra có mấy tháng, học viên tham gia đông đảo nên Thực Dân Pháp hạ lệnh đóng cửa và tống
giam các sáng lập viên ra Đảo Côn Sơn.
Té
ra dân ta đã lạc hồn dân tộc nên mới chưa biết cách kết hợp để dạy con cháu
chúng ta đừng sống bám quê hương thứ nhì (mẹ nuôi). Mà chúng ta có biết nền Văn
Hóa Rồng Tiên tốt đẹp ra sao đâu, do đó con cháu chúng ta không biết đem tinh
hoa của nền Văn Hóa Thuần Việt để hội nhập với xã hội tiếp cư xây dựng cuộc
sống hài hòa.
Vậy
nay Cộng Đồng Hải Ngoại phải làm gì để con cháu chúng ta không những vẫn giữ
được căn cước của mình mà còn đủ sức hỗ trợ cuộc đấu tranh giành độc lập của
Đồng Bào trong nước.
Vấn
đề là làm sao để giúp đồng bào quốc nội giành lại quyền tự chủ mà tiết kiệm
được xương máu; đừng hung hăng như thế hệ 1945 đã tự nguyện hy sinh xương máu
cho Thế Giới Đại Đồng.
Rút
cục đem chiến tranh tới để tàn phá đất của mình vì nhu cầu : THỬ VŨ KHÍ
cho lưỡng cực NGA/MỸ một cách khờ khạo mà lại tưởng là khôn.
Đây
là bài học vừa chua cay vừa hổ thẹn mà thế hệ ngày hôm nay phải rút kinh
nghiệm.
·
Do đó, dù ở phe
phái nào, nếu còn trái tim Việt thì hãy
nên suy nghĩ lại để tìm cách kết hợp với nhau vì nhu cầu trường tồn trong danh
dự của nòi Việt. Người Việt không thiết tha đến sự tồn vong của mình thì đừng
hy vọng ở ngoại bang.
Xin các sỹ phu hãy cùng chúng tôi thảo luận đề tài Chớp Thời Cơ trong diễn
đàn này cho thật chu đáo.
Sau đó chia nhau đi cổ súy nơi mình cư ngụ để xây dựng Cộng Đồng Văn
Hóa Rồng Tiên ; phục hồi sức mạnh tâm linh của nền Văn Hóa Thuần Việt thì
tự khắc sẽ chiến thắng mọi kẻ thù từ nội tâm cho đến ngoại giới giành quyền tự
chủ.
Sự u-tối trong lòng là kẻ thù mẹ đẻ ra muôn vàn kẻ thù con
Không
biết kỹ thuật thì khó mà thực hiện được; nhưng khi nắm vững sơ đồ phát triển ở
trang cuối thì thấy rất dễ thực hiện; miễn là có thành tâm và thiện chí đi xây
dựng xã hội cho chính mình và con cháu thụ hưởng.
Bằng
chứng mà mọi người đều biết là tổ tiên chiến thắng kẻ thù vừa dữ vừa mạnh
như :
1. Danh tướng Lý Thường Kiệt
….. Như đẳng hành khan thủ bại hư (kẻ nào dám xâm hạm sẽ chết toi).
2. Đức Thánh
Trần Hưng Đạo : Châu chấu lại
đòi đá xe, tưởng chừng chấu chết chẳng dè xe nghiêng (thắng 3 trận).
3. Quốc sư
Nguyễn Trãi : Ta đây mưu phạt
CÔNG TÂM, không đánh mà người phải khuất.
4.
Hoàng Đế Quang Trung : Tốc chiến, tốc thắng và chỉ thị cho Ngô Thì Nhiệm viết văn ngưng chiến
cho khéo với lời căn dặn là: Cho ta 10 năm nữa để súc sức tích nhuệ, sửa sang
việc nước thì lúc đó Ta sợ gì chúng.
Ý của Ngài là muốn tái chiếm vùng đất Bách Việt, tức
nước Nam Việt của Triệu Đà. Đoán biết ý đồ này nên vua Càn Long nhà Thanh mới
vội vàng nhận Hoàng Đế Quang Trung làm con và lật đật xây trạm canh biên giới
mang tên là : Ải Nam Quan… Ải là hiểm địa đang to bé lại, Nam là phía nam
và Quan là đường biên giới.
Ø
Ải Nam Quan có
nghĩa là đường biên giới phía nam của BỐ đến đây là hết. Con không nên vượt qua
tiến chiếm vùng Giang Nam của BỐ nhá. Do đó khi cầu hôn vua Càn Long tặng Hoàng
Đế Quang Trung vùng đất Quang Đông làm của hồi môn.
Khi Gia Long (1802) xin cầu phong thì có gợi ý xin lại
vùng Giang Nam, nên mới xin quốc hiệu là NAM VIỆT (phía nam sông Dương Tử là đất của người Việt
– Bách Việt).
Nhưng
Càn Long không cho và đổi thành VIỆT NAM ; có nghĩa là người Việt ở phương
Nam thì Trẫm phong cho chức vương, còn người Việt ở phương Bắc là của TRẪM đừng
động đến mà mất mạng con !
Ngày hôm nay các vị NHO TÂY tự cho mình sáng giá hơn
Tổ Tiên không lý lại chịu buông xuôi đầu hàng giặc sao ? Sỹ khí để ở đâu
mà không chung đầu góp ý để hoàn chỉnh đề án chớp thời cơ ? Giành quyền Tự
Chủ để vươn lên bằng người
PHẦN
2 : THẢO LUẬN :
(yếu tố cần phải có để dân Việt tồn tại trong vinh
quang)
Phát triển xã hội để tránh tụt hậu rồi tiêu vong là
tinh thần cầu tiến (VIỆT) mà dân tộc nào cũng phải làm một cách thường xuyên.
Vậy thì tại sao nhà Lý và nhà Trần thành công mà các triều đại: Hồ Quý Ly, Mạc
Đăng Dung, Tây Sơn và Ngô Đình Nhu lại thất bại?
Ø Phải chăng thiếu KỸ THUẬT PHÁT TRIỂN? DỤC TỐC BẤT
THÀNH ?
Ø Đó là điều chúng ta phải phân tích nghiêm tục để đừng
đi vào vết xe đổ.
HÃY mạnh dạn và oai hùng như thế hệ Phù Đổng Tái Thế năm 1955 đã đánh tan Bình Xuyên, đuổi cổ bọn Thực
Dân Pháp ra khỏi đất Việt, giành quyền Tự Chủ.
Do
đó, chúng ta phải cùng nhau luận bàn những nguyên
nhân thành công cũng như thất bại của tiền nhân để còn biết đường thoát
hiểm; đừng dại dột như thế hệ 1945 và 1963 đã phí phạm núi xương sông máu cho
người vừa hưởng vừa chê NGU
Nhìn
sơ sơ thì:
ü Lý do thành công của thế hệ LÝ và TRẦN là Văn Hóa
Thuần Việt rất cao với y chí kiên cường Sát Thát. Xã hội thăng tiến trong trật
tự với chương trình Việt Học từng bước tiến lên, cho nên người dân đã phụ họa
theo chương trình giới lãnh đạo đề xướng.
ü Lý do thất bại của các triều đại sau này, tuy khác
nhau, nhưng tất cả đểu bắt nguồn từ DỤC TỐC BẤT THÀNH hoặc phát triển chưa hoàn
chỉnh nên người dân chưa hiểu nên chưa phụ họa, mặc dù chương trình rất cần và
hấp dẫn.
Vậy thì ngày hôm nay chúng ta phải làm gì để thành công?
Đó là ưu tư của thế hệ chúng ta ngày hôm nay; đừng để hậu thế chê
cười là HÈN và NGU.
Luận Cổ : Chúng ta có thể tóm lược: DỤC TỐT BẤT THÀNH là
nguyên nhân đưa đến thất bại của: Hồ Quý Ly, Mạc Đăng Dung, Quang Trung và Ngô
Đình Nhu.
A/-Trường hợp thất bại của Hoàng Đế Hồ Quý Ly : Dục
tốc bất thành
Cha con Hồ Quý Ly là những nhà Khoa Học đại tài, có
cái nhìn viễn kiến ; muốn chuyển xã hội Nông Nghiệp, lấy sức người làm
chính, sang xã hội cơ khí lấy sức mạnh cơ khí và bộ óc sáng tạo thay cho sức
người. Nhưng ông là một nhà Chánh Trị non nên làm hỏng hết mọi việc. Ông đốt
gia đoạt quá nhiều nên người dân thường không hiểu đã đành mà ngay cả các sỹ
phu không hiểu nên chống đối. Sự thất bại này đến từ 3 yếu tố :
·
Lãnh đạo chánh
trị không biết thu phục Nhân Tài. Vì quá tự kiêu nên thất bại vì đơn thương độc
mã.
·
Khối sỹ phu là
những người sáng tạo ra các đề án để giải quyết các vấn nạn của đất nước thì
phải được giải thích chương trình của khối lãnh đạo thì họ mới phụ giúp được.
·
Khối quần chúng
phải am tường nhu cầu của chương trính thì mới biết đường phụ họa.
Đây
là bài học có giá trị rất cao giúp cho thế hệ chúng ta giành quyền tự chủ và
thăng tiến cùng nhân loại.
1.
Lãnh tụ chánh trị
phải học cách thu phục nhân tài và dùng người cho đúng lúc và đúng chỗ. Ông Hồ
Quy Ly đã không truyền bí quyết phát minh khoa học cho các nhân tài nên ông bị
cô lập, chỉ vì ông quá Tự Kiêu và Tự Mãn nên họ xa lánh ông vì hiểu nhầm.
Ø
Điều này cho
chúng ta biết là phải phố hợp công tác chứ một người hay một nhóm không thể làm
việc thay cho toàn dân được.
2.
Các nhân tài
không được thông báo văn minh kỹ thuật nên họ không thể ủng hộ ông được ;
do đó ông mất hẳn người cổ súy cho ông.
Ø
Điều này cho
chúng ta biết là phải cổ súy chương trình của mình để tăng thêm cộng sự viên.
3.
Quần chúng đang
sống quen với nếp sống Nông Nghiệp, nay đổi sang nếp sống Cơ Khí mà họ không
biết xã hội cơ khí ra sao ; như chim trích vào rừng nên họ xa lánh.
Ø
Điều này cho
chúng ta biết là phải thay đổi tư duy của người dân còn không thì Dục Tốc Bất
Thành vì bạo lực không thắng nổi ý chí ?
Đó là 3 điều căn bản cần thiết mà mọi người đều phải
thấu triệt thì mới hy vọng tránh thất bại của Hoàng Đế Hồ Quý Ly để vươn lên.
Do đó lớp học Văn Hóa Thuần Việt là một phương tiện giúp cho việc canh tân tư tưởng và thay đổi tư duy
để có cái nhìn ngang tầm thời đại Điện Toán.
B/- Trường hợp thất bại của Hoàng
Đế Mạc Đăng Dung : Người dân lạc hướng
Cùng
một mơ ước thay đổi nếp sống như ông Hồ Quý Ly nhưng ông này không có năng
khiếu về khoa học nên ông chủ trương phát triển đội ngũ NGOẠI THƯƠNG nhưng bất
thành vì tư duy người dân đã hoàn toàn lạc hướng do nền giáo dục Đất Của Chúa,
Lúa Của Trời từ đời vua Lê Thánh Tôn (1460).
Ø
Mặc dù ông đã tâm
phục được đám sỹ phu như Trạng Nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhưng ông không thay
đổi được tư duy lạc hướng của người dân nên chiêu bài Diệt Mạc Phù Lê mới ăn
khách ; và ông thất bại vì điểm này.
Ø
Đây là bài học mà
các nhà Chánh Trị phải học cho nhập tâm thì mới lãnh đạo chánh trị được.
C/-Trường hợp thất bại Hoàng Đế Quang Trung : Làm việc quá tải
Rút kinh nghiệm thất bại của nhà Hồ và nhà Mạc do thày
Trương Văn Hiến truyền đạt từ lúc mới 10 tuổi nên ông Nguyễn Huệ không vấp
phải; nhưng ông lại mắc phải một nhầm lẫn khác là Dục Tốt Bất Thành vì ông làm
việc quá sức nên bộc phát và bộc tàn.
Ø Thật là bạc phước cho dân ta, nay chúng ta phải làm gì
để tránh sự nhầm lẫn này của người lãnh tụ hiếm có?
D/- Trường hợp thất bại của Triết Gia Ngô Đình Nhu : Thiếu nhân tài giúp sức
Triết
gia Ngô Đình Nhu đã tìm được học thuyết Cần Lao Nhân Vị tức dạy người dân phải
biết Tự Lực, Tự Cường, Tự Trọng và Cầu Tiến để tự mình vươn lên. Trông chờ
ngoại bang tức trông chờ nô lệ. Tức chương trình Phục Việt của Hoàng Đế Quang
Trung đó.
Ngoài
ra, ông còn thấu triệt sự thất bại của 3 vị Tiên Đế nên ông rất thật trong
trong việc toàn dân song song đồng tiến; nhưng ông thất bại vì hoàn cảnh chánh
trị chưa cho phép ông thi hành chương trình này. Ông thất bại vì không giải
quyết được những khó khăn ngoại lai (đối với lãnh đạo nước MỸ).
Ø Nay chúng ta phải làm gì để né tránh những khó khăn
ngoại lai đang đến từ tứ phía. Thay vì chống đối thì chúng ta lấy nhu trị cương
để tìm cách lợi dụng thế Trai Cò tranh nhau Ngư ông thủ lợi.
÷
ĐỪNG TRỐN
TRÁNH TRÁCH NHIỆM
Đây là bài toán giành quyền tự chủ mà chúng ta phải
nhiệt tình cùng nhau tìm đường thoát hiểm. Còn không thì lại hy sinh xương máu
của thế hệ thanh niên ngày hôm nay để phục vụ quyền lợi ngoại bang như thế hệ
1945.
Thế hệ đương thời có 3 tật xấu phải tự
sửa mình thì mới tránh khỏi nạn tiêu vong.
Trong 40 năm qua, đánh Cộng thì ít nhưng đánh nhau thì
quá nhiều nên vẫn dậm chân tại chỗ, trong khi cả thế giới đã giã từ Cộng Sản
rồi. Đó là điều mọi người phải tự vấn lương tâm và nghiêm khắc với chính mình.
Theo
sự phân tích của chúng tôi thì chúng ta có 3 cái tật xấu do nền giáo dục nô
dịch đào tạo; phải cải sửa thì mới ra khỏi mê hồn trận này được.
1.
Đánh trống bỏ dùi: Quá nhiều sỹ phu "Phòng Trà", nói thì giỏi phân tích thì
hay; nhưng không ai đưa ra được một đề án giải quyết vấn nạn; chỉ vì không biết
nguyên nhân.
2.
Tự kiêu, tự mãn, vọng ngoại: Bụt nhà không thiêng nên bị tản lực. Có hội thảo mới
ra sáng kiến. Vì thiếu hội thảo nên tư tưởng bế tắc không phát triển được. Đó
là nguyên nhân dậm chân tại chỗ trong 40 năm.
3. Nhân Tài Lạc
Hồn Dân Việt nên mới: Chính trị SALON
(trà dư tửu hậu), Thờ-ơ, vô cảm, chùm chăn, chờ thời, phản bội.
SUY KIM
Chúng
ta rút tỉa được những kinh nghiệm gì của người xưa để tránh thất bại? Dục Tốt
Bất Thành vì nhiều lý do như đã phân tích ở trên : Chỉ có XƯỚNG mà thiếu PHỤ
HỌA.
Trong
mọi hoàn cảnh thì phải kết hợp toàn dân bằng nền Văn Hóa Thuần Việt; tức nền
Văn Hóa Rồng Tiên tân tiến và phù hợp với thời kỳ Điện Toán 2019. Do đó phải:
1. Phát huy chương trình Văn Hóa Thuần Việt đã có sẵn và
từ từ bổ xung cho hoàn chỉnh và đầy đủ.
2. Xây dựng đội ngũ Giảng Huấn Viên Việt Tộc chuyên
nghiệp đê học viên đam mê theo học.
3. Phải tổ chức hội thảo thường xuyên để ôn lại những
kinh nghiệm thành cũng như bại của người
xưa. Thảo luận nảy sinh ý kiến mới.
4. Phải tìm cho ra những đức tính cần phải có của:
·
Thành phàn lãnh
đạo Chánh Trị, là giai cấp cầm vận mạng của toàn dân.
·
Nhóm Sỹ Phu là
thành phần đưa ra những đề án canh tân con người và canh tân đất nước. Phát
Triến mà không có chương trình rõ ràng là phát triển cầu may và 90% thất bại
hoặc lạc hướng. Đây là bộ NÃO dân tộc.
·
Quần chúng nhân
dân là người phụ hoạ, họ phải học để có khả năng thẩm định lợi hại của đề án
đưa ra.
5. Mọi thành phần xã hội phải bỏ:
·
Định kiến, vì xã
hội Điện Toán khác với xã hội Cơ Khí nên cách suy nghĩ của ta phải luôn luôn
điều chỉnh lại.
·
Đầu óc Gia
Trưởng, coi mình là bố thiên hạ nên không chấp nhận sự hiểu biết của người khác
và coi thường người đối thoại sẽ trở thành người cô đơn.
·
Tinh thần Vọng
Ngoại, bụt nhà không thiêng. Và nên nhớ rằng Mình là NGƯỜI chứ không phải là
THÚ, nên bộ óc của dân Việt cũng giống trí thông minh của các sắc dân khác. Họ
làm được thì mình làm cũng được. Sở dĩ có kiến thức hèn kém là do môi trường
sinh sống mà ra. Da Đen, Vàng hay Trắng gì mà sống trong rừng rú thì cũng lạc
hậu như nhau vì: Không Thày đố mày làm nên! Nay sống trong môi trường phát
triển thì mọi giống người đều thông minh như nhau.
6. Phải nhìn nhận là não trạng của mình đã bị đầu độc bởi
bộ sử viết dưới thời cai trị của Bạo Quyền Thực Dân và Cộng Sản, chúng bóp méo
rất tinh vi nói trắng thành đen để chúng ta tự phỉ báng tổ-tông, tung hô kẻ
thống trị. Xóa bỏ nền Văn Hóa Thuần Việt là chất liệu duy nhất để kết hợp dân
tộc. Do đó chúng ta lạc hồn dân Việt từ thời Gia Long (1802) mà không hay; chỉ
vì tính tự kiêu, tự mãn mà ra.
7. Cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim là một điển
hình đã đầu độc tư tưởng chúng ta trong nhiều điểm như Ta Nô Lệ Tàu 1.000 năm;
nhưng trước đó Quốc Sư Nguyễn Trãi và Đức Thánh Trần đã nói ta không nô lệ Tàu,
mặc dù có giao tranh (coi ngay trong cuốn sách đó). Nay 2018, tôi sang Tàu thì
mắt thấy tai nghe: Chính dân Tàu chánh gốc nói là họ không thống trị được nước
Đại Việt bao giờ cả. Ngược lại họ bị đô hộ từ thời Bạo Chúa nhà Tống (960AD)
cho đến nay. Từ Tống, Nguyên, Minh Thanh đến Mao.
8. Từ ngày lập nước Ngô, Sở và Văn Lang (2.879BC) đến
nay, muốn tồn tại thì con người phải thăng tiến để:
a) Xây dựng sự đoàn kết thành bó đũa nên phải dùng Khoa
Nhân Văn (dân tộc nào thì dùng khoa nhân văn của dân tộc đó).
b) Phát triển đất nước theo văn minh khoa học mà ta gọi
là môn Khoa Học Thực Dụng. Khoa học Nhân Văn và Thực Dụng phải song song đồng
tiến thì đất nước mới ở thế cân bằng bền (vững chắc); còn không thì đất nước ở
thế bấp bênh, chỉ một rủi ro nhỏ là đủ để tiêu vong.
Ø Vậy thì phải can đảm nhìn nhận rằng: Vì nhu cầu chánh
trị nên Gia Long (1802) đã gây phong trào "Nôm
Na là cha Mách Qué" để phí báng tổ tông tôn vinh ngoại bang (luật Gia
Long đã minh chứng). Đó là sự bất hạnh di truyền từ đời ông Cố ông Sơ của chúng
ta. Đức Thánh Trần Hưng Đạo đã nói: "Giặc
đến ào ào như vũ như bão, như lửa cháy chống đỡ dễ hơn là giặc đến từ-từ từ
trong Tâm đến ra" Tức nô lệ tư tưởng là nô lệ từ Cha truyền đến con;
nguy hiểm ở chỗ này đây mà ít người nhìn thấy.
Ø Có nhìn nhận sự thiếu sót như vậy thì thế hệ trẻ mới
hăng hái trau dồi Khoa Nhân Văn Việt Tộc để thoát cảnh Dịch Chủ Tái Nô từ cha
truyền đến con. Hãy can đảm dứt bỏ vòng KIM CÔ dịch chủ tái nô này đi.
9. Tổ chức lại cơ cấu xã hội cho phù hợp với thời kỳ Điện
Toán, nếu có thể thì nên hoàn chỉnh lại hệ thống làng mạc và thành thị để tạo
mội trường tốt cho phát triển.
a) Hệ thống làng mạc ở miền Bắc đã bị băng hoại và biến
thành nhà tù cho bọn Thống Trị dễ bề kiểm soát.
b) Hệ Thống làng mạc ở miền Trung lỏng lẻo vì trước đó là
đất của dân Chàm, và tổ chức hành chánh của nước Chàm khác với nước Bách Việt
(từ sông Dương Tử xuống đến đèo Hải Vân) .
c) Hệ thống làng Mạc ở miền Nam chưa thành hình vì đó là
người Thiều Châu vượt biển xin tỵ nạn nhà Thanh nên chưa có tổ chức chặt chẽ và
quy mô.
d) Ngày nay vì phát triển kỹ nghệ, qua Nguên Tử rồi đến
Điện Tử nên Thành Thị tấp nập, phi thương bất phú nên phải tổ chức lại cách
sinh hoạt Thành Thị cho hợp lý.
10. Mục đích tổ chức lại Hành Chánh là để phát triển cho
dễ, toàn dân tham gia việc nước.
11. Trong tình trạng băng hoại toàn diện của thế hệ đương
thời thì nhóm người kế thừa không đủ khả năng để tiếp nối Chương Trình Canh Tân
Con người và Canh Tân Đất Nước một mình được. Do đó cần phải biết:
·
Các đức tính cần
phải có của các vị Lãnh Đạo Chánh Trị.
·
Các tinh thần và
trách nhiệm cần có của các sỹ phu.
·
Các kiến thức cần
phải được trau dồi cho toàn dân là người phụ họa. Không có họ thì mọi việc đều
thất bại.
"Dân Tộc Vạn Đại, Vua Quan Nhất
Thời"
là phương châm phải nhập tâm.
Trên
đây chỉ là những ý kiến sơ khởi cần được bổ xung bằng sự đóng góp của các sỹ
phu còn nghĩ đến tương lai con cháu.
ö


0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil