mardi 13 août 2024

T17 (1/2) : Lôi kéo đồng minh.

T17 (1/2) : Lôi kéo đồng minh.

Livestream/Facebook Nỗi Niềm Quê Hương

Soạn giả : Hoàng Đức Phương

Ngày nói chuyện 29.01.2021

 

PHẦN 2 / KHAI PHÓNG DÂN TRÍ

T17.1 : Lôi Kéo Đồng Minh

CHIẾN TRANH LẠNH (1945-1975)

Giai đoạn 1: Lôi kéo đồng minh (1945-1954)

Lời mở đầu:

Mục đích bài này là cố gắng nói lên sự thật về lịch sử cận đại vừa qua để thế hệ trẻ, chủ nhân ông của đất nước sau này biết đường thoát hiểm, đưa dân tộc sánh vai cùng cộng đồng nhân loại. Đó là cái vốn cần phải có thì con đường thoát hiểm mới ít tổn thất.

Vì thế nên nguời soạn chỉ dựa theo những tài liệu xác thực của mọi phe phái mà suy luận ra những ẩn ý của cục diện để đừng rơi vào cái bẫy của kẻ muốn thống trị dân ta.

Ai cũng biết rõ là: Các chánh trị gia không bao giờ nói thật về hành động của mình, là vì thẳng ruột ngựa thì sẽ thất bại. Có thua thì cũng nói chữa là vì ta muốn nhân đức đó; từ xưa đến nay vẫn thế mà....Ấy thế mà lại chóng quên, cứ lấy sự hiểu biết của mình là đúng và đủ.

Tỷ dụ:

·        Khi tướng Đồ Thư của Tần Thủy Hoàng chết trận ở Hồ Nam do quân của Nhâm Ngao và Triệu Đà giết thì nói là chết vì bị bệnh nên buộc phải lui binh về, chứ không phải vì thua nên bỏ chạy (213BC)...Bộ không có tướng khác thay thế sao?

·        Khi quân của Lã Hậu (vợ Hán Cao Tổ) tấn đánh Hồ Nam (182BC) bị Triệu Đà đánh đại bại thì nói rằng thủy thổ không hợp nên kéo quân về....Vậy tại sao mụ lại nói là Hồ Nam thuộc đất nhà Hán?

·        Về quân Pháp trao trả độc lập cho Quốc Trưởng Bảo Đại thì cũng vậy: Nói là muốn rút quân nên ký hiệp định đình chiến với Việt Cộng. Họ thương dân Việt quá nhỉ!!!!

Vậy tại sao khi thành lập quân Đội Quốc Gia Việt Nam thì tướng De Lattre de Tassigny, Tổng Tư Lệnh quân Pháp ở Việt Nam, lại đọc diễn văn trong buổi mãn khóa (Juin 1951) của trường Chasseloup Laubat ở Saigon, sau đó báo chí đăng tùm lum, là: Các anh phải cầm súng để thay thế quân đội Pháp, để bảo vệ sự đc lập của nước các anh, không thể ỷ lại vào chúng tôi được. Ỷ lại là mất độc lập đó.......

Khôi hài nhất là ở ngay trong hội nghị Genéve, phe Quốc Gia đòi người Pháp trao trả độc lập và để chính mình đàm phán với phe Cộng Sản thì người Pháp lại le-te ký thay!

Trong khi Quân Đội Quốc Gia Việt Nam sẵn sàng thay thế quân Pháp thì chánh phủ Pháp không nói tới.... Ẩn ý chi đây? Coi hành động tiếp theo thì rõ.

 

Sự thực thì Pháp định tháu cáy, ký với Việt Cộng để hy vọng tái chiếm Việt Nam nên rút quân rồi đưa Bình xuyên lên...

Nhưng không ngờ Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, do Pháp huấn luyện và Mỹ đài thọ đã uất vì Pháp phản bội nên đã tấn công lính Pháp ở ngay Thủ Đô Saigon và tiêu diệt Bình Xuyên nên Pháp không còn lý do gì để ở lại Việt Nam nữa....Đó là những bí ẩn của lịch sử cận đại chưa được bạch hóa vì thời gian còn quá gần.

Chúng ta phải đưa những ẩn khúc này ra ánh sáng thì mới hy vọng thoát hiểm được; tức là mỗi người phải có óc phán đoán nhạy cảm thì mới nhìn thấy sự thật và mưu mô của các phe phái. Nhất là thế hệ trẻ, chủ nhân ông tương lai của đất nước cần phải biết để tìm lối thóat cho chính mình. Do đó cung cấp tài liệu xác thực là điều cần thiết

Dưới đây là cái nhìn của soạn giả, tất nhiên còn nhiều thiếu sót, nên rất mong nhận được sự đóng góp của những vị am tường để thế hệ trẻ không những không mất thì giờ tìm kiếm mà lại trang bị được nhiều vốn đầu tư vào công tác: Đi tìm lối thoát hiểm cho chnh mình và dân tộc của mình.

Đây là ôn cố tri tân, thế hệ trẻ cần phải lắng nghe tất cả mọi ý kiến, rồi từ đó suy ra sự thật đã qua thì thấy ngay mưu mô của những kẻ gian manh muốn thống trị dân ta.

Đó là số vốn cần thiết phải có thì mới tìm ra được đề án thoát hiểm cho chính mình và cho dân tộc của mình.

Mong lắm thay

ö

Nguyên nhân đưa đến Hiệp Định Genève 20/7/54

Hồ Chí Minh và dân Việt từ 1942 đến 19/12/1946

Dẫn nhập:

Thế đứng chênh vênh của dân Việt

Vài câu tự vấn để ôn cố/tri tân:

Mục đích cuộc chiến ở Việt Nam từ 1945 đến 1975 là gì?

        Có phải là vì quyền lợi của 2 phe Tư Bản và Cộng Sản không?

        Dân Việt chết cho ai hưởng?

        Sau cuộc chiến, đất nước tan tác nhân dân què cụt, đói rách thì có nên lao đầu vào cuộc chiến bất tận hay không?

Mà quyền lợi đó có phải là thử vũ khí để tránh cuộc chiến trên lãnh thổ của họ không?

Rõ ràng họ nói:

§  Miền Bắc thì hô hào: Vinh dự được chết cho nghĩa vụ Cộng Sản Quốc Tế để đi đến đại đồng thế giới với chủ thuyết Tam Vô (vô gia đình, vô Tổ Quốc và vô Tôn Giáo)....tức hy sinh sức sống của dân Việt để lót đường cho Thế Giới Đại Đồng. Họ đâu có nói dối.

§  Miền Nam bị đưa vào thế Chống Làn Sóng Đỏ nên buộc phải làm tiền đồn chống Cộng để bảo vệ Đế Quốc Tư Bản là Mỹ và các đồng minh....Tức là làm con tốt thí nghiệm, chỉ đâu đánh đó.

Chúng ta há chẳng nghe thấy nói là “chạy đua vũ khí” hay sao? Họ vẫn nói là chiến tranh lạnh, tức nước của họ bình yên, đem chiến tranh đi nơi khác.

Một khi đã thi đua sản xuất vũ khí tân kỳ thì phải có nơi thử trước khi sản xuất hàng loạt để loại nhau bằng sức mạnh quân sự...Trường hợp Tây Ban Nha năm 1937 thử vũ khí cho Nga và Đức; sau đó mới có đại chiến thứ nhì vào năm 1939.

Tàn cuộc thì dân Việt tất phải làm nô lệ cho phe chiến thắng, chứ làm gì có dân Tộc Tự Quyết khi ta không có quyền quyết định chiến trường. Hơn nữa, dân ta đâu có sản xuất được vũ khí thô sơ, nên làm gì có đủ sức để giết nhau nếu không có vũ khí tối tân của 2 khối cung cấp.

Bất cứ việc gì cũng vậy, muốn hiểu rõ tường tận đều phải đi trở về nguồn cội, nghiên cứu từng chi tiết để xem sự kiện xảy ra có suôi chiều hay không; chỗ nào khúc mắc thì phải tìm cho ra nhẽ thì vấn đề mới sáng tỏ, và ta mới có dữ kiện chính xác để đưa ra phương thức thoát hiểm cứu nguy dân tộc được.

ö

VỤ ĐÓI NĂM ẤT DẬU (1945)

Nguyên nhân, kế hoạch và sự thiệt hại

(13.01.2021 : Sửa lại cho đúng ngày xảy ra biến cố quan trọng)

ÔN CỐ:

Cần phải nắm vững biến cố lịch sử qua trọng của 10 năm, đã đưa dân ta vào mê hồn trận thì mới biết đường thoát hiểm (1945-1954) được.

Trước mùa thu năm 1940, Việt Miên Lào là thuộc địa của Pháp, gọi là Đông Pháp hay Đông Dương. Tất cả là 5 vùng với 5 bộ luật khác nhau, di chuyển từ vùng nọ sang vùng kia phải có cuốn sổ thông hành; mục đích là bưng bít thông tin cùng chánh sách ngu dân để đè đầu, cưỡi cổ cho dễ.

DÂN TRÍ:

Rất thấp kém, 95% mù chữ. Chữ viết chánh thức là chữ Pháp, chữ viết phụ là Chữ Quốc-ngữ, từ 12 tuổi trở lên học toàn tiếng Pháp. Tú tài mỗi năm đỗ khoảng 20 vị được gọi là thành phần trí thức tương lai dân tộc. Đại học thì chú trọng vào Luật và Y, còn công chánh chỉ đào tạo tới chuyên viên phụ tá cho Kỹ Sư người Pháp. Không được quyền làm chánh trị, cấm túm năm tụm ba. Không có Quân Đội, không có Bộ Giáo Dục mà chỉ có Nha Học Chính thôi, tức là học những cái cần thiết để biết đường phuc vụ cho Quan Tây.

ü  Chữ Quốc-ngữ là một loại chữ viết theo ký hiệu âm thanh của tiếng Việt gồm 35 ký hiệu chuyển từ ký hiệu Việt Thường sang ký hiệu LATIN, nhưng chỉ ghi lại được phần Âm thôi. Vì thiếu Quy Luật Âm Vận nên chúng ta không phân biệt được I với Y - S với X - D với GI - CH với TR và GI với TR .... như chữ Dải Yếm với Giải Thưởng, GIao Hàng với TRao phần thưởng vân vân (coi them quy luật tiếng Việt thì rõ hơn; cách viết cũng sai luôn nên chữ QUốc-ngữ đang sáng sûa lại trở thành tối tăm

Vụ đói này nằm trong kế sách của liên minh Pháp và Nhật trong mục đích: Làm tiêu hao nhân mạng để tránh nổi dạy khi chiến cuộc chống Mỹ đang lung lay. Chết đói trên 1 triệu người trong dân số 22 triệu; tức 5% dân số thiệt mạng trong vòng 3 tháng trời.

Hậu quả:

Thiếu hụt người bảo vệ đất nước nên chánh trường bỏ ngỏ. Do đó Cộng Đảng Quốc Tế phỗng tay trên của MỸ dưới mặt nạ Hồ Chí Minh, một cái tên hiệu, không tiểu sử, không làm lễ nhậm chưc và chẳng them hứa hẹn gì với dân cả. Người dân không ưa nhưng thụ động nên mới có hậu quả 30/4/75. Đó l&à nguyên nhân mà chúng ta phải để ý tới.

Kế sách như sau:

1.      Vụ mùa năm 1943 sắp thu hoạch thì được lệnh nhổ lúa trồng đay. Đổ kho dự trữ ra ăn coi như mất mùa. Lúa đang lên đòng đòng đội mươi ngày thì gặt, được lệnh phải nhổ gấp!

2.      Kỹ nghệ làm đay tước sợi phát triển gây ra những thiệt hại sau đây:

§  Khi ngâm đay dưới ao để tước chỉ, thì cá chết vì chất đắng của đay.

§  Khi trồng đay thì đất ruộng trở nên đắng, năm sau (1944) trồng lúa thì lúa đẹn; cho nên thất thu.

§  Vụ lúa năm 1944//thất thu nên đổ hết lúa còn lại ra ăn mà quan Tây bảo cứ yên tâm vì sẽ có gạo trong Nam chuyển ra...đnừg lo đói. Nhưng đó chỉ là lời trấn an. Khi đói thì gạo trong Nam không đuợc quyền chuyển ra. Không những vậy mà chuyển lén ra được bao nhiêu thì quan Tây tịch thu để nấu rượu mà nói rằng trưng thu để phân phối cho đồng đều.

Đây là cái nhục của dân mất nước, sinh mạng của mình nằm trong tay kẻ thống trị. Mà kẻ thống trị nào cũng đều là bọn tham tàn bóc lột người bị trị không thương tay.

Đại chiến thế giới (1939-1945) đến hồi gay cấn.

Quân Đồng Minh đổ bộ Normandie (Pháp) vào ngày 06/6/1944 và hoàn toàn làm chủ vùng này kể từ ngày 21/8/1944; sau đó tiến thẳng vào Paris. Cán cân nghiêng dần về phe Đồng Minh (Anh, Mỹ và Gia Nã Đại, Pháp chỉ là người ăn theo; không có đất mà cũng chẳng có quân)

§  Novembre 1944, lò điện nguyên tử thành công ở Chicago...từ thành công này người Mỹ quyết địch chế bom Nguyên Tử (coi thêm mục “Nguyên tắc chế bom Nguyên Tử”)

§  Ở Đông Dương (Việt, Cambodia và Lào), lính Pháp lên tinh thần, người Nhật lo ngại.

§  Vào khoảng 6 giờ tối ngày 09/3/1945, lính Nhật kiểm soát mọi sự di chuyển của người Pháp và dân chúng ra vào các thành phố.

§  Lúc 20 giờ ngày 09/3/1945, lính Nhật được lệnh lật đổ chánh quyền Pháp. Khoảng 4 giờ sáng hôm sau là xong

Giờ giấc bắt đầu tùy thuộc mỗi nơi. Như ở thành phố Vinh, Nhật dụ toàn bộ quan chức lãnh đạo Pháp ra sân vận động lúc 21 giờ đêm ngày 08/3/1945 để chứng kiến vụ xử bắn tên lính Nhật đã gây rối loạn trong thành phố hôm trước. Trước khi khai mạc một viên Sỹ Quan Nhật thông báo là được lệnh bắt giam tất cả quan chức người Pháp. Thế là người Pháp ngoan ngoãn lên xe vee nhà tù. Vụ sử bắn dẹp.Lúc đó giao thông khó khăn vì lính Nhật canh gác rất nghiêm ngặt.

§  Đến 04 giờ sáng hôm sau 10/3/1945 thì tất cả người Pháp, dù là dân sự, cũng bị tóm cổ nhốt vào tù. Nước Việt thay ngôi đổi chủ

§  Ngày 09/3/1945 Hoàng Đế Bảo Đại đi săn nên không hay biết chi cả. Sáng ngày hôm sau, 10/3 thì Ngài về cung và được lính Nhật canh thành báo cáo là đã bắt hết người Pháp nhốt tù rồi, họ được lệnh bảo vệ an ninh cho Ngài.

Sau đó đại diện Nhật Hoàng vào yết kiến Hoàng Đế Bảo Đại và trịnh trọng trao trả quyền độc lập cho Ngài, nhưng họ giữ lại Cochinchine (Nam kỳ) vì đó là đất do vua Tự Đức nhượng địa cho Pháp nên là đất của nước Pháp.

Ø  Dân Nam Kỳ mặc nhiên là người Pháp và bình đẳng với dân chính quốc.

Nhận được độc lập bất ngờ, Thượng Thư Phạm Quỳnh soạn vội bản tuyên ngôn độc lập, hủy bỏ hiệp ước bảo hộ với lý do: Người Pháp không giữ lời cam kết, đã bỏ chạy trước sự xâm lăng của quân đội Nhật.

- Dưới thời Pháp thuộc : 95% mù chữ, tiếng Việt bôi bác do ông thày không có khả năng giảng dạy, học chiếu lệ để ra làm phụ tá cho người Pháp. Huần luyện quân đội dưới thời Toàn quyền Albert Sarraut (1911-1914), ông mới đánh tiếng huấn luyện cấp sỹ quan người Việt để thành lập quân đội thuộc địa phụ giúp cho quân đội chiếm đóng thì bị ngay nhà Tài Phoệt De Monpaysage lên tiếng chống đối kịch liệt trên tờ « Tiếng Chuông Rè (La Cloche frêlée). Ông ta nói : Nhiệm vụ của quân đội là đánh đuổi kẻ xâm lăng bảo vệ bờ cõi. Lập xong thì chúng sẽ tống cổ chúng ta ra biển, đòi quyền tự chủ. Còn không thì đó là những tên lính hèn chỉ thích NHUNG PHỤC mà quên trách nhiệm. Tôi không muốn nhìn thấy những tên lính hèn này trong quân đội Pháp. Cuối cùng chương trình này dẹp bỏ.

- Nhật qua cuối năm 1942(novembre 1942), một cổ 2 tròng

- Vụ đói năm Ất Dậu (1945): Nguyên nhân và kế sách.

- Nhật đảo chánh Tây (09/3/1945) và trao quyền cho Bải Đại. 10/3/1945

Ø  Nội các Trần Trọng Kim lập chánh phủ vào đầu Avril 1945, Quốc Kỳ là cở Quẻ Ly - Quốc Ca bài Tiếng gọi thanh niên (lực lượng thanh niên võ trang do nhật huấn luyện và trang bị vũ khí (loại nhân dân tự vệ, địa phương quân)

 

- Thiệt hại :

Nhân mạng chết hơn triệu người vào đầu năm 1945 ; vì thế nên chánh phủ Trần Trọng Kim bị khủng khoảng nhân sự nên Việt Cộng mới gây loạn rồi cướp chánh quyền. Kinh tế thì hoàn toàn tê liệt. Giao thông thì tắc nghẽn vì đường xá và cầu cống bị phá hủy bời bom của Mỹ và hầm tránh bom của Nhật.

Ø Dịp may hiếm có: Cờ đến tay thì phất, nhưng thiếu nhân sự nên để tụt khỏi tầm tay!!

 

Đại chiến thế giới (1939-1945) đến hồi gay cấn.

Quân Đồng Minh đổ bộ Normandie (Pháp) vào ngày 06/6/1944 và hoàn toàn làm chủ vùng này kể từ ngày 21/8/1944; sau đó tiến thẳng vào Paris. Cán cân nghiêng dần về phe Đồng Minh (Anh, Mỹ và Gia Nã Đại, Pháp chỉ là người ăn theo; không có đất mà cũng chẳng có quân)

§  Novembre 1944, lò điện nguyên tử thành công ở Chicago...từ thành công này người Mỹ quyết địch chế bom Nguyên Tử (coi thêm mục “Nguyên tắc chế bom Nguyên Tử”)

§  Ở Đông Dương (Việt, Cambodia và Lào), lính Pháp lên tinh thần, người Nhật lo ngại.

§  Chiều tối ngày 08/3/1945 lính Nhật kiểm soát mọi sự di chuyển của người Pháp và dân chúng ra vào các thành phố.

§  Lệnh đảo chánh được chính thức khởi sự vào 00 giờ ngày 09/3/1945, lính Nhật được lệnh lật đổ chánh quyền Pháp. Sự ra vào các thành phố đềư được lính Nhật canh gác nghiêm ngặt từ 20 giờ hôm trước (08/03/1945)

Giờ giấc tùy thuộc mỗi nơi. Như ở thành phố Vinh, Nhật dụ toàn bộ lãnh đạo Pháp ra sân vận động lúc 21 giờ đêm ngày 08/3/1945 để chứng kiến vụ xử bắn một tên lính Nhật đã gây rối loạn trong thành phố hôm trước.

Trước khi khai mạc một viên Sỹ Quan Nhật thông báo là được lệnh bắt giam tất cả quan chức người Pháp. Thế là người Pháp ngoan ngoãn lên xe về nhà tù. Vụ xử bắn dẹp. Lúc đó giao thông khó khăn vì lính Nhật canh gác rất nghiêm ngặt từ 20 giờ tối.

§  Đến 05 giờ sáng hôm 09/3/1945 thì hầu hết tất cả người Pháp, dù là dân sự, cũng bị tóm cổ nhốt vào tù.

§  Ngày 09/3/1945 Hoàng Đế Bảo Đại đi săn nên không hay biết chi cả.

§  Sáng ngày 10/3 thì Ngài về đến cung và được lính Nhật canh thành báo cáo là đã bắt hết người Pháp vào tù rồi, họ được lệnh bảo vệ an ninh cho Ngài. Sau đó đại diện Nhật Hoàng vào yết kiến Hoàng Đế Bảo Đại vào trịnh trọng trao trả quyền độc lập cho Ngài, nhưng họ giữ lại Cochinchine (Nam kỳ) vì đó là nhượng địa cho Pháp.

Nhận được độc lập bất ngờ, Thượng Thư Phạm Quỳnh soạn vội bản tuyên ngôn độc lập, hủy bỏ hiệp ước bảo hộ với lý do: Người Pháp không giữ lời cam kết, đã bỏ chạy trước sự xâm lăng của quân đội Nhật như sau:

ö

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

Bản văn ra ngày 11mars 1945

Nguồn Wikipedia sử gia Phạm Cao Dương

Tuyên ngôn độc lập của Hoàng Đế Bảo Đại:

Đây là một bản văn tương đối ngắn so với những bản văn cùng loại, nhằm ba mục tiêu chính yếu là hủy bỏ một hòa ước Triều Đình Huế đã ký với nước Pháp, tuyên bố Việt Nam độc lập,đứng vào khối Đại Đông Á trong chương trình phát triển chung, đồng thời bày tỏ sự tin tưởng vào lòng  thành của nước Nhật với nguyên văn như sau:

 “ Cứ tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi  Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này điều ước bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập                                   .                                                      
“ Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vương chung.                                             

“Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên.(4) 

Bản Tuyên Bố được đề ngày 11 tháng Ba năm 1945 tức ngày 27 tháng Giêng năm Bảo Đại thứ 20 được Bảo Đại ký tên với sáu thượng thư phó thự. Sáu vị thương thư gồm có: Phạm Quỳnh, bộ Lại, Hồ Đắc Khải, bộ Hộ, Ưng Úy, bộ Lễ, Bùi Bằng Đoàn, bộ Hình, Trần Thanh Đạt, bộ Học, và Trương Như Định, bộ Công. Theo Bảo Đại đây là lần đầu tiên trong lịch sử một văn kiện được ký bởi nhà vua và tất cả các nhân vật quan trọng nhất trong triều đình.

õ

Sau đó Ngài ngỏ lời xin thoái vị, trao quyền lại cho ông Cường Để đang lưu vong ở bên Nhật vì Ngài chỉ được huấn luyện làm vua bù nhìn thôi: Chánh trị, kinh tế, quân sự không biết.

Người Nhật thoái thác vì muốn Ngài ngồi làm vì để che mắt thiên hạ.

Ngài nhờ kiếm ông Ngô Đình Diệm để trao quyền Thủ Tướng lo mọi việc cho Ngài,

Nhưng Nhật buộc Ngài phải thành lập Nội Các Trần Trọng Kim, một nhà học giả chân thật không biết làm chánh trị, chỉ biết ăn hiền ở lành, thẳng ruột ngựa.

Đồng thời người Nhật thúc ép Ngài lập Đoàn Thanh Niên Tiền Phong do Nhật võ trang và huấn luyện. Đây là lực lượng võ trang đầu tiên kể từ ngày bị người Pháp đô hộ.

-       Avril 1945 Nội Các Trần Trọng Kim đệ trình danh sách chánh phủ để Ngài chuẩn y.

 

Sau đó là tuyển chọn Quốc Kỳ và Quốc Ca, chương trình giáo dục bằng tiếng Việt từ Trung Học trở xuống......tức là hoàn thành những điều cần phải có của một chánh phủ độc lập.......Nên nhớ là lúc đó 95% người dân mù chữ, tiếng Việt không được học, vắng bóng nhân tài nên việc quản trị đất nước thật là vất vả, khó khăn; ngàn cân treo sợi tóc.

Cờ Quẻ Ly và bài Tiếng gọi Thanh Niên được Ngài phê chuẩn làm Quốc Kỳ và Quốc Ca, nhưng Ngài vẫn giữ cờ Long Tinh làm Đế Kỳ. Vậy thì cờ Long Tinh chưa bao giờ làm Quốc Kỳ cả. Long Tinh là cờ Rồng uốn khúc: Một dải đỏ trên nền vàng, chia làm 3 phần đều nhau.

Long Tinh là Đế Kỳ, cờ của nhà Nguyễn đi với bài Đăng Đàn Ca. Bài Đăng Đàn Ca là điệp khúc nhắc nhở nhà Vua đừng phản bội người xưa. Bài đó như sau:

Bên núi sông Hùng vỹ trời Nam,

Đã bao lần vết anh hùng chưa hề tan.

Vì đâu máu ai ghi ngàn thu,

Còn tỏ tường bên núi sông.

Xác thân tan tành,

Lòng trung bền vững.

Vì nước ta quên mình,

Chúng ta đều ước mong rằng

Dân Việt Nam anh dũng muôn năm

 

Cờ Quẻ Ly là lá cờ Nền Vàng, Quẻ Ly nằm chánh giữa theo bề ngang của là cờ. Nói cho dễ hiểu là cờ 3 sọc mà sọc ở giữa đứt làm hai đoạn.  Cờ 3 sọc là cờ Quẻ Càn.

Ø  Theo bát quái thì Quẻ Ly tức là lửa. Theo kinh dịch thì LỬA (mặt trời) ở phương nam.

Theo nghĩa thì cờ Quẻ Ly là cờ của nước NAM (so với nước Tàu ở phương Bắc, Bắc Hán, Nam Việt). Nền vàng có nghĩa là dân Việt làm chủ đất nước đó, vì màu vàng của lụa tơ tầm là sắc thái của chủng tộc Việt đã có từ ngày lập nước Văn Lang 2.879BC.

Lá cờ này chỉ có nghĩa xí phần: Nước Nam của người Việt Nam (Vietnam to the Vietnamese tức Việt Nam to thế, Việt Nam Mẹ Xề vì lúc đó hầu như không ai biết tiếng Anh cả). Khẩu hiệu Vietnam to the Vietnamese được treo đầy đường sau khi được người Nhật giải phóng.

Còn bài Quốc ca là bài tiếng gọi Thanh Niên (tức Thanh Niên Tiền Phong, lực lượng võ trang duy nhất) khác với bài Sinh Viên Hành Khúc của Lưu Hữu Phước. Nhạc thì giống nhau, nhưng lời thì hoàn toàn khác nhau.

Ø Bài sinh viên hành khúc ra năm 1942 như sau:

Này sinh viên ơi! đứng lên đáp lời sông núi,

Hành trình còn xa anh em cùng phải nhau gắng.

Ngày xưa ai biết đem tài cao cho núi sông,

Ngày nay ta cũng đem lòng son cho giống Hồng.

Là sinh viên vun cây văn hóa,

Từ trước sẵn có nhiều hoa lá.

Đời mới kiến thiết đáp lòng những ai,

Từng mong trông ta ra đứng cầm tay lái.

Bền chí cố gắng sức đoàn ta tiến lên

Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường

...............

Ø Bài tiếng gọi thanh niên ra đời vào tháng avril 1945 như sau. Nên nhớ lúc đó dân Việt theo thể chế Quân Chủ Chuyên Chế, nhà vua có quyền trưng dụng bản quyền mà không cần bồi thường; hoặc bồi thường tượng trưng. Ai là tác giả nhạc và lời thì chúng ta không cần biết vì nó thuộc bản quyền dân tộc rồi. Hoàng Đế đã xung công;.

Ø Bài này xuất hiện để thi ăn giải dưới thời Toàn Quyền DECOUX vào năm 1941-1942, thi đua sáng tác hội họa và ca nhc với tiêu đề:

Toàn dân Việt Nam đứng sau lưng Mẫu Quốc để diệt Phát Xít Nhật, nên đã được trả tiền để thành của chung ai hát cũng đuợc;

Ø Thực dân Pháp đầu hàng người Nhật sau trận đánh ở Lạng Sơn vào cuối tháng Novembre (11) năm 1942.

Ø Do đó mới có danh từ BA TÀU theo chủ trương Đại Gia Đình Á Châu của Nhật; người Việt mình mới xếp hạng: Anh Cả Việt, anh Hai Nhật, Anh Ba Tàu ....

Này thanh niên ơi! quốc gia đến ngày giải phóng.

Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống.

Vì tương lai quốc dân cùng xông pha khói tên,

Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.

Dù cho thây phơi trên gươm giáo,

Thù nước lấy máu đào đem báo.

Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy.

Toàn công dân ta cố rèn tâm trí:

Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi,

Vang tiếng người nước nam cho đến muôn đời.

Công dân ơi! mau hiến thân dưới cờ.

Công dân ơi! mau làm cho cõi bờ:

Thoát cơn tàn phá, vẻ vang nòi giống,

Xứng danh nghìn năm dòng giống Lạc Hồng.

ö

Cuộc chiến thế giới đang đến ngày gay go, quân đồng minh tiến vào Berlin, nước Đức thua trận, nước Nhật cheo leo.

§  Ngày 06/8/1945 Nhật ăn bom Nguyên Tử ở Hiroshima.

§  Ngày 09/8/1945 quả nữa nổ ở Nagasaki.

§  Ngày 11/8/1945 Nhật đầu hàng vô điều kiện.

Người Pháp xin vào tước khí giới quân đội Nhật, Mỹ không cho.

Mỹ để quân đội Tàu Tưởng Giới Thạch tước khí giới quân Nhật phía bắc vỹ tuyến 16; và quân đội Anh tước khí giới quân Nhật ở phía nam vỹ tuyến 16.

Lúc này người Mỹ chưa biết giải quyết vấn đề 3 nước Việt Miên và Lào ra sao nên để lấp lửng như vậy. Trong thực tế thì Mỹ thắng Nhật nên Mỹ làm chủ các nơi Nhật đóng quân; nhưng Mỹ không đủ quân nên tạm ủy thác cho Tàu và Anh tạm thời quản trị dùm.

-       Đây là dịp may lấy lại chủ quyền bằng chánh trị nếu dân ta tinh khôn.....và không có Hồ Chí Minh phá đám.

Nhưng vì dân ta u tối nên mới có thảm trạng ngày hôm nay! Thật đáng tiếc đã để di họa cho hậu thế: Cha ngu dốt thì con nô lệ, đó là châm ngôn của tổ tiên:

·        Cha ăn mặn thì con khát nước.

·        Cha ăn cướp thì con ngồi tù.

·        Cha lù-khù chữ thì con ngu dốt.

·        Cha đốt nhà con lang thang

Ngày thứ năm, 16/8/1945 người Nhật trao trả trọn vẹn độc lập cho ta, và cũng trả luôn cà Nam Kỳ (cochinchine) cho ta nữa.

Ngày thứ Sáu, 17/8/1945 Việt Minh (Việt Cộng) nói rằng có cuộc biểu tình công chức để bày tỏ lòng quyết tâm tranh đấu cho độc lập nước nhà, ở nhà Hát Lớn Hà Nội, rồi Phạm Duy lên cướp micro để biến thành biểu tình ủng hộ Việt Minh...(nghe diễn biến gượng gạo làm sao ấy)

ö

Điểm này phải xét lại vì nhiều lý do:

1.      Theo luật lúc đó thì không được tụ họp quá 3 người, cấm biểu tình.

2.      Lúc đó làm gì có Công Đoàn Công Chức, làm gì có người chủ xướng và làm gì có truyền đơn kêu gọi biểu tình. Độc lập có rồi còn đòi gì nữa?!

3.      Thứ Sáu là ngày đi làm nên công chức đâu có dám nghỉ ngang xương như vậy.

Vậy, đúng lý mà nói thì đó là lệnh của Khâm Sai Đại Thần Phan Kế Toại: Cho công chức nghỉ việc, kêu gọi toàn dân đến tập trung ở nhà Hát Lớn để nghe thông điệp Nhà Vua về việc tiếp nhận Độc Lập và đường lối chống sự quay lại của Thực Dân Pháp để tái đô hộ chúng ta thì có lẽ hợp lý hơn. Sau đây là bản Hiệu Triệu Quốc Dân nói trên đài phát thanh ở Huế vào đúng 10 giờ sáng ngày 17.8/1945:

 

BẢN VĂN HIỆU TRIỆU QUỐC DÂN

Việt Nam Hoàng Đế ban chiếu số 105:

" Cuộc chiến tranh thế giới đã kết liễu, lịch sử nước Việt Nam tiến tới một thời kỳ nghiêm trọng vô cùng.

Đối với dân tộc Nhật Bản, trẫm có nhiệm vụ tuyên bố rằng: dân tộc ta có đủ tư cách tự trị và nhất quyết huy động tất cả lực lượng, tinh thần và vật chất của toàn quốc để giữ vững nền độc lập cho nước nhà.

Trước tình thế quốc tế hiện thời, Trẫm muốn mau có một Nội Các mới.

Trẫm thiết tha hiệu triệu những nhà ái quốc hữu danh và ẩn danh đã nỗ lực chiến đấu cho quyền lợi dân chúng và nền độc lập nước nhà mau mau ra giúp Trẫm để đối phó với thời cuộc.

Muốn củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền lợi của dân tộc, Trẫm sẵn sàng hy sinh tất cả các phương tiện. Trẫm để hạnh phúc của dân Việt lên trên ngai vàng của Trẫm.

Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn là làm vua một nước nô-lệ. Trẫm chắc rằng toàn thể quốc dân cùng một lòng hy sinh như Trẫm.

Trong cuộc chiến đấu mà ta cần phải đương đầu với một cuộc tái hồi ngoại thuộc, toàn thể dân tộc Việt Nam chắc chắn ở sự đắc thắng của công lý và nhân đạo và tin rằng chỉ có một nước Việt Nam độc lập mới có thể cộng tác một cách hiệu quả với tất cả các nước để gây dựng một nền hòa bình vững chắc ở hoàn-cầu"

Khâm thử.  Phụng ngự ký: Bảo Đại

Ban chiếu tại Thuận Hóa ngày mồng 10 tháng 7 năm Bảo Đại thứ 20 (17/8/45)

:--------------------------------

Tổ chức thì đột ngột, lại chưa quen (vì đây là lần đầu) nên bị Việt Minh soán vị, cướp micro khi quan chức triều đình chưa ai tới cả, hơn nữa lại không có lực lượng an ninh trật tự bảo vệ cuộc tập họp vỹ đại này. Đây là cái xui cho dân Việt mới thoát thai từ nô lệ mà ra nên lủng củng như vậy.

Ø  Tất cả đều nhờ người Nhật làm dùm và bảo vệ an ninh dùm.

9:00 giò thì mọi việc xong xuôi, dân chúng tập chung có hành lối và tuân thủ lệnh lính Nhật, thì Việt Cọng phá đám.

Ø  Chúng treo cờ đỏ sao vàng và hò hét đả đảo, hoan hô rầm trời.

Ở dưới đám đông hò hét theo. Lnh Nhật sợ lộn xộn cho giải tán vì sợ xô sát chết người.

 

Trước khi giải tán thì chúng hẹn hẹn gặp nhau tại đây vào 9 giờ sáng ngày Chủ Nhật 19/8/45...để hắn còn về đơn vị, lên chương trình phá rối trị an rồi thừa cơ cướp chánh quyền luôn......Đó là lịch trình phải theo mà Việt Cộng không dám nói tới...Đây là bí ẩn ở hậu trường chánh trị mà chúng ta phải dùng bộ óc để biết sự thật của biến động chánh trị này.

Ø  Nên nhớ ngày 19/8/45 không phải là ngày cướp chánh quyền đâu nhá...Đây là ngày phá thối để tổ chức cho việc cướp chánh quyền sau này.

 

 

Kiểm chứng:

Ngoài ra chúng ta có thể kiểm chứng bằng tấm hình đăng trên báo Cứu Quốc, cơ quan ngôn luận của mặt trận Việt Minh (tức Việt Cộng) : Dân chúng tề tựu đông đủ, có hàng lối và chia khu rõ ràng.

Lính Nhật đứng canh gác để bảo vệ an ninh. Bất ngờ cán bộ Việt Công (lúc đó gọi là Việt Minh/VM=Vẹm) lên phá đám, kéo Quốc Kỳ Quẻ Ly xuống và kéo cờ đảng (một ngôi sao vàng nằm chính giữa nền đỏ) rồi hô hào để kích động. Bị bất ngờ nên quần chúng hoang mang gây náo loạn.

Vì sợ bạo loạn gây đổ máu nên lính Nhật hạ lệnh giải tán trong trật tự. Thế là không ai được nghe lời hiệu triệu của Hoàng Đế Bảo Đại cả.

ö

Ngày chủ nhật 19/8/45:

Từ tờ mờ sáng cán bộ Việt Minh đi từng nhà lùa đi như lùa gà, ép  buộc mọi người phải đến nhà Hát Lớn để nghe nói về chương trình cứu nước. Đến nơi thì như cá trong rọ, không ai được bỏ về.

Chúng dắt đi diễu phố và nói là đợi đoàn quân giải phóng về tiếp thu. Đi một hồi thì đoàn người cứ thưa dần, chúng bèn kích thích khí thế bằng cách dắt tới dinh Khâm Sai để hôi của, lấy từ tập giấy, từng cây bút, ai lấy được gì thì cứ lấy; giống như cảnh 30 tháng 4 năm 1975 ở Saigon vậy....Hỗn loạn cực điểm, quân hồi vô lệnh.

Khoảng 4 giờ chiều thì chúng cũng kiếm đâu được dăm bảy tay súng và nói rằng sở dĩ đến trễ là vì phải đụng độ với quân Nhật. Sau đó thì tuyên bố giải tán.......nói chung là chúng chỉ tập họp quần chúng cho đông mà cũng không có chương trình hành động gì rõ rệt cả.

Tối hôm đó chúng đẻ ra Ủy Ban Cứu Quốc cùng tờ báo Cứu Quốc, cơ quan ngôn luận của Việt Minh. Mà cũng chẳng ai biết Việt Minh là gì cả. Chương trình hành động của Ủy Ban Cứu Quốc ra sao cũng không thấy nói, nhân sự cũng dấu tên luôn; toàn là bí danh vì sợ lộ diện thì Nhật bắt. Mà có nói tên thật ra thì cũng chẳng ai biết người đó là gì và đã làm được gì cho đất nước.

Ngày 21/8/45:

Bổn cũ soạn lại ở Hà Đông: Đến tước khí giới trại lính khố xanh của ông Quản Dưỡng (chức quản lúc đó là chức Chuẩn Úy Dưỡng). Hôm trước điều đình thì ông này trá hàng, nhưng khi cán bộ Vẹm tiến lên thì ông hạ lệnh nổ súng, biểu tình giải tán trong hỗn loạn. Trật tự vãn hồi, cán bộ vẹm lẩn trốn.

Mấy ngày sau tiến đến Nam Định bị ông Tỉnh Trưởng bắt nhốt, nhưng sau đó chúng cũng lấy được tỉnh....Cuối cùng là tỉnh Ninh Bình. Hồi đó truyền tin rất khó khăn nên ít ai biết rõ tình hình rối loạn ra sao. Nói chung thì tình hình cực kỳ rối loạn do Việt Minh gây ra, khủng bố, ám sát về đêm xảy ra thường xuyên. Đường giây điện thoại bị cắt.

ö

NÓI VỀ KINH ĐÔ HUẾ LÚC ĐÓ

Theo cuốn Le Dragon d'Annam của Hoàng Đế Bảo Đại thì:

1.      Hoàng Đế Bảo Đại chỉ biết lõm bõm là Hà Nội rối loạn mà không biết làm sao có thể kiểm chứng được.

 

Đường giây điện thoại xuyên Việt bị Việt Minh cắt nhiều đoạn. Cầu bị phá hủy bởi bom Mỹ đánh Nhật, đường xá bị đứt đoạn trong thời chiến. Chính quân Nhật di chuyển cũng còn khó khăn, máy bay không có, tầu hỏa cũng không, ô-tô thì không có essence và chạy ì-ạch bằng than đá, xe đạp cũng thiếu; nhất là vừa qua nạn đói chết trên một triệu người nên chẳng ai còn tâm trí để lo việc nước nữa.

Đây là môi trường hỗn loạn có lợi cho kẻ phá hoại cướp chánh quyền....Quân hồi vô lệnh, chánh quyền Trần Trọng Kim thì không có lực lượng võ trang, môi trường chánh trị bỏ ngỏ mặc cho con buôn chánh trị tha hồ múa gậy vườn hoang.

2.      Ngày 21/8/45:

Trưa ngày 21/8/45 một viên Đại Tá Nhật đến xin yết kiến và cho Hoàng Đế biết là: Đồng Minh yêu cầu người Nhật bảo vệ an ninh cho Ngài cho đến khi họ tới tước khí giới. Vì thế nên ông xin Ngài hạ chiếu cho phép quân Nhật dẹp loạn ở Hà Nội.

Ngài ngỏ lời cám ơn và khước từ lòng tốt của họ. Ngài nói là chúng tôi sẽ giải quyết với nhau, xin người Nhật hãy tôn trọng ý kiến của dân tôi.

Sau khi bãi triều (khoảng 5 giờ chiều, nhân viên Nội Các ra về), đến chập tối thì ông Trưởng Bưu Điện ở Huế trao tận tay cho Ngài một điện văn đánh đi từ Hà Nội yêu cầu Ngài Thoái vị, trao quyền cho dân.

Thực hay giả thì không biết, chỉ biết là Ngài không liên lạc được với ông Phan Kế Toại, Khâm Sai Đại Thần ở Hà Nội, vì đường dây bị gián đoạn, nay bỗng nhiên lại có điện tín từ Hà Nội gửi vào. Ngài bán tín bán nghi, đợi ngày mai hỏi Nội Các cũng chưa muộn

3.      Ngày 22/8/45:  

Cả ngày chẳng thấy một mống nào đến làm việc cả.

Lý do: Họ đã bị PHẠM NGỌC THẠCH, đảng viện Việt Cộng,bắt cóc chiều hôm trước rồi mà Ngài không hay.

Như vậy là Ngài hết hậu thuẫn nên chúng ra tay trước kẻo Ngài đổi ý.

Nên nhớ Phạm Ngọc Thạch không phải là Việt Cộng nằm vùng, mà là kẻ PHẢN BỘI.

Vì lúc đó mọi người đều nghĩ rằng : Các đảng viên ở bất cứ đảng nào cũng đều có lòng yêu nước cả. Hơn nữa người ta chưa biết cương lĩnh của đảng Việt Cộng ra sao cả nên nghĩ là đảng nào nắm quyền cũng giống nhau.

Ø  Đó là sự yêu nước mù quáng nên bị kẻ lưu manh lợi dụng

4.      Ngày 23/8/45:

Đợi mãi cũng chẳng thấy ai đến làm việc, cuối cùng chiều hôm đó Ngài đánh điện yêu cầu họ gửi người vào nhận chiếu thoái vị, mà chính Ngài cũng không biết là điện tín có đi được hay không; vì Ngài đã mất liên lạc với Hà Nội rồi. Bặt vô âm tín. Tối hôm 23.8/1945 Hoàng Đế gửi điện cho Ủy Ban Cứu Quốc mới thành lập vào tối ngày 19/8/1945, vào để tham dự chiếu thoái vị - chứ không phải trao quyền.

Ø  Ngài không làm lễ trao quyền, mà Ngài cũng không có quyền chuyển quyền lãnh đạo đất nước cho bất cứ ai cà, ngoại trừ trường hợp truyền ngôi sinh sát cho Thái Tử, cha truyền con nối.

Ø  Hơn nửa lúcdó chưa có CHÁNH PHỦ CÁCH MẠNG nào ra đời cả. Chánh Phủ tự xưng là Cách Mạng Hồ Chí Minh (cái tên giả) ra đời vào ngày 02.09.1945, không tiểu sử, không tên thật và cũng không làm lễ NHẬM CHỨC ; vì vậy chúng cố lý luận cho bằng đuọc để có tý chánh danh

5.      Ngày 24/8/1945:Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận là 2 tên vô danh tiểu tốt, từ Hà Nội vào Huế buổi chiều ngày 24/8/1945 để xin tham gia vào lễ Thoái Vị bên cạnh Hoàng Đế, và sau đó bắt cóc Ngài để làm con tin.

·        Vào trễ là vì giao thông đứt đoạn do cầu sập bởi bom của Mỹ đánh Nhật

6.      Ngày 25/8/45 :

Ngài Thoái vị để trao quyền cho dân như Ủy Ban Cứu Quốc yêu cầu.

Kể từ ngày Hoàng Đế thoái vị mà không làm lễ trao quyền cho ai cả, thì đất nước lâm vào tình trạng vô chánh phủ. Sau đó là con buôn chánh trị giở thủ thuật để cướp quyền.

ö

·        Ngày 02/9/45: Hồ Chí Minh trình diện chánh phủ Kháng Chiến Lâm Thời dưới hình thức Tuyên Thệ trước bàn thờ Tổ Quốc sau khi được Hoàng Đế Bảo Đại trao quyền...

Chuyện này không thành nên đổi thành Tuyên Ngôn Độc Lập trước bàn thờ Tổ Quốc, tự ý thay đổi Quốc Hiệu Việt Nam thành Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Quốc hiệu của nước ta dưới thời Gia Long (1802) là Việt Nam được Hoàng Đế nhà Thanh phong cho. Minh Mạng (1921) đổi thành Đại Việt.

Chánh phủ Trần Trọng Kim (avril 1945) đổi thành Việt Nam.

·        Cuối tháng đó (Sept. 1945) ông Hồ ký sắc lệnh: Cấm các đảng phái hoạt động, triệt hạ Quốc Kỳ Quẻ Ly và thay bằng Cờ Đỏ Sao Vàng là đảng kỳ của đảng Cộng Sản Việt Minh để đặt mọi người trước tình trạng đã rồi.

Ngay sau khi nắm quyền (02/9/1945) thì Hồ Chí Minh hạ lệnh ám sát các yếu nhân như ông Phạm Quỳnh, ông Ngô Đình Khôi và các đảng viên của các đảng bị cấm hoạt động. Lẽ dĩ nhiên là Quốc Ca cũng bị dẹp bỏ để thay bằng Đảng Ca.

Theo sự hiểu biết của soạn giả thì Chánh Phủ Kháng Chiến Lâm Thời không có những quyền đó. Vậy thì đó là luật của Ngụy Quyền, Bạo Chúa chứ không phải luật do dân làm.

·        Sau đó tổ chức Quốc Hội một cách bịp bợm như Chánh Phủ chia cho Việt Quốc một số ghế nhất định (hình như 60 ghế trên 150 hay 160 ghế thì phải, xin kiểm lại). Như vậy phải gọi là Quốc Hội Chỉ Định bởi Chánh Phủ: Chưa bỏ phiếu mà đã biết số nghị gật do Chánh Phủ chỉ định rồi. Phường tuồng này quá lộ liễu...

Ø  Đây là sự chia chác quyền hành trên sinh mạng toàn dân

Sau đó Quốc Hội chỉ định ông Hồ Chí Minh đứng ra thành lập Chánh Phủ...cuối cùng ông Hồ Chí Minh đặt Quốc Hội dưới sự chỉ đạo của ông ta...

Vì thế nên chúng ta thấy Chánh Phủ cứ thay tên đổi họ cho phù hợp với những chống đối bên ngoài.

Nói đúng ra thì đây là một sự cướp quyền mà ông Hồ Chí Minh và cơ quan tuyền truyền, trong đó có tờ báo CỨU QUỐC , cơ quan ngôn luận của MẶT TRẬN VIỆT MINH vẫn nói ra rả noi là: "đảng ta cướp chánh quyền trong tay Chánh Phủ Trần Trọng Kim".

Ø  Ngày hôm nay Đại Tá Việt Cộng là Bùi Tín vẫn nhắc đến chữ cướp chánh quyền cho đảng ta chứ không phải cướp cho nhân dân ta!

·        Để người dân chú ý vào việc chống Pháp, nên lúc 3 giờ sáng ngày 06/3/46 , ở ngay thủ đô Hà Nội, ông Hồ Chí Minh ký Tạm Ước Sơ Bộ để cho quân Pháp đóng binh trên Bắc Kỳ và Trung Kỳ, còn Nam Kỳ là đất nhượng địa cho Pháp với mục đích đem Pháp vào để hỗ trợ việc dồn toàn lực để tiêu diệt các đảng phái trước khi phất cờ “Kháng Chiến Chống Pháp” do chính ông Hồ vô qua tạm ước sơ bộ 06.3.1946

Mà chống Pháp thì đã có Liên Xô giúp rồi.

Dưới thời nô lệ Thực dân Pháp thì nước ta bị chia ra làm 3 miền với 3 đạo luật khác nhau:

1)     Bắc Kỳ tới tỉnh Ninh Bình, theo chế độ Bảo Hộ vì dân ngu nớc hèn nên Tự Đức cần người Pháp khai phóng.

2)     Trung Kỳ từ Thanh Hóa đến Bình Thuận (Phan Thiết), gồm cả vùng Tây Nguyên (tức NAM BÀN thời vua Lê Thánh Tôn 1471) là đất của nhà vua do người Pháp làm cố vấn và quản trị dùm; vì họ cần một vị vua bù nhìn.

3)     Nam Kỳ, từ Gia Định vào đến Hà Tiên gồm 6 tỉnh thì Tự Đức đã biếu nước Pháp để họ bảo vệ ngai vng 3 chân của nhà vua.

Mới đầu biếu 3 tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, Châu Đốc và Hà Tiên; tức miền Hậu Giang ngày hôm nay.

Về sau biếu nốt 3 tỉnh miền Đông là :Biên Hòa, Gia Định và Định Tường; tức miền Tiến Giang ngày hôm nay. Vì thế nên người ta gọi là miền LỤC TỈNH

 

VƯỢT NGỤC:

Vì thấy Việc Cộng không những gian manh mà lại còn có tòa Đại Sứ Liên Sô ở Hà Nội hỗ trợ nên bên Việt Quốc mới vận động để quân Tàu Lư Hán (Tưởng Giới Thạch) đang có mặt tại để tước khí giới quân Nhật từ vỹ tuyến 16 trở lên giúp để gặp Mỹ đặng xin cố vấn giúp cho.

Cuối cùng cũng thành lập được phái đoàn do cậu Đặng Vũ Trứ 23 tuổi là sinh viên y khoa sắp ra trường làm trưởng phái đoàn.

Khổ nỗi là lúc đó không ai biết tiếng Anh cả, cậu Đặng Vũ Trứ là con bác sỹ Đặng Vũ Lạc có bệnh viện ở Hà Nội, ần ga xe hàng Cỏ (lúc đó là đường GAMBETTA) . Ra đến chiếm hạm thì được tiếp đón ân cần; nhưng khi vào đề để xin một vị cố vấn chánh trị thôi, mọi việc thì mình tự lo lấy.

Ông Hạm Trưởng trả lời rằng: Chúng tôi muốn giúp các anh lắm, nhưng đã giúp nhầm tên Hồ Chí Minh phản phé nên còn phải đắn đó. Tôi không biết các anh là ai cả nên chưa nhận lời.

Nay các anh vể nhờ ông Bảo Đại đứng ra bảo lãnh thì chúng tôi sẽ giúp liền, không nhữ vế cố vấn chánh trị mà còn nhiều viện trợ cho nhu cầu khác.

Khi về mới bàn nhau phải đánh tháo cho ông Bảo Đại thoát tù do Hồ Chí Minh cầm chân dưới danh hiệu Cố Vấn Vĩnh Thụy.

Bàn đi tính lại thì một mặt phải vận động để quân đội Tàu cấp máy bay khi có dịp là đi liền. Lẽ dĩ nhiên là Tưởng Giới Thạch biết chuyện và đồng ý thì Lư Hán mới dám nhận lời.

Sở dĩ vậy là vì Tổng Thống Tưởng Giới Thạch muốn dùng Bảo Đại để đem quân lật đổ Viêt Minh và tái thiết chư hầu... nhưng khi gặp nhau thì ông Bảo Đại từ chối khéo nên thoát về Hương Cảng để họp bàn cùng các nhân sỹ tìm cách thoát hiểm.

Mặt khác tì liên lạc với ông Bảo Đại để tìm cách thoát hiểm. Anh em khuyên ông Bảo Đại là phải khai một bệnh nào đó cần phải sang Tàu chữa chạy... Ông Bào Đại khai bệnh đau mắt vào lúc 11 giờ thì Phạm Văn Đồng cấp giấy sang Tàu chữa mặt. Ông thu xếp valise, lấy vài bộ đồ tùy thân, tiền không có và đợi quân xa của lính Tàu rước sang Gia Lâm đáp máy bay sang Côn Minh (thủ phủ Vân Nam) lúc 12 giờ; vì đi vội nên chỉ có 1 người, 1 valise, túi không tiền.

Lúc 14 giờ cùng ngày họp Bộ Chánh Trị, Phạm Văn Đồng báo cáo đã cấp giấy cho Bảo Đại sang Tàu chữa mắt. Võ Nguyên Giáp vỗ đùi đánh đét và nói là thả cọp về rừng, nay phải bàn việc chữa cháy.    

Trong cuốn Con Rồng nước Nam thì Ngài có nói là có một người tên là LU (có lẽ là họ Lưu) mời về nhà chu cấp đầy đủ....sau đó Ngài qua Hồng Kông và cư ngụ tại đó mà không về Pháp, trong khi ở Pháp thì Ngài có dinh thự cho thuê, thu nhập hàng tháng, đời sống yên ổn mà lại thích vay tiền Ngân Hàng để sống. Điểm này sẽ được bàn ở dưới.

Ø Tiếp theo là Chánh Phủ Hồ Chí Minh cử phái đoàn Nguyễn Tường Tam qua Tàu đàm phái mà đại diện phái đoàn là cố vấn Vĩnh Thụy đã vượt biên từ trước.

Ngay khi đặt chân đến nước tàu thì toàn thể phái đoàn Nguyễn Tường Tam xin tỵ nạn chánh trị....Đây là một ẩn khúc cần phải khai thông, chúng ta sẽ bàn ở dưới.

·        Đã Sơ Bộ lại còn Tạm Ước thì hỏi có bao nhiêu giá trị? Vì vậy nên tháng Août, ông Hồ dẫn Phái Đoàn qua Paris để đàm phán với ông Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa là ông MOUTET...

Ở nhà thì Võ Nguyên Giáp ra tay triệt hạ các đảng viên Việt Quốc vì các thủ lãnh đã qua Tàu xin tỵ nạn chánh trị rồi. Lúc này thì các đảng phái Quốc Gia như rắn không đầu, vừa đánh vừa rút sang Tàu hoặc vào ẩn náu trong khu người Pháp cai trị....Nhà Việt Nam mất nóc  từ ngày 25/8/1945 !

-       Sang tới Pháp vào lúc chánh phủ cứ thay đổi luôn nên ông Hồ và phái đoàn Phạm Văn Đồng cứ đi lang thang ở Fontainebleau. Khi tình hình ổn định thì ông MOUTET đặt điều kiện cho phái đoàn, cuối cùng cuộc đàm phán tan vỡ vì 2 ý kiến trái ngược nhau.

-       5 giờ chiều ngày 13/9/46, ông Hồ tiễn phái đoàn lên tầu lửa tốc hành MISTRAL ở gare de LYON (Paris) để xuống cảng Marseilles đáp tầu biển về nước, và hẹn hôm sau ông ta sẽ nhập đoàn để về cùng một chuyến. Lộ trình mất 21 ngày trên biển.

·        Từ 5 giờ chiều ngày 13/9/1946 đến 02 giờ sáng ngày 14/9/1946 thì ông Hồ đến tòa Đại Sứ Nga Sô để nhận chỉ thị. Tin tức đi đi về về giữa đại sứ Nga ở Paris với Chánh Phủ ở MOUSCOU, rồi với ông MOUTET.....cuối cùng cũng ra quyết định là nhận đề nghị của ông MOUTET: Giữ nguyên tình trạng hiện có.

·        Vì đã biết sẵn kết quả nên ông MOUTET đợi ông Hồ trên giường ngủ với bản văn đánh máy sẵn để ông Hồ ký vào.

·        Ngày 14/9/1946: Đúng 02 giờ sáng, ông Hồ tới dinh ông MOUTET, lính gác cho vào ngay và ông MOUTET tiếp ông Hồ trong phòng ngủ với bộ đồ ngủ (Pyjama). Ký xong phận sự thì ông Hồ nói với ông MOUTET rằng: Tôi đã ký bản án tử hình cho dân tộc tôi (đoạn văn này được trích trong các báo Pháp ở thư viện- nhật báo cũng như tuần báo).

·        Khi phái đoàn về nước thì ăn mừng chiến thắng, lúc này các đảng phái Quốc Gia đã  hoàn toàn bị tiêu diệt.

·        Để mọi người không còn dịp bàn luận đến 2 hiệp định bán nước ký vào ngày 06/3/46 và 14/9/46 mà báo Cứu Quốc gọi là nhờ sự anh minh và sáng suốt của Hồ Chủ Tịch nên Ta đã bắt Pháp phải ký vào 2 hiệp ước này.

Thế nhưng ông Võ Nguyên Giáp lại phá thế bí bằng cách hạ lệnh tấn công Pháp...Tức là Hồ Chí Minh khai chiến chứ không phải Thực Dân Pháp hiếu chiến.

·        Ngày 19/12/1946:

Đúng 12 giờ đêm (tức ngày thứ Năm: 26 tháng Một năm Bính Tuất) Võ Nguyên Giáp cho lệnh nổ nhà máy điện. Đèn điện Hà-nội tắt ngủm, Tự Vệ Thành bắt đầu nổ súng, đem chướng ngại vật ra chặng đường. Bàn ghế giường tủ chi khuân ra hết.

Khôi hài nhất là đem bát úp giữa đường đề chống xe tank, vì các chú lính Tây ấy nghĩ rằng ở dưới bát có đặt mìn nên sợkhông dám qua....không ngờ lính Tây cứ ung dung cho xe chạy qua! Dân trí Hà thành 4.000 năm văn vật ở thời điểm 1946 là thế đó!

Ø Đúng là ấu trĩ nên bị Hồ Chí Minh lừa

Tự vệ thành là thanh niên tình nguyện, bỏ tiền mua súng để bảo vệ thành phố mà Tây gọi là Việt Minh Carré, vì đeo phù hiệu ngôi sao vàng trên hình vuông màu đỏ. Còn Vệ Quốc Đoàn đeo phù hiệu ngôi sao vàng trên vòng tròn màu đỏ nên Tâp gọi là Việt Minh Ronde. Tự Vệ Thành không được huấn luyện quân sự, ngay chính Vệ Quốc Quân cũng còn thiếu huấn luyện viên.

·        Để triệt hạ những người khờ khạo theo họ mà nay lại tính chạy vào đồn Tây nên họ ra tay trước là:

Đúng 12 giờ đêm ngày trăng rằm tháng chạp năm Bính Tuất (tức ngày thứ Hai mồng 6 janvier 1947, tức 17 ngày sau khi khai chiến) hạ lệnh cho bọn đó tập trung tại cột đồng hồ (tức bến Chương Dương nơi cây cầu mới xây sau năm 1954) và bò dưới cầu Long Biên (do Tây xây thời Toàn Quyền Paul DOUMER, 1897-1902) do lính Tây canh giữ....với khẩu lệnh: Mở đường máu rút lui. Kẻ nào bất tuân bị xử bắn tại chổ bằng 2 khẩu đại liên đặt ở sau lưng...

Hành động này được áp dụng trong Tết Mậu Thân (1968) ở Huế đối với bọn nằm vùng. Chúng bảo ai muốn ở lại nằm vùng thì đứng riêng ra để nhận chỉ thị, còn ai muốn rút thì đi theo tôi. Sau khi người rút đi khỏi thì chúng xử bắn những tên nằm vùng bất trung.

 

NHỮNG ĐIỂM CẦN PHẢI LÀM SÁNG TỎ

Cố vấn Vĩnh Thụy trốn thoát sang Côn Minh ra sao?

Nguồn tin sau đây có vẻ hợp lý vì các hành động ăn khớp với nhau.

§  Khi ông Bảo Đại thoái vị thì Hồ Chí Minh bắt và giam lỏng bằng chức vụ cố vấn Vĩnh Thụy.

§  Khi cậu Đặng Vũ Trứ sinh viên y khoa năm chót (24 tuổi) dắt phái đoàn ra chiến hạm Mỹ để xin họ làm cố vấn chánh trị, thì ông Hạm trưởng bảo về kiếm ông Bảo Đại đỡ đầu thì họ mới tin. Vì thế nên bên Việt Quốc lo cứu ông Bảo Đại ra khỏi nơi giam lỏng để còn có thể vận động chánh trị cứu vãn tình thế.

§  Anh em bày kế, xúi Ngài khai bệnh để xin sang Tàu chữa. Đồng thời họ cũng liên lạc với quân Tàu (Lư Hán) để lên kế hoạch vuợt ngục.

§  Hôm đó, 11 giờ trưa, ông Bảo Đại khai đau mắt cần phải sang Tàu chữa bệnh. Ông Phạm Văn Đồng ký giấy cho đi.

§  Được giấy ra đi thì anh em Việt Quốc xin Lư Hán cho máy bay chở sang Côn Minh gấp. Khoảng 12 giờ trưa thì Ngài ra đi gấp, chỉ đủ thì giờ cho quần áo vào valise nên túi không tiền, không người ra đón.

§  Đến phi trường quân sự Côn Minh thì gặp ông LU (người của Tưởng Giới Thạch) lo chu toàn mọi việc, và đợi lệnh của Tổng Thống Tưởng Giới Thạch đang ở Trùng Khánh vùng Tứ Xuyên.

§  Một thời gian sau thì ông gặp Tưởng Giới Thạch, ông này tính đưa Ngài về làm vua bù nhìn, nhưng Ngài không chịu nên được thả qua Hongkong để về Pháp.

Về Pháp thì bị người Pháp giam lỏng, nên Ngài chọn Hongkong là nơi chờ thời và nghe ngóng tình hình. Lợi nhuận bất động sản ở Pháp vẫn chuyển đều đều vào chương mục của Ngài nên Ngài chỉ việc ngồi chơi sơi nước, nghỉ ngơi thoải mái.

Ø  Đúng 2 giờ chiều hôm đó có buổi họp. Phạm Văn Đồng báo cáo là đã cấp giấy cho cố vấn Vĩnh Thụy sang Tàu chữa mắt. Võ Nguyên Giáp vỗ đùi đánh đét và nói: Chết rồi, thả cọp về rừng.

Ø  Chuyện đã rồi nên chúng bàn cách chữa cháy: Chánh phủ ký sắc lệnh cho Bộ Trưởng Ngoại Giao là ông Nguyễn Tường Tam thành lập phái đoàn, đem theo cả vợ con nếu muốn, sang Tàu đàm phán dưới sự lãnh đạo tối cao của cố vấn Vĩnh Thụy. Đàm phán về vấn đề gì thì cũng không rõ. Tiền nong cung cấp là 2 vạn đồng Đông Dương, tiền mặt cầm tay (20.000$, lúc đó lương công chức cao cấp chỉ có 300$/tháng).

Ø  Thế là ông Nguyễn Tường Tam kêu các yếu nhân đem theo gia đình sang Tàu tỵ nạn. Sang đến nơi thì xin tỵ nạn chánh trị ngay lập tức.

o   Đây là kế hoạch của Giáp: Điệu hổ ly sơn để dễ bề thanh toán các đảng viên còn lại như rắn không đầu.

§  Sau đó ông Hồ còn cử ông Phạm Ngọc Thạch đem vàng sang Hongkong cho Ngài tiêu dùng với dụng ý dụ Ngài trở về nước.

§  Khi Ngài ở Hongkong thì các yếu nhân chánh trị đến hội kiến và khi tình hình thay đổi thì họ yêu cầu Ngài Hồi Loan.

§  Người Pháp chỉ đồng ý Ngài Hồi Loan với điều kiện phải đặt văn phòng ở Pháp, để kìm chân, vì thế nên Ngài rời Hongkong để về sống ở CANNES, miền nam nước Pháp.

 

ö

 

Hiệp định Genève 20/7/1954:

Mục đích của hiệp định đình chỉ chiến sự (ngưng bắn tạm thời) là biến nước Việt thành nơi thử vũ khí cho 2 khối Nga và Mỹ.

Mỹ thua Nga về vũ khí nên bỏ rơi Miền Nam Việt Nam với ý định thay đổi chiến lược: Lấy kinh tế hoán chuyển chánh trị.

Nga thắng Mỹ về vũ khí nhưng không dám sản xuất hàng loạt để đánh một trận chót làm Bá Chù Toàn Cầu vì 2 lý do sau đây:

1.      Sau khi tiếp thu miền Nam Việt Nam, người Cộng Sản ở các nước anh em đều chưng hửng; là vì chính mắt họ trông thấy đời sống thiên đàng mà họ vẫn mơ ước lại chính là đời sống trong khối tự do.

Đây là chánh sách của Mỹ dùng để đánh sập Nga qua lời khuyên của tướng MOSHE DAYAN (tướng độc nhãn Do Thái). Ông ta đã bắn tiếng cho chúng ta để tự lo lấy là:

Muốn thắng Cộng thì phải bỏ Miền Nam cho Cộng Sản. Hẳn chúng ta vẫn còn nhớ.

Nhưng ông ta dấu vế thứ nhì, vì nói ra thì hết linh. Đó là: “Khi rút thì nhớ để lại Văn Minh Vật Chất cho dân trong khối Cộng Sản vỡ mộng bằng cuộc sống thực tế”.

Vì lý do này nên Mỹ cố tình thoát chạy càng nhanh càng tốt. Vậy thì đừng ngạc nhiên tại sao chúng ta lại tan hàng rã ngũ nhanh như vậy......

Từ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đến người dân miền Nam, chúng ta đều bị Mỹ lừa mà cứ tưởng là Ta "ngon" hơn Mỹ!!!

Kế sách của Mỹ là thí con tốt Việt Nam để phá tan khối Cộng bằng cái nhìn thực tế là: Tôi giải phóng anh, chứ không phải anh giải phóng tôi.

2.      Người dân trong khối Cộng Sản bị bưng bít thông tin nên nghe đảng xí gạt và bị cưỡng bách làm theo lệnh đảng. Nay nếu bung chiến tranh ra thì họ không theo nữa.

Hơn thế nữa là ai cũng muốn có cuộc sống sung túc nhàn hạ, nên Nga sợ gây chiến thì khối Cộng Sản sẽ tan rã vì lòng dân không theo. Lý do là:  trong khối Cộng Sản Quốc Tế có các nước bị trị nên họ sẽ lợi dụng thời cơ ngàn năm một thủa để thoát ra.

Ngoài ra, 2 nước đàn anh là Nga và Tàu đều muốn tranh ngôi Bá Chủ nên Nga không muốn bày cỗ sẵn cho Tàu ăn.......Đây là vụ đi đêm của ông NIXON với MAO năm 1972, nên Mỹ để cho Tàu chiếm Hoàng Sa và Cambodia trước khi buông Nam Việt Nam cho Nga.

Đảng Việt Cộng chỉ là con tốt thí của Nga và của Tàu....Chúng nói xạo là chúng có tài đu giây, nhưng sự thực là Nga và Tàu cho đu thì được đu, bắt nhốt thì phải chịu tù. Lý do là chúng có cái gì để thương lượng đâu? Lòng dân không có, súng đạn cũng không và tài chánh cũng nghèo mạt rệp.... Mà đu giây là một trò chơi nguy hiểm, đùa với lửa thì sẽ tự đốt nhà!

õ

Ngày 02/9/45: NGÀY GÌ ĐÂY?

Giải mã những điều lấn cấn trong buổi lễ này:

1.      Ông Hồ Chí Minh có đủ tư cách để đọc bản văn này hay không?

2.      Trước ngày lễ thì gọi là Tuyên Thệ trước bàn thờ Tổ Quốc.

3.      Sau ngày lễ thì lại gọi là Tuyên Ngôn Độc Lập.

4.      Lời nói trong bản văn lại là Tuyên Ngôn Nhân Quyền.

5.      Vắng bóng các danh nhân, chủ tịch hội đoàn và nhân sỹ.

6.      Không một ai lên đọc diễn văn chúc mừng: Hồ Chí Minh độc diễn trong buổi lễ này

RẰNG:

1)     Buổi lễ này dành cho chánh phủ đầy đủ tư cách để nói lên tiếng nói của toàn dân. Ông Hồ Chí Minh không đủ tư cách để đọc bản văn này vì 3 lý do sau đây:

a.      Chánh phủ của ông rất mờ ám: Hồ Chí Minh là bí danh chứ không phải là tên thật. Tại sao ông lại dấu tiểu sử của ông, trong khi mọi Nguyên Thủ Quốc Gia đều phải kê khai rõ ràng tiểu sử của mình trước toàn dân?  Vậy là: Ông đã cố tình lừa dối dân Việt.

b.      Chánh phủ của ông không ai bàu lên mà cũng chẳng có buổi lễ nhậm chức, vậy ông là Ngụy Triều nên không có quyền làm cái lễ này.

c.      Thành phần chánh phủ không được ông cho toàn dân biết trước để danh chính ngôn thuận. Ông đưa những người mà dân không biết mặt, Hoàng Đế Bảo Đại không bết tên.

d.      Vắng bóng cách danh nhân và nhân sỹ. Không ai lên đọc diễn văn chúc mùng; mà chỉ thấy ông Hồ Chí Minh ĐỘC DIỄN mà thôi.

Bình luận:

Đây là cảnh chó nhảy bàn độc (tức bàn thờ gia tiên) rồi mạo nhận là “Cha Già Dân Tộc” khi ông chưa tới 40 tuổi! Đây là sự sỉ nhục toàn dân Việt; vì ông coi dân Việt là bày tôi tớ, nô lệ.

2)     Trước ngày lễ trọng đại này thì tờ báo CỨU QUỐC cơ quan ngôn luận của Mặt Trận Việt Minh hô hào toàn dân tham gia buổi lễ Tuyên Thệ trước bàn thờ Tổ Quốc.

 

Tức, đây là buổi lễ bàn giao quyền hành: Hoàng Đế Bảo Đại trao quyền cho ông, rồi ông đọc Tuyện Thệ Nhậm Chức trước bàn thờ Tổ Quốc; sau đó ông tuyên thề trước Hồn Thiêng Sông Núi, Anh Hùng Liệt Nữ là trung thành với đất nước, còn không thì xin thần linh quật chết như hội thề ở Nhũng Lai của kháng chiến Lam Sơn.

Nhưng kẹt một cái là đồng bọn của ông đã ép Hoàng Đế Thoái Vị để trao quyền cho dân tộc quá sớm, nên không có ngày bàn giao Chánh Quyền cho hợp lý.

Về phần ông thì đáng lẽ ra phải có ngày Trưng Cầu Dân Ý để xem người dân muốn thể chế nào. Hay đàng hoàng thì thành lập Quốc Hội Lập Hiến, khi Hiến Pháp được toàn dân chung quyết thì cứ theo đó mà cạnh tranh với đảng phái khác

 

Vì sợ kẹt nên ông muốn mập mờ đánh lận con đen, tính ép cố vấn Vĩnh Thụy làm lễ trao quyền cho ông. Nhưng lòng trời không tựa, ông Vĩnh Thụy nói là ông ta đã thoái vị từ 7 ngày trước rồi nên không còn quyền gì để trao cả.

Ø  Do đó ông bị kẹt: Danh bất chính thì Ngôn chẳng thuận, nó lòi cái lưu manh của ông ra.

Bàn thờ Tổ Quốc và Nhân Sinh Quan của dân Việt:

Bàn thờ Tổ Quốc là ông Hồ phịa ra mà nay chúng ta vẫn u-mê làm theo, không chút suy nghĩ.

Bàn thờ là nơi để thờ người chết hay thần linh. Còn Tổ Quốc là nước của tiền nhân để lại mà hậu duệ phải bảo vệ, đất nước đâu có chết mà thờ? Hơn nữa đất nước, tức Lãnh Thổ làm gì có Hồn mà cầu xin?

Theo quan niệm của dân ta từ khi có cuộc sống quần cư (13.000BC) thì con người chết ở chỗ nào thì hồn thiêng quanh quẩn nơi đó. Do đó mới có chữ Hồn Thiêng Sông Núi.

Theo nghi thức Tế Quốc Tổ thì người Việt Cổ không có thuyết luân hồi; nhưng có thuyết nhân quả là: Cha ăn mmặn thì con khát nước, Cha ăn cướp thì con ngồi tù; do đó mới có câu: Ăn ở cho phải đạo để Đức cho con. Vì họ sống theo thực tế chứ không lý thuyết viển vông.

 

QUY LUẬT NHÂN QUẢ

Cha ăn mặn, con khát nước, Cha ăn cướp con ngồi tù.

·        Vì thế hệ 1945 xa lánh chánh trị nên mới có hậu quả bọn cướp chiếm đoạt sinh mạng và tài sản của toàn dân mà thảm họa là Hiệp Định Genve 20/7/1954 chia đôi đất nước, gieo rắc hận thù Nam Bắc phân tranh mà hậu quả là cuộc chiến 1960-1975.

·        Thế hệ 1963 vì dại dột nghe Mỹ xúi trẻ ăn cứt gà nên giết Lãnh Tụ để có ngày 30/4/75 với hàng triệu người liều chết bỏ nước ra đi.

·        Nếu thế hệ 2000 không muốn để thêm di họa cho con cháu thì hãy mau mau thức tỉnh, đừng để phó thác cho trời! Đã 40 năm qua toàn thể nhân loại đã từ bỏ chủ thuyết Cộng Sản mà sao nước Việt thân yêu vẫn say đắm trong bể khổ vậy?

Ø  Đó là điều chúng ta phải tự nghiêm khắc với chính mình, đừng để hậu duệ nguyền rủa.

3)     Vì đã lỡ nói rùm beng lên rồi, nên ông buộc lòng phải nói đó là ngày Tuyên Ngôn Độc Lập trước bàn thờ Tổ Quốc.

Điều nghịch lý là ông Hồ Chí Minh mặc bộ đồ Đại Cán Cộng Sản Quốc Tế thay cho bộ Quốc Phục nên buổi lễ đó thành trò hề không che dấu được tính chất lưu manh của ông vì những điều sau đây:

        Ông đã phỉ nhổ vào bộ Quốc Phục mà ông Bảo Đại vẫn bận khi ngự Triều. Tức ông đã coi rẻ dân tộc mà ông đòi đại diện để biến họ thành công cụ sản xuất của Cộng Đảng Nga-sô.

        Không ai lại đọc Tuyên Ngôn Độc Lập trước bàn thờ Tổ Quốc cả, thường thường người ta đọc trước kẻ thống trị để truất quyền thống trị của chúng, còn không thì phải đọc trước diễn đàn Quốc Tế để mọi người làm chứng là từ nay ta làm chủ nước ta.

        Tuyên Ngôn Độc Lập phải đọc trong những ngày đầu đã giành được chủ quyền. Bản văn này thì Thượng Thư Phạm Quỳnh đã đọc ngay ngày 11/3/45, tức chỉ một ngày sau khi Nhật trao trả độc lập cho ta. Chánh phủ Trần Trọng Kim đã có độc lập rồi nên bản văn của ông trở thành lạc điệu.

4)     Xét về ngôn từ thì đó là bản văn Tuyên Ngôn Nhân Quyền chứ không phải là Tuyên Ngôn Độc Lập.

 

5)- Xét về giá trị của buổi lể quan trọng này thì:

Hoàn toàn vô giá trị vì không một danh nhân nào tham dự và cũng chẳng có một đại diện đảng phái, hội đoàn hay cá nhân nào lên đọc vòi lời chúc mừng cho chánh phủ của ông cả.

 

KẾT LUẬN : THOÁN  NGHỊCH

Ai cho phép ông ta tự ý thay đổi: Thể Chế, Quốc Hiệu và Quốc Kỳ cùng Quốc Ca mà không có sự ưng thuận của Quốc Hội và quyền Phúc Quyết của toàn dân?

Những điểm trọng đại như vậy thì một chánh phủ chánh danh phải làm như sau:

1/- Chánh phủ hỏi ý kiến của dân qua Quốc Hội xem có nên thay đổi hay không.

2/- Nếu đồng ý thì Chánh Phủ làm một cuộc tuyển chọn các  đề nghị do dân cung cấp rồi từ đó chọn lấy một cái để đệ trình Quốc Hội chuẩn y.

3/- Quốc hội đồng thuận rồi còn phải làm một cuộc trưng cầu dân ý để lấy Phúc Quyết (tức quyết định sau cùng); sau đó mới chính thức thi hành.

4/- Đằng này ông tuyên bố: Vì Dân Trí còn quá thấp, không phân biệt được lợi hại; do đó Chánh Phủ quyết định dùm. tạm thời độc tài rồi tự do đến sau khi dân trí cao.....Mà dân trí cao hay thấp là do ông quyết định...y chang lời nói của bọn Thực Dân Pháp. Vì thế nên nay mới có cảnh Đảng chọn, Dân bàu; đã 60 năm trôi qua dân trí mỗi ngày mỗi thấp nên Đảng đặt ra Hiến Pháp là Đàng Cộng Sản Việt Nam lãnh độc quyền lãnh đạo muôn năm (điều 4 hiến pháp, chính Đảng cũng nói là bỏ điều 4 là đảng tự sát)

 

CUỐI CÙNG:

Ø Đang là Quân Chủ Đại Nghị thì ông đổi ngay thành Cộng Sản độc quyền lãnh đạo. Tự đẻ ra quyền Ma Giáo là: Quốc Hội chỉ định Chánh Phủ, sau đó Chánh Phủ chỉ huy Quốc Hội.

Ø Quốc Hiệu đang là Việt Nam thì ông biến thành Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Ø Quốc Kỳ và Quốc Ca đang là cờ Quẻ Ly và bài Tiếng Gọi Thanh Niên thì ông đem ngay Đảng Kỳ và Đảng Ca thay thế.... Đúng là thoán vị, đem đảng vô danh của ông thay cho Tổ Quốc.

Ngoài ra ông còn hô hào xóa bỏ biên cương và Tổ Quốc đề biến thành Đại Đồng Thế Giới. Đúng là bán nuớc cầu vinh, rước voi về giầy mảà Tổ .... Đồ vô loại, ăn cháo đá bát, vong ân bội nghĩa, lòng lang dạ thú (tức thú đội lốt người).

õ

Trích tài liệu ở văn khố PARIS :

Déclaration d'indépendance de la république du Vietnam

(02 septembre 1945)

Tous les hommes sont nés égaux. Le Créateur nous a donné des droits inviolables : "Le droit de vivre, le droit d'être libre et le droit de réalîser notre bonheur".

Cette parole immortelle cst tirée de la Déclaration d'indépendance des Etats-Unis d'Amérique en 1776. Prise dans un sens plus large, cette phrase signifie: "Tous les peuples sur la terre sont nés égaux, tous les peuples ont le droit de vivre, d'être libres".

La Déclaration des droits de I'homme et du citoyen de la Révolution française de l79l proclame également : "Les hommes naissent et demeurent libres et égaux en droits".

Ce sont là des vérités indéniables.

Et pourtant, pendant plus de quatre-vingts années, les impérialistes français, abusant de leur  "liberté, égalité, fraternité", ont violé la terre de nos ancêtres et opprimé nos compatriotes.

Leurs actes vont. à I'encontre des idéaux d'humanité et de justice.

Dans Ie domaine politique, ils nous ont privé de toutes les libertés.

IIs nous ont imposé des lois inhumaines, ils ont constitué trois régimes politiques différents dans le nord, dans le centre et dans le sud du Vietnam pour détruire notre unité nationale historique et ethnique.

IIs ont édifié plus de prisons que d'écoles. Ils ont sévi sans merci contre nos compatriotes. IIs ont noyé nos révolutions dans des fleuves de sang.

IIs ont subjugué l'opinion publique et pratiqué l'obscurantisme sur Ia plus large échelle. IIs nous ont imposé I'usage de I'opium et de I'alcool pour affaiblir notre race.

Dans le domaine économique, ils nous ont exploités sans vergogne, ont réduit notre pcuple à Ia plus noire misère et saccagé impitoyablcment notre pays.

IIs ont spolié nos rizières, nos mines, nos forêts, nos matières premières.

IJs ont détenu le privilège d'émission des billets de banque, le monopole du commerce extéricur.

Ils ont inventé des centaines d'impôts injustifiables, acculé nos compatriotes, surtout lcs paysans et les petits commerçants, à I'extrême pauvreté.

IIs ont empeché notre capital de fructifier; ils ont exploité nos ouvriers de la manière la plus barbare.

A I'automne de I'annéc 1940, quand les fascistes japonais, en vue de combattre les Alliés, ont envahi l'lndochine pour organiser de nouvelles bases de guerre, les imperialistes français se sont rendus à genoux pour leur livrer notre pays.

Dès lors, notrc peuple, sous le double joug japonais et français, est saigné littéralement. Le résultat a été terrifiant. Du Quang-tri au Nord, 2 millions de nos compatriotes sont morts de faim dans les premiers mois de cette année.

Le 9 mars, les Japonais désarmèrent les troupes françaises. De nouveau, le Français se sont enfuis ou bien se sont rendus sans condition. Ainsi, ils n'ont été nullement capables de nous "protéger"; bien au contraire, dans l'espace de cinq ans, ils ont par deux fois vendu notre pays aux Japonais.

Avant le 9 mars, à plusieurs reprises, la Liguc du Viet Minh a invité les Français à se rejoindre à eller pour lutter contre lcs Japonais. Les français, au lieu de répondre à cet appel, ont sévi de plus belle contre les partisans du Viet Minh. Ils sont allés jusqu'à assassiner un grand nombre de nos condamnés politiques incarcérés à Yen Bay et à Cao-Bang lors de lcur débandade.

Malgré tout celà, nos compatriotes ont continué à gardcr, à l'égard des Français, une attitude indulgente et humaine. Après les événements du 9 mars, la Ligue du Viet Minh a aidé de nombreux Français à traverser les frontières, en a sauvé d'autres des prisons nipponnes et a, en outre, protégé la vie et les biens de tous les Français.

En fait, depuis I'automne de 1940, notre pays a cessé d'être une colonie française pour devenir une possession nipponne.

Après la réddition des Japonais, notre Pcuple tout entier s'est levé pour reconquérir sa souveraineté et a fondé la République Démocratique du Victnam

La vérité est que nous avons repris notre indépendance des mains des Japonais et non de celles des Français.

Les Français s'enfuient, les Japonais se rendent, l'Empereur Bao Daî abdique, notre peuple a brisé toutes les chaînes qui ont pesé sur nous pendant près de cent ans pour faire de notre Vietnam un pays indépendant. Notre peuple a, en même temps, renversé le régime monarchique établi depuis des dizaines de siècles pour fonder la République.

Pour ces raisons, nous, membres du gouvernement provisoire représentant la population enlière du Vietnam, déclarons n'avoir plus désormais aucun rapport avec la France impérialiste, annuler tous les traités que la France a signés au sujet du Vietnam, abolir tous les privilèges que les Français se sont arrogés sur notre territoire.

Tout le peuple du Vietnam, animé d'une même volonté, est déterminé à lutter jusqu'au bout contre toute tentativ d'agression de la part des impérialistes français.

Nous sommes convaincus que les Alliés, qui ont reconnu les principes de l'égalité des peuples aux conférences dc Téhéran et dce San Francisco, ne pcuvent pas ne pas reconnaître l'indépendance du Vietnam.

Un peuple qui s'est obstinément opposé à la domination française pendant plus de quatre-vingts ans; un peuple qui, durant ces dernières années, s'est décidément rangé du côté des Alliés pour lutter contre le fascisme; ce peuple a le droit d'être libre; ce peuple a le droit d'être indépendant.

Pour ces raisons. nous; membres du gouvernement provisoire de la république démocratique du Vietnam, proclamons solennellement au monde entier :

Le Vietnam a le droit d'être libre et indépendant et, en fait, est devenu libre et indépendant. Tout le peuple du Vietnam est décidé à mobiliser toutes ses forces spirituelles et matérielles, à sacrifier sa vie et ses biens pour garder son droit à la liberté et à l'indépendance.

õ

Tạm ước sơ bộ ngày 06 mars 1946

(tài liệu lấy ở báo Pháp trong thư viện ở Paris)

                                          "Doc lap ",  les trois " ky ",

1° - Le gouvernement français reconnaît la républiqu du Vietnam comme un Etat libre ayant son gouvernement,  son Parlement, son armé et ses finances, faisant partie de la Fédération indochinoise et de l'Union française"

  "En ce qui concerne la réunion des trois ky, gouvernement français s'engage à entériner les décisions prises Par la population consultée par référendum.

2° - Le gouvernement du Vietnam se déclare prêt à accueillir amicalement I'armée française lorsque, conformément aux accords internationaux, elle relèvera les troupes chinoises.

  "Un accord annexe joint à la présente convention préliminaire fixera les modalités selon lesquelles s'effectueront les opérations de relève.

3° - Les stipulations ci-dessus formulées entreront immédiatement en vigueur. Aussitôt après l'échange des signatures, chacune des hautes parties contractantes prendra toutes mesures nécessaires pour faire cesser, sur-le-champ, les hostilités, maintenir les troupes sur leurs positions respectives et créer le clinrat favorable nécessaire à I'ouverture imnrédiate de négociations amicales et franches. Ces négociations porteront notamment sur:

a)     les relations diplomatiques du Victnam avec les Etats étrangers;

b)     le statut futur de I'Indochine;

c)     les intérêts économiques et culturels français au Vietnam.

         "Hanoi, Saigon ou Paris pourront être choisis comme sièges dc la Conférence."

Observations: Les concessions faites par Ho Chi Minh sont évidentes

----------------------------------

TRI  TÂN:

TỔNG  LUẬN

Chúng ta phải làm gì để thoát họa Hán hóa?

Sau bài học lịch sử đắng cay này, chúng ta đã rút được rất nhiều kinh nghiệm, vậy ngày hôm nay chúng ta phải làm gì để ra khỏi cái thế DỊCH CHỦ TÁI NÔ này?

§  Thế hệ cha, anh đã nhầm nên mất nước; nay chúng ta phải làm gì đây?

Tổ tiên chúng ta đã dạy trong bia ký lưu truyền rằng: Muốn thoát mọi hiểm nguy thì phải

Ø Kết hợp toàn dân từ trong lòng kết hợp ra.

Ø Xây dựng tư duy độc lập thì mới tìm ra được kế sách thoát hiểm.

Ø Câu chuyện bó đũa là một bài học: Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết.

Những điều răn dạy này nằm trong sách vở, di vật trống đồng hay huyền thoại 100 trứng, 100 con, trên đây chỉ là một vài tỷ dụ.

§  Câu hỏi được đặt ra là chúng ta phải làm gì để có thể tạo ra được 3 yếu tố căn bản trên?

§  Phải chăng muốn:

Ø Kết hợp toàn dân bằng Tâm và Đức thì phải trau dồi Văn Hóa Việt?

Ø Xây dựng Tư Duy độc lập thì phải có vốn vể lịch Sử nước Nam?

Ø Cầu Tiến thì phải cố gắng trau dồi kiến thức?

Ø Tiến bằng người thì phải phát huy sáng kiến?

§  Về sức mạnh vật chất thì hiện nay dân Việt độn sổ, nhưng về sức mạnh tinh thần (óc sáng tạo) thì dân Việt có thua ai đâu. Vậy tại sao thế hệ hiện nay lại :

Ø Không chịu từ bỏ tư duy tự ti, nô dịch?

Ø cứ khư khư hành động theo tư tưởng của kẻ đã chết lâu đời như Hồ Chí Minh, Mác Lê hay Khổng?

ü  Không lý dân Việt u-mê nên cứ thích dịch chủ tái nô mãi sao?

ü  Không lý tự mình không tìm ra được một lối thoát cho dân tộc; trong khi dân Việt có thừa khả năng đem trí tuệ xây dựng đất nước cho người?

ü  Tại sao lại nghịch lý như vầy? Phải cần một xác chết để chỉ đường dẫn lối mới biết cách sống hay sao?

KẾT LUẬN: Bạn hãy đề ra một lối thoát hiểm cho dân tộc. Dân tộc đang cần sáng kiến của bạn, đừng ngồi than thân trách phận, hãy trách ngay sự ù-lỳ, vô cảm của mình trước tiên.

 

õ

 

Muốn hiểu rõ nguyên nhân và hậu quả của Hiệp Định Đình Chỉ Chiến Sự (chứ không phải Hòa Bình đâu nhá) Genève vào lúc 24 giờ (giờ Genève) ngày 20/7/1954 thì bắt buộc phải trở về nguyên thủy thì mới sáng tỏ được.

Phải lùi thời gian trở về từ năm 1942 tới 26/10/1956. Ngoài ra cũng phải biết tường tận về các nhân sự (lãnh tụ) có ảnh hưởng đến sinh mạng của dân Việt trong thời gian đó.

Từ đây chúng ta mới biết rõ manh tâm của các phe phái mà người thiệt vẫn là Dân Tộc Việt....

Ø Trong bàn hội nghị thì người đại diện chánh thức cho dân Việt không được quyền nói và phái đoàn này không những không ký vào bản văn nên phải yêu cầu ội Nghị ghi lại sự uất ức của dân Việt.

Ø Bản Thông Cáo Chung nói về lịch trình tổng tuyển cử không ai ký cả; vì vậy có thể nói là không ai vi phạm hiệp định này cả....vì bản văn không có giá trị pháp lý

Ø Người ta thấy rất nhiều khoảng trống, hoặc mập mờ để các phe phái còn có thể lươn lẹo cho quyền lợi của mình sau này.

Ø Phe Cộng Sản nói rằng chiến thắng Điện Biện là thành công của họ ở bàn hội nghị Genève. Nhưng nhìn kỹ thì họ thua thiệt ở bàn hội nghị, mà dân ta còn thua đậm hơn. Bằng cớ là Việt Minh nói họ kiểm soát được 2/3 đất đai trước trận Điện Biện; sau khi chiến thắng họ chỉ còn có ½ mà thôi....Còn dân Việt thì khỏi nói: Đó là thảm trạng 30/4/1975 như mọi người đã rõ...với trên ½ triệu người vui thây dưới đáy biển vì không sống nổi với Việt Cộng....Đó là sự thật không thể chối cãi hay xóa bỏ đi được.

Lỗi tại ai? nếu không phải là dân ta lú lẫn nên tự giết nhau cho quyền lợi của ngoại bang?

Ø Chữ Đình Chỉ Chiến Sự chỉ có nghĩa là tạm thời ngưng chiến, chứ không phải là một giải pháp chánh trị đem lại hòa bình và hạnh phúc cho dân tộc. Đình chỉ chiến sự là thu quân về vùng tập kết, sau đó rèn quân luyện tướng để đánh tiếp, mạnh hơn và dữ dằn, khốc liệt hơn nhiều.

Ø Vậy thì mục đích cuộc chiến ở Việt Nam từ 1945 đến 1975 là gì; nếu không phải là vì quyền lợi của 2 phe Tư Bản và Cộng Sản?

 

Mà quyền lợi đó phải chăng là thử vũ khí để tránh cuộc chiến trên lãnh thổ của họ? Rõ ràng họ nói:

Miền Bắc thì hô hào: Vinh dự được chết cho nghĩa vụ Cộng Sản Quốc Tế để đi dến đại đồng thế giới với chủ thuyết Tam Vô (vô gia đình, vô Tổ Quốc và vô Tôn Giáo).

Miền Nam bị đưa vào thế Chống Làn Sóng Đỏ nên buộc phải làm tiền đồn chống Cộng....

Chúng ta há chẳng nghe thấy nói là “chạy đua vũ khí” hay sao? Họ vẫn nói là chiến tranh lạnh, tức nước của họ bình yên, đem bom đạn cho nổ ở các nơi khác.

Một khi đã thi đua sản xuất vũ khí tân kỳ thì phải có nơi thử vũ khí trước khi sản xuất hàng loạt để loại nhau bằng sức mạnh quân sự...Trường hợp Tây Ban Nha năm 1937 thử vũ khí cho Nga và Đức, sau đó mới có đại chiến thứ nhì vào năm 1939; vì vũ khí của Đức tân tiến hơn vũ khí của Nga.

Tàn cuộc thì dân Việt tất sẽ phải làm nô lệ cho phe chiến thắng. Làm gì có dân Tộc Tự Quyết khi ta không có quyền quyết định chiến trường. Mà dân ta đâu có sản xuất được vũ khí, dù thô sơ, nên làm gì có sức để giết nhau nếu không có vũ khí tối tân của 2 khối cung cấp.

ö

Bất cứ việc gì cũng vậy, muốn hiểu rõ tường tận đều phải đi trở về nguồn cội, nghiên cứu từng chi tiết để xem sự kiện xảy ra có suôi chiều hay không. Chỗ nào khúc mắc thì phải tìm cho ra nhẽ thì vấn đề mới sáng tỏ, và ta mới có dữ kiện chính xác để đưa ra phương thức thoát hiểm cứu nguy dân tộc được.

Soạn giả chỉ là người đề xướng, nếu chương trình khả thi để đưa đến kết quả mong muốn thì toàn dân sẽ phụ họa; lúc đó mới thành phong trào để đi đến mục tiêu.

Còn người dân ù-lỳ, vô cảm không kết hợp với nhau được thì dù đề án đưa ra có hấp dẫn đến đâu cũng thành vô dụng, ngoại trừ được vinh dự lưu trữ trong thư viện để ngắm, để làm cảnh mà thôi.....và để hậu thế truy cứu.

----------------------------

Mở mang kiến thức về Khoa Học: Nguyên tắc chế bom Nguyên Tử

Hai quả bom Nguyên Tử đã làm Nhật đầu hàng nên chúng ta trở tay không kịp nên bị mất vào tay Cộng Đảng Đệ Tam Quốc Tế là Nga-Sô (Lénine) mà Hồ Chí Minh chỉ là người thừa hành. Đệ Tứ Quốc Tế là phe Troski. Vì thế nên chúng ta cũng cần biết những điểm chánh của Đệ Nhị Thế Chiến.

Lúc đó Tam Cường là Anh, Mỹ và Pháp đã ép Đức và Nhật không được tăng cường vũ khí như Nhât phải theo tỷ lệ 3-5-2 về hàng không mẫu hạm. Có nghĩa là Anh được chế tạo 3 cái , Mỹ 5 cài và Pháp 1 cái thì người Nhật mới được chế 1 cái; còn nhiều điều kiện bắt bí khác như trữ lượng nhiên liệu dàu hỏa (pétrole) hạn chế đủ dùng trong 6 tháng; vì lúc đó 3 vị bá chủ thế giới đang muốn thụ hưởng.

Vì vào thế kẹt nên Đức thông đồng với Nga là trao đổi kỹ thuật tân tiến với quyền sủ dụng đất Nga làm nơi luyện quân và tích trữ vũ khí, quân trang, quân cụ cần cho chiến tranh, còn trong nước thì xây xa lộ chuyển quân dưới chiêu bài kinh tế phát triển.

Khi thấy nguy thì 3 vị bá chủ lại ép vào đường cùng nên Đức, Ý và Nhật lập thế liên hoành (nay gọi là Trục = Axe), và phe Anh, Mỹ, Pháp lập thế hợp tung (tức Alliés = Đồng Minh). Liên Hoành và Hợp Tung là thế liên minh đã có từ thời Trương Nghi bên Tàu; Trục và Đồng Minh là danh từ ngày hôm nay.

Năm 1939 thì phe Trục khai chiến, đánh như chẻ tre, vì lúc đó phe Đồng Minh còn đang du hý. Năm 1941-1942 người Đức chế Bombe Volante (bom bay) V1 rồi V2 để oanh kích London. V1 bay chậm nên dễ bị chiến đấu cơ dùng cánh cho bom đâm xuốn biển. V2 thì bay nhanh hơn nên oanh tạc cơ chịu thua. Đây là loại máy bay không người lái, khi hết nhiên liệu thì rơi xuống. Khi phóng đi thì phải định toạ độ như súng đại bác vậy.

Dàn bắn ở trong núi ở Magny en Vexin (vùng 95, ngoại ô phía bắc Paris), kéo ra bằng đường rầy. Sau khi bắn thì lại chui vào trong hang để tránh oanh kích bởi máy bay đồng minh. Lâu lâu mới làm xong một trái thì kéo ra bắn liền. Đây là cha đẻ ra hỏa tiễn ngày hôm nay, và đây cũng là cha để ra phản lực cơ mà người Đức đang sáng chế.

Vì không muốn mang tiếng là lấy cắp kỹ thuật của địch nên phe đồng minh đổi tên thành fusé (roquet tiếng anh). Fusé đi từ tiếng fuselage (thân máy bay)

Nguyên Tử lực:

Tháng mai 1939 ông bà F. Jolot-Curie nộp bằng sáng chế làm nhà máy điện Nguyên Tử. Nguyên tắc đã được nói rõ: Lọc Uranium và xây lò lấy nhiệt Nguyên Tử để chạy điện, lúc này thì tác giả chưa biết nguy hiểm của phóng xạ nên chưa nghĩ đến cách phòng ngừa. Vấn đề chính là lọc Uranium nguyên chất (uranium nature) thành Uranium giàu 235 tới dộ 20% rất tốn kém vì đây chỉ là giải thuyết, nếu không thành thì hụt vốn.

Điều này thì Hitler đã biết nhưng không làm vì nghèo, cần tiền để sản xuất vũ khí đã có. trong khi đó theo lới khuyên của ông Einstein thì người Mỹ làm vì họ trường vốn.

Nhà máy Nguyên Tử đầu tiên mang tên là "Pue de Fermi" được thử một thành quả mỹ mãn vào tháng Décembre 1942 tại CHICAGO. Sau đó Mỹ làm bom Nguyên Tử và thử ở đảo KIKINI rồi mới đem thả xuống nước Nhật.

Nguyên  tắc như sau:

Trong uranium thiên nhiên có nguyên tử 235 électrons và 238 électrons, nguyên tử 235 chỉ có độ 1% nên bị bao vây bởi nguyên tử 238; do đó trung hòa tử (neutron libre) không thể gặp 235 được.

Đặc tính của nguyên tử 235 électrons là khi gặp tốc độ vừa phải của trung hòa tử thì vỡ làm đôi, tỏa nhiệt và phóng ra trung hòa tử khác làm nổ dây chuyền và phá vỡ tảng Uranium 235 làm đôi. Khi bị vỡ làm đôi thì nguyên tử Uranium 235 này tỏa ra nhiệt và phóng đi 1 trung hòa từ làm nổ nguyên tử Uranium 235 bên cạnh, và cứ thế liên tục cho đến khi hết Uranium 253 mới thôi

Muốn vậy thì người ta phải xây lò biến chế Uranium naturel (#95% Ur238 và 5%Ur235) thành Uranium loại giàu 235 (Uranium enrichi, tức 20% Ur 235), phần còn lại là Uranium apprauvi (tức Uranium 238 tinh khiết, 0% Uranium 235)

        Uranium enrichi (20% Ur235+80%Ur238) dùng làm lò điện nguyên tử mà sự nổ được kìm chế để chạy máy điện. Nhiệt độ trong lò nằm trong khoảng từ 500°C đến 600°C thì cho ngưng nổ. Còn bom nguyên từ thì cho nổ thả dàn.

Năng lực điện dùng trong 1 năm cho 1 thành phố thì xả ra trong 1/10 giây; do đó nhiệt độ gia tăng khủng khiếp nên gây ra cơn cuồng phong nhiệt. Nơi bom nổ là một lò nung vạn vật ra tro bụi, sức nóng làm không khí dãn ra và bốc lên cao. Do đó áp xuất giảm đi và không khí nơi khác dồn tới nên không khí nóng biến thành hình nấm

        Uranium apprauvi (nghèo = 1%Ur235 + 99%Ur238) thì dùng làm đầu đạn có sức công phá xe tăng tối tân.

 

SỰ VẬN HÀNH CỦA LÒ NGUYÊN TỬ

Đặt thỏi uranium 253 (enrichi) vào lõi thỏi uranium 238 (appauvri). Chừng nào muốn cho nổ thì kéo thỏi 238 (appauvri) lên để lộ thỏi 253 (enrichi) ra, đến khi quá nóng (600°C) thì hạ thỏi giàu xuống để ngưng nổ.

Khi lò nguội chừng 500°C thì lại kéo thỏi 238 lên. Sức nóng của khí CO2 trong lò nung nước lên cao độ để tạo áp xuất làm quay máy phát điện.

Đó là nguyên tắc của lò điện Nguyên Tử. Bây giờ cho nổ thả dàn thì biến thành sức nóng gây nên cuồng phong vừa đốt cháy mọi vật xung quanh, vừa gây ra trận cuồng phong; do đó mới thấy cái nấm nguyên tử là vì không khí nóng bốc lên cao, không khí lạnh lùa tới phía dưới.

------------------------

NHỮNG  CÂU  HỎI  CẦN  GIẢI  ĐÁP  CHO  R Õ

1.      Nhật vào Việt Nam vào năm nào?

2.      Vụ đói năm Ất Dậu (1945) ai chủ mưu? Dân Bắc chết đói bao nhiêu người?

3.      Biểu tình ngày 17/8/1945 ở Hà Nội do ai tổ chức? Mục đích là gì khi độc lập đã có?

4.      Tập họp ngày 19/8/1945 do ai triệu tập? Với mục đích gì?

5.      Lễ hội ngày 02/9/1945 có phải là lễ bàn giao quyền hành không?

6.      Tạm Ước Sơ Bộ 06/3/1946 ai ký với ai? Ký lúc nào? Những điều cam kết là gỉ?

7.      Tại sao lại có hội nghị Fontainebleau? Hồ Chí Minh tham dự với tư cách gì? Ai là trưởng phái đoàn?

8.      Hiệp định 14/9/1946 ký ở đâu, vào lúc mấy giờ? Ai ký với ai?

9.      Tại sao Võ Nguyên Giáp lại khai chiến với quân Pháp? Vào ngày nào và hiệu lệnh ra sao?

10. Chánh Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do ai đẻ ra? Có giá trị hay không? và tại sao?

11. Chúng ta học hỏi được gì trong bài học này?

12. Tại sao ông Hồ Chí Minh lại khước từ bộ đồ Quốc Phục để hãnh diện trong bộ đồ Cán Bộ Quốc Tế

13. Ngày 16/8/1945 Nhật đầu hàng vô điều kiện nên đã trao trả độc lập và toàn vẹn lãnh thổ cho Chánh Phủ Trần Trọng Kim trước khi bị tước khí giới.

a.      Lúc đó Hoàng Đế Bảo Đại có còn làm bù nhìn cho Nhật nữa hay không?

b.      Ai đến Việt Nam để tước khí giới quân Nhật? Có Pháp hay không?

c.       Lúc này có cần phải đảo chánh để nêu cao ngọn cờ chống sự trở lại của Pháp hay không?

d.      Ai đem Pháp vào Việt Nam để lấy cớ chống Pháp cứu nước? Tài chánh và vũ khí chống Pháp lấy ở đâu ra, trong khi dân tình đã kiệt quệ sau trận đói?

e.      Cuộc chiến được mệnh danh là đánh cho Mỹ cút cho Ngụy nhào để tiến lên Đại Đồng Thế Giới có phải là cuộc chiến giành độc lập của dân Việt hay không?

14. Chúng ta phải làm gì và có thể làm được gì để thoát nạn Hán hóa?

 

 

 

TUYÊN NGÔN ĐỘc LẬP

Bản văn số 1 ngày 11mars 1945

Nguồn Wikipedia sử gia Phạm Cao Duong

Tuyên ngôn độc lập của Hoàng Đế Bảo Đại:

Đây là một bản văn tương đối ngắn so với những bản văn cùng loại, nhằm ba mục tiêu chính yếu là hủy bỏ một hòa ước Triều Đình Huế đã ký với nước Pháp, tuyên bố Việt Nam độc lập,đứng vào khối Đại Đông Á trong chương trình phát triển chung, đồng thời bày tỏ sự tin tưởng vào lòng  thành của nước Nhật với nguyên văn như sau:

 “ Cứ tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi  Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này điều ước bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập                                   .                                                       
“ Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vương chung.                                             

“Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên.(4) 

Bản Tuyên Bố được đề ngày 11 tháng Ba năm 1945 tức ngày 27 tháng Giêng năm Bảo Đại thứ 20 được Bảo Đại ký tên với sáu thượng thư phó thự. Sáu vị thương thư gồm có: Phạm Quỳnh, bộ Lại, Hồ Đắc Khải, bộ Hộ, Ưng Úy, bộ Lễ, Bùi Bằng Đoàn, bộ Hình, Trần Thanh Đạt, bộ Học, và Trương Như Định, bộ Công. Theo Bảo Đại đây là lần đầu tiên trong lịch sử một văn kiện được ký bởi nhà vua và tất cả các nhân vật quan trọng nhất trong triều đình.

õ





0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil