dimanche 6 août 2023

T80- Luận về Văn Hóa Việt

T80(a)- Luận về Văn Hóa Việt

Livestream  ngày 26.05.2022

soạn giả : Hoàng Đức Phương

MỘT NÉT VỀ VĂN HÓA của dân VIỆT

 

 

KẾT  LUẬN VỀ CÁCH XƯNG HÔ

độc đáo và đáng kính

 

Chúng ta chỉ có một cách xưng hô chính là vai vế trong gia đình. Hoặc theo liên hệ gia đình, hoặc theo tình cảm riêng tư, hoặc theo tuổi tác, hoặc theo kiến thức, hoặc theo đẳng trật, hoặc theo lý tưởng.                                     

Vấn đề khó là tự mình phải định vai-vế của người và của mình cho đúng chỗ. Và nên nhớ rằng: 

"Vai-vế xưng hô thay đổi tùy theo môi trường sinh hoạt. Cũng người đó lúc thì gọi là Anh xưng Tôi hay Em, khi thì gọi là Bác xưng Cháu, lúc thì lại gọi là Ông xưng Tôi".

 

Tỷ dụ: 

Hai người Nam Nữ ở 2 lứa tuổi khác nhau, chênh nhau tới 20 tuổi đời. Nhưng ở trong quân ngũ (hay cùng một tổ-chức Chính-Trị) cùng đẳng cấp nên gọi nhau là Anh (hay Chị) với Tôi hay là Em.

 

·        Nhưng khi ra ngoài, Vợ người ta lại là Bác mình, không lý gọi vợ người ta là Bác xưng Cháu mà gọi người ta là Anh xưng Tôi (hay Em) thì không được.

 

·        Đến khi em mình lại là học trò của người ta, cậu em thì gọi là Thày xưng Con thì lúc đó bắt buộc mình phải gọi là Ông (hay Thày) xưng Tôi thì mới tiện.

                              ------------------------------------------------
T80(b) - Triết gia lúc ban sơ

Livestream ngày 26 mai 2022

soạn giả Hoàng Đức Phương

PHẦN IV

LỊCH SỬ THĂNG TRẦM CỦA DÂN VIỆT

&

TRIẾT HỌC SƠ KHAI

 

Trước khi lập nước Văn Lang

Khoảng 4,6 tỷ năm về trước, mặt trời phát nổ sinh ra Thái Dương Hệ, trong đó có trái đất của chúng ta. Thái Dương Hệ gồm 8 hành tinh và 1 hành tinh lùn mang tên Pluton. Lúc đó tất cả đều là những quả cầu lửa và tự nó bùng nổ phát sinh ra vệ tinh quay quanh nó như mặt trăng quay quanh trái đất

 

NHIỆT:

Nhiệt là chất súc-tác (catalyseur) dùng để kết-hợp các nguyên-tử (atome) thành các chất khác có khả năng hấp thụ những tia phóng xạ độc hại đủ mọi loại để thành chất Uranium, Pétrole, Khí Đốt, Đá Vôi, Than Đá ..... để trái đất có môi trường trong sạch, và từ đây tạo ra Dưỡng Khí (oxygène), nước và các chất cần cho sự sống của: Rong Rêu, Thủy sản, Sinh vật sống dưới nước, và các loại sống trên cạn như: Cây cỏ, sâu bọ, run dế, chim muông, động vật trong đó có con người.

Nhiệt ở trạng thái vô hình, nghĩa là chỉ cảm nhận đợc bằng sự suy luận trong đầu.

Nhưng nhiệt lại làm các chất hữu hình trở nên nóng hay lạnh khi nhiệt tiếp hơi hay bỏ ra đi.

 

TRIẾT LÝ:

Đứng về triết học (học về sự vận hành của vạn vật) thì tổ tiên chúng ta gọi là TẠO HÓA sinh ra.

Tạo là sinh ra, Hóa là biến đổi, có nghĩa là do sự kết hợp với nhau nên chất nọ sinh ra chất kia chứ chẳng có đấng thiêng liêng nào sinh ra cả. Trong khi mọi người, nhất là các tôn giáo khi bí thì nói rằng có một đấng thiêng liêng sinh ra vạn vật. Đấng đó được bóp nặn để phù hợp với Giáo Lý của mình... và huyền thoại thành chữ THƯỢNG ĐẾ. Thượng là cao nhất, Đế là căn bản của vạn vật, trên đó mọi vật dựa lên để đứng vững.

Vì vậy theo trí tưởng tượng khi khoa học còn yếu kém thì người Á Đông gọi là trời tròn đất vuông, trời che đất chở, mặt trời quay quanh trái đất; ông trời có mắt

Khi tự tạo ra nông phẩm, vào khoảng 13.000BC thì con người biết cách ngắm sao để định mùa và làm ra lịch nhà nông được gọi là MIÊU LỊCH vào khoảng 11.000BC, lúc đó cần vật dụng để đo thời gian nên người ta làm một cái vại bằng đất, đục lỗ nhỏ để nước nhỏ giọt và đúng giữa đêm thì người ta đo vị trí của một ngôi sao chuẩn đ biết ngày gieo mạ, cấy lúa. Vì thế nên Miêu Lịch lấy ngày đầu năm là ngày đầu xuân khoảng đầu MARS Dương Lịch. Sao chuẩn là ngôi sao tự mình chọn lấy,

 

Cắm cây sào trên có bùi nhùi, cứ đúng NGỌ (đứng bóng) thì đổ nước đầy vại. Cứ theo mực nước rút thì người ta định được thời gian trong ngày gồm: Đêm 5 Canh, ngày 6 Khắc, khác với cách định giờ ngày hôm nay

Do đó mới có câu Cung Chúc Tân Xuân và Cung Chúc Tân Niên trong Miêu Lịch. Về sau ăn uống no đủ nên tổ chức thêm ngày nghỉ việc vào giữa mùa Thu nên tạo ra Tiết (Tết) Trung Thu vào khoảng giữa Octobre và trăng sáng cho đến 21 giờ đêm.

·        Tết Trung Thu là tết trẻ em được tổ chức từ 16 giờ chiều (sau việc đồng áng) đến 21 giờ đêm.

·        Còn ngày Rằm tháng Tám Âm Lịch là ngày hội Trăng Rằm dùng cho người lớn, ngắm trăng, ăn bánh, chơi đèn từ 18 giờ tới 24 giờ.

Không hiểu tại sao ngày hôm nay người Việt lại gộp Tết Trung Thu vào ngày Hội Trăm Rằm?

Miêu Lịch này đã bị Mã Viện bức tử vào năm 43AD để thay vào bằng Âm Lịch. Tức là Văn Minh đầu tiên của dân Việt đã bị người Tàu bóp chết để nói rằng văn hóa Việt là cái đuôi của Văn Hóa Tàu; nhưng tực ra Văn Hóa Tàu làại từ Văn Hóa Việt mà ra rồi Tàu Hóa đi; khi sang cai trị thì họ lại bảo cái đó của Tàu như con Rồng Việt có mây mà con Rồng Tàu thì không có mây.

Chúng ta vẫn nói vùng vẫy như Rồng gặp mây, vì vợ Rồng Việt là Tiên (cả 2 đếu là sinh vật giả tưởng để ký thác thông điệp). Vì ăn cắp nên phải bỏ mây đi và thay thế bằng con Phụng thần thoại hóa từ con gà mái. Rồng là sinh vật thần thoại, gà mái là con vật có thật nên không ăn khớp với nhau; tức là đồ chôm chỉa của người khác.

 

Ghi chú về cách đếm: Danh từ dùng cho đúng cách thì mới hiểu được tư tưởng người xưa. 

Tháng GIÊNG, chứ không phải tháng MỘT.

* Tháng một là tháng thứ 11 và tháng Chạp là tháng 12.

Lịch tính theo hệ thống đếm hàng TÁ, tức Thập Nhị Phân, cứ 12 cái nọ thì đổi tên chứ không theo hệ thống Thập Phân; tức 10 đơn vị dưới bằng 1 đơn vị trên.

Thập Nhị Phân thì tính theo đốt ngón tay (trừ ngón Cái). Ngón Cái được dùng làm CURSEUR trên bàn tính.

Thập Phân thì tính theo ngón tay - mười ngón kể cả ngón Cái

Hệ thống đếm thông dụng ngày hôm nay là Hệ Thống mười mà ta gọi là Thập Phân.  Cứ 10 đơn vị dưới thì bằng 1 đơn vị trên. Ngày xưa khi xướng thì người ta xướng từng cột một, từ cao xuống thấp; nay theo quốc tế nên xướng một chùm gồm 3 cột, cũng từ cao xuống thấp.

Nếu hàng chục không có thì người ta gọi là LẺ hay LINH (307=Ba trăm lẻ Bảy; hay Ba tram linh Bảy) .

Chữ Lẻ đi với chữ Chẵn, chữ LINH đi với chữ TRÒN khi đơn vị không có (350 = Ba trăm năm mươi CHẴN, hay Ba trăm năm mươi TRÒN)

Còn 352 thì xướng là Ba trăm (+) Năm mươi (+) Hai đơn vị (cân gạo, trái trứng, tiền bạc ….)

ĐỒNG  HỒ:

Cái vại bằng đất dễ vỡ, nên khi biết làm đồ bằng đồng (#4.000BC) thì người ta thay cái vại đất bằng cái hồ bằng đồng nên gọi là Đồng Hồ. Đồng Hồ là cái hồ đựng nước bằng đồng. Đồng Hồ là dụng cụ dùng để đo thời gian có tên từ 4.000BC chứ không phải khi tiếp xúc với Tây Phương (dưới thời Chúa Trịnh) thì dân ta mới có.

LÝ DỊCH (10.000BC) và KINH DỊCH (500BC):

Lý dịch là lý lẽ biến đổi của vạn vật là do dân Nông Nghiệp nghĩ ra vào khỏang 10.000BC, nhưng chưa hoàn chỉnh, mỗi đời thêm một tý cho vui. Lý Dịch dựa theo sự vận hành của các ngôi sao trên bàu trời quay quanh trái đất (theo quan niệm của thời đó).

Vào hoảng 500BC ông Khổng Khâu bịa ra thuyết Thiên Mệnh nên phải cố gắng thêm vào những chỗ trống của Lý Dịch mà ta gọi là Soán truyện để biến Lý Dịch thành Kinh Dịch. Lý có nghĩa là lý lẽ của tôi suy đoán, còn Kinh là nguyên lý bất biến của vạn vật.

Vì Kinh Dịch chưa đủ thuyết phục nên ông Khổng Khâu bịa ra thuyết Tử Vi rồi Khoa Bói Toán. Thấy không hiệu nghiệm nên người đời sau mới nhờ Thần nhờ Thánh bốc dùm cho 1 quẻ gọi mà ta gọi là xin XÂM .... Ngày hôm nay khoa học có đủ khả năng để xác quyết rằng: KINH DỊCH là bố láo, đánh lừa người dân để kiếm gạo.

CHỮ VIẾT (#500BC)

Từ chữ cuốn sách chúng ta suy ra niên đại đại của chữ viết là 500BC, thời đại đồ thép non có dao chẻ lạt, có cưa để cưu tre ra thành từng khúc. Đan mành mành rồi viết lên đó.

Đi đâu thì CUỐN lại rồi XÁCH đi nên gọi là cuốn sách.

Từ đây ta suy ra chữ viết được sáng tạo bởi dân Bách Việt (nước NAM VIỆT dưới thời HÙNG VƯƠNG thứ 17

-         18 đời Hùng Vương là 18 triều đại. Đời là tiếng Việt, Triều Đại là tiếng Tàu

-         Thục Phán dứt Hùng Vương thừ 18 ở thời điểm 257BC,mỗi đòi Hùng Vương trung bình là 150 năm.

-         Do đó 500BC-257BC = 234 năm tức vào triều đại vua Hùng thứ 17.


-         Miền nam sông Dương Tử mới có tre có nứa nên chữ viết bắt nguồn từ dân Bách Việt.

 

-         Kiểm chứng: Chuyện huyền thoại cuối cùng là Trọng Thủy và Mỵ Châu được dựng vào thời điểm sau khi Triệu Đà dứt Thục Phán (#200BC)

¾

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil