samedi 5 août 2023

T81– Giao lưu Văn Hóa

T81(a) – Giao lưu Văn Hóa.

Livestream ngày 02.06.2022

soạn giả : Hoàng Đức Phương

 

GIAO  LƯU  VĂN  HÓA  VIỆT VÀ TÀU

Khi bị người Tàu thống trị thì nẩy sinh ra tư tưởng lấy vợ hai cho chồng để chứng minh sự giàu có của mình. Khôi hài ở chỗ là chính bà vợ Cả đi chọn và cưới bà vợ Hai cho chồng, chứ ông chồng không được quyền tự chọn lấy vợ bé như ở bên Tàu.

Tại sao? Người Tàu quan niệm rằng lấy vợ là một gánh nặng phải nuôi, nên càng nhiều vợ thì chứng tỏ người đàn ông càng lắm tài. Do đó chính người chồng tự ý đi chọn vợ bé cho mình, sau đó thông báo để bà Cả biết. Lẽ dĩ nhiên là mỗi bà một dinh cơ do ông chồng cấp phát. Vì thế nên Khổng Tử mới đưa ra học thuyết Tam Tòng để tước bỏ quyển tự chủ của phái nữ. tại gia thì Tòng Phụ, xuất giá thì tòng Phu; đến khi Phu tử (chết) thì Tòng Tử (con trái)

 

Còn ở Việt Nam, vì mang Tư Duy Nô Dịch Khổng Nho nên các bà bắt chước kẻo sợ người đời chê là ghen, là nghèo nên chính bà vợ Cả phải đi mua bà vợ Bé về cho Chồng tí-toáy; đôi khi bà bé chả sơ múi chi cả. Đó là cái tinh khôn của bà vợ Cả.

·        Trường hợp bà Phan Bội Châu là một điển hình: Tự ý đi mua vợ hai cho chồng để được thênh thang buôn bán nuôi con; trong khi ông chồng không muốn nhưng phải chấp nhận vì cần người chăm sóc và đưa tin sinh hoạt chánh trị với các hội viên.

Phần lớn những bà bé mua về đều thuộc loại gia đình nghèo đói, thấp hèn phải chấp nhận bán con để cứu gia đình. Vì thế nên con bà Cả gọi bà hai là Chị.

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung,

Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh-lùng.

Năm thì mười họa chăng hay chớ,

Một tháng đôi lần, có cũng không.  (Hồ Xuân Hương)

 

Còn một điểm đáng lưu ý là phong tục Tàu không có chuyện tái giá của người đàn bà goá, vì khi cưới cha mẹ đã thách rồi nên bà thuộc sở hữu của nhà chồng. Do đó phải ở vậy thờ chồng và nuôi con. Còn phong tục Việt thì khác hẳn. Hết ba năm tang chế: Lạy anh, em đi lấy chồng. Nghĩa là sau 3 năm mãn tang (hết tang) chồng thì người đàn bà góa được quyền bước thêm bước nữa mà xã hội hoàn toàn đồng ý và cho đó là quyền sống của con người phải được tôn trọng. Luật Hồng Đức có bảo vệ quyền này của người đàn bà goá.                   

Tại sao lại 3 năm tang chế mà không phải là 3 tháng như Tây Phương hay 4, 5 năm chi đó? Tại sao các cụ thời thượng cổ lại có lý do rất chánh đáng này, mà bây giờ vẫn còn thấy hợp lý? Chỉ vì tổ tiên chúng ta không những coi trọng gia đình và gia tộc mà còn tôn trọng quyền sống tự do của con người nữa.

Hai cái tương khắc với nhau (cộng đồng và cá nhân; tình và lý), ấy thế mà người xưa đã dung hòa được thì không phải là chuyện dễ. Âu đây cũng là một niềm hãnh diện về nền văn minh tinh thần của dân ta vậy.

 

Thật vậy, người xưa lý luận rằng khi người chồng nằm xuống, có thể lúc đó bà vợ vừa mới mang thai. Cái thai đó là thai của gia đình nhà chồng chứ không phải của riêng bà vợ. Vì thế phải đợi 9 tháng 10 ngày sinh nở xong xuôi thì mới tính chuyện bước đi bước nữa được. Khi sinh nở xong, vì nhu cầu bú mớm của đứa bé nên bà phải hy-sinh tình cảm riêng tư để nuôi con cho đến khi thôi bú, tức là đứa con đầy 2 tuổi thì mới dọng-dẽo ai nuôi cũng được.

 

Lúc này thì bà có thể trao con cho nhà chồng nuôi và bước đi bước nữa (nếu bà muốn). Hơn nữa, nếu quả thực bà yêu chồng thì 3 năm mới chỉ là thời gian tối thiểu để bà dứt tình chăn gối.

·          Đây là một HỌC THUYẾT nói về Triết Lý sống trong cộng đồng gia tộc của xã hội người Việt.

·          Vậy thì ai dám bảo là người Việt không có Triết Gia? Không có học thuyết ?

·          Vậy cớ sao bọn Việt Nô Cộng Sản lại bắt cả dân tộc phải bỏ Học Thuyết Rồng Tiên để theo Học Thuyến ngoại bang là Mác Lê và Mao ?

 

Cách giải quyết này không phải là trường hợp bắt con như Tây Phương nghĩ.

Thực vậy, đây không những là vì quyền lợi của đứa bé mà còn là quyền lợi của ngay chính người mẹ nữa. Khi bà bước đi bước nữa thì bà không phải là người trong gia tộc nhà chồng nữa. Bà vẫn có quyền về thăm con cái với tình mẹ con trọn vẹn, nhưng bà không được quyền nuôi nấng và dạy dỗ nó nữa. Phần nuôi nấng và dạy dỗ chúng thuộc nhiệm vụ của nhà chồng.

Chết Cha còn Chú, vắng Mẹ bú Dì.

Còn về phần bà vợ goá thì lúc đó bà được tự do như con gái, không bị ràng buộc về tinh thần cũng như vật chất với các con đời chồng trước. Tuy nhiên cũng có cái thiệt là mẹ con không được chung sống hàng ngày với nhau. Nhưng làm sao làm hài lòng được tất cả các đòi hỏi tương khắc với nhau? Ngược lại bà được quyền dẫn ông Dượng về thăm gia đình nhà chồng cũ, và nhà chồng cũ vẫn coi như người bạn thân thiết; không ghen tuông thù hận.

 

Lý luận của Tây Phương là lý luận theo tình cảm cá nhân, vì họ theo cá nhân chủ nghĩa. Bây giờ tỷ dụ con đầu lòng là con gái kém mẹ 18 tuổi.

Nếu con cho mẹ chăm nuôi thì cô con bắt buộc phải ở với ông Dượng.

Đến tuổi dạy thì lại nhập-nhằng với ông Dượng, lúc đó thì thật là khó xử cho bà. Ở bên Pháp trường hợp này đã từng xẩy ra và đưa đến hậu quả là bà mẹ tự tử. Đây là sự tự do quá trớn của ngưới Tây Phương, quá thiên về nhu cầu vật chất.

ö


T81(b) ĐÂI HỒNG THỦY

Livestream ngày 02 juin 2022

soạn giả Hoàng Đức Phương

 

NGUYÊN LÝ THIÊN NHIÊN

-        Do sự co rút, thay đổi nhiệt độ nên mặt đất có thể co rút hay giãn nở tới 100 thước tây là chuyện bình thường (100/6.370.000 = 0,0016%) . So với trái đất thì rất nhỏ, nhưng đối với sinh vật thì cuộc sống hoàn toàn thay đổi vì môi sinh biến đổi.

-        Hàng tỷ năm về trước thì bàu không khí không có dưỡng khí (oxy) nên chưa có sự sống như ngày hôm nay; lúc đó vi khuẩn chết đi thì biến thành đá.

-        Môi trường sinh sống làm thay đổi nhiễm sắc thể (chromosome) nên sinh vật nói chung và con người nói riêng thay đổi hình dạng, màu da, màu tóc, mắt xanh, mắt nâu ......

-        Phương tiện sinh sống làm thay đổi tâm tính con người mà ta gọi là Văn Hóa

-        Biến đổi khí hậu làm con người phải di cư tìm đất sống.

-        Cuộc sống khó khăn thì phải có óc sáng tạo ra đồ dùng để cải thiện cộc sống

 

ĐẠI  HỒNG  THỦY

-        Sự trồi sụt của mặt nước biển là do sự thay đổi nhiệt độ của bàu không khí.

-        Số lượng nước ở trên trái đất không đổi. Hiện nay loài người chỉ dùng được có 4% lượng nước của trái đất. Phần còn lại 96% là nước mặn không dùng được.

-        Khi khí quyển lạnh thì nước đóng băng (thời kỳ băng hà), nước biển tụt xuống. Khi băng chảy vì khí quyển nóng thì nước biển tăng mà ta gọi là thời kỳ gián băng.

-        Từ 20 triệu năm đến nay trái đất chịu 20 lần đại hồng thủy, và mặt đất cũng luôn luôn biến đổi, lúc lên lúc xuống nên chúng ta chỉ nói tới thời kỳ hậu pleistocene, tức là thời kỳ người Homo Sapien Sapien bắt đầu xuất hiện (#40.000BC), tức tổ tiên chúng ta đó.

-        Khoảng từ 125.000BC đến 10.000BC, vùng Đông Nam Á chịu tất cả 5 trận đại hồng thủy vào năm 100.000BC, 80.000BC, 60.000BC, 40.000BC và 28.000BC

-        Trận Đại Hồng Thủy sau chót vào khoảng 8.000BC.

Nước biển Thái Bình Dương trồi sụt;

Thái Bình Dương (océan) là vùng biển giữa California và Philippine – vùng biển bên trong gọi là Hải (see, mer)

Ø  Ngày xưa người ta không phân biệt giữa Hải và Dương nên gọi tuốt luốt là Biển một cách mơ hồ. Hải là vùng biển bị bao quanh bởi đất, còn Dương là vùng biển bao quanh lục địa.

Ø  Hà là sông dữ, sóng to gió lơn; còn Giang là sông hiền không sóng gió.

Ngày nay vì tranh chấp trên biển và trên sông nên phải thận trọng cách nói để chứng tỏ mình hiểu địa lý. Thay vì gọi Biển cụt ngủn thì nên thêm vào chữ VÙNG BIỂN + tên của nó. Thay vì gọi Sông thì ta thêm chữ CON SÔNG + tên của nó

Vào khoảng 20.000BC thì mức ở vùng biển Thái Bình Dương thấp hơn ngày hôm nay là 130,5 thước tây. Vùng biển Nam Hải, nơi sâu nhất không quá 100 mètres. Như vậy là từ Việt nam tới Phi-Luật-Tân và Mã-Lai, Indonésia là đất liền.

Nước bắt đầu dâng từ 15.000BC đến 6.000BC thì ngưng, lúc đó mực nước biển dâng cao hơn mực nước ngày hôm nay là 5 mètres. Lục Địa Đông Nam Á bị lụt mà ta gọi là Đại Hồng Thủy. Lúc này con người phải kéo lên vùng núi Tây Tạng (Himalaya) và dãy núi Trường Sơn từ Thanh Hóa vào đến Phan thiết. Đồng bằng Bắc Việt (delta du Tonkin) và Nam Việt (delta du Mékong) chưa có. Những đảo vì thiếu nước ngọt nên không có sự sống

Tất cà cư dân chạy lụt đều sống về nghề Nông, họ không thể sống trên hoang đảo thiếu nước uống được; mà nguồn chính là nước mưa. Họ cũng chưa có thuyền hay bè, mãng để vượt biển nên nếu bị cô lập thì chỉ có đợi chết mà thôi.

Muốn nghiên cứu rõ ràng hơn thì nên nghiên cứu lịch sử cư dân bản địa "Đài Loan" gồm 16 sắc dân chung sống hài hòa và lạc hậu nên bị bọn Tàu Tưởng ức hiếp, hay thổ dân Tích lan (Ceyland) bị dân TAMUN tiêu diệt - khúc lịch sử này nằm ngoài chương trình học.

Sau đó nước biển bắt đầu rút từ 5.500BC cho tới 3.400BC thì ngưng cho tới ngày hôm nay là do sự ổn định khí hậu của bàu khí quyển mà ra.

Đời sống Nông Nghiệp bắt đầu có từ 13.000BC, đến năm 11.000BC thì biết ngắm sao để tính Miêu Lịch định ngày gieo mạ (coi thêm Việt lịch).

Khi đời sống tạm ổn thì vào khoảng 10.000BC lại nghĩ ra Lý Dịch vì tin rằng vị trí ngôi sao quyết định sự sống của vạn vật. Lý dịch còn nhiều chỗ trống nên ông Khổng Khâu (#500BC) mới viết thêm để định vai trò của các Hào nên ông ta gọi là Kinh Dịch vì nhu cầu ngụy biện cho thuyết Thiên Mệnh của ông ta. Công việc này được gọi là soán truyện.

Vì Kinh Dịch không thuyết phục được thuyết Thiên Mệnh nên buộc ông phải đẻ ra khoa Bói Toán, rồi nhờ thần linh bốc hộ mà ta gọi là xin xâm. Chữ Bói có nghĩa là bốc đại một quẻ (đúng ra là Hào) trong Kinh Dịch rồi Đoán (tức là Toán = suy luận theo hệ thống).

Vì sống theo Nông Nghiệp nên nguời xưa gọi là MIÊU TỘC là toàn thể các sắc dân sống ở vùng Đông Nam Á gồm: Tây Tạng, Sở, Ngô, Việt, Chiêm và Chân Lạp (Khmer), và dân sống ở lưu vực con sông Hoàng Hà mà ta gọi là con cháu Đế Nghi.

Vì sống về nghề nông nên khi nước rút, dân cư phải di theo triền sông ra biển để canh tác.

·        Một nhánh di theo triền con sông Hoàng Hà nên gọi là con cháu Đế Nghi

·        Một nhánh di theo triền con sông Dương Tử, Tây Giang, Hồng Hà, Mã gọi là con cháu Lộc Tục

·        Dân cư ở cuối dãy Trường Sơn thì một nhóm di về hướng Đông gọi là dân CHIÊM (chữ Chàm là danh từ của người Việt đặt cho họ), một nhóm di về hướng Nam là người Chân Lạp, tổ tiên của người KHMER.


ĐẤT  PHÙ  NAM

·        Phù là đất bồi. Phù Nam là đất bồi ở phương nam, không phải là một quốc gia, và không có dân tộc nào mang tên là Phù Nam cả. Lý do dễ hiểu là nước mặn, lắm cá sấu và loài thủy quái nên không lập nghiệp được vì thiếu nước ngọt và thực phẩm.

·        Vào thới điểm 2.879BC thì đất bồi bởi con sông Cửu Long chưa thành hình. Mãi về sau mới có tên là đất Phù Nam, có nghĩa là đất bồi ở phương nam.

Đất sình này chưa ở được vì điều kiện sinh sống chưa có. Do đó người Chiêm không di xuống phương Nam mà lại đi đánh nước Chân Lạp (ở phía tây). Cho mãi đến năm 1471 vùng này còn hoang vu như vùng Cà-Mâu ngày hôm nay vậy.

·        Vì đất không canh tác được nên không có dân tộc nào mang tên là dân Phù Nam cả. Người đi biển vào tá túc thì họ tự bảo vệ lấy băng gậy gộc nên gọi là dân Côn Man (côn=gậy; man=ban khai) hay dân Bồn Man (Bồn là gò đất nổi lên trên mặt biển).

·        Đất Phù Nam khác với đất Thủy Chân Lạp và Lục Chân Lạp (Khmer).

·        Có sự nhầm lẫn kinh khủng là người mình gọi đất Phú Nam là đất Thủy Chân Lạp.

Thủy Chân Lạp là một quốc gia; còn Phù Nam là đất bồi chưa khai thác. Dân cư Óc Eo là người tứ xứ đến tá túc rồi sau đó họ trở về nguyên quán.

Giống như người Đức và Y Pha Nho đến tá túc ở phía Tây hòn đảo Đài Loan vào thế kỷ thứ 16 . Đến năm 1660 họ trở về nguyên quán (coi lịch sử Đài Loan với 16 sắc dân nông nghiệp chung sống hài hòa ở phía Đông hòn đảo).



TRỞ VỀ QUÊ CŨ SAU 10.000 NĂM di  tản    nạn  ĐẠI  HỒNG  THỦY

Vào năm 3.400BC, nước biển rút xuống bằng mực nước ngày hôm nay và giữ nguyên trạng cho tới ngày hôm nay. Tức là bàu khí quyển không thay đổi.

Lúc này cư dân nông nghiệp ẩn náu ở dãy núi Hy Mã Lạp Sơn (Hymalaya) ở cao nguyên Tây Tạng và dãy núi Trường Sơn ở Việt Nam (từ Thanh Hóa tới Bình Thuận) theo triền sông ra biển để lập nghiệp. Lúc này chưa có chữ viết (tức ký tự) nên để lại kinh nghiệm sống cho hậu thế bằng bia miệng như ca dao, tục ngữ, văn vần và Huyền Thoại (tức văn xuôi ngày nay).

Tiếng nói bắt đầu có từ 13.000BC nên ngôn từ còn thô sơ, câu văn còn thô kệch.

Đồ đồng bắt đầu xuất hiện vào khoảng 4.000BC, sau này tinh xảo nên làm vũ khí để xâm lăng; đây là thời điểm lập 3 nước để đánh nhau. Đó là con cháu Lộc Tục chia làm 3 nước là: Ngô (xâm lăng), Sở (Tự vệ) và Việt (tự vệ).

-        Một nhóm di theo con sông HOÀNG HÀ (qua Bắc Kinh) được gọi là con cháu Đế Nghi.

-        Một nhóm di theo triền các con sông: Dương Tử (chảy ra Thượng Hải), Tây Giang (chảy ra Hong Kong), Hồng Hà (chảy qua Thăng Long), Mã chảy qua Thanh Hóa được gọi là con cháu Lộc Tục gồm 3 nước là Ngô, Sở và Việt.

-        Nhóm ở cuối dãy Trường Sơn di ra phía đông là dân Chiêm; di xuống phía nam là dân Chân Lạp (tức Khmer)


TỔ CHỨC HÀNH CHÁNH NƯỚC CHÀM

Nước CHÀM gồm rất nhiều sắc tộc. Tên nước là CHAMPA (tiếng Việt là nước CHÀM), trong đó có sắc dân. Dân CHĂM (Chiêm) ở Ninh Thuận (Phan Rang) và Bình Thuận (Phan Thiết). Cương vực từ đèo Ải Vân đến hết Bình Thuận (Phan Thiết), thời đó chưa có đất bồi của con sông Cửu Long (tức đất Phù Nam = đất bồi ở phương nam). Họ  lập quốc vào năm 40TL để ngăn không cho Mã Viện đổ quân vào Quy Nhơn đánh thốc lên chiến khu Lâm Ấp (ấp chiến lược trong rừng) của tiểu bang Việt Thường thuộc Liên Bang Việt. Chiến khu Lâm Ấp chiếm địa điểm từ Đèo Ngang (sông Gianh) đến đèo Ải Vân, là nơi phòng thủ vững vàng. Phía đông là biển với vách núi cheo leo, phía tây là núi, nam và bắc đều có ải để phòng thủ. Thời đó di vhuyển khó khăn, biên giới là đèo núi, sông sâu và biển cả.

Chữ Ải là vùng đất đang to bé lại rồi lại phình ra, tiếng pháp là COL, cái cổ là vùng đất đang to bé lại. Vân là mây, ải Vân là vùng đèo có mây che suốt ngày.

Người Pháp gọi là le COL DE NUAGE, Gia Long (1802) đổi thanh Hải Vân để xóa di tích biên giới Việt và Chàm.

Người CHÀM (CHAMPA) lập quốc vào năm 40TL để chống Mã Viện đổ quân vào đánh tập hậu chiến khu Lâm Ấp, nhưng mãi đến năm 192TL họ mới thống hợp được các sắc dân thành nước CHAMPA; và lịch sử của nước CHAMPA bắt đầu từ đây với cuộc sống quy củ của một quốc gia, nhưng cách tổ chức xã hội khác Việt và Tàu (coi lịch sử nước Chàm (Champa).

Vào thế kỷ thứ 5 tây lịch họ có binh đội hùng mạnh nên đánh chiếm phương tây của dân Chân Lạp –nay gọi là Khmer. Dân Khmer bắt đầu lập quốc từ đây với 2 vùng: Lục và Thùy Chân Lạp. Lục là đất , Thủy là nước biển; giống bên Việt gọi là miền xuôi (vùng duyên hải) và miền ngược hay miền thượng (vùng núi cao)

Năm 800TL, lợi dụng nhà Đường suy yếu, dân Giao Châu ổi loạn thì họ đánh chiếm chiến khu Lâm Ấp của nước Việt . Từ đó trở đi dân Việt sợ họ như sợ cọp. Cứ trung bình 25 năm tu bổ binh mã xong là họ lại hành quân tàn phá nước Đại Nam.

Từ năm 800TL tới năm 1471TL (tức từ lúc bị nhà Đường cướp đất từ đèo Ải Vân lên đến tận Quảng Bình (chiến khu Lâm Ấp) và tiếp tục đánh phá Giao Châu, trung bình 25 năm lại kéo quân ra đốt phá thanh trì, tàn sát lương dân cho tới thời vua Lê Thánh Tôn hội nhập vào nước CHÀM vào nước Đại Việt vì lúc đó (1460TL) vua nước CHÀM là Trà Toàn thông đồng với nhà Minh bên Tàu là 2 bên đánh úp rồi chia đất cho nhau, lấy giang giới là đèo tam đệpở Thanh Hóa (tức đèo 3 dội nơi xuất quân Tây Sơn, giữa êm giao thừa, đánh Tôn Sỹ Nghị giải phóng dân Bắc- lúc đó gọi là dân đàng Ngoài)

Nên nhớ là giữa 2 dân tộc Việt/Chàm không có sự thù nghịch hay ý chí xâm lăng nhau, bằng cớ là khi nước Việt (lúc đó chỉ tới đèo Hải Vân ngày hôm nay mà thôi) bị xáo trộn, tình hình nhiễu nhương thì các nhà sư phải tỵ nạn vào đất Chiêm, xây Chùa và được người dân che chở, giúp đỡ.

Khi vua Chàm biết chuyện thì phật lòng và ra lệnh tàn sát thì họ được dân chúng can ngăn và khuyên vua nên tìm hiểu đạo Phật qua người thất thế.

Tu lúc đó là tu nhập thế, học kinh Phật để xuống núi giúp nước cứu đời. Vì thế nên không có sư "Hổ Mang" như bây giờ. Tu bây giờ là tu yếm thế, là tu xuất thế xa lánh cõi tha-bà.

Lúc đó nhà sư làm chánh trị, còn vua Chàm thì theo đạo Hồi. Vì thấy sự can ngăn của dân chúng có lý, nên không những vua bỏ ý định triệt hạ mà còn chuyển ý tìm hiểu đạo Phật. Do đó khi hành quân ra tàn phá Thăng Long, lúc lui binh thì vua lại đem theo một số kinh kệ và sư sãi về để tìm hiểu. (Lịch sử nước Chàm sẽ học sau).

¾

SAU ĐÂY LÀ

BẢN ĐỒ DÂN NÔNG NGHIỆP HỒI HƯƠNG

Theo triền sống về lập nghiệp (theo đất canh tác) vào năm 2.879BC

 



1)      Con cháu Đế Nghi theo sông Hoàng Hà lập nghiệp ; vào năm 1.700BC thì chung sống hòa bình với nhà Hạ, sau đến nhà Thương (1.500BC) và Ân (1.300BC).

·         Nhà Hạ, Nhà Thương và Nhà Ân đều là dân Du Mục gốc nông nghiệp nên chung sống được với con cháu Đế Nghi. Khi trước họ cũng thuộc sắc dân nông nghiệp ; khi nước dâng lên, thay vì chạy vào hướng Tây thì họ lại di lên hướng Bắc ;  đó không có đất canh tác mà chì có đồng cỏ bát ngát thôi.

·         Năm 1.700BC nhà Chu (du mục chánh gốc) từ Iran di qua chiếm Mông Cổ và Mãn Thanh, đuổi nhà Hạ và nhà Thương chạy xuống phía Nam. Sau đó tràn xuống sông Hoàng Hà truy kích vào năm 1.046BC với chánh sách tiêu diệt : KHỬ TỊCH (giết hết gốc gác dân bản địa) nên buộc họ phải chạy qua Mỹ Châu tỵ nạn là dân da đỏ

2)      Con cháu Lộc Tục (Ngô, Sở và Việt) theo triền sông Dương Tử, Tây Giang, Hồng, Mã lập nước đánh nhau vào năm 2.879BC, tức sau 500 năm phát trin kinh tế, sinh đẻ gia tăng nên lập binh đội để « MỞ MANG BỜ CÕI »

3)      Dân Chàm và dân Khmer thuộc sắc dân Mã Lai di theo sông Cửu Long.

4)      Đồng bằng sông Hồng nhú lên vào khoảng 200BC khai phá được vào năm 1.000 sau TL dưới thời nhà Lý, và đồng bằng sông Cửu Long nhú lên vào khoảng 100BC, khai phá đưc vào năm 1665 sau TL (vấn đề là thiếu nước ngọt, còm mỗi mòng thủy qui thì trấn áp chúng được.

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil