samedi 5 août 2023

T83-Tinh thần Đồng Bào

T83(a)-Tinh thần Đồng Bào

Livestream ngày 16.06.2022

soạn giả : Hoang Đưc Phương

TINH THẦN LIÊN ĐỚI

CỦA DÂN VIỆT CỔ

RẰNG :

Theo học thuyết Rồng Tiên thì dân Việt đấu tranh để tự vệ, giành quyền Tự chủ chứ không chủ trương đi xâm lăng đất đai của láng giềng.

Do đó muốn lấy yếu thắng mạnh thì phải dùng sức mạnh Tâm Linh thay cho sức mạnh bắp thịt thì mới có thể lấy đoản binh thắng trường binh được.

 

Từ xưa đến nay dân Việt vẫn dùng kế sách này để bảo vệ tự chủ.

Quốc Gia Việt Nam dưới quyền lãnh đạo củ Quốc Trưởng Bảo Đại cũng đã dùng kế sách này, từ tay vo giành quyền độc lập chánh trị, sau đó dùng 3 tấc lưỡi để có 175.000 quân tác chiến rồi giành lại toàn vẹn lãnh thổ                                       .

 Xét vậy thì nay chúng ta cũng dùng Nền Văn Hóa Thuần Việt để kết hợp toàn dân thì sự lật đổ BạoChúa Việt Nô Cộng Sản không mấy khó khăn.

Nay chúng tôi xin lược kê các triều đại đã dùng sức mạnh tâm linh giành quyuền tự chủ trước khi phân tích vì sao mà các sỹ phu dưới triều Quốc Trưởng Bảo Đại đã thành công ; nhưng ngay sao đó đã bị bọn Việt Nô Cộng Sản đem cả khối Cộng Sản phá hủy công lao của thế hệ 1947                            .

XÉT RẰNG :

Dùng sức mạnh tâm linh để giải quyết các khó khăn cho mỗi hoàn cảnh một khác nên phải uyển chuyển thì mới thành công được.

Nay chúng ta phân tích để biết đường ứng dụng vào hoàn cảnh hiện tại.

·        Trước hết là thời CÂU TIỄN (#600BC) đã có công sát nhập nước Ngô vào nước Văn Lang để thành nước BÁCH VIỆT với sự đồng thuận của 2 dân tộc Ngô và Việt .

Đây là bài học XÓA BỎ XUNG KHẮC SẮC TỘC do Việt Nô Cộng Sản gây ra.

Câu Tiễn là lãnh vương vùng Lạc Việt (tức Quảng Đông) đã khai dụng sự nhân đúc, thương người của Phù Sai để thoát hiểm. Vì vậy nên ông ta dành cho vua NGÔ được chết trong vinh dự và dân Ngô được bình đẳng với dân Việt trong một Liên Bang lấy tinh thần Đồng Bào sống với nhau.

 

Sự thể tóm lược như sau :

Khi lâm trân thì Câu Tiễn vung đao chém cụt ngón chân cái của Hạp Lư ở thởi Hậu Chu với thất quốc tranh hùng.

Khi chết thì người cháu đích tôn là Phù Sai lên nối ngô, tu bổ binh mã trong 3 năm Mãn tang ông thì kéo binh sang đánh Câu Tiễn.

Câu Tiễn thua thì quan văn là ông Văn Chủng lè sang dinh Bá Hy dùng 3 tấc lưỡi để xin nói với Quân Vương Phù Sai bãi binh và Câu Tiễn xin sang nước Ngô chịu tội.

Nhờ Bá Hy thuyết phục dùm là : Câu Tiễn xin thần phục và xin sang làm tù binh để đền tội.

Phù Sai đồng ý lui binh và bắt một mình Câu Tiễn sang chịu tội thôi. Còn nội chính thì vẫn độc lập như trước.

Khi về kinh đô để sửa soạn đi tù thì Câu Tiễn thấy dân để khăn tang nên  hổ thẹn không dám nhì ai cả.

Khi làm tiêc tiễn đưa thì Hoàng Hậu tự nguyện đi tù theo vì thời đó đồng cam cộng khổ, vua nhục thì toàn dân nhục. Quan Võ là Phạm Lãi xung phong theo hầu để bày kế thoát thân. Ở nhà thì Quan Văn là VĂN CHỦNG lo mọi việc.

 

Sang bên Ngô thì bộ 3 làm chức chăn ngựa làm sau cho ngựa khỏe mạnh.

Phạm Lãi khuyên Câu Tiễn và Hoàng Hậu vui vẻ với công việc chăn ngựa, đừng tỏ vẻ oán giận hay để lộ ý chí trả thù vì có người theo dõi, sơ ý là mất đầu.

Ở nhà thì Văn Chủng lo phận làm dân nô lệ nên luôn luôn biếu xén Nhà Vua để xin chuộc tội, mặt khác thì nịnh hót Bá Hy để lấy tin tức.

Đây là quan niệm toàn dân đồng cam cộng khổ. Nhờ vậy mới thoát hiểm, mưu phục thù đối phương không để ý.

 

Hôm đó Phù Sai nghi nên muốn diệt trừ hậu họa nên triệu Câu Tiễn lên chầu để hạch tội rồi đem chém.

Nhờ tổ tông phù hộ nên tự nhiên Phù Sai đau bụng đi cầu và cho về để đợi xét.

 

Điểm này cho ta thấy mưu sự tại nhân nhưng thành sự do sự run rủi của hương linh tổ tông mà ta gọi là Trời tính dùm.

Quan niệm này nằm trong TẾ LỄ Gia Tiêntạo thành Việt Triết mà 2 ông Phạm Lãi và Văn Chủng đã diễn tả trong Huyền Thoại RỒNG TIÊN

Kỳ sau sẽ nói tiếp mưu kế thoát hiểm mà chúng ta nên nắm vững : Làm sao để kẻ thù không đoán được tư tưởng của mình.

¾

Nơi lưu trữ 3 kinh nhật tụng
1. Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18 tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)
SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ (Đủ Bộ) https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ (Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k
SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph
Kênh  Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ là nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu trữ vô máy.

                                             ------------------------------------
T83(b) - Điều kiện cẩn phải có để lập quốc

Livestream ngày 16.06.22                                                      

soạn giả Hoàng Đức Phương

 

ĐIỀU KIỆN THÀNH LẬP QUỐC GIA

(tổ chức theo chế độ phân công)

Rằng:

Lập quốc phải có binh đội để bảo vệ bờ cõi và quyền lợi vật chất cũng như tinh thần của toàn dân. Do đó phải có Hiến Pháp, Thuế vụ và các yếu tố sau đây.

Không ai lập quốc để chơi cả. Và lập quốc chỉ có 2 trường hợp là:

·        Hoặc lập binh đội để đi xâm lăng.

·        Hoặc lập binh đội để tự vệ.

Ngoài ra không thấy có nhu cầu lập quốc vì những lý do khác khi an ninh quốc gia đã được bảo đảm rồi

 

Các điều kiện tất yếu phải có khi lập quốc

a)     Nhu Cầu:

Người Ngô (vùng Chiết Giang, Phúc Kiến và Hồ Nam ngày hôm nay) lập nước để đi xâm lăng, do đó người Sở và Liên Bang Việt phải lập nước để tự vệ.

Người Ngô có thuyết Thiên Tử là thuyết xâm lăng, người Sở có thuyết vô vi là thuyết tự vệ, còn người Việt có thuyết Rồng Tiên là thuyết tự vệ.

b)     Niên kỷ : Như trên đã nói là sau 500 năm yên ổn làm ăn thì tính chuyện xâm lăng, nên lập quốc năm 2.879BC là có cơ sở

c)     Cương vực: Lúc đó biên giới thiên nhiên là sông sâu và rộng. Do đó suy ra là:

-        Biên cương nước Ngô ở giữa 2 con sông Dương Tử Giang và Tây Giang, phía tây đến con sông Hoài.

-        Biên cương nước Sở là vùng Tứ Xuyên, tức 4 con sông chảy qua là: Hoàng Hà, Dương Tử, Hồng Hà và Cửu Long Giang.

-        Biên cương nước Văn Lang được giới hạn từ con sông Tây Giang đến đèo Hải Vân, phía tây đến tận con sông Cửu Long Giang. Lúc thành lập có mời người Chiêm vào Liên Bang Việt nhưng họ từ chối.

d)     Chủng tộc: Nước Ngô thuần chủng, nước Sở thuần chủng, nước Văn Lang đa chủng gồm 15 sắc dân.

Vậy thì:

-        Nước Ngô theo thể chế quân chủ chuyên chế, nhà vua nắm hết mọi quyền (suy ra từ thuyết Thiên Tử).

-        Nước Sở theo thể chế Quân Chủ Đại Nghị (suy ra từ thuyết Vô-Vi).

-        Nước Việt theo thể chế hội nhập văn hóa, dân chủ phân quyền: Phép vua còn thua lệ làng (suy ra từ Thuyết Rồng Tiên).

e)     Sắc Thái : Nước Ngô là màu đỏ của lửa, của Việt là màu vàng của lụa tơ tầm suy ra từ chuyện Rồng Tiên Khai quốc (lức đầu có thể là màu vàng của ruộng lúa tưọng trưng cho sự no đủ, tức hạnh phúc dân tộc. Còn nước Sở thì chưa rõ

f)      Hiến Pháp :

-        Nước Ngô lấy nhà Vua làm gốc, người dân là người tá túc, vua cho sao thì được vậy. Nước Sở và Việt lấy dân làm gốc.

-        Nước Văn Lang là một Liên Bang của người Việt nên sống theo cách hội nhập Văn Hóa của 15 sắc dân: Tiểu dị nhưng Đại Đồng

g)     Lựa chọn nhân tài: Suy ra từ chuyện Tiết Liêu (bánh dày, bánh chưng):

-        Dân bàu các Lãnh Vương theo kiểu bàu ông Lý Trưởng và ban kỳ mục để lo việc chung trong làng. Nhiệm vụ của lãnh Vương giống như nhiệm vụ của vị thủ tướng ngày hôm nay, theo mật ước thì cha truyền con nối; chừng nào tuyệt tự hay người kế nghiệp không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu thì mới bàu người khá. Lúc này sống với nhau vì tình và nghĩa chứ không ai ham chức tước cả. Thể chế dân chủng phân quyền còn được lưu truyền cho tới triều đại nhà TRƯNG: Các quân vương kéo về tụ nghĩa ở Mê Linh và tôn bà lên làm vua (lãnh tụ).

-        15 vị Lãnh Vương bàu ông Hùng Vương; cũng theo chế độ bàu lý Trưởng và hội đồng lỳ mục.

-        Nhiệm vụ của ông Hùng Vương là biến Liên Bang gồm 15 sắc tộc thành chủng tộc Việt.

Công tác này được hoàn chỉnh trong suốt 2.622 năm (2.879BC-257BC). Hùng Vương là chức vị chứ không phải ông vua mang họ Hùng.

-        15 đời Hùng Vương là 15 triều đại chứ không phải 15 ông vua, như ta nói đời Nhà Lý, đời Nhà Trần, Nhà Lê vậy. Hùng Vương không có chữ Nhà đứng trước nên Hùng không phải là tên họ mà là tên chức vụ.

h)     Dân số đủ để giữ nước:

Lúc đó vào khoảng trên dưới 1 triệu dân đinh trai tráng thì mới đủ sức giữ một lãnh vực được. Nước rộng thì cần nhiều dân số, nước hẹp thì ít thôi, nhưng cũng phải đủ đông thì mới giữ nước được.

Một triệu là tính số trai tráng ở lứa tuổi 20-50. Theo cách thống kê dân số lúc đó thì số dân ở tuổi thanh xuân nam và nữ là 2 triệu.

Lúc đó tuổi thọ có 60 thôi, vậy thì kể cả trẻ em sơ sinh phải nhân gấp đôi (trẻ em dưới 20 tuổi, người già trên 50 tức là 30 năm), như vậy là 4 triệu theo cách tính ngày hôm nay.

i)       Thể chế: Dân chủ phân quyền (suy ra từ hình khắc trên mặt trống đồng 14 tia, phối hợp cùng chuyện Rồng Tiên khai quốc)

j)       Nghề nghiệp: Toàn dân tham gia vào nghề nông là chính, chăn nuôi và trồng trọt là phụ. Lúc đó chưa có lưới nên đi mảng chứ chưa có thuyền nên nghề chài lưới chưa có, nghề thợ mộc cũng chưa có. Coi hình trên mặt trống đồng thì người dân lấy lá làm quần áo, lấy lông chim làm hiệu

Coi thêm đặc san Văn Lang số 18, ra ngày 08 avril 2001; chủ đề Hướng đi ngày hôm nay Bài viết của soạn giả Lư Tấn Hồng, cựu Thẩm Phán SAIGON viết trong tủ sách Việt Thường ấn hành ở HOUSTON, TEXAS – Coi thêm giải mã huyền thoại Rồng Tiên của Ban Tế Tự Paris (06 mai 1989)

Nên nhớ là: Bộ Lạc là một vùng an lạc có Văn Võ đầy đủ (Lạc Hầu, Lạc Tướng), ngày ngay gọi là tiểu bang. Vì muốn hạ nhục dân Việt là bán khai nên Thực Dân Pháp gọi Bộ Lạc là Tribu. Vì nô lệ nên dân ta nói theo mà không suy nghĩ, ai nói khác thì bị chụp mũ là ái quốc cực đoan Vì thế nên cứ đi mãi trong mê hồn trận "dịch chủ tái nô". May mắn là tổ tiên ta cũng có Tribu và gọi nhóm người đó là TÙ; chef de tribu là Tù Trưởng. Ngày hôm nay chúng ta phải hiểu rõ ngôn từ khi ta dùng nó thì mới mong cuộc đời sáng sủa hơn được.

Ø  Dân số của một TRIBU vào khoảng vài ba ngàn người, tương đương với một xã (hay một làng đông dân).

Ø  Trên Tribu là Sắc Tộc, đông hơn là Chủng Tộc rồi đến Dân Tộc và Nhân Loại

·          Những sách xưa cũ nên vứt bỏ vì nó được viết bởi kẻ thống trị là giặc Tàu và Thực Dân Pháp nên bị bóp méo, sử gia của chúng ta viết lại mà không có óc phê phán nên những sách viết trước năm 1975 cần phải xét lại.

·          Hơn nữa khoa học năm 2003 cho ta biết đời sống nhân loại một cách khá chánh xác từ 40.000BC, trong khi các sách cũ chỉ biết tới 3.000BC là cùng. Nghĩa là sau trận Đại Hồng Thủy.

·          Từ từ chúng ta sẽ khai thông những chỗ bế tắc này bằng khám phá mới của khoa học ở kỷ nguyên thứ 21.

Nhất là Việt từ đâu mà ra, Tàu từ đâu di tới có bằng chứng rõ ràng. Văn Hóa Tàu từ Việt mà ra chứ không phải Văn Hóa Việt là cái đuôi của bọn Tàu lưu manh.

Một tỷ dụ là : NGÀY TẾT :

TẾT là biến âm của chữ TIẾT (một đoạn) là lễ hội của dân Nông Nghiệp có từ 13.000BC là lúc biêÝt trồng trọt ngũ cốc làm lương thực dự trữ.

·         13.000BC có Lễ Hội Mừng Xuân, người ta chúc nhau những điều may mắn nên tóm gọng trong câu CUNG CHÚC TÂN XUÂN, mùa xuân đến đem ấm no cho mọi người bắt đầu canh tác trồng trọt không như nhịn đói suốt mùa Đông. Nên nhớ Hoa Lục là đất nông nghiệp nên du mục không có đất sống. Du Mục sống nhờ chăn nuôi nên di theo cánh đồng cỏ (Thảo Nguyên, Steppe).

·         11.000BC người ta biết ngắm sao tính ngày mùa nên đặt ra NÔNG LỊCH. Để tiện mọi việc nên mồng một tháng Giêng NÔNG LỊCH là tiết xuân, do đó Cung chúc Tân Xuân và Tân Niên cùng một lúc

·         Khoảng 2.500BC người ta nắm vững nghề Nông làm khi là dành khi đau nên tồ chức Lễ Ăn Khao trước khi ngưng việc đồng áng, gọi là TIẾT TRUNG THU . Cách tính lịch được ghi trên mai rùa đem biếu nhà CHU nên ta gọi là QUY LỊCH . Cách tính dựa trên 2 thời điểm làm mốc là TRUNG THU và TÂN XUÂN. Người ta địng ngày TRUNG THU có trăng sáng, mọc sau khi mặt trời lặn và lặn sau 21 giờ đêm để các em kết thúc bằng rước đèn. Từ Trung Thu mới tính ngày đầu năm trong tiết xuân (từ 28/2 đến 3/3 dương lịch) làm sao cho ngày trong năm không sai nhau quá 7 ngày để không ảnh hưởng đến ngày mùa. Như vậy là mồng 1 tháng Hai là ngày 02/4 dương lịch và  01 tháng Chạp là ngày 01/02DL hay 02/2Dl nhuận.

·         Mã Viện sang cai tri vào năm 43AD, áp dụng chánh sánh tiêu diệt tàn bạo nên y bắt xóa bỏ Nông Lịch , dùng Âm Lch. Nhưng hắn ta không thể xóa được nghề Nông, do đó chữ Cung Chúc Tân Xuân vẫn còn, và bắt buộc phải đi ới Cung Chúc Tn Niên ÂM LỊCH.

Khôi hài ở chỗ là Tân Niên Âm Lịch luôn luôn rơi vào múa Đông mà lại đi Cung Chúc TÂN XUÂN ! Như năm nay Tân Niên Âm Lịch rơi vào chính giữa tiết Đông là ngà 22.02.2023.

TÓM LẠI : Văn Minh TÀU từ VIỆT mà ra. Người TÀu bắt đầu biết ăn TẾT từ thời MÃ VIỆN (43AD), sau đó bổ xung nghi thức thêm dưới thời nhà ĐƯỜNG cho được thi vi.


·         Đây là lộ trình giáo dục phải theo thì toàn dân mới có đủ khả năng bảo vệ sự tự chủ của mình được.

·         Việt Lực được suy ra từ lời căn dặn của cha LẠC LONG.

·         Sơ đồ này là chuyển ý từ thông điệp Rồng Tiên khai quốc: 100 trứng, 100 con. Rồng Tiên khai quốc là học thuyết căn bản của khoa nhân văn Việt tộc.

·         Chuyện Rồng Tiên chuyển ý từ HOA VĂN 14 tia trên mặt trống đồng Đông Sơn

Ø  Chuyện Rồng Tiên được dựng lên do nhu cầu chánh trị mà 2 ông Phạm Lãi, Văn Chủng đã lồng trận đánh ‘diệt Ngô Đại Cáo’dưới dạng Huyền Thoại ở thời điểm chưa có chữ viết (#600BC), để đem thông điệp cứu nước và giữ nước cho hậu thế noi theo.

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil