samedi 5 août 2023

T84 - Khổ nhục kế

T84(a) - Khổ nhục kế

Livestream ngày 23.06.2022

soạn giả : Hoàng Đức Phương


CÂU TIỄN THOÁT CHẾT

THOÁT HIỂM bằng cách đánh vào lòng Nhân Từ của kẻ thù.

Kế này thì Đức Thánh Trần đã dùng và Hoàng Đế Quang Trung cũng đã áp dụng

Nhờ Văn Chủng lấy lòng và biếu xén thường xuyên nên Bá Hy nói tốt cho Câu Tiễn, nhưng Ngũ Tử Tư đọc được tư tưởng thâm sâu của vua tôi Câu Tiễn nên xúi Ngô Phù Sai giết đi để trừ hậu họa.

 

Hôm đó Phù Sai gọi lên để hạch tội rồi giết, nhưng đau bụng nên hoãn hỏi tội.

Vế sau được Bá Hy cho biết mục đích gọi lên để giết nhưng đau bụng đến nay chưa khỏi. Phạm Lãi hỏi bệnh tình ra sao thì Bá Hy nói hết các triệu chứng. Nhờ đó mà Phạm Lãi là Thày thuốc nên biết ngay là bệnh THƯƠNG HÀN, vì tóc rụng.

 

Diễn biến của bệnh Thương Hàn là tóc rụng. Trong 40 ngày thì chết ; nếu không chết thì khỏi bệnh . Nhưng phải ăn đồ nhẹ dễ tiêu trong vòng 7 ngày, để ruột hoạt động trờ  lại, da cứng thì mới ăn đồ cứng được. Sau đó ăn trả bữa trong 3 ngày thì hoàn toàn dứt bệnh.

 

Vì biết rõ tiến trình của bệnh Thương Hàn nên Phạm Lãi xúi Câu Tiễn nếm cứt để đánh vào lòng nhân từ của Phù Sai để được thả.

·        Câu Tiễn bảo dù sao thì ta cũng là vua, nhục như vầy đủ rồi, nay phải giữ thể diện cho dân tộc chứ.

·        Phạm Lãi ôn tồn bảo : Nhục thì đằng nào cũng nhục rồi. Cùi không sợ hủi. Nay ông chịu nhục thêm bước nữa nó tha thì ông mới có dịng nói chí lớn của ông cho thiên hạ biết. Còn ông để nó giết thì ông mang nhục ngàn thu.

Ông hãy nghe tôi làm như sau :

Trước hết ông nói với Bá Hy xin vấn an 3 ngày trước khi khỏi bệnh.

Kế đến ông chọc giận để nói nổi cơn tam bành vì sao ông dám tự tiện đến vấn an.

Vì nổi khùng nên nói xổ ra và ông xin phép được nếm cứt để đoán bệnh.

Vị chua là bao nhiêu bệnh đang thoát ra khỏi cơ thể.

Vị chát là cơ thể hồi phụ, tức dứt bệnh

Vị ngọt là cơ thể hồi sinh như cũ.

 

Ông lấy ngón tay chỏ chấm nhẹ vào cứt rổi đưa lên mồm nếm, trong khi đó thì tay trái ông rút cái dẻ lau bẩn ở trong túi nâng tay phải lên và liếm bên cạnh, làm ảo thuật che mắt thiên hạ.

Sau đó ông lấy giẻ chùi mồm và cứt ở ngón tay đi rồi tung hô vạn tuế bằng cách bấm độn ngón tay  nói chính xác là 3 ngày nữa khỏi bện….. rồi 10 ngày nữa dứt bệnh hoàn toàn ….. Bấm độn rồi tinh là 13 ngày nữa thì sức khỏe bình phục

Câu hỏi được đặt ra là : NAY CHÚNG TA DÙNG KẾ GÌ ĐỂ ĐÒI LẠI QUYỀN TỰ CHỦ ?

T84(b) Ý nghĩa ngày Quốc Tổ

Livestream ngày 23.06.22

soạn giả Hoàng Đức Phương


THỜI  KỲ  GIỮ  NƯỚC: (từ 257BC đến nay)

 

1.      Khoảng 600BC, nước BÁCH VIỆT RA ĐỜI

Lãnh vương vùng Lạc Việt (tức Quảng Đông ngày hôm nay) tên là Câu Tiễn hội nhập nước Ngô vào nước Văn Lang (Liên bang Việt) vì bị Vua Ngô là Phù Sai làm nhục.

Sau khi chiến thắng thì đặt niên hiệu là Việt Vũ Vương, nay ở Quảng Đông còn miếu thờ Ngài (nơi Hạng Võ cử đỉnh) và sai 2 ông Phạm Lãi (Lạc Tướng) và Văn Chủng (Lạc Hầu) soạn Huyền Thoại Rồng Tiên Khai quốc để tả trận đánh này cho hậu thế rút kinh nghiệm.

Lúc đó chưa có giấy bút để ghi ký tự (chữ viết), mà chỉ có ký hiệu ghi trên đất nung nên Huyền thoại là một loại văn suôi ngày hôm nay. Mai mốt con cháu chúng ta dùng máy để truyền tin, giấy bút trở thành lỗi thời không ai đọc; nên lúc đó có thể con cháu chúng ta sẽ chê các bản văn lịch sử của chúng ta viết bằng phương tiện ngày hôm nay. Đây là điều chúng ta phải suy nghĩ về thông điệp được ký thác trong huyền thoại.

Ø  Lúc này biên giới nước Văn Lang lên tới tận con sông Dương Tử Giang.

Ø  Việt Vương (Câu Tiễn) dùng binh pháp Phạm Lãi đã thắng Ngô Vương (Phù Sai) dùng binh pháp Tôn Tử.

Ø  Binh Pháp Phạm Lãi huấn luyện đặc công mà binh pháp Tôn Tử không có. Sau này, đánh mãi nuớc Sở mà bất phân thắng bại, tướng Chương Đàm (của Tần Thủy Hoàng) phải cải tổ lại quân ngũ theo binh pháp Phạm Lãi mới thắng nước Sở, và gia đinh Hạng Võ phải qua Quảng Đông (thuộc Nhâm Ngao) để xin tỵ nạn cùng ông chú là Hạng Lương.

2.      Khoảng 300 năm sau (300BC), dưới triều Hùng Vương thứ 18, người Ngô Việt  làm kháng chiến do ông Nhâm Ngao (người Việt gốc Ngô ở vùng Ngô Việt tức vùng Chiết Giang ngày hôm nay) lãnh đạo chiếm lại nước Ngô và vùng Lạc Việt (Quảng Đông).

Họ không thiết lập lại nước Ngô mà họ muốn thống lãnh luôn cả nước BÁCH VIỆT.

Lý do là lúc đó bên phía Bắc là thời nhiễu nhương . Thất Quốc Tranh Hùng, phía Nam là Văn Lang, phía tây là nước Sở binh hùng tướng mạnh. Nếu tách ra khỏi Liên Bang BÁCH VIỆT thì tứ bề thụ địch

 

Lúc đó chưa có danh từ Tàu hay Trung Hoa là 2 danh từ phục vụ cho Chánh Trị.

Danh từ Trung Hoa phát xuất từ Lã Hậu muốn đánh Triệu Đà vào năm 183BC, danh từ Tàu là Triệu Đà đặt ra để khinh miệt bọn người phương Bắc ngông cuồng vào năm 182BC sau khi chiến thắng.

Không có danh từ Hán Tộc mà chỉ có danh từ Hán Dân, tức thần dân nhà Hán. Thần dân là người dân thần phục triều đình, bảo sao thì phải nghe làm vậy

3.      Vào năm 257BC bọn Nhâm Ngao giúp Thục Phán (Lãnh Vương vùng Âu Việt, tức Quảng Tây ngày hôm nay lật đổ chế độ Dân Chủ Phân Quyền của Hùng Vương thứ 18 để thay thế bằng Chế độ Quân Chủ Chuyên Chế do Âu Việt Lãnh Đạo với sự phụ giúp của Lạc Việt nên ông đổi quốc hiệu Văn Lang thành "Âu Lạc"

Ø  Lúc này Triệu Đà mới được 1 tuổi. Ông sinh ở vùng Chiết Giang, Ngô-Việt

 

 

Ý nghĩa ngày Quốc Tổ:

Dân Việt chia lịch sử ra làm 2 đoạn: Lập Quốc và Giữ Nước.

Thời kỳ lập quốc (2.879BC-257BC)

Vì thế nên mới có ngày Quốc Tổ để tưởng nhớ công đức các thế hệ trong 18 triều đại Hùng Vương đã có công biến Liên Bang Việt thành chủng tộc Việt.

Ngày Quốc Tổ là ngày hội 3 ngày để cùng nhau bàn về chánh trị giữ nước của các thế hệ đương thời, đừng phụ lòng các bậc tiền bối đã hy sinh để chúng ta có ngôi nhà xum họp trong tình nghĩa Đồng Bào. Nhưng khi nô lệ thì không được hội thảo chánh trị nên người xưa núp dưới danh Giỗ Tổ để dấm bếp ủ lò chờ thời cơ.

Vì lý do này, theo kinh dịch thì các cụ chọn ngày 9, tháng 3 là con số âm dương hòa hợp, ngũ hành tương sinh.Coi thêm tủ sách Việt Thường (HOUSTON)

Lúc ban đầu là ngày mồng 9 tháng 3 Miêu Lịch, ngắm sao định mùa của nhà nông; nay ta gọi là Việt Lịch cho dễ nhớ.

Lúc đó chưa có âm lịch. Âm Lịch do Mã Viện đem qua vào năm 43AD để tiêu diệt văn minh Việt Lịch rồi nói rằng: Người Việt từ Tàu mà ra; vì lười suy luận nên ông cha chúng ta, với đầu óc nô lệ, dạy dỗ chúng ta những điều sai lầm, nay chúng ta phải điều chỉnh lại.

Thời kỳ giữ nước:

1.      Năm 250BC, tức năm thứ 7 dưới triều đại Thục Phán, người dân mới lập Đền để thờ các thế hệ đã có công dựng nước mà ta gọi là Đền Hùng ở Lâm Thao là nơi họp việc nước ngày xưa của các vị vua Hùng.

·          Đền không phải là Lăng-tẩm nên ở dưới chẳng có chi hết trọi.

·          Ngày mồng 10 tháng 3 là ngày trời tháng đất để ghi nhớ công đứng người xưa mà bàn về việc làm ngày nay. Tức là có 3 ngày để toàn dân hội luận chánh trị giữ nước.

·          Lúc đầu gọi là ngày quốc Tổ, khi nô lệ thì mất quyền hội luận chánh trị nên phải cải danh là ngày Giỗ Tổ để dấm bếp ủ lò.

·          Nghi thức Tế Lễ là thông điệp nói lên quan niệm về cuộc sống và sự chết của con người. Theo nghi thức thì Tổ Tiên chúng ta không tin thuyết luân hồi, trời phật thần thánh chi cả mà chỉ tin vào anh linh tổ tiên phù hộ mà thôi: Sống về mồ về mả chứ chẳng ai sống vể cả bát cơm (Văn Hóa của tổ Tiên vào 200BC là như thế đó - học làm nguời trước khi học kiếm cơm: tiên học Lễ, hậu học Văn là thế đó).

2.      Năm 213BC, vì Nhâm Ngao qua đời sau trận đánh ở Hồ Nam với quân của nhà Tần là Tướng Đồ Thư (vào năm 213BC) nên Triệu Đà lên thay để lãnh đạo quân Kháng Chiến Ngô-Việt.

3.      Năm 208BC, lợi dụng nhà Tần nguy khốn, Hạng Võ (về sau làm vua nước Sở) hợp lực với quân kháng chiến ở Quảng Đông về giải phóng nước Sở, thừa thắng ông liền tiến đánh Hàm Dương với sự hợp tác của kháng chiến Lưu Bang từ Thiểm tây đánh xuống.

Lúc này, mặt trận phía Bắc và phía Tây được giải toả, Triệu Đà liền tiến đánh Thục Phán cái rụp (hậu quả của tinh thần vọng ngoại) và đổi Quốc Hiệu Âu Lạc thành Nam Việt sau khi lên ngôi vua với niên hiệu Triệu Vũ Vương vào năm 207BC; có nghĩa là: Phía nam sông Dương Tử là đất của người Việt, Ngô với Việt là một; kẻ thù của chúng ta là người phương Bắc.

 

Lúc này chưa có nhà Hán, Lưu Bang phất cờ chống Hạng Võ vào năm 206BC, khi thành công thì ông lấy miếu hiệu là Hán Cao Tổ, miếu hiệu này đã nói lên sự lưu manh của ông ta rồi.

 

 

NÔ LỆ nhà TÂY HÁN 111BC: CÓ hay KHÔNG?

4. Năm 111BC, nhà Triệu suy yếu thì bị nhà Tây Hán (kinh đô ở Tràng An), dưới triều Hán Vũ Đế tấn chiếm.

Khi vừa chiếm xong thì Tràng An lọt vào tay Mãng Vương nên phải kéo quân về dẹp loạn. Sau này danh Tướng Lý Thường Kiệt mới có câu: Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Nam quốc Sơn Hà Nam Đế cư, Tiệt nhiên định mệnh tại thiên thư. Sơn hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư).

Như vậy thì nước Nam đâu có nô lệ nhà Tây Hán? Tuy không nô lệ nhưng hệ thống hành chánh "Lệnh vua còn thua Lệ Làng" đã bị phá hủy từ trong tâm can con người từ thời Thục Phán, cho nên Hai Bà mới thua trận vì chưa tạo được sức mạnh đoàn kết toàn dân….Ta thấy sử chép: Quân Vương các nơi về tụ nghĩa ở Mê Linh và tôn 2 bà lên làm vua để thống nhất lòng người..... Chữ tôn có nghĩa là bàu

5. Hai bên đánh nhau mãi đến năm 24DC, tức 135 năm sau thì Hán Kiến Võ mới diệt xong Mãng vương và đóng đô ở Lạc Dương, phía đông Tràng An nên gọi là nhà Đông Hán.

Sau 5 năm ổn định chánh trị thì vua Quang Vũ (hiệu Hán Kiến Võ) nhòm ngó nước Nam nên bên ta sai sứ đem quà biếu (cống phẩm) sang cầu hòa. Hòa không xong thì đi về sửa soạn binh mã nghênh chiến.

Bọn Tàu lưu manh, lợi dụng người mình không hiểu ngôn từ nên chúng dựng đứng Cống Phẩm là phẩm vật của chư hầu đem biếu Đế Quốc, như Tá Điền đem quà cáp biếu chủ ruộng vậy. Nếu quả đúng như vậy thì phải mang cồng phẩm vào chầu vào năm thứ 24 chứ tại sao lại đợi mãi đến 5 năm sau mới đem sang, đó là tội khinh quân, bị xử chém.

Ø  Sở dĩ chúng ta không nhìn ra là vì sử chép lấy năm Jésus sinh làm mốc; còn chép theo kiểu biên niên, lấp năm vua lên ngôi làm mốc thì người đọc nhận ra ngay tức thì.

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil