T84 - Khổ nhục kế
T84(a) - Khổ nhục kế
Livestream ngày 23.06.2022
soạn giả : Hoàng Đức Phương
CÂU TIỄN THOÁT CHẾT
THOÁT HIỂM bằng cách đánh vào lòng Nhân Từ của kẻ thù.
Kế
này thì Đức Thánh Trần đã dùng và Hoàng Đế Quang Trung cũng đã áp dụng
Nhờ
Văn Chủng lấy lòng và biếu xén thường xuyên nên Bá Hy nói tốt cho Câu Tiễn,
nhưng Ngũ Tử Tư đọc được tư tưởng thâm sâu của vua tôi Câu Tiễn nên xúi Ngô Phù
Sai giết đi để trừ hậu họa.
Hôm
đó Phù Sai gọi lên để hạch tội rồi giết, nhưng đau bụng nên hoãn hỏi tội.
Vế
sau được Bá Hy cho biết mục đích gọi lên để giết nhưng đau bụng đến nay chưa khỏi.
Phạm Lãi hỏi bệnh tình ra sao thì Bá Hy nói hết các triệu chứng. Nhờ đó mà Phạm
Lãi là Thày thuốc nên biết ngay là bệnh THƯƠNG HÀN, vì tóc rụng.
Diễn
biến của bệnh Thương Hàn là tóc rụng. Trong 40 ngày thì chết ; nếu không
chết thì khỏi bệnh . Nhưng phải ăn đồ nhẹ dễ tiêu trong vòng 7 ngày, để ruột hoạt
động trờ lại, da cứng thì mới ăn đồ cứng
được. Sau đó ăn trả bữa trong 3 ngày thì hoàn toàn dứt bệnh.
Vì
biết rõ tiến trình của bệnh Thương Hàn nên Phạm Lãi xúi Câu Tiễn nếm cứt để
đánh vào lòng nhân từ của Phù Sai để được thả.
·
Câu Tiễn bảo dù sao thì ta cũng là vua, nhục như vầy đủ rồi, nay
phải giữ thể diện cho dân tộc chứ.
·
Phạm Lãi ôn tồn bảo : Nhục thì đằng nào cũng nhục rồi. Cùi
không sợ hủi. Nay ông chịu nhục thêm bước nữa nó tha thì ông mới có dịng nói
chí lớn của ông cho thiên hạ biết. Còn ông để nó giết thì ông mang nhục ngàn
thu.
Ông
hãy nghe tôi làm như sau :
Trước
hết ông nói với Bá Hy xin vấn an 3 ngày trước khi khỏi bệnh.
Kế đến
ông chọc giận để nói nổi cơn tam bành vì sao ông dám tự tiện đến vấn an.
Vì nổi
khùng nên nói xổ ra và ông xin phép được nếm cứt để đoán bệnh.
Vị
chua là bao nhiêu bệnh đang thoát ra khỏi cơ thể.
Vị
chát là cơ thể hồi phụ, tức dứt bệnh
Vị
ngọt là cơ thể hồi sinh như cũ.
Ông
lấy ngón tay chỏ chấm nhẹ vào cứt rổi đưa lên mồm nếm, trong khi đó thì tay
trái ông rút cái dẻ lau bẩn ở trong túi nâng tay phải lên và liếm bên cạnh, làm
ảo thuật che mắt thiên hạ.
Sau
đó ông lấy giẻ chùi mồm và cứt ở ngón tay đi rồi tung hô vạn tuế bằng cách bấm
độn ngón tay nói chính xác là 3 ngày nữa
khỏi bện….. rồi 10 ngày nữa dứt bệnh hoàn toàn ….. Bấm độn rồi tinh là 13 ngày
nữa thì sức khỏe bình phục
Câu
hỏi được đặt ra là : NAY CHÚNG TA DÙNG KẾ GÌ ĐỂ ĐÒI LẠI QUYỀN TỰ CHỦ ?
T84(b) Ý nghĩa ngày
Quốc Tổ
Livestream ngày 23.06.22
soạn giả Hoàng Đức Phương
THỜI KỲ GIỮ NƯỚC:
(từ 257BC đến nay)
1. Khoảng 600BC, nước
BÁCH VIỆT RA ĐỜI
Lãnh
vương vùng Lạc Việt (tức Quảng Đông ngày hôm nay) tên là Câu Tiễn hội nhập nước
Ngô vào nước Văn Lang (Liên bang Việt) vì bị Vua Ngô là Phù Sai làm nhục.
Sau
khi chiến thắng thì đặt niên hiệu là Việt Vũ Vương, nay ở Quảng Đông còn miếu
thờ Ngài (nơi Hạng Võ cử đỉnh) và sai 2 ông Phạm Lãi (Lạc Tướng) và Văn Chủng
(Lạc Hầu) soạn Huyền Thoại Rồng Tiên Khai quốc để tả trận đánh này cho hậu thế
rút kinh nghiệm.
Lúc
đó chưa có giấy bút để ghi ký tự (chữ viết), mà chỉ có ký hiệu ghi trên đất
nung nên Huyền thoại là một loại văn suôi ngày hôm nay. Mai mốt con cháu chúng
ta dùng máy để truyền tin, giấy bút trở thành lỗi thời không ai đọc; nên lúc đó
có thể con cháu chúng ta sẽ chê các bản văn lịch sử của chúng ta viết bằng
phương tiện ngày hôm nay. Đây là điều chúng ta phải suy nghĩ về thông điệp được
ký thác trong huyền thoại.
Ø Lúc
này biên giới nước Văn Lang lên tới tận con sông Dương Tử Giang.
Ø Việt
Vương (Câu Tiễn) dùng binh pháp Phạm Lãi đã thắng Ngô Vương (Phù Sai) dùng binh
pháp Tôn Tử.
Ø Binh
Pháp Phạm Lãi huấn luyện đặc công
mà binh pháp Tôn Tử không có. Sau này, đánh mãi nuớc Sở mà bất phân thắng bại,
tướng Chương Đàm (của Tần Thủy Hoàng) phải cải tổ lại quân ngũ theo binh pháp
Phạm Lãi mới thắng nước Sở, và gia đinh Hạng Võ phải qua Quảng Đông (thuộc Nhâm
Ngao) để xin tỵ nạn cùng ông chú là Hạng Lương.
2. Khoảng 300 năm sau
(300BC), dưới triều Hùng Vương thứ 18, người Ngô Việt làm kháng chiến do ông Nhâm Ngao (người Việt
gốc Ngô ở vùng Ngô Việt tức vùng Chiết Giang ngày hôm nay) lãnh đạo chiếm lại
nước Ngô và vùng Lạc Việt (Quảng Đông).
Họ
không thiết lập lại nước Ngô mà họ muốn thống lãnh luôn cả nước BÁCH VIỆT.
Lý
do là lúc đó bên phía Bắc là thời nhiễu nhương . Thất Quốc Tranh Hùng, phía Nam
là Văn Lang, phía tây là nước Sở binh hùng tướng mạnh. Nếu tách ra khỏi Liên Bang BÁCH VIỆT thì tứ bề thụ
địch
Lúc đó chưa có danh từ Tàu hay Trung Hoa là 2 danh từ phục vụ cho
Chánh Trị.
Danh từ Trung Hoa phát xuất từ Lã Hậu muốn đánh Triệu Đà vào năm
183BC, danh từ Tàu là Triệu Đà đặt ra để khinh miệt bọn người phương Bắc ngông
cuồng vào năm 182BC sau khi chiến thắng.
Không có danh từ Hán Tộc mà chỉ có danh từ Hán Dân, tức thần dân
nhà Hán. Thần dân là người dân thần phục triều đình, bảo sao thì phải nghe làm
vậy
3. Vào năm 257BC bọn
Nhâm Ngao giúp Thục Phán (Lãnh Vương vùng Âu Việt, tức Quảng Tây ngày hôm nay lật
đổ chế độ Dân Chủ Phân Quyền của Hùng Vương thứ 18 để thay thế bằng Chế độ Quân
Chủ Chuyên Chế do Âu Việt Lãnh Đạo với sự phụ giúp của Lạc Việt nên ông đổi quốc
hiệu Văn Lang thành "Âu Lạc"
Ø Lúc
này Triệu Đà mới được 1 tuổi. Ông
sinh ở vùng Chiết Giang, Ngô-Việt
Ý nghĩa ngày Quốc Tổ:
Dân
Việt chia lịch sử ra làm 2 đoạn: Lập Quốc và Giữ Nước.
Thời kỳ lập quốc (2.879BC-257BC)
Vì
thế nên mới có ngày Quốc Tổ để tưởng nhớ công đức các thế hệ trong 18 triều đại
Hùng Vương đã có công biến Liên Bang Việt thành chủng tộc Việt.
Ngày
Quốc Tổ là ngày hội 3 ngày để cùng nhau bàn về chánh trị giữ nước của các thế hệ
đương thời, đừng phụ lòng các bậc tiền bối đã hy sinh để chúng ta có ngôi nhà
xum họp trong tình nghĩa Đồng Bào. Nhưng khi nô lệ thì không được hội thảo
chánh trị nên người xưa núp dưới danh Giỗ Tổ để dấm bếp ủ lò chờ thời cơ.
Vì
lý do này, theo kinh dịch thì các cụ chọn ngày 9, tháng 3 là con số âm dương
hòa hợp, ngũ hành tương sinh.Coi thêm tủ sách Việt Thường (HOUSTON)
Lúc
ban đầu là ngày mồng 9 tháng 3 Miêu Lịch, ngắm sao định mùa của nhà nông; nay
ta gọi là Việt Lịch cho dễ nhớ.
Lúc đó chưa có âm lịch. Âm Lịch do Mã Viện đem qua vào năm 43AD để tiêu diệt văn minh Việt Lịch rồi nói rằng: Người Việt từ Tàu mà ra; vì lười suy luận nên ông cha chúng ta, với đầu óc nô lệ, dạy dỗ chúng ta những điều sai lầm, nay chúng ta phải điều chỉnh lại.
Thời kỳ giữ nước:
1.
Năm 250BC, tức năm thứ 7 dưới triều đại Thục Phán, người dân mới
lập Đền để thờ các thế hệ đã có công dựng nước mà ta gọi là Đền Hùng ở Lâm Thao
là nơi họp việc nước ngày xưa của các vị vua Hùng.
·
Đền không phải là Lăng-tẩm nên ở dưới chẳng
có chi hết trọi.
·
Ngày mồng 10 tháng 3 là ngày trời tháng đất để
ghi nhớ công đứng người xưa mà bàn về việc làm ngày nay. Tức là có 3 ngày để
toàn dân hội luận chánh trị giữ nước.
·
Lúc đầu gọi là ngày quốc Tổ, khi nô lệ thì mất
quyền hội luận chánh trị nên phải cải danh là ngày Giỗ Tổ để dấm bếp ủ lò.
·
Nghi thức Tế Lễ là thông điệp nói lên quan niệm
về cuộc sống và sự chết của con người. Theo nghi thức thì Tổ Tiên chúng ta
không tin thuyết luân hồi, trời phật thần thánh chi cả mà chỉ tin vào anh linh
tổ tiên phù hộ mà thôi: Sống về mồ về mả chứ chẳng ai sống vể cả bát cơm (Văn
Hóa của tổ Tiên vào 200BC là như thế đó - học làm nguời trước khi học kiếm cơm:
tiên học Lễ, hậu học Văn là thế đó).
2.
Năm 213BC, vì Nhâm Ngao qua đời sau trận đánh ở Hồ Nam với quân
của nhà Tần là Tướng Đồ Thư (vào năm 213BC) nên Triệu Đà lên thay để lãnh đạo
quân Kháng Chiến Ngô-Việt.
3.
Năm 208BC, lợi dụng nhà Tần nguy khốn, Hạng Võ (về sau làm vua
nước Sở) hợp lực với quân kháng chiến ở Quảng Đông về giải phóng nước Sở, thừa
thắng ông liền tiến đánh Hàm Dương với sự hợp tác của kháng chiến Lưu Bang từ
Thiểm tây đánh xuống.
Lúc
này, mặt trận phía Bắc và phía Tây được giải toả, Triệu Đà liền tiến đánh Thục
Phán cái rụp (hậu quả của tinh thần vọng ngoại) và đổi Quốc Hiệu Âu Lạc thành Nam Việt sau khi lên ngôi vua với
niên hiệu Triệu Vũ Vương vào năm
207BC; có nghĩa là: Phía nam sông Dương Tử là đất của người Việt, Ngô với
Việt là một; kẻ thù của chúng ta là người phương Bắc.
Lúc
này chưa có nhà Hán, Lưu Bang phất cờ chống Hạng Võ vào năm 206BC, khi thành
công thì ông lấy miếu hiệu là Hán Cao Tổ, miếu hiệu này đã nói lên sự lưu manh
của ông ta rồi.
NÔ LỆ nhà TÂY HÁN 111BC: CÓ hay KHÔNG?
4. Năm
111BC, nhà Triệu suy yếu thì bị nhà Tây Hán
(kinh đô ở Tràng An), dưới triều Hán
Vũ Đế tấn chiếm.
Khi vừa chiếm xong thì Tràng An lọt vào
tay Mãng Vương nên phải kéo quân về dẹp loạn. Sau này danh Tướng Lý Thường Kiệt
mới có câu: Nhữ đẳng hành khan thủ bại
hư (Nam quốc Sơn Hà Nam Đế cư, Tiệt nhiên định mệnh tại thiên thư. Sơn hà
nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư).
Như vậy thì nước Nam đâu có nô lệ nhà Tây
Hán? Tuy không nô lệ nhưng hệ thống hành chánh "Lệnh vua còn thua Lệ
Làng" đã bị phá hủy từ trong tâm can con người từ thời Thục Phán, cho nên
Hai Bà mới thua trận vì chưa tạo được sức mạnh đoàn kết toàn dân….Ta thấy sử
chép: Quân Vương các nơi về tụ nghĩa ở
Mê Linh và tôn 2 bà lên làm vua để thống nhất lòng người..... Chữ tôn có
nghĩa là bàu
5. Hai bên đánh nhau mãi đến năm 24DC, tức
135 năm sau thì Hán Kiến Võ mới
diệt xong Mãng vương và đóng đô ở Lạc
Dương, phía đông Tràng An nên gọi là nhà Đông Hán.
Sau 5 năm ổn định chánh trị thì vua Quang
Vũ (hiệu Hán Kiến Võ) nhòm ngó nước Nam nên bên ta sai sứ đem quà biếu (cống phẩm)
sang cầu hòa. Hòa không xong thì đi về sửa soạn binh mã nghênh chiến.
Bọn
Tàu lưu manh, lợi dụng người mình không hiểu ngôn từ nên chúng dựng đứng Cống
Phẩm là phẩm vật của chư hầu đem biếu Đế Quốc, như Tá Điền đem quà cáp biếu chủ
ruộng vậy. Nếu quả đúng như vậy thì phải mang cồng phẩm vào chầu vào năm thứ 24
chứ tại sao lại đợi mãi đến 5 năm sau mới đem sang, đó là tội khinh quân, bị xử
chém.
Ø Sở dĩ chúng ta không nhìn ra là vì sử chép
lấy năm Jésus sinh làm mốc; còn chép theo kiểu biên niên, lấp năm vua lên ngôi
làm mốc thì người đọc nhận ra ngay tức thì.


0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil