dimanche 24 septembre 2023

T70 & 71- Điều chỉnh ngôn từ

T71(a)- Điều chỉnh ngôn từ

Livestream ngày 24/3/2022

soạn giả : Hoàng Đức Phương

 

ĐIÊU CHỈNH CÁC NGÔN TỪ DÙNG SAI

RẰNG :

Vì chánh sách NGU DÂN dễ trị nên dưới nền Giáo Dục của Thực Dân cũng như Cộng Sản họ tuyển chọn những Thày dốt, tiếng Tây không thông, tiếng Việt không rành nên bôi bác chữ Viết rồi nói rằng Tiêng Việt nghèo nàn ; người Việt sinh ra để làm nô lệ cho giống khác.

Dưới thời Thực Dân thì con dân đất Việt ca tụng Mẫu Quốc và nói rằng : May quá được người Pháp dìu dắt mới có chữ viết là chữ Quốc Ngữ (bôi bác), còn không thì Ta đã mất giống với Tàu vì ta dùng chữ Quan Thoại của Tàu mà ta gọi là chữ HÁN ; trong khi đó không có dân tộc Hán mà chỉ có nước Hán dưới triều BẠO CHÚA (thiên tử) của Lưu Bang.

Nay Việt Cộng cũng dạy con cháu chúng ta là : May quá nhờ có ánh sáng Mác Lê dẫn đường chỉ lối nên dân Ta mới biết cách sống ; con Tố Cha, vợ Tố chồng, anh em đâm chém nhau để tự diệt bằng chủ nghĩa TAM VÔ (vô gia đình, vô tổ quốc và vô tông giáo) ; con người là công cụ sản xuất cho đảng hưởng.

 

Sở dĩ dân ta lầm than như ngày hôm nay là bị nhồi sọ, cho cái sai làm cái đúng, và thiếu tư duy độc lập để phê phán ; chỉ biết ăn theo nói leo cả tin nên mới ra nông nỗi này.

Điển hình là dùng sai danh từ nên mới nói rằng tiếng Việt BA TRỢN không có quy luật rõ ràng.

 

Nay tôi xin chứng minh rằng Chữ QUốc-ngữ dùng sai danh từ nên không biết quy luật của tiếng Việt.

Bài ngày hôm nay tôi chỉ nêu ra 2 quy luật rất đơn giản mà ai cũng biết, nhưng chữ QUốc-ngữ viết ẩu thành ra ta nghĩ rằng Tiếng Việt nghèo nàn, không thanh tao nên mở miệng ra là chửi thề, văng tuịc nói phét.Sự thực không phải tại chữ viết mà là ta viết sai văn phạm và quy luật của TIẾNG NÓI nên mới dùng tiếng Việt của bọn Hạ Đẳng của bọn TAM ĐẠI BẦN CỐ NÔNG.

Tỷ dụ :

1/- Chữ BỨC-XÚC có rất nhiều nghĩa như : Bực Dọc, Lo Lắng, Lo Nghĩ, Trăn Trở, Bực Tức, Tức Tối, Cồn Cào, Thấp Thỏm, Bối Rối, Bồn Chồn …… mà ta không dùng đúng với ý nghĩa của nó nên quên đi.

Do đó mà tiếng Việt xuống cấp và tư duy trở nên nghèo, hèn, tục tĩu, hạ đẳng. Trong khi tiếng nói phải mỗi ngày mỗi phong phú, lịch lãm hơn trước

Ø  Tức vô hình chung chúng ta nói theo tiếng nói Hạ Đẳng của bọn Tam Đại Bần Cố Nông nên làm tiếngViệt nghèo đi.

 

2/- Chúng ta còn thắc mắc dùng I hay Y, mà trẻ em 8 tuổi được học Quy Luật về ÂM-VẬ của tiếng Việt đã biết phân biệt rõ ràng. I và Y phát âm khác nhau, và hình cũng khác nhau. Vậy tại sao lại lẫn chữ nọ với chữ khia được ?

Ø  Nguyên là Bác Hồ kính yêu của bọn Tam Đại Bần Cố Nông, dốt tiếng Việt, năm 1945 muốn cải cách chữ viết nên « BÁC » bảo người dân là bỏ Y đi và thay bằng I cho dễ viết, tiết kiệm thì giờ, đở tốn mực và tiết kiệm được giấy

Ø  Vì thế nên ngày hôm nay, chúng ta vì thói quen sống với bọn khỉ PẮC PÓ nên viết chữ QUÍ VỊ , dùng I ngắn. Đúng là tiếng Việt Nham Nhở, viết một dằng, phát âm một nẻo.

Ø  Quý vị hãy động não một tý thôi thì thấy liền cái ngu dốt của bọn Tam Đại Bần Cố Nông, trong đó có « Bác » Hồ. Tôi xin hỏi quý vị : Khi làm thơ gieo vần thì chữ QUÝ thuộc vần gì ? Tự nhiên Quý Vị nói thuộc vần UÝ.

Nay Quí vị viết I thì nó thuộc vần gì đây ?

Tự động Quí vị nói nó thuộc vần ÚI chứ không phải vần ÚY. Như vậy khi phát âm quí vị phải đọc là CÚI chứ đâu phải là QUÝ.

 

Cái này nó thuộc về quy luật ÂM VẬN là Bội Vận + Chính Vận = Âm Vị mà chúng ta không được học từ thời Gia Long (1802) tới nay.

Nghe Bội Vận và Chính Vận lạ tai, nhưng sự thực nhà Trần, ông Nguyễn Trãi có nói trong Quốc Âm Thi Tập  (tập sách nói về âm thanh của tiếng dân TA)

 

Vì thế nên tôi xin trình bày một vài điểm cần phải điều chỉnh danh từ của chữ QUốc-ngữ cho đúng với sự trong sáng và phong phú của tiếng Việt.

Sau đó tôi xin nói đến :

1/- Quy luật chuyển ngữ của nước người sang tiếng Việt. Chỉ có 4 cách thì tiếng mới được vun trồng cho Phong Phú, Véo Von và Trong Sáng.

2/- Quy luật gạch nối : Ý nghĩa của  gạch nối

 

Còn Quy Luật về Âm Vận xin trình bày trong kỳ sau ; vì DỤC TỐC BẤT THÀNH, ăn no bội thực.

Mưa dầm thấm đất, học nhanh thì chóng quên thành NHANH NHẢU ĐOẢNG.

Tổ tiên có câu : Tham thì Thâm, bụt đã bảo thầm rằng chớ có tham.

 

NHỮNG DANH TỪ CẦN PHẢI ĐIỀU CHỈNH LẠI

Tỷ dụ chữ Banh (B+ANH) , phát âm là banh và là 1 âm vị

·        ÂM VỊ  thay cho Âm Tiết (Vị là chỗ đứng. Tiết là đốt chỉ có trong đa âm)

·        ĐƠN ÂM (Monosylable) thay cho Độc Âm (Unisylable, chỉ có biếu kêu hay rống)

·        CHÍNH VẬN thay cho Vần (không có Chính Vận thì không có Âm Vị).

·        BỘI VẬN thay cho Thanh Đầu (bội vận là vần thêm vào để biến chính vận thành âm vị khác.

·        TỰ VỊ thay cho Tự Điển : Vị là chỗ đứng của chữ đó trong luật tra cứu, và nói lên ý nghĩa đương thời của chữ đó. Còn Điển là nguồn gốc và ý nghĩa của chữ đó lúc ban đầu ra sao, và nay như thếh nào.

·        Cách xếp chữ theo Bội Vận : C trước CH ; Cưng trước chữ CHA – N trước NG, hết NG mới tới NGH : Chữ Nút trước chữ Ngo rồi mới đến chữ NGHịch

·        Vì tiếng Việt theo quy luật Âm Vận nên khi viết hoa phải viết cả chùm Bội Vận, còn viết mỗi chữ đầu là Tây viết Chữ Việt, nên gọi là chữ TÂY LAI : Chữ NGHINH ở đầu câu phải viết là NGHinh chứ không được viết Nghinh (đó là chữ Việt lai căng)

·        Chúng ta nên nhớ là ta dùng ký hiệu LATIN nên phải theo quy luật của chữ Latin nhhhư dấu PHẢY (chỉ 1 đoạn trong câu văn). Dấu  CHẤM PHẢY chỉ câu văn sau bổ xung cho câu văn trước. Dấu CHẤM để chỉ hết câu. Viết theo hàng ngang.

Vì nói dùng để ghi tiếng Việt nên nó phải theo Quy Luật tiếng Việt để vừa ghi được Âm Thanh và ghi được HỒN trong câu văn nữa.

 

BÂY GIỜ NÓI ĐẾN QUY LUẬT CHUYỂN NGỮ VÀ GẠCH NỐI

NGUYÊN TẮC PHẢI THEO : Muốn ghi âm tiếng Việt bằng bất cứ ký hiệu nào thì bao giờ cũng phải tôn trọng cấu-trúc của câu văn Việt thì mới là người Việt nói tiếng Việt. Còn không là tiếng Việt lai-căng không rõ và khó hiểu.

 

A.- QUY LUẬT CHUYỂN NGỮ

Dân tộc nào cũng vậy, khi giao-tiếp với nước ngoài thì bao-giờ cũng phải chuyển tiếng nước người sang tiếng nước mình, đó là hiện-tượng giao-lưu văn-hóa.

Chuyển ngữ chỉ có 4 cách chính phải tôn trọng là:

1.   Việt-hóa: Biến hoàn-toàn sang tiếng nuớc mình như:

Stylo à bille gọi luôn là bút chì nguyên-tử (danh từ lịch-sử phát minh vào tháng septembre 1945).

2.   Chuyển âm: Biến âm tiếng nước người sang âm tiếng nước mình như Savon gọi là sà-phòng (có gạch nối và dùng chữ S chứ không phải X, vì Savon viết S).

3.   Chuyển nghĩa: Máy Photocopieur thì gọi là máy sao-chụp; tức sao y bản chánh bằng cách chụp hình (gạch nối bắt buộc vì là chữ viết tắt của một câu).

4.   Nguyên con: Thủ đô nước Nga thì viết MOSKVA và đọc theo âm của người Nga.

 

B.- QUY LUẬT GẠCH NỐI

Ý nghĩa của gạch nối :

Tiếng Việt thuộc loại ĐƠN ÂM. Nhiều khi một chùm ÂM mới có 1 nghĩa nên phải để gạch nối để nói rằng cả chùm âm này mới có một nghĩa ; nhưng khi phát âm không được kẹp díp như tiếng ĐA ÂM.

Tỷ dụ :

** xe-đạp là tên một chiếc xe 2 bánh (bicyclette - bicycle)

** xe đạp là một xe phải dùng chân đạp thì nó mới chuyển động như xe 3 bánh, xe cyclo, pédalo..

**Chữ  QUỐC-NGỮ là tên một loại chữ ghi lại tiếng nói của dân tộc (danh từ riêng)

** Chữ QUỐC NGỮ là chữ viết tiếng nói của dân tộc (danh từ chung). Chữ quốc ngữ của dân Pháp là loại chữ tượng thanh dùng ký hiệu Latin

QUY LUẬT DÙNG GẠCH NỐI :

Trường-hợp thông-thường: Cấu-trúc câu văn tiếng Việt thì lúc nào cũng là tiếng sau bổ nghĩa cho tiếng trước.

Vì tiếng Việt thuộc loại đơn-âm nên lắm khi một âm không có nghĩa mà cả chùm chữ đó mới có một nghĩa thì bắt buộc phải dùng gạch nối để nói rằng tất cả bấy nhiêu chữ mới có một nghĩa; nhưng khi đọc thì phải tách rời chứ không được đọc kẹp díp như tiếng đa-âm.

Tỷ-dụ: Chữ lôi-thôi, bì-bõm, cà-tưng, lạch-tạch-đùng ...Hoặc thấy cụt khó nghe nên thêm vào một chữ vô nghĩa như chùa-chiền, chợ-búa,...thì cũng phải dùng gạch nối.        

 

Trường-hợp chuyển ngữ: Trong cách chuyển âm nếu viết suôi mà tiếng sau bổ nghĩa cho tiếng trước thì không cần gạch nối. Còn viết suôi mà nghĩa ngược, tiếng trước bổ nghĩa cho tiếng sau thì phải có gạch nối để tôn trọng câu văn của người và đồng thời vẫn giữ được hồn của tiếng Việt.

Tỷ-dụ:

-         Người Việt nói:

 Con ngựa trắng, con ngựa đen. Ðen tuyền, trắng đốm đen hay trắng toát được dùng để bổ nghĩa cho con ngựa mang màu gì. Chữ tuyền bổ nghĩa cho màu đen và chữ toát bổ nghĩa cho màu trắng.

-         Người Tàu nói:

Con trắng ngựa (bạch-mã), chữ trước bổ nghĩa cho chữ sau. Như vậy khi chuyển âm sang tiếng Việt thì phải có gạch nối để chỉ cả chùm này mới có một nghĩa như con Bạch-Mã, Tiền-Nhân, hay Sà-phòng đi từ chữ savon của Pháp hoặc Công-ti đi từ chữ Compagnie (họ dùng chữ i nên phải viết là ti chứ không phải ty, và có gạch nối).

------------------------------------------

 

Xin giới thiệu với quý vị 3 đường dẫn sau đây, và kính mời các vị hiền tài tiếp tay cho chương trình này được phong phú.
http://nhanvanviettoc.blogspot.com  là nơi lưu trữ tài liệu để soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com  là nơi lưu trữ các bài đã soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm) từ Tiểu Học đến Trung Học.

Nơi lưu trữ 3 kinh nhật tụng
1. Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18 tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)

SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ (Đủ Bộ)
https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ (Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k

SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph

Kênh  Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ là nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu trữ vô máy.

¾

PHẦN III : XÂY DỰNG XÃ HỘI HÀI HÒA

THỰC HÀNH – từ bài T70(b) – đến T76(b)

Ø  Chúng ta phải làm gì để có thành quả mong muốn?

--------------------------

TIÊU ĐỀ PHẦN THỰC HÀNH (giúp trí nhớ)

T70 : Dân Tộc Tự Quyết - Tiến trình đi đến thể chế Dân Chủ Chế Tài

T71 : Canh Tân Con Người và Đất Nước (chương trình Nhân Văn Việt Tộc)

T72 : Ấp Chiến Lược (Phương thức của chiến lược Bảo Vệ Tự Chủ)

T73 : Đấu tranh chánh trị (chọn thế đứng trong cộng đồng nhân loại)

T74 : Bồi thường chiến tranh (nạn nhân của Nga Mỹ thử vũ khí 1945-1975)

T75 : CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC (tiêu chuẩn soạn bài giáo khoa)

T76 : Dự án về xây dựng Cộng Đồng Văn Hóa ở Quốc Nội và ở Hải Ngoại

------------------------------------------

Giai đoạn 1/4 Canh Tân Con Người và Đất Nước

Livestream T71(b) ngày 24/3/2022

soạn giải Hoàng Đức Phương

 

Giai đoạn 1/4 – Bài T71(b) / NÓI VỀ CANH TÂN

CANH TÂN CON NGƯỜI VÀ ĐẤT NƯỚC

PHẦN 2 : Canh tân não trạng, xóa mọi tư duy nô dịch.

Xét rằng :

Đây là chuyện rất khó làm là vì phần lớn không biết là có môn VĂN HÓA THUẦN VIỆT cộng với tinh thần tự kiêu tự mãn là hậu quả của nền giáo dục NÔM NA LÀ CHA MÁCH QUÉ của Gia Long ; sau đến nền giáo dục NGU DÂN DIỆT CHỦNG của giặc Pháp ; và nay nề nền giáo dục mất gốc, VỌNG NGOẠI VONG NÔ dưới chế độ Cộng Sản từ 1945 đến ngày hôm nay thì bảo sao không diệt vong nếu chúng ta không thức tỉnh họ.

Nhân tài do Thực Dân Pháp và Việt Cộng đào tạo đều là những nhân tài vừa dốt vừa kiêu lại vừa tham.

Vậy thì việc đầu tiên là phải PHỤC HỒI DÂN KHÍ để kết hợp dân tộc và để người dân tham gia vào việc nước và sinh hoạt chánh trị.

Đào tạo nhân tài về Văn để kiến thiết đất nước cũng như về Võ để bảo vệ chủ quyền Quốc Gia

Vấn đề khó là một khi não trạng đã bị hằn sâu tư duy sai lầm thì rất khó tảy rửa, dù họ biết là sai huống hồ phần lớn lại lấn cái suy nghĩ sai lầm để hướng dẫn người khác.

Dạy phương pháp luận là phương cách tốt nhất để khai thông bế tắc tư tưởng do bị nhồi sọ để mất tư duy độc lập và tinh thần phục thiện .

Muốn tiến tới mục tiêu không những phải có chương trình giáo dục, phải đào tạo Giảng Viên và Giảng Sư từ bước đầu. Ngoài ra còn phải đầu tư vào phương tiện ging dạy trong khi Quỹ Giáo Dục quá yếu kém. Vậy thì lấy tiền đâu ra…. Xin bàn tiếp về việc đòi Bồi Thường Chiến Tranh mà không ai nghĩ tới

PHẦN 3 : Phát triển đất nước sao cho bằng người.

Chúng ta cò 2 phần rõ rệt mà hiện nay chúng ta chỉ được học có một nửa để xây dựng não trạng VỌNG NGOẠI, VONG NÔ.

a/- HỌC ĐỂ THÀNH NGƯỜI VIỆT TỐT

Biết sống cho mình và cho người - với câu chúc trong lễ thành hôn : RỒNG TIÊN SONG HIỆP.

Môn học này thuộc về khoa Nhân Văn Việt Tộc do chính các sỹ phu nước Việt soạn thảo thì mới truyền đạt được cái Tâm và cái Hồng của dân Việt cho học viên từ thiếu Nhi đến Thiếu Niên và Tráng Niên.

Chúng sẽ là chủ nhân ông đất nước sau này. Chương trình dự trù là 10 năm mà chúng ta đã học rồi trong phần 1 và phần 2 (Phục Hồi Dân Khí và Khai Phóng Dân Trí)


b/- HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC: Môn học này thuộc về ĐẤU TRANH CHÁNH TRỊ.

Chúng ta bắt buộc phải học hỏi kỹ thuật của Tây Phương và cách tổ chức xã hội theo Văn Minh Điện Tử ; từ cách suy nghĩ đến cách tổ chức và cách làm việc theo khả năng chuyên môn. Mục này xin nhường cho các vị NHO TÂY là sở trường của họ.

Do đó chúng ta cần sự đóng góp của đồng bào hải ngoại về khà năng chuyên môn của họ, nhưng cương quyết bảo vệ Nhập Gia Tùy Tục để chối bỏ nếp sống Việt Lai .Không phải là kỳ thị, chỉ vì chúng ta đã dày công xây dựng Văn Hóa Thuần Việt (có Việt Giáo,  Việt Đạo và Việt Triết) rồi nên nếu chấp nhận các nền Văn Hóa Việt Lai thì đất nước sẽ gây chia rẽ khủng khiếp, vô phương hàn gắn.

Hãy coi Nền Văn Hóa Việt Nô Cộng Sản , mà bọn mất gốc cho là SIÊU PHÀM XUẤT CHÚNG đem du nhập vào để anh em giết nhau theo phong trào ghen ăn : GIAI ẤP ĐẤU TRANH, đã gây tác hại như thế nào rồi.

Nên nay chúng ta phải hết sức thật trọng không những văn hóa lai căng mà ngay cả tôn giáo cũng chỉ là Triết Lý cao siêu, nếu đem du nhập toàn bộ sẽ gây ra chiến tranh tôn giáo, và người Việt sẽ giết nhau vì sự du nhập Triết Lý ngoại lai.

Triết Lý ngoại lai không thể nào phù hợp với Tâm Việt và Hồn Việt và tinh thần ĐỒNG BÀO mà tổ tiên chúng ta đã dày công vun trồng từ ngày lập quốc (2.879BC) đến nay.

Khi vun trồng học thuyết Rồng Tiên thì đất nước hưng thịnh như thời Hùng Vương với học thuyết Rồng Tiên, thời Lý, thời Trần, thời Tây Sơn, thời Cộng Hòa…

Khi không được vun trồng thì đất nước suy tàn vì người dân đã mất Hồn Việt nên không thiết giữ nước. Dó là nguyên nhân ất nước

·        Đừng lo độc lập không tới, mà chỉ sợ người dân không thiết gữi , hay không đủ sức để gữ mà thôi (Phan Bội Châu Tự Phán)

·        Vậy thì phải Phục Hồi DÂN KHÍ bng Văn Hóa Thuần Việt và Khai Phóng Dân Trí để toàn dân xây dựng VIỆT LỰC

----------------------------------------------

 

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil