dimanche 24 septembre 2023

T72- Quy Luật ÂM VẬN CỦA TIẾNG VIỆT

T72(a)- Quy Luật ÂM VẬN CỦA TIẾNG VIỆT

Livestream ngày 31.03.2022

soạn giả : Hoàng Đức Phương

 

QUY LUẬT ÂM VẬN CỦA TIẾNG VIỆT

 

PH ÂN LO ẠI

 

Người ta chia 29 chữ cái làm 2 loại:

-         Phụ-âm là ký hiệu tự nó không phát ra âm được

-         Nguyên-âm là ký hiệu tự nó có thể phát ra âm được, nhưng chia làm 2 loại:

1.      Nguyên-âm có nghĩa là: A, E, Ê, Y, O, Ô, Ơ, U và Ư

2.      Nguyên-âm vô nghĩa là: Ă, Â, I, U (chữ U lúc thì có nghĩa, lúc thì vô nghĩa)

Cách phát âm:

-         Phụ-âm thì phát âm theo chữ khi đứng một mình, khi ghép với chữ khác thì thành Bội-vận nên phải phát âm theo vần.  Tỷ dụ: B là chữ cái thì phát âm là Bê, còn BAN thì phát âm là Bờ+AN, vì BAN là một chữ để ghi một tiếng nói nên lúc này B mang chức năng là Bội-vận (vần thêm vào vần chính để thành một âm-vị khác.

 

QUY-LUẬT  ÂM-VẬN

Ðịnh nghĩa

Âm-vị: Tiếng Việt không có âm-tiết mà chỉ có âm-vị thôi. Tiết là đốt, còn vị là chỗ đứng. Mỗi tiếng nói có vị trí về tần số âm thanh của nó trong toàn bộ âm thanh tiếng Việt

 

Âm-vận: Trong tiếng Việt mỗi âm-vị thường có 2 âm-vận. Ðây là mấu chốt của quy-luật âm-vận để viết cho đúng cách. Hai vần đó được gọi là :

Ø  Bội-vậnChính-vận.

§  Bội-vận là vần đi trước chính-vận để biến chính-vận thành âm-vị khác.

§  Chính-vận là vần đi sau. Không có chính-vận thì không có âm-vị. Ngược lại không có bội-vận thì chính-âm đã tạo được âm-vị rồi.

Bội-vận là sự tập hợp của các phụ-âm tính từ trái qua phải.

Chính-vận bắt đầu từ nguyên-âm đến hết chữ.

 

Chính-âm và biến-âm:

Chính-âm là âm chính (chữ không có dấu). Biến-âm là chữ có dấu bằng tay (huyền, sắc, hỏi, ngã, và nặng) để biến cách phát âm của Chính-vận; vì thế nên dấu phải để trên Chính-vận.

·        Chính vận nào cũng có nguyên âm ; nên dấu phải để trên nguyên âm.

 

Âm-giai (âm-điệu):

Vì mỗi Chính-vận có 6 âm nên tiếng Việt được chia làm 3 âm-giai:

-         Bình (không dấu và dấu huyền).

-         Trầm (dấu ngã và nặng).

-         Bổng (dấu sắc và hỏi). T

Tiếng Tàu có 4 âm nên chia làm 2 âm giai Bằng và Trắc. Tiếng Tàu âm hỏi và sắc giống nhau

 

Chức năng

35 ký hiệu được phân loại như sau

§  22 chữ cái chính lấy từ bảng-mã Latin là:

A, B, C, D, E, G, H, I, Y, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U, V, X.

§  7 chữ cái biến dạng bằng dấu hiệu môi và lưỡi là:

Ð, Ă, Â, Ê, Ô, Ơ, Ư.

§  5 dấu hiệu bằng tay dùng để biến-âm của chính-vận là:

Huyền, Sắc, Hỏi, Ngã, Nặng.

 

Vị-trí của dấu:

Các dấu này chỉ dùng cho chính-vận mà thôi: Do đó các dấu phải nằm trên chính-vận chứ không được để trên bội-vận. Theo quy-ước thì dấu ở trên hay dưới nguyên-âm, vì nguyên-âm đại diện cho chính-vận. Nếu chính-vận có 2 nguyên-âm thì để ở đâu cũng được miễn đẹp mắt thì thôi. Còn 3 nguyên âm thì phải để ở nguyên-âm chính giữa.

 

Phân loại:

 Phụ-âm và Nguyên-âm:      

§  Phụ-âm là chữ cái tự nó không phát ra âm được; phải đi với chữ khác mới phát được ra âm. Do đó mỗi phụ-âm đều có 2 cách phát âm: Theo chữ cái hay theo bội-vận là tùy theo chức năng của nó.

§  Nguyên-âm là chữ cái tự nó đã phát ra âm rồi; nhưng có 2 loại là nguyên-âm vô nghĩa và nguyên-âm có nghĩa.

-         Chữ Ă, chữ Â và chữ I thuộc loại nguyên âm vô nghĩa.

-         Chữ U lúc thì có nghĩa; nhưng khi đi với chữ Q để thành bội vận QUờ thì lại vô nghĩa

 

Bội-vận:

Tiếng Việt có tất cả 27 bội-vận được chia làm 3 loại là: Ðơn (16), Kép (10) và Mền (1)

1.      Bội-vận đơn có một phụ-âm:

B, C, D, Ð, G, H, K, L, M, N, P, R, S, T, V và X.

2.      Bội-vận kép có 2 phụ-âm:

CH, GH, GI, KH, NG, NH, PH, QU, TH. TR.

3.      Bội-vận mền có 3 phụ-âm: NGH.

 

Chính-vận:

Chính-vận bao giờ cũng bắt đầu bằng nguyên-âm. Không có nguyên-âm không thể thành chính-vận được. Chính-vận cũng được chia làm 3 loại: Ðơn, Kép và Mền.

1.      Chính-vận đơn có 1 nguyên âm như: an, ung, in.....

2.      Chính-vận kép có 2 nguyên âm như:

oanh, ai, ui, ươn; oong (boong tầu, đi-đoong).....

3.      Chính-vận mền có 3 nguyên âm như:

ươi, yêu, uỷu (khúc-khuỷu quanh co), ......

 

Tổng số âm-vị:

Tiếng Việt có tất cả 27 bội-vận (đơn, kép và mền), và tối đa là 900 chính-vận (đơn, kép và mền). Ðếm kỹ thì thấy tiếng Việt có tất cả 150 chính-vận không dấu, nhân với 6 (5 cái dấu và 1 cái không dấu) thành ra 900 chính-vận, trong đó có chính-vận cụt và chính-vận câm.

 

Chính-vận cụt là chính-vận chỉ có 2 vần thay vì 6 vần (chữ không dấu đọc giống chữ có dấu sắc) như AC, AT, ACH chỉ có ÁC và ẠC; ÁT và ẠT; ÁCH và ẠCH. Chữ không dấu là chữ vô nghĩa.

 

Chính vận câm là 6 âm tuy viết được nhưng không thể phát âm được như

ĂCH, ÂCH, , ATH, ĂTH, ÂTH.

 

Vị chi tiếng Việt có tối-đa 25.200 âm-vị (27 bội-vận+1 cái không bội-vận là: 28x900= 25.200 âm-vị). Tuy chỉ có 25.200 âm-vị nhưng tiếng Việt thuộc loại phong-phú trong khi các dân tộc khác phải có ít nhất là trên 30.000 tiếng thì mới được gọi là đầy đủ để diễn tả tư-tưởng. Trang 

Sở-dĩ phong phú là vì tiếng Việt có rất nhiều tiếng gồm 2, 3 hay 4 âm-vị mới có một nghĩa như long-tong, bì-bõm, lạch-tạch-đùng hay lạch-tà lạch-tạch, bì-bà bì-bõm; mà những người lập dị gọi là tiếng đa âm.

Do đó không thể bỏ gạch nối được. Nếu bỏ gạch nối là âm-vị sau bổ nghiã cho âm-vị trước, còn có gạch nối là bấy nhiêu âm-vị mới có một nghĩa.

 

Tỷ-dụ:

Xe-đạp là danh từ riêng để chỉ chiếc xe 2 bánh thuộc loại xe phải đạp thì nó mới chạy (bicyclette). Còn xe đạp không có gạch nối là chỉ một loại xe phải dùng chân đạp thì nó mới đi như xe 3 bánh (tricycle), pédalo, cyclo…; để phân biệt với xe kéo, xe đẩy, xe máy, xe hơi, xe bò, xe ngựa....

Chợ-búa là đi chợ mua đồ, còn chợ búa là cái chợ chuyên bán búa.

Ø Rõ ràng viết theo quy-luật gạch nối thì mới ghi được hồn tiếng Việt. Bỏ gạch nối là điều không nên làm. Còn cứ theo thói quen là làm rối rắm tiếng Việt đi.

-----------------------------------------
Giai đoạn 1/4 –

T72(b) Bàn về Ấp Chiến Lược

Livestream ngày 31.03.2022

Điều hợp viên Hoàng Đức Phương

 

PHẦN III : XÂY DỰNG XÃ HỘI HÀI HÒA

THỰC HÀNH từ T70(b) đến T76(b)

Chúng ta phải làm gì để có thành quả mong muốn ?

-----------------------

TIÊU ĐỀ CỦA PHẦN THỰC HÀNH (giúp trí nhớ)

T70 : Dân Tộc Tự Quyết - Tiến trình đi đến thể chế Dân Chủ Chế Tài

T71 : Canh Tân Con Người và Đất Nước (chương trình Nhân Văn Việt Tộc)

T72 : Ấp Chiến Lược (Phương thức của chiến lược Bảo Vệ Tự Chủ)

T73 : Đấu tranh chánh trị (chọn thế đứng trong cộng đồng nhân loại)

T74 : Bồi thường chiến tranh (nạn nhân của Nga Mỹ thử vũ khí 1945-1975)

T75 : CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC (tiêu chuẩn soạn bài giáo khoa)

T76 : Dự án về xây dựng Cộng Đồng Văn Hóa ở Quốc Nội và ở Hải Ngoại

---------------------------------------------

Giai đoạn 1/4 - Bài T72(b) Bàn về Ấp Chiến Lược

Livestream – ngày 31/03/2022

 

Giai đoạn ¼

T72(b) – ẤP CHIẾN LƯỢC (Canh tân hệ thống hành chánh)

PHẦN 4 :

Cái nhìn tồng quát về việc xây dựng cộng đồng Văn Hóa Thuần Việt để bảo vệ sức sống của dân Việt chống lại sức mạnh bắp thịt .

Chúng ta có 2 cộng đồng phải xây dựng Cộng Đồng , liên kết trong goài để dựa vào nhau mà vươn lên.

Đó là cộng đồng Quốc Nội (bảo vệ sức sống của nòi Việt) và cộng đồng Hải Ngoại (phát huy bản sắc dân tộc).

 

Cách xây dựng sẽ nói riêng trong buổi học khác.

Bây giờ chúng ta bàn về việc xây dựng hành chánh cùng đội ngũ cán bộ XÂY DỰNG NÔNG THÔN dưới thời đệ nhất CONG HÒA :


Ấp chiến lược là gì?  Tổ chức ra sao?

Ấp chiến lược là chiến lược vào vệ tự chủ với quan niệm Toàn Dân giữ nước chứ không phải triều Đình giữ nước (hội nghị Diên Hồng chẳng hạn).

Nguyên tắc này không có gì gọi là mới mẻ cả, đó là hệ thống Làng Xóm có từ thời Hùng Vương (2.789BC) ; dân cư sống trong đó rất là hiền hòa với quan điểm như đã nói ở trên là : Kết hợp với nhau bằng Tâm, cư xử với nhau bằng Đức, bình đẳng tột cùng và thân thương tột độ (ý niệm của bọc trứng 100 con).

Ở thời điểm Hùng Vương cách tổ chức nó đơn giản nhiều, vì xã hội lúc đó đơn sơ. Nay muốn tiến tới mục tiêu đó thì cách tổ chức phải hợp thời mà ta gọi là thức thời hay tân tiến.

²

Ở thời điểm đó (1954)

Thứ nhất là : Suy thoái mọi mặt

Xã hội đã hoàn toàn tan rã, văn hóa mỗi ngày mỗi suy đồi, đó là thực tại mà ta không thể chối cãi được.

Do đó muốn trở lại khuôn phép thì phải cưỡng bách. Cưỡng bách để thăng tiến để tự làm chủ mình và có lợi cho chính bản thân người bị cưỡng chế chứ không phải cưỡng bách để bóc lột biến người đó thành nô lệ. Tỷ dụ cưỡng bách lao động thì người bị cưỡng chế phải được hưởng trọn vẹn thành quả của mình, học cưỡng bách giáo dục thì phải miễn phí và trợ cấp cho gia đình nghèo thiếu hoàn cảnh cho con đi học.

Mà sự cưõng chế này phải đi đôi với kết quả dự trù.

Do đó phải có sự giám sát thường xuyên của người dân để quốc Hội kịp thời cảnh cáo hay thu hồi quyền hạn.

 

Thứ nhì là : Giải quyết khó khăn nội tại.

Làm sao để người dân sống trong Ấp Chiến Lược thấy mình có tình xóm giềng (tình người), có an ninh và đời sống thoải mái hơn là sống bên ngoài.

Ngoài ra còn phải làm sao để họ có thì giờ đóng góp vào việc cộng đồng của ấp, đồng thời có thì giờ để học tập cho sớm thoát cảnh lạc hậu và cộng đồng đồng tiến bằng cách giao lưu văn hóa với các ấp trên toàn quốc.

 

Thứ ba là : Giải quyết khó khăn ngoại lai thi đua vũ khí.

Làm sao để sau này họ tham gia vào sinh hoạt của đất nước, tức là làm chánh trị với quan niệm toàn dân giữ nước chứ không phải triều đình giữ nước.

Ø  Đất nước là của toàn dân chứ không phải của thành phần lãnh đạo.

²

Chánh quyền được bàu lên là để giải quyếty 3 vấn đề căn bản này.

Do đó chánh quyền Ngô Đình Diệm đệ trình phương thức để Quốc Hội phê chuẩn. Phương thức giải quyéết đó là :

-         Gom dân vào trong Ấp để có sinh hoạt tập thể.

-         Lo đời sống kinh tế cho từng gia đình một bằng cách cấp ruộng và vườn cho họ tự canh tác để có đời sống kinh tế tự chủ với một lượng thời gian là 1/3 thời gian sinh hoạt hàng ngày (theo tiêu chuẩn lúc đó là 8 tiếng lao động trong một ngày, và 6 ngày làm việc trong một tuần lễ 7 ngày, trừ các ngày quốc lễ thì không tính)

-         1/3 thời lượng lao động là làm công tác xã hội để cải thiện đời sống trong ấp như xây trường học, đào giếng lấy nước để làm quen với sự hy sinh cho tập thể và tập thể bảo vệ hạnh phúc cho cá nhân đặng sau này còn tham gia vào chính trường của đất nước.

-         1/3 thời lượng còn lại dùng để học tập với mục đích xóa bỏ giặc chậm tiến để cộng đồng trên toàn quốc đồng tiến cùng một nhịp với nhau.

-         Hàng năm còn phải lo giao lư văn hóa với địa phương khác đặng định rõi ấp mình đứng ở chỗ nào trên toàn quốc. Có giao lưu văn hóa thì mới có tình yêu quê hương. Có tình yêu quê hương thì mới dấn thân bảo vệ Tự Chủ của dân tộc, trong đó có hạnh phúc của chính mình.

-         Con trẻ dưới 18 tuổi bắt buộc phải đến trường để học làm người Việt tốt. Nhà trường có bổn phận phải trang bị đầy đủ hành trang Việt Học cho các em trước khi bước chân vào đời để các em xây dựng một xã hội lành mạnh với tình người và nền kinh tế tự chủ, phong phú ít nhất là trong ấp của mình. Có như vậy thì mới xóa đi được tính ích kỷ chiếm công vi tư.

Vì thế nên chúng ta mới thấy các sinh hoạt khởi sắc như sau:

Học vấn:

Thành lập Học Viện Quốc Gia Hành Chánh (tức Học Viện Chánh Trị), trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, trường Cảnh Sát, Mật Vụ, trường chuyên ngành như Ngoại Giao, Kinh Tế, Kỹ Thuật ....... hay kiến thức tổng quá với châm ngôn: Ngày nay học tập, ngày mai giúp đời.

Đời sống tập thể:

Thành lập đoàn Thanh Niên và Thanh Nữ Cộng Hòa, đoàn Cán Bộ xây dựng nông thôn.

Đó là những tổ chức mà chúng ta biết.

Cứ thẳng thắn mà nói thì cung cách tổ chức này là huấn luyện nhân tài để toàn dân bảo vệ đất nước chứ không phải kéo bè kết đảng để bảo vệ phe nhóm như đảng Việt Cộng đã và đang làm để dễ bề tước đoạt quyền sống của người dân.

¾

Xin giới thiệu với quý vị 3 đường dẫn sau đây, và kính mời các vị hiền tài tiếp tay cho chương trình này được phong phú. http://nhanvanviettoc.blogspot.com  là nơi lưu trữ tài liệu để soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com  là nơi lưu trữ các bài đã soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm) từ Tiểu Học đến Trung Học.
Nơi lưu trữ 3 kinh nhật tụng
1. Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18 tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)
SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ (Đủ Bộ) https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ (Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k
SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph
Kênh  Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ là nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu trữ vô máy.

-----------------------------------------------

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil