T75 - XƯNG HÔ ĐỘC ĐÁO
T75 - XƯNG HÔ ĐỘC ĐÁO
Livestream ngày21.04.2022
soạn giả: Hoàng Đức Phương
CÁCH XƯNG HÔ ĐỘC ĐÁO CỦA DÂN VIỆT
Dân Việt có cách
xưng hô độc đáo bắt nguồn từ câu chuyện Rồng Tiên khai quốc, 100 trứng 100 con
được viết thành văn bản vào thời điểm 600 năm trước Thiên Chúa ra đời.
·
Đó là cách xưng hô trong gia đình, theo vai-vế.
Xưng là tự cho mình một chỗ đứng trong đại gia đình.
Hô là cho người đối thoại một chỗ đứng trong cùng đại
gia đình của mình; dù người đó không có liên hệ máu mủ chi cả. Đây là vai vế
tương ứng (similitude); như bạn của chị mình thì gọi là chị là anh hay là bác.
Còn bạn của em mình thì gọi là em, là chú, cậu, cô hay dì là tùy thuộc vào bạn
gái hay bạn trai và tuổi tác.
Gia đình gồm 3 thế hệ liên tiếp; còn xa
hơn là gia tộc. Gia là nhà, đình là
nơi tụ họp, tộc là dòng họ
XƯNG:
Bắt buộc phải xưng
cho chính mình, chứ không thể nói thay cho người khác được. Tuy nhiên trong
trường hợp khó khăn thì có thể nói thay cho bút hiệu, danh xưng hay tên của tổ
chức, hội đoàn. Tức là ta xưng thay cho người vắng mặt; mà người vắng mặt đó có
thể lại là chính ta.
HÔ:
Có thể nói thay cho
người khác được, nhưng bắt buộc phải là người có vai-vế thấp hơn ta, hay ngang
vai với ta là cùng. Tức là Hô thay cho con, cho cháu hay cho em, chứ không được
quyền Hô thay cho Anh Chị hay cho Cha Mẹ; như vậy là hỗn láo, xấc xược, vô lễ,
mất dạy, chơi trèo.... Vì lịch sự nên không ai sửa lưng mình hết; ngoại trừ
người thân.
ö
Cách Xưng và Hô được phân định theo 3 tiêu-chuẩn sau
đây:
Tình cảm, Kiến thức (về Nhân Văn) và Tuổi tác
Cái khó là làm sao dung hòa được 3 yếu tố này với nhau
trong trường hợp xung khắc rõ rệt.
Để có cái nhìn tổng quát thì tham dự viên phải thuộc
lòng sơ đồ vai-vế trong gia-đình cái đã. Sau đó mới học nguyên tắc đặt mình và
người đối-thoại với mình vào đúng vi-trí của mỗi người trong gia đình giả
tưởng.
Các vai-vế trong gia đình được thiết lập một cách
rõ-ràng trong biểu-đồ vai-vế gia đình – đính kèm.
Phải thuộc lòng để có phản xạ tự nhiên như tiếng nói,
về bên Mẹ và về bên Bố, vai trên vai
dưới, trai với gái, dâu với rể.
Dân Việt theo Mẫu Hệ nên bên Mẹ thân thiết hơn bên Bố,
nhưng Nam Nữ bình đẳng bình đẳng nên không phân biệt Nội hay Ngoại (§ bài A-04
Rồng Tiên).
Người Tàu (du-mục) lấy bạo lực làm chính nên trọng Nam
khinh Nữ, do đó mới phân chia Nội Ngoại ; nay chúng ta tạm chấp nhận tư duy nô
dịch này chỉ vì thói quen Nội và Ngoại.
ü Đó là danh xưng các vai vế lúc ban đầu, sau này vì đời sống thay đổi nên danh xưng cũng thay đổi theo. Thiết nghĩ là nên dùng danh xưng lúc ban đầu để thống nhất lòng người hơn là mạnh vùng nào thì dùng danh xưng vùng đó.
Chữ viết trong khung là vai-vế của người đó đối với
hàng con cháu. Viết đậm là người cùng huyết thống, còn gạch đít là người ngoài
nhưng do kết duyên mà thành người nhà; gọi chung chung là thông gia (nghĩa là
do cưới xin mà 2 bên trở nên thân thiết như người nhà. Chữ THÔNG có nghĩa là
nối liền với nhau; chữ GIA có nghĩa là sống chung một mái nhà). Chữ viết ngoài
khung là vai-vế của người đó đối với hàng Bố Mẹ, cùng máu-mủ thì gọi là ruột
thịt; còn do cưới gả mà ra thì gọi là dâu hay rể. Thuộc bên Vợ hay bên Chồng
thì thêm chữ Vợ hay Chồng vô.
ü
Bình thường thì
người ta chỉ hô vai-vế chính và bỏ chữ Nội Ngoại, Dâu Rể, Vợ Chồng đi.
²
NGUỒN GỐC CÁCH XƯNG HÔ TRONG GIA ĐÌNH
Cách xưng hô này
bắt nguồn từ danh từ Đồng Bào.
Đồng là cùng Bào
là bọc, có nghĩa là anh em cùng cha cùng mẹ sinh ra. Vì thế nên dân Việt gọi
nhau trong vai-vế gia đình, mà nay đã thành truyền thống rồi. Đó há chẳng phäi
là một niềm tự hào cho chúng ta hay sao?
Ghi chú:
** Trong khung : đối với thế
hệ thứ Ba
** Ngoài khung: đối với thế hệ
thứ Nhì
** Khung tròn là Trai, khung vuông là Gái.
** Gạch nối là liên hệ do hôn nhân mới có
·
Người Việt theo
Mẫu Hệ. Huyết thống di truyền theo dòng máu của người Mẹ nên anh em bên Bố (con
chú con bác) lấy nhau được, còn đôi con Dì thì không.
·
Người Tàu theo
Phụ Hệ nên bên Nội là người cùng tông không lấy nhau được, nhưng đôi con Dì thì
lấy nhau được.
·
Về Y Học thì
người cùng một dòng máu, dù là cha hay mẹ thì trong 3 đời lấy nhau không tốt,
vì có thể sinh con tật nguyền.
· Về Pháp Luật thì chẳng có nước nào cấm lấy nhau vì cùng dòng máu cả. Vì thế nên mới có danh từ Tự Do Hôn Nhân và Tự Do Luyến Ái.
PHẦN III : XÂY
DỰNG XÃ HỘI HÀI HÒA
THỰC HÀNH – từ T70(b) đến
T76(b)
Chúng ta phải làm gì để có
thành quả mong muốn ?
-------------------------------------------
T75(b) – Tiêu chuẩn của
sách Giáo Khoa Việt Tộc
Livestream ngày 21.04.2022
soạn giả Hoàng Đức Phương
T75(b) : MÔ HÌNH CỘNG ĐỒNG VĂN HÓA THUẦN VIỆT
Tiêu chuẩn viết bài Giáo Khoa:
Nhóm Nhân Văn Việt
Tộc xin đóng góp với quý vị : 17 TIÊU CHUẨN VIẾT SÁCH GIÁO KHOA để dạy con trẻ
về môn Việt giáo, Việt đạo và Việt triết
A.- VIỆT GIÁO : Giáo lý học làm người Việt (7 tiêu
chuẩn)
1/- Học
để biết Hào-khí của tổ tiên.
2/- Học
để hãnh-diện là con dân đất Việt với sự Tự-hào dân tộc.
3/- Học
để biết Tự-lực, Tự-cường.
4/- Học
để biết Tự-trọng cho người khỏi khinh.
5/- Học
để biết Cư-xử cho người kiêng nể.
6/- Học
để có Tâm Việt trong con người Việt.
7/- Học
để thấm nhuần Tư-tưởng Việt Tộc.
B.- VIỆT ĐẠO : Kết hợp dân tộc thành bó đũa (6 tiêu
chuẩn)
8/- Học để biết Việt Đạo với Tình Tự dân tộc.
9/- Học để biết Đùm Bọc nhau trong tinh thần Đồng
Bào.
10/-
Học để biết yêu quý Quê Hương thương yêu Nòi Giống.
11/- Học
để khơi động dòng máu Việt trong huyết quản của mình.
12/-
Học để có khả năng gìn giữ Quê Hương, bảo vệ Tự Chủ.
13/- Học để có tinh thần Cầu Tiến, song song đồng tiến với người văn
minh hiện đại.
C.- VIỆT TRIẾT : Triết lý sống của dân Việt (4 tiêu
chuẩn về Văn Hóa Thuần Việt)
14/- Học để biết khí phách Rồng Tiên : Uy-Dũng và Công Minh của Rồng;
Hiền từ và Nhân Ái của Tiên
15/- Học để biết Độ Lượng và Bao Dong với kẻ thù sau khi Chiến Thắng.
16/- Học để biết cách đòi lại những gì dân tộc đã mất (đấu tranh tự vệ).
17/- Học để biết ứng phó với hoàn cảnh : Đi với bụt mặc áo cà-sa ; đi
với ma mặc áo giấy
Học để xứng đáng làm người Việt tốt (giống nòi Rồng Tiên), thì không ai ưu-tư và có khả-năng dạy dỗ con em chúng ta bằng chính chúng ta, vì chúng ta là người có Tâm và Hồn Việt trong dòng máu Rồng Tiên, nay chỉ cần khơi động là có VIỆT LỰC chứ chẳng cần ông MARX, bác LENINE hay kẻ thù dân tộc là Tàu MAO dắt đường chỉ lối.
Thành phần Nguyên
Khí Quốc Gia (ƯU TÚ) của dân Việt có thừa khả năng để hướng dẫn dân Việt tiến
lên bằng người như Phó Thủ Tướng nước Đức, Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh và
nhiều vị khác.
Dân ngu, tụt hậu
là do chánh sách phá hủy nguyên khí Quốc Gia của Việt Cộng : Trí, Phú Địa
Hào đào tận gốc trốc tận ngọn với quyết tâm :
Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào,
Đánh cho chết mẹ đồng bào miền Nam.
Đánh cho nước Việt tanh banh,
Đánh cho hết giống hùng anh Tiên Rồng.
---------------------------------------------------------
KỸ THUẬT BẢO VỆ TỰ CHỦ
·
Đây
là lộ trình giáo dục phải theo thì toàn dân mới có đủ khả năng bảo vệ sự tự chủ
của mình được.
·
Việt
Lực được suy ra từ lời căn dặn của cha LẠC LONG. Sơ đồ này là chuyển ý từ thông
điệp Rồng Tiên khai quốc: 100 trứng, 100 con. Chuyện Rồng Tiên khai quốc là học
thuyết căn bản của khoa nhân văn Việt tộc.
Chuyện Rồng Tiên được dựng lên do nhu cầu chánh trị mà 2 ông Phạm
Lãi, Văn Chủng đã lồng trận đánh ‘diệt Ngô Đại Cáo’dưới dạng Huyền Thoại ở thời
điểm chưa có chữ viết (#600BC), để đem thông điệp cứu nước và giữ nước cho hậu
thế noi theo.
ü
Huyền
thoại chỉ là phần chuyên chở thông điệp. Thông điệp là triết lý của câu chuyện.
Muốn hiểu thì phải dùng tư duy huyền thoại.
ü
Xin
coi thêm Đặc San Huyền Thoại với chủ để : Bạch hóa huyền sử thời vua Hùng (2.879BC-250BC) bằng các di vật ngời
Văn Lang để lại (Nhóm Nhân Văn Việt Tộc đã ấn hành/link :
http://vanhoathuanviet.blogspot.com
B/-
TIÊU CHUẨN GIẢNG VIÊN và GIẢNG SƯ :
GIẢNG VIÊN :
·
Giảng
viên là người có khả năng truyền đạt ý nghĩa của bài học đến học viên (thiếu
nhi, thiếu niên và tráng niên.
· Điều kiện cần có là : Nắm vững bài giảng, có Tâm Việt và Hồn Việt và yêu nghề, đam mê với chức vụ.
Sau đó mới được khoa SƯ PHẠM huấn luyện về nghề nghiệp như tâm lý
học viên, cách giảng dạy. Trình độ đến đâu thì phụ trách tới đó, từ Mẫu Giáo
đến hết bậc Trung Học.
Đây là hoại Gảng Viên chuyên môn về khoa Nhân Văn Việt Tộc.
Ngoài vấn đề nghề nghiệp ra còn phải sinh hoạt hội đoàn Văn Hóa
Thuần Việt để quen với công tác sinh hoạt tập thể và cập nhật sự hiểu biết.
Ngược lại sẽ được bù đắp bởi tiền khen thưởng, yêu nghề nếu thành quả vượt quá chỉ tiêu. Đây là đội ngũ xây dựng mầm non cho tương lai đất nước
GIẢNG SƯ :
Giảng Sư là người biết cách :
·
Đặt
vấn đề
·
Giải
quyết vấn đề
·
Soạn
bài theo đúng tiêu chuẩn.
·
Huần
luyện Giảng Viện
·
Kiểm
tra thành quả của Giảng Viên
Điều kiện phải có là : Khả năng làm luận án Tiến Sỹ, làu
thông Kinh và Sử.
Kinh là những nguyên lý thiên nhiên bất biến. Sử là những sự việc
đã xảy ra trong quá khứ và do Nguyên Nhân nào tạo ra. Nay nếu hoàn cảnh đó tài
diễn thì Ta chống đỡ ra sao ?
Người giỏi thì đưa ra đề án hữu hiệu và thực thi, người kém thì đưa ra đề án dỏm hay trên lý thuyết nhưng đem ra thực hành thì trái với thành quả dự định (tức đấu võ mù)
Những người này đều là công chức được hậu đãi của NHA NHÂN VĂN
VIỆT TỘC, trực thuộc Bộ Giáo Dục và được đắc cách giám sát thường xuyên bởi
Quốc Hội.
Mới đầu còn loạng quạng, nhưng sau 3 năm sinh hoạt quen với nghề
thì thành chuyên nghiệp và đi truyền nghề cho hậu sinh như vậy môn học này sẽ
mỗi ngày mỗi phát triển.
---------------------------------------



0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil