dimanche 24 septembre 2023

T75 - XƯNG HÔ ĐỘC ĐÁO

T75 - XƯNG HÔ ĐỘC ĐÁO

Livestream ngày21.04.2022

soạn giả: Hoàng Đức Phương

 

CÁCH XƯNG HÔ ĐỘC ĐÁO CỦA DÂN VIỆT

Dân Việt có cách xưng hô độc đáo bắt nguồn từ câu chuyện Rồng Tiên khai quốc, 100 trứng 100 con được viết thành văn bản vào thời điểm 600 năm trước Thiên Chúa ra đời.

·        Đó là cách xưng hô trong gia đình, theo vai-vế.

Xưng là tự cho mình một chỗ đứng trong đại gia đình.

là cho người đối thoại một chỗ đứng trong cùng đại gia đình của mình; dù người đó không có liên hệ máu mủ chi cả. Đây là vai vế tương ứng (similitude); như bạn của chị mình thì gọi là chị là anh hay là bác. Còn bạn của em mình thì gọi là em, là chú, cậu, cô hay dì là tùy thuộc vào bạn gái hay bạn trai và tuổi tác.

 

Gia đình gồm 3 thế hệ liên tiếp; còn xa hơn là gia tộc. Gia là nhà, đình là nơi tụ họp, tộc là dòng họ

XƯNG:

Bắt buộc phải xưng cho chính mình, chứ không thể nói thay cho người khác được. Tuy nhiên trong trường hợp khó khăn thì có thể nói thay cho bút hiệu, danh xưng hay tên của tổ chức, hội đoàn. Tức là ta xưng thay cho người vắng mặt; mà người vắng mặt đó có thể lại là chính ta.

HÔ:

Có thể nói thay cho người khác được, nhưng bắt buộc phải là người có vai-vế thấp hơn ta, hay ngang vai với ta là cùng. Tức là Hô thay cho con, cho cháu hay cho em, chứ không được quyền Hô thay cho Anh Chị hay cho Cha Mẹ; như vậy là hỗn láo, xấc xược, vô lễ, mất dạy, chơi trèo.... Vì lịch sự nên không ai sửa lưng mình hết; ngoại trừ người thân.

ö

Cách Xưng và Hô được phân định theo 3 tiêu-chuẩn sau đây:

Tình cảm, Kiến thức (về Nhân Văn) và Tuổi tác

Cái khó là làm sao dung hòa được 3 yếu tố này với nhau trong trường hợp xung khắc rõ rệt.

Để có cái nhìn tổng quát thì tham dự viên phải thuộc lòng sơ đồ vai-vế trong gia-đình cái đã. Sau đó mới học nguyên tắc đặt mình và người đối-thoại với mình vào đúng vi-trí của mỗi người trong gia đình giả tưởng.

Các vai-vế trong gia đình được thiết lập một cách rõ-ràng trong biểu-đồ vai-vế gia đình – đính kèm.

Phải thuộc lòng để có phản xạ tự nhiên như tiếng nói, về bên Mẹ và về bên Bố, vai trên  vai dưới, trai với gái, dâu với rể.

Dân Việt theo Mẫu Hệ nên bên Mẹ thân thiết hơn bên Bố, nhưng Nam Nữ bình đẳng bình đẳng nên không phân biệt Nội hay Ngoại (§ bài A-04 Rồng Tiên).

Người Tàu (du-mục) lấy bạo lực làm chính nên trọng Nam khinh Nữ, do đó mới phân chia Nội Ngoại ; nay chúng ta tạm chấp nhận tư duy nô dịch này chỉ vì thói quen Nội và Ngoại.

ü  Đó là danh xưng các vai vế lúc ban đầu, sau này vì đời sống thay đổi nên danh xưng cũng thay đổi theo. Thiết nghĩ là nên dùng danh xưng lúc ban đầu để thống nhất lòng người hơn là mạnh vùng nào thì dùng danh xưng vùng đó.

Chữ viết trong khung là vai-vế của người đó đối với hàng con cháu. Viết đậm là người cùng huyết thống, còn gạch đít là người ngoài nhưng do kết duyên mà thành người nhà; gọi chung chung là thông gia (nghĩa là do cưới xin mà 2 bên trở nên thân thiết như người nhà. Chữ THÔNG có nghĩa là nối liền với nhau; chữ GIA có nghĩa là sống chung một mái nhà). Chữ viết ngoài khung là vai-vế của người đó đối với hàng Bố Mẹ, cùng máu-mủ thì gọi là ruột thịt; còn do cưới gả mà ra thì gọi là dâu hay rể. Thuộc bên Vợ hay bên Chồng thì thêm chữ Vợ hay Chồng vô.

ü  Bình thường thì người ta chỉ hô vai-vế chính và bỏ chữ Nội Ngoại, Dâu Rể, Vợ Chồng đi.

²

NGUỒN GỐC CÁCH XƯNG HÔ TRONG GIA ĐÌNH

Cách xưng hô này bắt nguồn từ danh từ Đồng Bào.

Đồng là cùng Bào là bọc, có nghĩa là anh em cùng cha cùng mẹ sinh ra. Vì thế nên dân Việt gọi nhau trong vai-vế gia đình, mà nay đã thành truyền thống rồi. Đó há chẳng phäi là một niềm tự hào cho chúng ta hay sao?

Ghi chú:

** Trong khung : đối với thế hệ thứ Ba 

** Ngoài khung: đối với thế hệ thứ Nhì

** Khung tròn là Trai, khung vuông là Gái.

** Gạch nối là liên hệ do hôn nhân mới có

·        Người Việt theo Mẫu Hệ. Huyết thống di truyền theo dòng máu của người Mẹ nên anh em bên Bố (con chú con bác) lấy nhau được, còn đôi con Dì thì không.

·        Người Tàu theo Phụ Hệ nên bên Nội là người cùng tông không lấy nhau được, nhưng đôi con Dì thì lấy nhau được.

·        Về Y Học thì người cùng một dòng máu, dù là cha hay mẹ thì trong 3 đời lấy nhau không tốt, vì có thể sinh con tật nguyền.

·        Về Pháp Luật thì chẳng có nước nào cấm lấy nhau vì cùng dòng máu cả. Vì thế nên mới có danh từ Tự Do Hôn Nhân và Tự Do Luyến Ái.

PHẦN III : XÂY DỰNG XÃ HỘI HÀI HÒA

THỰC HÀNH – từ T70(b) đến T76(b)

Chúng ta phải làm gì để có thành quả mong muốn ?

-------------------------------------------

T75(b) – Tiêu chuẩn của sách Giáo Khoa Việt Tộc

Livestream ngày 21.04.2022

soạn giả Hoàng Đức Phương

 

T75(b) : MÔ HÌNH CỘNG ĐỒNG VĂN HÓA THUẦN VIỆT

Tiêu chuẩn viết bài Giáo Khoa:

Nhóm Nhân Văn Việt Tộc xin đóng góp với quý vị : 17 TIÊU CHUẨN VIẾT SÁCH GIÁO KHOA để dạy con trẻ về môn Việt giáo, Việt đạo và Việt triết

 

A.- VIỆT GIÁO : Giáo lý học làm người Việt (7 tiêu chuẩn)

1/- Học để biết Hào-khí của tổ tiên.

2/- Học để hãnh-diện là con dân đất Việt với sự Tự-hào dân tộc.

3/- Học để biết Tự-lực, Tự-cường.

4/- Học để biết Tự-trọng cho người khỏi khinh.

5/- Học để biết Cư-xử cho người kiêng nể.

6/- Học để có Tâm Việt trong con người Việt.

7/- Học để thấm nhuần Tư-tưởng Việt Tộc.

 

B.- VIỆT ĐẠO : Kết hợp dân tộc thành bó đũa (6 tiêu chuẩn)

8/-   Học để biết Việt Đạo với Tình Tự dân tộc.

9/-   Học để biết Đùm Bọc nhau trong tinh thần Đồng Bào.

10/- Học để biết yêu quý Quê Hương thương yêu Nòi Giống.

11/- Học để khơi động dòng máu Việt trong huyết quản của mình.

12/- Học để có khả năng gìn giữ Quê Hương, bảo vệ Tự Chủ.

13/- Học để có tinh thần Cầu Tiến, song song đồng tiến với người văn minh hiện đại.

 

C.- VIỆT TRIẾT : Triết lý sống của dân Việt (4 tiêu chuẩn về Văn Hóa Thuần Việt)

14/- Học để biết khí phách Rồng Tiên : Uy-Dũng và Công Minh của Rồng; Hiền từ và Nhân Ái của Tiên

15/- Học để biết Độ Lượng và Bao Dong với kẻ thù sau khi Chiến Thắng.

16/- Học để biết cách đòi lại những gì dân tộc đã mất (đấu tranh tự vệ).

17/- Học để biết ứng phó với hoàn cảnh : Đi với bụt mặc áo cà-sa ; đi với ma mặc áo giấy

Học để xứng đáng làm người Việt tốt (giống nòi Rồng Tiên), thì không ai ưu-tư và có khả-năng dạy dỗ con em chúng ta bằng chính chúng ta, vì chúng ta là người có Tâm và Hồn Việt trong dòng máu Rồng Tiên, nay chỉ cần khơi động là có VIỆT LỰC chứ chẳng cần ông MARX, bác LENINE hay kẻ thù dân tộc là Tàu MAO dắt đường chỉ lối.

Thành phần Nguyên Khí Quốc Gia (ƯU TÚ) của dân Việt có thừa khả năng để hướng dẫn dân Việt tiến lên bằng người như Phó Thủ Tướng nước Đức, Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh và nhiều vị khác.

Dân ngu, tụt hậu là do chánh sách phá hủy nguyên khí Quốc Gia của Việt Cộng : Trí, Phú Địa Hào đào tận gốc trốc tận ngọn với quyết tâm :

Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào,

Đánh cho chết mẹ đồng bào miền Nam.

Đánh cho nước Việt tanh banh,

Đánh cho hết giống hùng anh Tiên Rồng.

---------------------------------------------------------

KỸ THUẬT BẢO VỆ TỰ CHỦ 

         

·        Đây là lộ trình giáo dục phải theo thì toàn dân mới có đủ khả năng bảo vệ sự tự chủ của mình được.

·        Việt Lực được suy ra từ lời căn dặn của cha LẠC LONG. Sơ đồ này là chuyển ý từ thông điệp Rồng Tiên khai quốc: 100 trứng, 100 con. Chuyện Rồng Tiên khai quốc là học thuyết căn bản của khoa nhân văn Việt tộc.

Chuyện Rồng Tiên được dựng lên do nhu cầu chánh trị mà 2 ông Phạm Lãi, Văn Chủng đã lồng trận đánh ‘diệt Ngô Đại Cáo’dưới dạng Huyền Thoại ở thời điểm chưa có chữ viết (#600BC), để đem thông điệp cứu nước và giữ nước cho hậu thế noi theo.

ü  Huyền thoại chỉ là phần chuyên chở thông điệp. Thông điệp là triết lý của câu chuyện. Muốn hiểu thì phải dùng tư duy huyền thoại.

ü  Xin coi thêm Đặc San Huyền Thoại với chủ để : Bạch hóa huyền sử thời vua Hùng (2.879BC-250BC) bằng các di vật ngời Văn Lang để lại (Nhóm Nhân Văn Việt Tộc đã ấn hành/link : http://vanhoathuanviet.blogspot.com

 

B/- TIÊU CHUẨN GIẢNG VIÊN và GIẢNG SƯ :

GIẢNG VIÊN :

·        Giảng viên là người có khả năng truyền đạt ý nghĩa của bài học đến học viên (thiếu nhi, thiếu niên và tráng niên.

·        Điều  kiện cần có là : Nắm vững bài giảng, có Tâm Việt và Hồn Việt và yêu nghề, đam mê với chức vụ.

Sau đó mới được khoa SƯ PHẠM huấn luyện về nghề nghiệp như tâm lý học viên, cách giảng dạy. Trình độ đến đâu thì phụ trách tới đó, từ Mẫu Giáo đến hết bậc Trung Học.

Đây là hoại Gảng Viên chuyên môn về khoa Nhân Văn Việt Tộc.

Ngoài vấn đề nghề nghiệp ra còn phải sinh hoạt hội đoàn Văn Hóa Thuần Việt để quen với công tác sinh hoạt tập thể và cập nhật sự hiểu biết.

Ngược lại sẽ được bù đắp bởi tiền khen thưởng, yêu nghề nếu thành quả vượt quá chỉ tiêu. Đây là đội ngũ xây dựng mầm non cho tương lai đất nước

GIẢNG SƯ :

Giảng Sư là người biết cách :

·        Đặt vấn đề

·        Giải quyết vấn đề

·        Soạn bài theo đúng tiêu chuẩn.

·        Huần luyện Giảng Viện

·        Kiểm tra thành quả của Giảng Viên

Điều kiện phải có là : Khả năng làm luận án Tiến Sỹ, làu thông Kinh và Sử.

Kinh là những nguyên lý thiên nhiên bất biến. Sử là những sự việc đã xảy ra trong quá khứ và do Nguyên Nhân nào tạo ra. Nay nếu hoàn cảnh đó tài diễn thì Ta chống đỡ ra sao ?

Người giỏi thì đưa ra đề án hữu hiệu và thực thi, người kém thì đưa ra đề án dỏm hay trên lý thuyết nhưng đem ra thực hành thì trái với thành quả dự định (tức đấu võ mù)

Những người này đều là công chức được hậu đãi của NHA NHÂN VĂN VIỆT TỘC, trực thuộc Bộ Giáo Dục và được đắc cách giám sát thường xuyên bởi Quốc Hội.

Mới đầu còn loạng quạng, nhưng sau 3 năm sinh hoạt quen với nghề thì thành chuyên nghiệp và đi truyền nghề cho hậu sinh như vậy môn học này sẽ mỗi ngày mỗi phát triển.

---------------------------------------

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil