T66 – Pháp giúp Gia Long đánh Tây Sơn
T66(a) – Pháp giúp Gia Long đánh Tây Sơn
Facebook Văn Hóa Thuần Việt (10.02.22)
soạn giả: Hoàng Đức Phương
BẰNG CHỨNG NGƯỜI PHÁP GIÚP GIA LONG
núp
dưới chiêu bài LÍNH ĐÁNH THUÊ để che
mắt dân Việt
Sau khi chiến
thắng thì 2 chiếm hạm cùng đoàn tầu tùy tùng đi về Hải Quân Pháp
Điều dễ hiểu đã
được phân tích kỹ thuật đóng Chiến Hạm là :
·
Gia Long không có nhà máy đóng chiếm hạm,
nhà máy luyện thép và nhà máy lọc dàu nên đây là lực lượng Hải Quân do nước
Pháp đánh thuê để đổi lấy quyền làm chủ nước Việt nếu chiến thắng. Như quân
Xiêm La trong trận thủy chiến ở Rạch Gầm và Soài Mút
·
Mỗi chiến hạm phải có một đoàn tàu nhỏ
tháp tùng để cận chiến với thuyền chiến Tây Sơn không cho chúng đến gần để dùng
hỏa công bằng biển người.
·
Đoàn tầu nhỏ này được dùng để tiếp nhiên
liệu xăng nhớt, nước uống, lương thực, đạn dược. Vì chiếm trường ở Đà Năng mà
các kho lại ở hậu cần là Saigon.
·
Gia Long không có chuyên viên cơ khí,
chuyên viên điện khí, chuyên viên vô tuyến truyền tin thì đâu có điều khiển
được Chiến Hạm.
·
Saigon chỉ là cơ xưởng B ảo Trì do Tây điều khiển, rồi phao lên
đó là cơ xưởng đóng tầu đông do người của Gia Long sáng tạo.
Giống như chiến
trận Việt Minh với Pháp (1945-1954) là do Tàu Mao đánh thuê để bơm Hồ Chí Minh
và Võ Nguyên Giáp lên làm người HÙNG, sau đó lãnh đạo tiếp cuộc xâm lăng miền
Nam do Tàu Mao chỉ đạo và cung cấp chiến phí để sau khi tàn cuộc thì chiếm trọn
nước Việt với chủ nghĩa TAM VÔ (vô gia đình, vô tổ quốc và vô tôn giáo) với
Nghĩa Vụ Quốc Tế để SINH BẮC TỬ NAM.
Thêm vào là : Cuốn Việt Nam Sử Lược Trần Trọng Kim viết :
1)
Chiếm Hạm đóng xong thì Hạm Trởng là 2
ngời Pháp điều khiển để đánh ta binh thuyềnTây Sơn.
2)
Sau khi tiêu diệt binh thuyền Tây Sơn thì
2 tên Hạm Trưởng này nghiễm nhiên trở thành 2 tên Lãnh Đạo Gia Long nên lúc nào
chúng cũng tham dự việc Triều Chính để nắm vững tình hình nội bộ, để ra lệnh
ngầm trong thời gian nước ĐẠI PHÁP đang xây lực để nắm trọn đất nước của chúng
ta khi đã hoan tất chương trình như cuốn sử của ông Nguyễn Xuân Thọ.
Như vậy là dân
Việt nai lưng ra phục vụ để GIẶC PHÁP tiêu diệt binh lực Tây Sơn của nước mình,
rồi coi dân ta như những tên nô lệ để chúng sai khiến không công
Hãy nghĩ
lại :
Sao mà giống y
chang tên Hồ Chi Minh làm từ 1945-1975 , rước giặc Pháp và Giặc Mỹ vô nhà rồi
nhờ Kẻ Thù Dân Tộc là GIẶC MAO đánh đuổi ; xong rồi dâng nước cho giặc TÀU
để trả nợ công ơn đã đánh Pháp và đuổi Mỹ bng 4 TỐT v 16 CH VÀNG
Ø Đồng
Bào ơi hãy thức tỉnh đừng khờ-khạo và ngây thơ trong Mê Hồn Trận Nữa.
KẾT LUẬN:
Hai chiếm hạm này
cùng đoàn thuyền tùy tùng và đoàn Thủy Thủ đều là của Hải Quân Pháp, tình
nguyện làm lính đánh thuê cho Gia Long (để
che mắt thiên hạ) với nhiệm vụ tiêu diệt toàn bộ binh lực dân ta, do nhà
Tây Sơn lãnh đạo.
Khi tàn cuộc thì
nó lại trở về với Hạm Đội Pháp Quốc, và Gia Long trả công bằng biếu trọn đất
nước cho giặc Pháp.
Ø Giống y chang như Hồ Chí Minh với Mao
Trạch Đông ngày nay vậy.
Ø Hạm Trưởng là 2 tên Thực Dân Pháp khi lâm
trận. Khi tàn cuộc thì 2 tên này lại nghiễm nhiên trở thành 2 vị đồng lãnh đạo
Gia Long nên chúng có mặt thường xuyên bên Gia Long, ngay cả khi ngự Triều
-----------------------------
GIẤU ĐẦU HỞ ĐUÔI :
RẰNG :
Gia Long biết rõ
văn minh cơ khí của Tây Phương, hắn cũng biết sẽ mất nước nếu nhờ Ngoại Chủng
tiêu diệt binh lực Tây Sơn nhưng hắn vẫn làm cho dù con cháu hắn đi tù hay dân
Việt tiêu vong.
Trên 2 Chiếm Hạm
đó có đầy đủ Văn Minh tây phương và sức mạch cơ khí mà Gia Long không thể chối
là không biết được ; nhưng vẫn lưu manh giả đò không biết.
Sau đây là một vài
điểm lưu manh của Gia Long :
1/- Sự lưu-manh Thứ Nhất
của chúng là không dám dùng chữ Chiến Hạm mà nói là tầu đồng để lừa dân dối
nước.
2/- Sự lưu manh Thứ Nhì
là tầu đóng ở Mẫu Quốc đem qua ta lắp ráp lặt vặt và bảo trì mà dám nói là đóng
ở Saigon.
3/- Sự lưu-manh Thứ Ba
là bắt dân ta phục vụ để tự diệt rồi dâng nước cho TÂY.
Giống y
chang Hồ Chí Minh bắt thanh niên Sinh Bắc Tử Nam để xâm lăng miền nam với khẩu
hiệu « NGHĨA VỤ QUỐC TẾ » để xây dựng « ĐẠI ĐỒNG THẾ GIỚI »
cho giặc Tàu lãnh đạo với chủ nghĩa TAM VÔ (vô gia đình, vô tổ quốc và vô tôn
giáo)
4/- Sự lưu-manh Thứ Tư là nói dốt không biết
ngượng mồm.
Trên
Chiến Hạm có đèn treo ngược (đèn điện), có cửa kính (đóng cửa rồi mà còn nhìn
ra ngoài đựợc) mà dám chê cách bản điều trần văn minh hóa đất nưóc là XÀM TẤU.
Nếu bảo ông Nguyễn
Trường Tộ dâng 36 bản điều trần để cải tổ, bằng không thì sẽ mất nước là
« XÀM TẤU » thì tại sao không đem chém đầu về tội khinh quân (coi
thường nhà vua : Chém đầu).
Phải chăng nhà Vua
biết mình bán nước nên không dám cải tổ thì người Pháp sẽ đem văn tự bán nước
ra trình làng ; giống như giặc Tàu mang Công Hàm bán Biển Đảo của Phạm Văn
Đồng ra trình làng để chứng minh là vùng lưỡi bò, và lãnh hải Vệt Nam thuộc về
nó.
Ø Vậy thì
ông NGUYỄN TRƯNG TỘ gõ nhầm cửa rồi.
Đây là một minh
chứng để nhắc nhở những ai còn mê-muội đi làm đề án để khuyên Việt Cộng canh
tân đất nước.
Đừng chê chúng ngu, mà hãy xét lại mình. Có phải là 2 mục
tiêu tương phản không ?
Ta muốn kiến tạo
đất nước nhưng Việt Cộng với chủ nghĩa TAM VÔ quyết tâm tiêu diệt dân Việt để
dâng nước cho giặc Tàu, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc chúng ta
5/- Sự lưu-manh Thứ Năm
là biết rõ sức mạnh cơ khí của Tây Phương nó sẽ cướp nước ta và chính con cháu
của ông cũng sẽ đi tù vì ông để lại rất nhiều điều tệ hại mà con cháu của ông
phải trả nợ bằng cách bán nước cầu danh hão mà ông đã lừa dân dối nước để bước
chân vào vòng nô lệ :
Ø TRÔNG CHỜ NGOẠI BANG TỨC TRÔNG CHỜ NÔ LỆ
Vì nó có không có
khỏe hơn mình thì nó mới giúp mình để hủy diệt tiềm lực của chính dân
mình ; rồi lúc đó nó mới lòi nanh sói, móng cọp ra vồ trọn gói.
Ø Điều
này không thể ngụy biện là Louis XVI
không giúp Nguyễn Ánh được nha.
&
BẰNG CHỨNG NGƯỜI PHÁP GIÚP GIA LONG
núp
dưới chiêu bài LÍNH ĐÁNH THUÊ để che
mắt dân Việt
Sau khi chiến
thắng thì 2 chiếm hạm cùng đoàn tầu tùy tùng đi về Hải Quân Pháp
Điều dễ
hiểu đã được phân tích kỹ thuật đóng Chiến Hạm là :
·
Gia Long không có nhà máy đóng chiếm hạm,
nhà máy luyện thép và nhà máy lọc dàu nên đây là lực lượng Hải Quân do nước
Pháp đánh thuê để đổi lấy quyền làm chủ nước Việt nếu chiến thắng. Như quân
Xiêm La trong trận thủy chiến ở Rạch Gầm và Soài Mút
·
Mỗi chiến hạm phải có một đoàn tàu nhỏ
tháp tùng để cận chiến với thuyền chiến Tây Sơn không cho chúng đến gần để dùng
hỏa công bằng biển người.
·
Đoàn tầu nhỏ này được dùng để tiếp nhiên
liệu xăng nhớt, nước uống, lương thực, đạn dược. Vì chiếm trường ở Đà Năng mà
các kho lại ở hậu cần là Saigon.
·
Gia Long không có chuyên viên cơ khí,
chuyên viên điện khí, chuyên viên vô tuyến truyền tin thì đâu có điều khiển
được Chiến Hạm.
·
Saigon chỉ là cơ xưởng B ảo Trì do Tây điều khiển, rồi phao lên
đó là cơ xưởng đóng tầu đông do người của Gia Long sáng tạo.
Giống như chiến
trận Việt Minh với Pháp (1945-1954) là do Tàu Mao đánh thuê để bơm Hồ Chí Minh
và Võ Nguyên Giáp lên làm người HÙNG, sau đó lãnh đạo tiếp cuộc xâm lăng miền
Nam do Tàu Mao chỉ đạo và cung cấp chiến phí để sau khi tàn cuộc thì chiếm trọn
nước Việt với chủ nghĩa TAM VÔ (vô gia đình, vô tổ quốc và vô tôn giáo) với
Nghĩa Vụ Quốc Tế để SINH BẮC TỬ NAM.
Thêm vào là : Cuốn Việt Nam Sử Lược
Trần Trọng Kim viết :
3)
Chiếm Hạm đóng xong thì Hạm Trởng là 2
ngời Pháp điều khiển để đánh ta binh thuyềnTây Sơn.
4)
Sau khi tiêu diệt binh thuyền Tây Sơn thì
2 tên Hạm Trưởng này nghiễm nhiên trở thành 2 tên Lãnh Đạo Gia Long nên lúc nào
chúng cũng tham dự việc Triều Chính để nắm vững tình hình nội bộ, để ra lệnh
ngầm trong thời gian nước ĐẠI PHÁP đang xây lực để nắm trọn đất nước của chúng
ta khi đã hoan tất chương trình như cuốn sử của ông Nguyễn Xuân Thọ.
Như vậy là dân
Việt nai lưng ra phục vụ để GIẶC PHÁP tiêu diệt binh lực Tây Sơn của nước mình,
rồi coi dân ta như những tên nô lệ để chúng sai khiến không công
Hãy nghĩ lại :
Sao mà giống y
chang tên Hồ Chi Minh làm từ 1945-1975 , rước giặc Pháp và Giặc Mỹ vô nhà rồi
nhờ Kẻ Thù Dân Tộc là GIẶC MAO đánh đuổi ; xong rồi dâng nước cho giặc TÀU
để trả nợ công ơn đã đánh Pháp và đuổi Mỹ bng 4 TỐT v 16 CH VÀNG
Ø Đồng
Bào ơi hãy thức tỉnh đừng khờ-khạo và ngây thơ trong Mê Hồn Trận Nữa.
KẾT LUẬN:
Hai chiếm hạm này
cùng đoàn thuyền tùy tùng và đoàn Thủy Thủ đều là của Hải Quân Pháp, tình
nguyện làm lính đánh thuê cho Gia Long (để
che mắt thiên hạ) với nhiệm vụ tiêu diệt toàn bộ binh lực dân ta, do nhà
Tây Sơn lãnh đạo.
Khi tàn cuộc thì
nó lại trở về với Hạm Đội Pháp Quốc, và Gia Long trả công bằng biếu trọn đất
nước cho giặc Pháp.
Ø Giống y chang như Hồ Chí Minh với Mao
Trạch Đông ngày nay vậy.
Ø Hạm Trưởng là 2 tên Thực Dân Pháp khi lâm
trận. Khi tàn cuộc thì 2 tên này lại nghiễm nhiên trở thành 2 vị đồng lãnh đạo
Gia Long nên chúng có mặt thường xuyên bên Gia Long, ngay cả khi ngự Triều
---------------------------------
Xin giới thiệu với quý vị 3 đường dẫn sau đây, và kính mời các vị hiền
tài tiếp tay cho chương trình này được phong phú.
http://nhanvanviettoc.blogspot.com
là nơi lưu trữ tài liệu để soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com
là nơi lưu trữ các bài đã soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm)
từ Tiểu Học đến Trung Học.
Nơi
lưu trữ 3 kinh nhật tụng
1. Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ
cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các
bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18 tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ
xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)
SÁCH
BẠCH HÓA HUYỀN SỬ (Đủ Bộ) https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ
(Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k
SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph
Kênh
Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ
là nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu
trữ vô máy.
T66(b): Giáo Dục Quần
Chúng
Phần
TỔNG QUAN
XÂY DỰNG XÃ HỘI HÀI HÒA
Cách Xây dựng xã hội hài
hòa từ xã hội tan rã về mọi mặt, và vô tổ chức mạnh ai nấy làm được chia ra
làm nhiều giai đoạn.
Ø
Nắm
vững những chuyện đã qua thì giải quyết gọn lẹ ; còn không là ĐẤU
VÕ MÙ
²
Cách chữa xã hội tan rã và vô tổ chức
RẰNG :
Việt Cộng ra đi để
lại cho dân tộc một xã hội hoàn toàn tan rã (băng hoại mọi mặt) và vô tổ chức
(mạnh ai nấy làm).
Ø Nay
chúng ta phải làm gì đế có một xã hội hài hòa và phát triển để khả dĩ có đủ sức
bảo vệ sự tự chủ.
Chúng ta có nhiều
cách, nhưng ở đây chúng ta đã dày công tu luyện để dùng NỀN VĂN HÓA THUẦN VIỆT
làm chất liệu KẾT HỢP DÂN TỘC lật đổ bạo quyền giành quyền TỰ QUYẾT cho dân tộc
với chế độ DÂN CHỦ CHẾ TÀI, nên :
Ø Lấy
Bình Đẳng Giáo Dục để xây dựng nhân tài cho đất nước.
Ø Lấy
Khai Phóng và Nhân Văn Việt Tộc làm mục tiêu để vừa bảo vệ được bản sắc dân
tộc, lại vừa phát triển được đất nước cho bằng người.
Do đó, chúng ta theo
mô hình sau đây, và chúng ta có thể bắt tay ngay vào việc để đạt mục tiêu là
xây dựng một xã hội hài hòa từ một xã hội thối nát do Việt Cộng tàn phá.
Khi nắm quyền thì
dân ta chủ động vấn đề Giáo Dục, nhưng khi chưa nắm quyến thì chúng ta vẫn có
thể Phôi Phục Dân Khí và Khai Phóng Dân trí bằng truyền thông điên tử.
Vì thế nên :
Chúng ta hãy sửa
soạn tinh thần và chương trình hành động để có sức mạnh tập thể khi thời cơ tới
thì bắt tay ngay vào việc ; đừng đến nước đến chân mới nhảy thì
không kịp vì chưa tụ được lực
Sau đây là chương
trình lấy Nền Văn Hóa Thuần Việt làm gốc để phát triển con người và phát triển
xã hội sao cho ngang tầm thời đại.
Chương trình này
cần toàn dân bắt tay vào việc, khả năng đến đâu thì làm đến đó, miễn là có ý
chí và nghị lực thì ai cũng có cả.
Nên nhớ là :
Ø
Chúng
ta có 2 Cộng Đồng ở 2 môi trường khác nhau nên cách xây dựng Cộng Đồng Hải
Ngoại có khác, chẳng nhiều thì ít, với Cộng Đồng Trong Nước.
Tuy vậy, nhưng 2 cộng đồng này cần có sự
hỗ tương để tồn tại và phát triển.
õ
T66(b)
Giáo Dục Quần Chúng
Facebook Văn Hóa Thuần Việt (10/02/2022)
Tài liệu Học Thuyết Nhân Vị (Ngô Đình Nhu)
GIÁO DỤC QUẦN CHÚNG
Ngoài những tác
dụng đương nhiên của các tổ chức quần chúng mà chúng ta đã biết, bộ máy tổ chức
quần chúng của quốc gia, còn đóng góp một phần rất quan trọng vào các chương
trình giáo dục quần chúng.
Các chương trình
giáo dục quần chúng khác biệt và không thay thế các chương trình thông thường
giáo dục tổng quát mà chúng ta sẽ đề cập đến trong một đoạn sau này.
Các chương trình
giáo dục quần chúng là những khí cụ cần thiết và hữu hiệu để hậu thuẫn cho công
cuộc Tây phương hóa ăn sâu và lan rộng trong dân chúng, như chúng ta đã biết.
Các mục tiêu vừa
có tính cách ngắn hạn đối với những
kỹ thuật sản xuất Tây phương, vừa có tính cách dài hạn đối với những tập quán mới; và cũ cần phải trang bị dân
chúng trong công cuộc Tây phương hóa toàn diện.
Lời soạn giả:
Chương trình nhân
văn Việt Tộc đang phát huy công tác dài hạn; không hẹn mà gặp. Hữu duyên thiên
lý năng tương ngộ.
Các tổ chức quần
chúng còn là những hoạt động trường để huấn luyện tinh thần tập thể của nhân
dân, và ý chí tự do và độc lập mà dân tộc đòi hỏi trước sự đe dọa xâm lăng liên
tục của Trung Hoa.
Trong những mục
tiêu ngắn hạn, có những chương trình phổ biến các kỹ thuật sản xuất của Tây
phương và chương trình đào tạo tinh thần kỷ luật mà các phương tiện sản xuất kỹ
nghệ đòi hỏi.
Công cuộc phổ biến
những kỹ thuật sản xuất của Tây phương liên hệ trước hết đến nông nghiệp và
tiểu công nghiệp. Các hợp tác xã sơ đẳng và các nghiệp đoàn tiểu công nghiệp
đóng một vai trò chính yếu trong việc phổ biến này.
Lâu nay người dân
Việt Nam chỉ quen với lề lối sản xuất của một nền kinh tế nông nghiệp. Công
việc đồng áng không đòi hỏi ở người nông dân một kỷ luật cứng rắn về thời gian
và một sự căng thẳng về tinh thần, như một nguời công nhân một xí nghiệp chịu
trách nhiệm về một bộ phận của một xưởng máy kỹ nghệ to tát.
Công việc đồng áng
của chúng ta, cho phép ít nhiều một sự luộm thuộm trong công tác và một sự
lờ-mờ trong sự phân chia công tác.
Tính cách thiếu
phân minh và thiếu trật tự của lối sản xuất nông nghiệp của chúng ta, trải qua
nhiều thế hệ, đã tạo cho người nông dân chúng ta một tập quán bừa bãi trong
công việc và sự mù-mờ trong sự hiểu biết.
Còn lối sản xuất
kỹ nghệ thì trái lại không dung nạp sự bừa bãi trong công việc, và mù-mờ trong
sự hiểu biết.
Sản xuất kỹ nghệ
chỉ có thể thực hiện được một cách hiệu quả trong trật tự, trong phân minh.
Ngoài ra, việc săn sóc và tu bổ các máy móc, nghĩa là các phương tiện sản xuất
kỹ nghệ, đòi hỏi ở người sử dụng những nỗ lực liên tục hàng ngày.
Các cố gắng đó là
những nguyên nhân đưa đến một tình trạng căng thẳng tinh thần mà đời sống lâu
nay ở thôn quê, trong một hoàn cảnh kinh tế hoàn toàn nông nghiệp, chưa hề biết
đến.
Vì thế cho nên,
khi một người nông dân, từ biệt ruộng đất của mình để trở thành một công nhân
xí nghiệp, hành vi nhỏ nhặt đó không phải chỉ có nghĩa là đổi công việc mưu
sinh. Thực ra hành vi đó còn có nghĩa là người nông dân từ bỏ một lối sống dễ
dãi và vô trật tự theo nhịp khoan thai của thời tiết để đi vào một lối sống kỷ
luật và ngăn nắp theo nhịp thúc đẩy của máy móc. Nghĩa là người nông dân sẽ
phải làm quen và chấp nhận một sự căng thẳng về tinh thần mà lâu nay họ chưa hề
biết đến. Và lần lần chính tâm lý của nông dân cũng sẽ thay đổi, cũng như lối
nhìn đời sống của họ.
Một sự biến đổi
tương tự, đương nhiên không thể là một việc dễ. Không bao giờ, dù mà sinh kế có
bắt buộc họ trở thành một công nhân xí nghiệp, một người nông dân tự họ có thể
thực hiện được sự tự biến đổi nếu không có những sự hướng dẫn và giúp đỡ hữu
hiệu bên ngoài.
Nhưng lâu nay,
trong sự biến đổi này, người nông dân không hề được hướng dẫn và giúp đỡ. Sự
biến đổi này cũng mang tính cách hỗn loạn chung của công cuộc Tây phương hóa,
không đường hướng của xã hội chúng ta dưới thời Pháp thuộc.
Nhiệm vụ hướng dẫn
và giúp đỡ nói trên đây một phần lớn là nhiệm vụ của nghiệp đoàn công nhân và
một phần nhỏ là nhiệm vụ của các xí nghiệp.
Nhưng lâu nay các
xí nghiệp hoặc do người ngoại quốc điều khiển, hoặc được tổ chức trên căn bản
quyền lợi cá nhân, cho nên không bao giờ quan tâm đến vấn đề biến đổi những
nông dân thành người công nhân trong khuôn khổ một công cuộc Tây phương hóa
toàn diện. Nghiệp đoàn của chúng ta,
cũng như của các quốc gia đang phát triển, đều chưa hoàn toàn cởi bỏ được cái
áo Tây phương, nên cũng chưa chú trọng đúng mức đến sự biến đổi của người nông
dân nói trên đây.
²
Phần IV (C) : Nghiệp đoàn Việt Nam.
Các nghiệp đoàn
công nhân Việt Nam hiện nay là những tổ chức quần chúng công nhân có một giá
trị thật đáng chú ý. Các quốc gia ở Đông Nam Á, và nhiều quốc gia trên thế giới
cùng ở vào một tình trạng kém mở mang và vô tổ chức như chúng ta, vẫn chưa có
một tổ chức quần chúng công nhân như của chúng ta.
Nhưng giá trị của
các nghiệp đoàn công nhân Việt Nam không phải chỉ ở sự hiện diện hiếm có đó.
Trong một xã hội vô tổ chức như xã hội của chúng ta hiện nay, các nghiệp đoàn
công nhân, tổ chức có qui củ và ăn rễ sâu vào quần chúng, là một cái vốn tổ
chức quần chúng rất quý cho chúng ta.
Các nghiệp đoàn
công nhân sẵn có, tự nó đã là một cái vốn. Nhưng những kinh nghiệm lãnh đạo, tổ
chức, hoạt động và điều khiển của các cán bộ, đã nhiều năm hoạt động, còn là
một cái vốn rất hiếm có để phát triển các tổ chức quần chúng của chúng ta trong
tương lai.
Chúng ta đã thấy,
trong một đoạn trên, các trở lực mà một quốc gia kém mở mang như chúng ta,
đương nhiên gặp phải trong công cuộc tổ chức quần chúng; bởi vì dân chúng thiếu
sáng kiến và kinh nghiệm về tổ chức quần chúng.
Với cái vốn hiện
tại của chúng ta, do các tổ chức công nhân cung cấp, các trở lực trên sẽ không
còn khó vượt nữa. Sau hết, trong một xã
hội thiếu tín hiệu tập hợp nhu xã hội chúng ta, các tổ chức nghiệp đoàn là một
tín hiệu tập hợp có nhiều khả năng qui tụ. Tuy nhiên, trong cộng đồng quốc gia
Việt Nam, cũng như trong tất cả các quốc gia chưa kỹ nghệ hóa, vai trò của
nghiệp đoàn tuy rất quan trọng, nhưng không thể quan trọng như trong một quốc
gia Tây phương đã phát triển.
Trước hết, tổng số
công nhân xí nghiệp của chúng ta, ước lượng từ muời đến mười lăm phần trăm dân
số hoạt động, vẫn là một tỷ lệ nhỏ đối với tổng số dân số. Trong các quốc gia
đã phát triển, bách phân công nhân xí nghiệp rất cao, đối với tổng số dân số
hoạt động.
Ở Pháp 53 phần
trăm, ở Anh 65 phần trăm, ở Mỹ chỉ có 12 phần trăm dân số sống về nông nghiệp.
Vì vậy cho nên hoạt động của nghiệp đoàn công nhân đương nhiên giới hạn ở Việt
Nam (80% là nông dân).
Ngoài lý do số
lượng, sở dĩ các tổ chức nghiệp đoàn công nhân Tây phương đã góp một phần quyết
định vào sự xây dựng một hình thức mới cho xã hội Tây phương là vì các nguyên
nhân áp đảo trạng thái thăng bằng của xã hội Tây phương, như chúng ta đã phân
tích trên kia, xuất phát từ các xí nghiệp kỹ nghệ, trường hoạt động của quần
chúng công nhân.
Trạng thái thăng
bằng động tiến của xã hội chúng ta ngày nay cũng có bị áp đảo, nhưng bởi những
nguyên nhân phát sinh từ một khu vực khác của nền kinh tế của chúng ta: Khu vực
nông nghiệp.
Vả lại, khi Tây
phương dùng nghiệp đoàn để ứng phó với các xáo trộn xã hội, thì nguyên nhân của
các cuộc khủng hoảng, lúc bấy giờ là sự bất lực của xã hội cũ trong công việc
phân phối tài sản của quốc gia. Ngày nay, trong xã hội của chúng ta, nếu có một
sự phân phối không công bình khối tài sản quốc gia eo hẹp của chúng ta, thì sự
kiện đó cũng không làm sao quan trọng bằng sự kém mở mang của quốc gia. Vì vậy cho nên, trong hiện tình Việt Nam, các
tổ chức nghiệp đoàn công nhân chưa đóng góp một phần quan trọng vào bộ máy quốc
gia, như ở xã hội Tây phương.
Tuy nhiên, nếu
chúng ta đặt công cuộc phát triển, bằng cách Tây phương hóa, làm mục đích trước
và trên hết trong giai đoạn này, thì sau khi phát triển, xã hội của chúng ta sẽ
là một xã hội kỹ nghệ. Lúc bấy giờ, vai trò của các tổ chức nghiệp đoàn công
nhân sẽ trở thành quan trọng, như trong xã hội Tây phương hiện nay.
Nhưng ngay trong
thời gian phát triển, vai trò của các tổ chức nghiệp đoàn công nhân cũng đã là
vô cùng quan trọng, vì nhiệm vụ biến đổi người nông dân của thời tiết, thành
người công nhân của một nền kinh tế sản xuất theo nhịp kỷ luật và thúc giục của
máy móc. Trong công cuộc phát triển mà chúng ta chủ trương, nhiệm vụ này vô
cùng quan trọng và các tổ chức nghiệp đoàn công nhân phải phụ trách.
Các tổ chức nghiệp
đoàn công nhân là một phát minh của Tây phương.
Việc nhập cảng các
tổ chức ấy vào xã hội chúng ta cũng là một phần trong công cuộc Tây phương hóa
mà chúng ta chủ trương: Đó là Tây phương hóa trong lĩnh vực tổ chức xã hội.
Tuy nhiên, nếu
chúng ta giữ nguyên bản chất của các tổ chức nghiệp đoàn Tây phương thì chúng
ta lại mắc vào cái bệnh Tây phương hóa hình thức, và đương nhiên hiệu lực của
các tổ chức nghiệp đoàn sẽ suy giảm.
Vì các lý do trên
đây mà các tổ chức nghiệp đoàn công nhân của chúng ta, mặc dầu không phủ nhận
hoạt động yêu sách, xem như là một hoạt động có khả năng qui tụ, phải tập trung
các nỗ lực vào hoạt động giáo dục, huấn luyện và tổ chức.
Chương trình giáo
dục và huấn luyện gồm chương trình huấn luyện và giáo dục của tổ chức nghiệp
đoàn Tây phương, thêm vào một chương trình giáo dục và huấn luyện liên quan đến
sự biến đổi người nông dân như đã nói ở trên.
Chương trình tổ
chức phải được phát triển đến cực độ và xem như một bộ phận của chương trình tổ
chức quần chúng.
²
Tổ chức quần chúng nông thôn:
Các tổ chức quần
chúng quan trọng nhất của chúng ta về số lượng là các tổ chức quần chúng nông
thôn.
Theo số ước lượng,
quần chúng nông thôn của chúng ta chiếm một bách phân từ 70 đến 80 phần trăm
dân số. Cũng như các nước kém mở mang và có một nền kinh tế hoàn toàn nông nghiệp,
vốn về nhân lực của chúng ta ở nông thôn. Vì vậy cho nên, vấn đề tổ chức quần
chúng ở nông thôn, thành hay bại sẽ quyết định sự thành công hay sự thất bại
của chúng ta trong công cuộc phát triển dân tộc.
Nhưng sự tổ chức
quần chúng nông dân đặt ra nhiều vấn đề tiên quyết, mà sự tổ chức quần chúng
công nhân không hề biết đến.
Sự tập trung các
công nhân, trong khung cảnh tập thể của một xí nghiệp đương nhiên tạo ra những
điều kiện thuận lợi chẳng những cho sự tổ chức các công nhân thành nghiệp đoàn,
mà lại còn cho sự nuôi dưỡng và phát triển hoạt động của tổ chức khi đã thành
lập. Đối tượng tranh đấu chung tự nhiên có và dễ nhìn thấy là: Bảo vệ quyền lợi
của công nhân đối với ban quản trị xí nghiệp.
Hình thức vật chất
của đời sống ở nông thôn, trong khung cảnh bao la của đồng ruộng, đương nhiên
không có điều kiện trù mật. Công việc đồng áng, tùy theo thời vụ có lúc đòi hỏi
một công tác tập thể đến cao độ. Nhưng ngoài những cơ hội đó, tinh thần tập thể
của nông dân không có, vì nếp sống cổ truyền của một nền kinh tế nông nghiệp là
một sự qui phục không điều kiện cái may rủi của thời tiết, thay vì một sự tranh
đấu tập thể để biến đổi hoàn cảnh bên ngoài, như đào kinh, xẻ cống, đắp đường
và xây cầu.
Mỗi người chỉ chăm
lo cho thửa ruộng của mình cày cấy được nhiều huê lợi. Tinh thần tập thể của
nông dân cũng không dễ khêu gợi bởi vì những lý do thuyết minh cho một sự tập
hợp tranh đấu chung, mặc dầu rất nhiều, nhưng không dễ nhìn thấy. Sự thiếu điều
kiện trù mật của đời sống nông thôn, đương nhiên tạo ra nhiều trở lực vật chất
cho các dự tính tổ chức những dây liên hệ cộng đồng, ngoài những dây liên hệ
gia đình.
Điều kiện trù mật
cần thiết, không những cho giai đoạn tổ chức, mà còn cần thiết hơn nữa, cho sự
nuôi dưỡng và phát triển hoạt động của tổ chức. Đường đất càng xa giữa các nóc
gia, sự tổ chức quần chúng nông dân càng ít hy vọng thành công. Vì vậy cho nên,
ở những vùng mà điều kiện trù mật ở dưới một mức độ ấn định, sự tổ chức quần
chúng nông dân muốn có kết quả thì phải tùy thuộc vào một điều kiện tiên quyết
là: Tổ chức đời sống trù mật cho nông dân.
²
QUY LUẬT THIÊN NHIÊN
về phát triển vũng
chắc
Nếu thực tâm muốn đề ra dự án xây dựng cộng đồng vững
mạnh cho toàn dân thi hành để tự mình bảo vệ sự TỰ CHỦ của dân tộc, trong đó có
sự sống của mình và tương lai con cháu thì :
1/- Người đề xướng (giai cấp Sỹ Phu) bắt buộc phải thuộc nằm lòng 2 quy luật
thiên nhiên về sự phát triển của xã hội loài người. Ngoài ra phải biết cách dạy
người phụ họa (toàn dân) biết các yếu tố cần phải có trong mỗi người dân để họ
vững tin vào thành quả của đề án.
2/- Người phụ họa phải được học hành đến nơi đến chốn về sự vận hành của một
quốc gia mà người dân có quyền giành lại quyền tự quyết cho dân tộc. Do đó nền
giáo dục Nhân Văn Việt tộc cho lứa tuổi từ 8 đến 18 phải được áp dụng một cách
nghiêm túc với luật : BBình Đẳng Giáo Dục và cưỡng bách giáo dục cho đến năm
18 tuổi , đó là tiêu chuẩn phải đạt tới Vậy thì tùy tiền biện lễ, nhưng phải có tiêu chuần đặt
ra cho rõ ràng.
3/- Với chương trình này thì xã hội được chia làm
3 cấp thay cho 5 giới lỗi thời:
a/- Giai cấp sỹ phu là Giai Cấp ĐỀ XƯỚNG,
có bổn phận phi đưa ra đề án.
b/- Giai cấp thi hành là Giai Cấp PHỤ HỌA
phải được học hành đ thành người thi công đắc lực trong mục tiêu xây dựng HẠNH
PHÚC cho mọi người dân và bảo vệ sự tự chủ của đất nước. Do đó người dân phải
được khai trí miễn phí bằng chánh sách BÌNG ĐẲNG GIÁO DỤC
c/- Giai cấp tranh nhiệm THI CÔNG là giai
cấp chánh trị lo việc thi hành theo mô hình người dân lựa chọn.
d/- THỂ CHẾ thì áp dụng 2 loại như thời
Hùng Vương nhưng phải hoàn chỉnh cho phù hợp với môi trường chánh trị đương
thời. Đó là Thể Chế
Dân Chủ Chế Tài dùng cho chưng trình dài
hạn; nghĩa là người dân đặt ra tiêu chuẩn phải hoàn tất theo thời gian, nếu chánh
quyền không đủ khả năng thì chấm dứt giao kèo vì bất lực.
Dân Chủ
Ỷ Lại dùng cho chương trình ngắn hạn là do đảng chánh trị đề ra trong lúc
tranh cử
Hiến Pháp, hiến pháp (khi trước gọi là văn hiến, phép nước)
là bản văn quy định trách nhiệm và ổn phận của mọi thành viên trong ất nước.
Vì không được bàu thay cho thế hệ vị thành niên
nên Hiến Pháp ch có giá trị là 15 năm. Sau 15 năm thì con cháu có quyŠn tái áp
dụng hay tu bổ hoặc phế truất vì không hợp thời là cái quyŠn của chúng :
CON HƠN CHA LÀ NHÀ CÓ PHÚC.
ö
Thứ nhất là :
Sơ đồ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA Văn minh vật chất thay đổi thì văn hóa bắt buộc
phải thay đổi theo. Văn hóa là cách sống và cách suy nghĩ của con người, vì thế
nên khai phóng dân trí cho ngang tầm thời đại để tránh cảnh NGU DÂN, TỤT HẬU là
điều phải làm thường xuyên
Thứ nhì là :
Sơ đồ KỸ THUẬT BẢO VỆ TỰ CHỦ. (các yếu
tố phải có)
·
Chính tay mình vẽ lại sơ
đồ này 5 lần cho nhập tâm thì bài học mới có kết quả tốt.
Theo sơ đồ này thì ta thấy rằng: Xã hội loài người
thăng tiến không ngừng là do phát minh khoa học, không phát triển sẽ tiêu vong.
Ø Sáng chế ra cái mới thì không bao giờ ngừng và đủ cả.
Vì thế nên chúng ta cần phải hiểu rõ rằng: Sơ đồ thay đổi nếp sống là một
vòng xoáy đi lên, nếu theo không kịp thì sẽ bị tụt hậu và tiêu vong theo luật
đào thải bất biến.
·
Khi nắm vững sự phát triển không ngưng nghỉ của khoa học
rồi thì chúng ta mới có thể đưa ra học thuyết thoát hiểm để tiến bằng người được.
Không
biết là đấu võ mù!
·
Nếp sống là tiếng
Việt,Văn Hóa là tiếng Tàu, danh từ của ông PhạmQuỳnh vào thập niên 1930.
· Mỗi tầng là một thời đại mới đi từ: Mung-lung, biết cách dùng lửa, đồ gốm, đồng đồng, đồ sắt, đồ thép, kỹ nghệ, nguyên tử và nay là thời điện tử thì dân ta lại sống thụt lùi trong thời kỳ đồ đểu, lừa lọc, dối trá, điêu ngoa, ….….cái giá phải trả là : Thế giới coi khinh!
KỸ THUẬT BẢO VỆ TỰ CHỦ
·
Đây
là lộ trình giáo dục phải theo thì toàn dân mới có đủ khả năng bảo vệ sự tự chủ
của mình được.
·
Việt
Lực được suy ra từ lời căn dặn của cha LẠC LONG. Sơ đồ này là chuyển ý từ thông
điệp Rồng Tiên khai quốc: 100 trứng, 100 con. Chuyện Rồng Tiên khai quốc là học
thuyết căn bản của khoa nhân văn Việt tộc.
Chuyện
Rồng Tiên được dựng lên do nhu cầu chánh trị mà 2 ông Phạm Lãi, Văn Chủng đã
lồng trận đánh ‘diệt Ngô Đại Cáo’dưới dạng Huyền Thoại ở thời điểm chưa có chữ
viết (#600BC), để đem thông điệp cứu nước và giữ nước cho hậu thế noi theo.
ü
Huyền thoại chỉ là
phần chuyên chở thông điệp. Thông điệp là triết lý của câu chuyện. Muốn hiểu
thì phải dùng tư duy huyền thoại.
ü
Xin coi thêm Đặc San
Huyền Thoại với chủ để : Bạch hóa
huyền sử thời vua Hùng (2.879BC-250BC) bằng các di vật ngời Văn Lang để lại (Nhóm
Nhân Văn Việt Tộc đã ấn hành/link :
http://vanhoathuanviet.blogspot.com
Phần
2 : Nguồn gốc của xã
hội tan rã và vô tổ chức .
Ø
Ai là
kẻ chủ mưu và chương trình hành động của THỦ PHẠM ra sao để còn biết đường vực
dạy ?
Nguồn gốc bắt đầu từ sự thay đổi nền giáo dục của vua Lế Thánh Tông
vào năm 1460. Đang học thuật với quan niệm : đất nước của toàn dân biến
thành « Đất của Chúa Lúa của Trời » nên khi ông chết đi thì các hoàng
thân tranh nhau.
Triều đình suy yến, và Mạc Đăng Dung cưóp chánh quyền vào năm
1527.
Dựa vào cái sai lầm của nền giáo dục lạc hồn dân Việt nên năm 1545
hai con buôn chánh trị là NGUYỄN KIM và TRỊNH KIỂM (con rể) phải hợp nhau lại,
trương ngọn cờ DIỆT MẠC PHÙ LÊ đưa dân tộc vào vòng Huynh Đệ Tương Tàn từ đó cho đến ngày hôm nay.
Thảm
họa dân tộc bắt đầu từ đây
(1527).
Đúng ra là bắt đầu từ chế độ CUNG PHI của vua Lê Thái Tông (con
vua Lê Lợi).
Lúc bố Băng Hà thì Thái Tử NGUYÊN LONG (1434-1442) lên ngôi lúc đó
mới có 11 tuổi, Lê Sát nhiếp chính. Bốn năm sau (1438) thì Ngài giết Lê Sát và
tự nắm quyền vào lúc 15 tuổi
Thái Sư là bà Thị Lộ dạy vua.
Các quan đại thần thi nhau
hiến con gái cho vua thì vua nhận hết.
1.
Bà
đầu sinh con trai thì được phong làm Thái Tử NGHI DÂN.
2.
Bà
sau sinh con trai thì lại truất phế NGHI DÂN đi và phong Bàng Cơ làm Thái Tử
ngay từ lúc sơ sinh.
3.
Bà
thứ ba mang bầu, sinh con trai thì tung tin nằm mơ thấy Phật nói con mình làm
vua (tức hoàng tử Tư Thành, sau là vua Lê Thánh Tông, 1460-1497). Thế là các
phe đối nghịch xúi vua giết kẻ âm mưu chiếm đoạt ngôi báu.
Vì trẻ người non dạ nên vua hạ lệnh giết cả 2 mẹ con. Nhờ ông
Nguyễn Trãi can ngăn nên chỉ bị tước Quốc Tính và 2 mẹ con bị lưu đày nơi cửa
thiền.
Khi Bàng Cơ lên 2 thì phe ông ngoại tổ chức giết vua rồi phao vu
cho Thị Lộ ám hại nên ông Nguyễn Trãi bị chu di TAM TỘC để cấm khẩu. Lúc đó
Bàng Cơ lên ngôi thì phe ông ngoại nhiếp chinh (1434-1442)
---------------------------
Ghi nhớ niên đại của thời Lê sơ:
Lê Thái Tổ (Lê Lợi -1428-1433)
Lê Thái Tông (Lê Nguyên Long – 1434-1442)
Lê Nhân Tông (Bàng Cơ – 1443-1459)
Lê Nghi Dân (Lạng Sơn Vương - giết Bàng Cơ lên ngôi được 8 tháng
thì bị quần thần giết -1459 , và mời hoàng tử Tư Thành lên ngôi, tức Lê Thánh
Tông.
·
Lê Thánh Tông (hoàng tử Tư Thành, con trai thứ tư –
1460-1497), vì sợ nạn kiêu binh nên thay đổi nền học vấn từ quan niệm người dân
giữ nước thành « Đất của chúa lúc
của trời » …… Đây là khởi đầu của nền giáo dục LẠC HỒN DÂN VIỆT
(lạc hướng)
ĐỪNG QUÊN RẰNG : Lợi dụng sự tranh ngôi, triều đình
rối loạn quân Chàm đã đánh chiếm đến NGHỆ AN và sắp vào Thanh Hóa đào mả vua Lê
vứt đi.
NÊN, Triều thần phải khẩn khoảng hoàng tử TƯ
THÀNH về lãnh đạo đất nước.
---------------------------------
Vì tư tưởng đã bị đầu độc bằng nền giáo dục tham quyền cố vị, nên :
1.
Con
cháu vua Lê mới chấp nhận là vua bù nhìn để con buôn chánh trị lợi dụng, chứ
không bỏ nước ra đi như Hoàng Tử Lý Long Tường (chuyển quyền từ Lý sang Trần) hay
chấp nhận cái chết để dân tộc thăng tuến như vua TRẦN PHẾ ĐẾ bị Hồ Quý Ly nhốt
tù đọi cht. Quân lính vào nhà tù xin động binh giết Hồ Quý Ly thì nhà vua
phê 2 chữ HẠ GIÁP chứ không chịu làm vua khi mình bất tài (chuyển quyền từ Lý
sang Hồ).
2.
Mạc Đăng Dung và Hồ
Quý Ly là 2 nhà chánh trị non, không biết dựa vào vua để phát triển đất
nước mà lại ra mặt tiếm ngôi nên mới ra nông nỗi này.
Ø
Đây là bài học quý giá cho chúng ta ; chớ tham ăn mà chết hóc.
3.
Khẩu
hiệu Diệt Mạc Phù Lê chỉ ăn khách với nền Giáo
Dục Phục Tùng Phe Nhóm đã được 2 con buôn chánh trị là Nguyễn Kim và Trịnh
Kiểm khai thác tối đa nên chúng ta bị nạn cho tới ngày nay : Đất Nước Chia Đôi, lòng người Phân Tán.
Đây là dấu hiệu của xã hội TAN RÃ từ tinh
thần đến vật chất, để CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN phát triển, đất nước tiêu tùng.
Ø
Từ
đây mới đưa xã hội đến chỗ vô tổ chức, MẠNH AI NẤY LÀM
4.
Nguyễn
Ánh khẩn khỏan mời Ngoại Chủng đến tiêu diệt sức sống mới hồi sinh của dân tộc
sau 170 năm Trịnh Nguyễn phân tranh : Dân tình sơ xác, tinh thần băng hoại
, kinh tế kiệt quệ, đầu óc VONG NÔ chỉ biết trông chờ ngoại bang.
Ø
NAY,
việc HÁN HÓA chỉ là thời gian, nến thế hệ chúng ta buông lơ.
5.
Khi
Thực Dân Pháp tới với mục đích khai thác kinh tế nên xã hội càng băng họai,
càng vô tổ chức thì chúng càng mừng và chi mất công làm cho suy yếu thêm.
6.
Lợi
dụng sự lơ là và u tối của dân tộc do sự phân hóa lâu ngày nên Đảng NGA CỘNG
qua tay sai Hồ Chí Minh cướp chánh quyền (02/9/1945) bằng sư lưu manh và bạo
lực.
Gây thêm phân hóa và suy yếu như ngày hôm
nay bằng nền Giáo Dục Vọng Ngoại và Hận Thù có chỉ đạo bằng Phong Trào Giai Cấp
Đấu Tranh (tức anh em sát hại nhau) . rí Phú Địa Hào Đáo Tn Gốc Trốc Tận Ngọn
(tiêu diệt nguyên khí quốc gia).
Hô Hào chủ nghĩa TAM VÔ (vô gia đình, vô
tổ quốc và vô tôn giáo), làm NGHĨA VỤ QUỐC TẾ, sinh Bắc tử Nam ; đi xâm
lăng miền Nam rồi dâng trọn đất nước cho giặc Tàu.
Ø
Vì
thế nên dân ta gọi đích danh là bọn VIỆT NÔ CÔNG SẢN đem hân thù đến tiêu diệt
tình ĐỒNG BÀO của dân ta
THỦ
PHẠM LÀM XÃ HỘI TAN RÃ :
Đó là nguyên nhân và thủ phạm của xã hội TAN RÃ HOÀN TOÀN và VÔ TỔ
CHỨC ngày hôm nay mà thế hệ đương thời là người thừa kế.
Trách HUNG THỦ đã đành, nhưng trách sự u-tối của dân ta do nền học
vấn nô dịch tạo ra thì nhiều.
Do đó chúng ta phải đầu
tư vào nền Giáo Dục Nhân Văn Việt Tộc để con cháu chúng ta biết chúng
là ai ? Là NGƯỜI hay THÚ ? SỐNG ĐỂ LÀM GÌ ? Đó là
những điều mà thế hệ hiện tại phải làm, nhất là lại có phương tiện
hơn thời nô lệ Thực Dân Pháp.
Đã biết nguyên nhân rồi thì chúng ta biết đường PHÁT TRIỂN xã hội
tan rã, vô tổ chức bằng cách : CHẤN DÂN KHÍ và KHAI DâN TRÍ, tức là :
Ø
Khôi
Phục Hào Khí Chánh Đáng của Dân Tộc để mọi người bắt tay vào việc quảng bá và
phát huy NỀN VĂN HÓA THUẦN VIỆT
Ø
Khai
Phóng Dân Trí để người dân tinh khôn, đủ khả năng bảo vệ quyền tự quyết của dân
tộc. Ít nhất là nóo về mục tiêu của cuộc chiến 21945-1975 là gì ? Ai là
người được hưởng ? Chỉ biết là dân Việt thua đậm, con cháu
phải trả nợ cho sự ngu xuẩn của cha ông chúng
Vậy thì , chúng ta phải khai dụng kỷ nguyên điện toán để bắt
tay vào việc:
1.
Soạn
ra các bài giáo khoa cần cho nhu cầu cấp bách, theo đúng 17 tiêu chuẩn để dùng
cho lớp hàm thụ hay giáo dục đại chúng theo đúng trên các Diễn Đàn Quần Chúng.
·
17
tiêu chuẩn đó là : 7 tiêu chuẩn cho Việt Giáo, 4 tiêu chuẩn cho Việt Đạo
và 6 tiêu chuẩn cho Việt Triết
2.
Khai
dụng nền Văn Minh Điện Toán để áp dụng vào việc khai phóng dân trí là điêu phải
làm ngay.
RẰNG :
Có phát triển đất nước và con người thì mới bảo vệ được sự Tự Chủ.
Có Tự Chủ thì mới có môi trường phát triển con người và đất nước.
Ø
Do đó bài toán không có lời giải ở thế kỷ
trước, vì thiếu phương tiện truyền thông.
Nay chúng ta :
a)
Đã có
phương tiện Truyền Thông dùng để Phục Hồi Dân Khí và Khai Phóng Dân Trí.
b)
Cũng
đã biết cách đọc tư tưởng người xưa qua di vật để lại, trong đó có Ngôn Ngữ ,
Ca Dao, Tục Ngữ, Ngạn Ngữ, Thơ Văn và Huyền Thoại để DỰNG LẠI LỊCH SỬ thờì Văn
Lang là thời chưa có chữ viết mà ta gọi là LỊCH SỬ TRUYỀN MIỆNG.
Tức là :
Nhờ phát minh khoa học vào năm 2003 nên chúng ta đả biết rõ lịch
sử Việt từ ngày lập quốc Văn Lang bằng di vật người xưa để lại.
Nên nay chúng ta chỉ việc biên soạn cho có lớp lang là xong. Không
nên dựa theo tài liệu đả qua, vừa thiếu, vừa suy luận sai vì thiếu dữ kiện.
RẰNG :
Giai cấp Nguyên Khí Quốc
Gia (thành phần XƯỚNG gồm : TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO) có bổn phận phải ngồi
lại với nhau và bắt tay ngay vào việc soạn thảo :
a/- Bộ sách Giáo Khoa cho PHONG PHÚ về môn VĂN HÓA THUẦN VIỆT.
b/- Bộ sử Việt cận đại, nói
về cuộc chiến ngu xuẩn (1945-1975) là cuộc chiến NGA và MỸ thử vũ khí trên đất
Việt, do chính Hồ Chí Minh đem tới bằng 6 văn kiện mời PHÁP, TÀU MAO, NGA và MỸ
tranh hùng trên xương máu ngưới Việt.
Sáu văn kiện đó là :
06/3/46 : Tạm ước Sơ
Bộ , mời giặc Pháp vô nhà.
14/9/46 : Hiệp định
Fontainebleau, công nhận chủ quyền giới hạn của Pháp ở Việt Nam
19/12/46 : Nổ súng
đánh Pháp để chạy làng trong khi chờ Mao làm chủ Hoa Lục.
20/7/54 : Hiệp định
Genève, 10 năm nhờ Mao quần thảo với Pháp rồi biếu Pháp miền Nam nước Việt
20/12/60 : Ký sắc lệnh
thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để Nga thử vũ khí. Tổng Thống Ngô Đình
Diệm không cho Mỹ tham chiến nên bị Hồ Chí Minh vu khống để Mỹ có lý cớ giết ca
3 anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
11/6/63 : Sai tên
Thích Trí Quang, Việt Cộng nằm vùng đội lốt sư tổ chức vụ đốt sư rồi la làng là
Diệm kỳ thị Tôn Giáo, khát máu thày chùa để Mỹ nương vào đó giết Diệm và làm
chủ chiến trường ở Việt Nam. Hà Nội và Saigon chỉ biết tuân lệnh NGA, TU và Mỹ.
Khi bị truy lùng thì Kennedy hạ lệnh cho Toà Đại Sứ Mỹ ở Saigon
phả bào vệ Thích Trí Quang. Phái đoàn Liện Hiệp Quốc tới điều trz (23/10/1963)
xin gặp Thích Trí Quang Çể phỏng vấn thì Đại Sứ Mỹ không cho gặp.
Lịch sử đã chứnh minh là Hồ Chí Minh đã phá nát nền độc lập nước
nhà do ông Bảo Đại thâu hồi cả thảy là 3 lần :
·
10/3/1945 : Nhật trao trả độc lập Bắc Kỳ và
Trung Kỳ cho Hoàng Đế Bảo Đại.
·
16/8/1945 : Nhật trả nốt Nam Kỳ cho Hoàng Đế
Bảo Đại.
Sau đây là giải Pháp Bảo Đại
gồm 3 bước thâu hồi độc lập và toàn vẹn lãnh thổ :
·
Tháng
7/1947 : Hoàng Đế Bảo Đại thâu hồi vùng Tây Nguyên làm Hoàng Triều Cương
Thổ từ tay người Pháp.
·
01/10/1947 :
Bảo Đại thành lập Quốc Gia Việt Nam do Ngài lãnh đạo với tư cách Quốc Trưởng .
·
05/6/1948 :
Bảo Đại với tư cách quốc Gia Việt Nam thâu hồi độc lập chánh trị để thành lập Quốc Gia Việt Nam từ tay người Pháp.
·
1949 :
Quốc Gia Việt Nam được 48 nước công nhận, NGÀI được quyền cấp sổ THÔNG HÀNH (hộ
chiéu), trong khi Hồ Chí Minh bị coi là phiến loạn nên không có quyền cấp Hộ
Chiếu.
·
15/7/1951 :
Ký sắc lệnh thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam với 175.000 tay súng tác chiến
do Mỹ đài thọ và Pháp huấn luyện là nhở 3 tấc lưỡi của thế hệ lúc đó.
Giải Pháp Bảo Đại 3 bước là phương án giải quyết
bế tắc giữa Mỹ và Pháp
·
Tháng
12/1954 : Ngài thâu hồi quyền chỉ huy quân đội bằng cách vặt chân tay của
Pháp trong Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, lúc đó tuy mới 3 tuổi nhưng đã có kinh
nghiệm chiến đấu một mình rồi ; không cần phải hành quân thực tập với quân
Pháp như lúc ban đầu
·
30/4/1955 :
Quân của Ngài đánh Bình Xuyên do Pháp chủ động.
·
Tháng
5/1955 : Giải tán Ngự Lâm Quân, trao Hoàng Triều Cương Thổ về với đất mẹ,
Ngài không lấy một xu nhỏ của ngân quỹ Quốc Gia
·
Trung tuần tháng 7/1955 : Ngài thâu hồi Độc Lập Lãnh Thổ
trong tay người Pháp.
·
23/10/1955 : Ngài làm tròn nhiệm vụ là thâu hồi
độc lập chánh trị và lãnh thổ cho dân Việt và Ngài trả lại quyền TỰ QUYẾT cho
dân tộc qua cuộc trưng cầu dân ý. Điểm này Hồ Chí Minh không những không làm mà
còn dựng chuyên, vu khống để bôi nhọ Ngài, nhưng NGÀI ch là con nít lên không
chấp. Do đó Hồ Chí Minh được thể nói càn.
õ
Chúng ta đã biết nguyên nhân và thủ phạm
làm cho xã hội chúng ta tan rã và vô tổ chức, nay đường đi của chúng ta
là :
A.
Phục
Hồi Dân Khí bằng Nền Văn Hóa Thuần Việt để kết hợp với nhau bảo vệ sức sống của
dân tộc bằng phương tiện truyền thông hiện đại.
B.
Khai
phóng Dân Trí bằng cách Khai Thông Bế Tắc Tư Tường : Trả lại sự thật cho
lịch sử về cuộc chiến 1945-1975 bằng những cuộc hội thảo trên mạng xã hội.
C.
Giành
lại Quyền Tự Quyết cho dân tộc bằng cuộc tổng nổi dạy lật đổ NGỤY QUYỀN Việt Nô
Cộng Sản - Phục Hồi lại Học Thuyết Rồng Tiên làm đuốc soi đường.
Ø
Dùng
Học Tthuyết Ngoại Lai không những lạc hồi dân Việt mà còn phỉ báng các Triết
Gia người Việt là bất tài vô dụng, không đủ sức sáng tạo ra Việt Triết hợp thời.
D.
Kết
hợp Cộng Đồng Hải Ngoại và Quốc Nợi để phát Triển đất nước cho ngang tầm thời
đại
E.
Thể
chế dự trù là Dân Chủ Chế Tài thông
qua Dân Chủ Ỷ Lại (Tam Quyền Phân
Lập)
·
Dân
Chủ Chế Tài là toàn dân đưa ra chưong trình quan trọng và đặt chỉ tiêu thi
hành.
·
Dân
Chủ Ỷ Lại là phe tranh cử đưa ra chương trình hành đông, người dân không có
quyền quyết định tương lại của mình.
----------------
Điều
kiện phải có của Chế Độ Dân Chủ Chế Tài
Muốn tiến tới Nền Dân Chủ Chế Tài thì người dân phải tham gia vào
sinh hoạt chánh trị và phải được hưởng không những chương trình giáo dục khai
phóng, nhân bản mà còn phải được hưởng Cưỡng Bách Giáo Dục đên 16 tuổi.
Không những vậy mà còn được quyền Bình Đẳng Giáo Dục để khi bước
chân vào đời thì cái em đã được trang bị đầy đủ ý chí bảo vệ bản sắc dân tộc và
sự tinh khôn đủ để bảo vệ sức sống của dân tộc trước nền Văn Minh hiện đại.
Nền giáo dục này đòi hỏi không những nhiệt tình Cầu Tiến của học
sinh mà còn cần đội ngũ Giảng Viên Chuyên Nghiệp hướng dẫn
Vì thế nên phải ư tiên dành ngân khoảng lớn cho nền Giáo Dục này.
Tiền thì kiếm ra được, nhưng sự tinh khôn của dân tộc phải đào
luyện mới có.
Vì vậy không nên hà tiện cho nền Giáo Dục con trẻ. Vì hà tiện thì
xã hội không phát triển và quyền Tự Quyết dân tộc cũng đi luôn, chúng ta lại
trở về cái vòng luẩn quẩn là : Mất độc lập thì không phát triển được. Mà
không phát triển thì không có độc lập.
Chế Độ Dân Chủ Chế Tài đòi chúng ta phải chia dân tộc làm 3
khối : XƯỚNG, HỌA và THI CÔNG thay cho 5 giới khi xưa là SỸ, Nông, Công,
Thương và Binh
A.
Thành
phần XƯỚNG là Trí Phú Địa Hào đưa ra chương trình quản trị đất nước
B.
Thành
phần HỌA là là toàn dân trưc tiếp bắt tay vào việc bảo vệ Tự Chủ và Phát Triển
đất nước theo chương trình đã chọn
C.
Thành
phấn THI CÔNG, tức chánh phủ lãnh đạo việc thi công đúng chỉ tiêu, nếu không đủ
khả năng thì truất phế liền, để lâu cứt trâu hóa đất bùn !
------------------------------------------
Tiêu chuẩn viết
bài Giáo Khoa:
Nhóm Nhân Văn Việt Tộc xin đóng
góp với quý vị : 17 TIÊU CHUẨN VIẾT SÁCH GIÁO KHOA để dạy con trẻ về môn Việt
giáo, Việt đạo và Việt triết
A.- VIỆT GIÁO
: Giáo lý học làm người Việt (7 tiêu chuẩn)
1/-
Học để biết Hào-khí của tổ tiên.
2/-
Học để hãnh-diện là con dân đất Việt với sự Tự-hào dân tộc.
3/-
Học để biết Tự-lực, Tự-cường.
4/-
Học để biết Tự-trọng cho người khỏi khinh.
5/-
Học để biết Cư-xử cho người kiêng nể.
6/-
Học để có Tâm Việt trong con người Việt.
7/-
Học để thấm nhuần Tư-tưởng Việt Tộc.
B.- VIỆT ĐẠO
: Kết hợp dân tộc thành bó đũa (6 tiêu chuẩn)
8/-
Học để biết Việt Đạo với Tình Tự dân tộc.
9/-
Học để biết Đùm Bọc nhau trong tinh thần Đồng Bào.
10/-
Học để biết yêu quý Quê Hương thương yêu Nòi Giống.
11/-
Học để khơi động dòng máu Việt trong huyết quản của mình.
12/-
Học để có khả năng gìn giữ Quê Hương, bảo vệ Tự Chủ.
13/-
Học để có tinh thần Cầu Tiến, song song đồng tiến với người văn minh hiện đại.
C.- VIỆT TRIẾT
: Triết lý sống của dân Việt (4 tiêu chuẩn về Văn Hóa Thuần Việt)
14/-
Học để biết khí phách Rồng Tiên : Uy-Dũng và Công Minh của Rồng; Hiền từ và
Nhân Ái của Tiên
15/-
Học để biết Độ Lượng và Bao Dong với kẻ thù sau khi Chiến Thắng.
16/-
Học để biết cách đòi lại những gì dân tộc đã mất (đấu tranh tự vệ).
17/-
Học để biết ứng phó với hoàn cảnh : Đi với bụt mặc áo cà-sa ; đi với ma mặc áo
giấy
Học để xứng đáng làm người
Việt tốt (giống nòi Rồng Tiên), thì không ai ưu-tư và có khả-năng dạy dỗ con em
chúng ta bằng chính chúng ta, vì chúng ta là người có Tâm và Hồn Việt trong
dòng máu Rồng Tiên, nay chỉ cần khơi động là có VIỆT LỰC chứ chẳng cần ông
MARX, bác LENINE hay kẻ thù dân tộc là Tàu MAO dắt đường chỉ lối.




0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil