T67 -Gia Long trả thù
T67(a) – Gia Long trả thù
Facebook Văn Hóa Thuần Việt (17.02.2022)
soạn giả : Hoàng Đức Phương
TRẮC NHIỆM VỀ
HÀNH ĐỘNG CỦA GIA LONG
ĐỀ THI VĂN SÁCH
Ø Sau khi
phân tích việc làm của Nguyễn Ánh khi chưa nắm chánh quyền trong việc cầu viện
ngoại bang như Xiêm La (thất bại) và Pháp với Giao Ước Versailles thì vấn đề
đặt ra là : TẬP LÀM MỘT ĐỀ AN VĂN SÁCH xem khả năng chánh trị của mình tới
đâu nha.
Ø Văn
Sách là sách lược đấu trong do nhà vua ra đề tài và các vị Tiến Sỹ thi trong
Cung Vua nên gọi là thì Đình để xếp hạng cao thấp.
Ba người đứng đầu được gọi là TAM KHÔI là Trạng Nguyên, Bảng Nhãn và Thám Hoa do nhà TRẦN đặt ra
ĐỀ TÀI VĂN SÁCH
(thi đình do vua
ra đề)
Thay vì tranh luận
để sư nói sư phải, vãi nói vãi hay vì thiếu tài liệu mật và tối mật nen chỉ có thể
suy ra bằng hành động và hậu quả để lại.
Nay xin kính mời các sỹ tử tham gia vào việc nước để thi thố tài năng cho dân được hưởng cho nước được nhờ.
ĐỀ THI VĂN SÁCH
Các ông
Tiến Sỹ thi trong cung vua để chấm cao thấp
RẰNG :
Hiện nay dân ta
đang bị đảng Việt Cộng vùi xuống sình lầy và đi dần đến chỗ diệt vong.
Việc phải làm cấp
kỳ là lật đổ chế độ Việt Nô Cộng Sản, nhưng chưa đủ nội lực vì dân tình còn lơ
là với việc nước là hậu quả của nền giáo dục VONG NÔ VIỆT Cộng đào tạo ra thế
hệ như vậy.
Vậy thì :
Nếu có
một tổ chức nào chạy đôn, chạy đáo như Nguyễn Ánh để cầu viện ngoại bang diệt
Cộng dùm ; thì người dân có nên ủng hộ hay không ?
Xin sỹ
tử cho biết lý do của cá nhân mình, tại sao lại ủng hộ và tại sao lại không ủng
hộ ?
--------------------------------
CHỦ TRƯƠNG TRẢ THÙ DÂN TỘC CỦA GIA LONG
HÀNH ĐỘNG SAU KHI LÊN NGÔI
VIỆC
LÀM CỦA GIA LONG (sau khi lên ngôi)
Chiếu
theo 3 nguồn tài liệu chánh sau đây:
1.
Con
Rồng ANNAM - Bảo Đại
2.
Làng
Hành Thiện dưới thời Tây Học - Đặng Hữu Thụ (Luật Gia Long / Luật Càn Long)
3.
Lịch
Sử đồ gốm – Bùi Ngọc Tuấn
TRƯỚC
HẾT LÀ BÁO ÂN :
Đền ơn ông Bá Đa Lộc :
Tạ ơn Giáo Sỹ Bá Đa Lộc bằng cách ban cho ông cái chức CẢ, nên gọi
là cha Cả thay cho Đức Cha Bá Đa Lộc vì gọi tên cúng cơm là thất lễ.
Khi chết chính Gia Long đọc điếu văn ca tụng ông, chôn ở Tân Sơn
Nhất với tên LĂNG CHA CẢ.
Ø
Chữ MỘ (mồ mả) được dùng cho thường dân
chết đi mà không có công đức gì với dân với nước cả.
Ø
Chữ LĂNG là mồ mả của vị công thần nhà vua
hay của vị có công đối với đất nước.Nội
chữ LĂNG đã nói lên sự biết ơn của Gia Long đối với ông ta rồi, vậy thì
đừng ngụy biện là ông này không giúp đưọc gì cho Nguyễn Ánh cả. Không có ông
này thì Nguyễn Ánh không phá nổi nhà Tây Sơn.
Vì kiêng húy nên Gia Long ra chiếu chỉ : Cấm người dân không
được dùng chữ CẢ vì phạm húy. Người miền Nam gọi con theo thứ bậc nên con
trưởng gọi là Anh Hai, Cô HAI chứ không được gọi là anh CẢ, Cô CẢ.
Nay trở thành tục lệ nên không biết nguồn gốc sai lệch của sự
kiêng tên này.
Ø
Tức là Gia Long đã phá hủy nền Văn Hóa
Việt. Đây là một trọng tội
Ít lâu sau, khi xây nhà thờ Đức Bà ở thành phố Saigon, bên cánh
phải nhà thờ ngạo nghễ bước tượng Đức Cha Bá Đa Lộc che chở và dạy dỗi thằng bé
ngoan đạo là Nguyễn Phúc Cảnh con trưởng của Nguyễn Phúc Ánh.
Ø
Với
hành động hàm ơn này mà có người còn nói là ông BÁ ĐA LỘC không giúp gì cho
Nguyễn Phúc Ánh cả. Nếu không giúp thì cớ chi Nguyễn Phúc Ánh phải hàm ơn ông
ta ?
Đền ơn nước Pháp :
1.
Hoàn
trả 2 chiếm hạm cùng với đoàn tầu hộ tống cho Hải Quân Pháp.
2.
Chấp
nhận để 2 tên Hạm Trưởng theo sát mình, được quyền tham dự các buổi ngự triều
để bàn việc nuớc. Chúng là những tên LÃNH ĐẠO chỉ huy và theo dõi Gia Long đấy.
3.
Nhường
cho nước Pháp độc quyền thương mại và quyền điều hành cảng Hội An. Chấp nhận
nền kinh tế đàng trong nằm trong tay người Pháp. Đó là lý do để Gia Long đánh
sập nền kinh tế đàng ngoài của chúa TRỊNH
4.
Trao
trọn chủ quyền hòn đảo Côn Sơn và hòn đảo án ngữ thương cảng Hội An để chúng có
thể uy hiếp mình khi cần.
Lúc đó người Pháp chỉ việc phong tỏa vùng biển bằng hạm đội đóng ở
Côn Đảo và khóa cảng Hội An là đất nước lâm nguy ngay. Vì hàng hóa không thề
xuất cảng được, và hàng nhập cảng cũng không có.
Các cảng đàng ngoài đã trở nên vô dụng do luật Gia Long cấm dân
chúng tiếp cận với dân da trắng. Ngoại
Thương nẳm trọn trong tay Triều Đình.
SAU
ĐẾN LÀ BÁO OÁN :
Trả thù công thần nhà Tây Sơn một cách man
rợ .
Ø
Tức
là tiêu diệt toàn thể lãnh đạo đất
nước nên dân Việt thiếu Lãnh Tụ và Gia Long chẳng học hỏi được kinh nghiệm gì
của các nhà lãnh đạo nhà Tây Sơn.
Do đó ông ta trở thành một lãnh tụ DỎM, không người cố vấn. Trong
khi đó kiến thức của ông chỉ qua kiến thức của đứa bé 13 tuổi. Mất nước là đúng
Trả thù công thần nhà LÊ, cầm tù công thần nhà LÊ
và cầm chân công thần nhà Lê mà chính ông đã rêu rao là Diệt Trịnh Phù Lê. Công
văn của ông đều để niên hiệu Cảnh Hưng rồi Lê Chiêu Thống ; mặc dù ông Lê
Chiêu Thống đã chết vì bị Tàu bội ước:
Ø
Tức
là ông THOÁN VỊ nhà LÊ, vì ông khiếp sợ chánh nghĩa nên nhân tài đất Bắc không
ai phò ông cả. Do đó luật GIA LONG là bản văn chép nguyên con của bộ hình
luật nhà THANH bên TÀU dùng để kìm kẹp dân nô lệ.
Nên nhớ nhà THANH là RỢ KIM, ở phương Bắc, không phải là người TÀU
vào HOA LỤC để thống trị dân Tàu và dân Bách Việt.
Phá hủy nền kinh tế ĐÀNG NGOÀI (Bắc Kỳ) :
Ông coi dân Bắc (đàng ngoài) là ngoại chủng nên ông có những sắc chỉ riêng và
cố tình phá hủy nền kinh tế đất Bắc phá hủy lò gốm CHU ĐẬU là lò gốm lâu đời
với tay nghề cao được dân Nhật ưa chuộng
Ông ra sắc luật cấm người Hải Dương thi võ….., để dân chúng không
có khả năng : DIỆT NGUYỄN PHÙ LÊ.
Ø
Vì sợ
dân nổi loạn nên ông TRỌNG VĂN KHINH VÕ do đó mất nước vào tay người
PHÁP : Quan Văn Thất Phẩm đã cao, Quan Võ Ngũ Phẩm còn mang gươm hầu.
Ø
Ông
trị vì 18 năm mà có tới 19 vụ nổi loạn lớn do Công Thần khởi nghĩa nhưng không
thành. Như vậy là lòng dân không yên
ö
CHIA
RẼ LÒNG NGƯỜI ĐỂ DỄ TRỊ
(suy ra từ bộ Luật Hình Sự của GIA LONG)
·
Cướp ngôi nhà Lê.
Lúc đấu tranh thì dựa hơi nhà Lê ; phất ngọn cờ Diệt Trịnh
phù Lê.
Khi thành công thì thành lập Triều Nguyễn và canh chừng công thần
phục LÊ. Sợ họ phất cờ diệt Nguyễn phù Lê.
Trường hợp NGUYỄN DU, Con cháu ông Phan Huy Ích tý nữa thì mất đầu
chỉ vì trung thần nhà Tây Sơn bị cầm chân trong triều. Ông này là Phan Huy Chú
(con Phan Huy Ích ở Sơn Tây (gần chùa Thày) đã dám khuyên Minh Mạng tài giảm
binh bị để dân bớt khổ vì sưu cao thuế nặng.
Minh Mạng cho làm xàm tấu, nưc đang có loạn khắp nơi vì lòng dân
không ưa nhà Nguyễn mà lại xúi dại tài giảm binh bị.
Ông anh cũng bị cầm tù trong Triều khuyên em là hãy ngậm miệng
giống ông Nguyễn Du. để bảo toàn sinh mạng.
·
Coi
dân Bắc là ngoại chủng. Luật tuyển binh thì ; Trung kỳ 3 đinh bắt 1 lính,
Nam kỳ thì 5 đinh bắt 1 lính, Bắc kỳ thì 7 đinh bắt 1 lính. Người sinh đẻ ở Hải
Dương không được đi lính vì sợ làm loạn PHỤC LÊ (§ con Rồng Anam - BẢO ĐẠI)
·
Sợ
quan võ làm loạn nên ra luật : Trọng Văn khinh Võ.
Ø
Quan Văn Thất Phẩm đã cao, quan Võ Ngũ
Phẩm còn mang gươm hầu.
Phẩm Hàm thì có 9 PHẨM, thấp nhất là Cửu Phẩm, cao nhất là Nhất
Phẩm. Mỗi Phẩm có 2 trật Chánh và Phó
·
Cấm
Thái Tử không được chọn Cung Phi người Bắc (Phi là vợ vua, tức nàng hầu)
·
Khi
Gia Long hấp hối, muốn truyền ngôi cho Minh Mạng ; nhưng Tả Quân Lê Văn
Duyệt cực lực chống đối và đòi truyền ngôi cho con trai Thái Tử Nguyễn Phúc
Cảnh vì ông này đã chết rồi.
Để tránh xung đột, nhà vua cho đầu độc vợ và 2 đứa con của Thái Tử
Cảnh ; do đó Minh Mạng nối ngôi (§ con Rồng Anam - BẢO ĐẠI)
·
Ngay
sau khi lên ngôi thì Minh Mạng bắt hoàng tộc phải đổi họ để con cháu mình độc
quyền nối ngôi bằng 2 câu đối ĐẾ HIỆU gồm 20 đời –
-
Trả
thù Tả Quân Lê Văn Duyệt bằng cách xính mả lại.
-
Vong
ơn Lý Thái Tổ bằng cách đổi tên thành Thăng Long ra làm Hà Nội (thành phố trong
sông NHỊ HÀ).
·
Còn
Gia Long thì phá thành Thăng Long do nhà Sư Vạn Hạnh xây vì sợ dân Bắc làm
loạn. Đổi tên Quy Nhơn thành Bình Đình (đã bình định xong lũ giặc Tây Sơn) –
Ø
Khác
hẳn với chánh sách thu dụng hiền tài đất Bắc của anh em Tây Sơn.
·
Phá
hủy lò gốm Chu Đậu nổi danh trong vùng, đánh sập kinh tế miền Bắc vì sợ dân Bắc
làm loạn (Lịch sử dồ gốm của ông Bùi Ngọc Tuấn/Site Web)
·
Vì
thất nhân tâm nên nhân tài đất Bắc tảy chay, do đó Gia Long không có luật do Sỹ
Phu nước Việt làm như nhà Tây Sơn.
Vì nhu cầu phải có luật, nên ông bê nguyên con bộ hình luật của
nhà Thanh về áp dụng - Luật nhà Thanh (Ngoại chủng, RỢ KIM) là luật của kẻ
Thống Trị áp dụng để kìm chế kẻ bị trị (dân Tàu và dân Bách Việt)
·
Ngoại thương nằm trong tay Triều Đình.
Ø Cấm
người dân không được tiếp xúc với Bạch Quỷ (người da trắng) để dấu nhẹm hậu quả
của sự bán nước qua Giao Ước Verssailles.
·
Nhường hòn đảo án ngữ cảng Hội An cho Pháp
làm nơi bäo trì håm đội.
·
Nhường đảo Côn Sơn cho Pháp làm Quân Cảng
·
Hai hòn đảo này chi phố hoàn toàn bờ biển đàng
trong
Ø Đây là hành động bán nước và cũng là hậu
quả của Giao Ước Versailles.
Vậy cớ sao lại nói
là chánh quyền Pháp chẳng giúp được gì cho Gia Long cả ???
Chẳng qua chỉ vì
lý do chánh trị nên chánh quyền nưóc Pháp giúp ngầm để đánh lừa dân của họ, chứ
Gia Long làm gì có đủ sức để đóng 2 chiếm hạm và tiền bạc để nuôi quân và xây
thành để sát hại đồng loại, phá hủy tiềm năng dân Việt.
---------------------------------------
RẰNG :
Việc đốt sách giết học trò là hành động để
dân bị trị ĐOẠN TUYỆT VỚI TIỀN NHÂN, sau đó bôi nhọ tiền nhân của họ để họ có
tinh thần tự ti và tn sùng kẻ thống trị mình.
Ø Đó là sách lược NGU DÂN của bọn BẠO CHÚA
bên TÀU.
Vì thế nên dân Tàu
không có văn hóa truyền thống mà chỉ có Văn Hóa đoản kỷ theo sự cai trị của
từng BẠO CHÚA ; khi che dấu, lúc lộ diện.
Điển hình là phong
trào «CÁCH MẠNG VĂN HÓA» long trời lở đất của MAO TRẠCH ĐÔNG mà chúng ta chứng
kiến sự thảm khốc và man rợ của nó.
Đó cũng là hành
động ẩn danh của Gia Long, nhưng hậu quả tàn phá ngang ngửa như nhau :
DIỆT CHỦNG.
·
Gia Long đã phát động phong trào Phong
Trào Nôm Na là Cha Mách Qué để hủy diệt toàn bộ Văn Minh và Văn Hóa của dân
tộc. Hướng tới tinh thần Vọng Ngoại, Vong Nô và tự ti mặc cảm; nhưng lại tự
kiêu tự mãn của giai cấp sỹ phu vọng ngoại
·
Tự mình phỉ báng tổ tiên của mình để xây
dựng tư tưởng Ngoại Lai nửa vời. Như đào mả Khổng Tử lên để tôn thờ một triết
lý lạc ậu và lỗi thời. Trong khi đó triết lý này đả bị nhà Thanh cất vào Tứ Khố
Toàn Thư từ 300 năm trườc.
·
Gia Long cấm người dân không được nhắc tới
chánh trị nhà Mạc, nhà Trịnh và nhà Tây Sơn.
Trước đó thì nhà
Tây Sơn khuyến khích người dân tìm hiểu cội nguồn của dân tộc nên mới nghe ông
La Sơn Phu Tử (Nguyễn Thiếp, công thần
Lê Chiêu Thống) dựng lên SÙNG CHÍNH VIỆN (Viện tôn trọng sụ chính trực lịch
sử dân tộc) để khai phóng dân trí và chấn hưng dân khí
-----------------------------
T67(b) – Phát Triển và Tuyền Thống
Facebook Văn Hóa Thuần Việt(17.02.22)
Tài liệu Học Thuyết Nhân Vị (Ngô Đình Nhu)
Truyền
Thống cần phải phát huy
để bảo
vệ bản sắc dân tộc.
Bản sắc dân tộc là
các yếu tố dùng để kết hợp dân Việt với nhau.
NGUYÊN TẮC PHẢI NHỚ :
ĐỪNG LO ĐỘC LẬP
KHÔNG TỚI, MÀ CHỈ LO NGƯỜI DÂN KHÔNG ĐỦ KHẢ NĂNG ĐỂ BẢO VỆ ĐỘC LẬP (tức chớp
thời cơ) – Phan Bội Châu
QUY LUẬT THIÊN NHIÊN :
·
Không
phát triển thì mất độc lập rồi từ từ tụt hậu tiến tới tiêu vong.
·
Muốn
phát trển thì phải có độc lập.
·
Muốn
giữ vững nền độc lập thì đất nước và con người phải phát triển.
RẰNG :
Bài toán này không có lời giải ở thế kỷ trước vì thiếu phương tiện,
nhưng ở thời kỳ ĐIỆN TOÁN thì chúng ta giải quyết được dễ dàng, miễn là có ý chí
và nghị lực bắt tay vào việc là làm được.
Ø
Tức là
ở lòng người chứ không phải vì hoàn cảnh bất khả thi như trước.
CÁCH GIẢI THẾ BÍ :
Nay chúng ta có lối thoát nên đừng để mất
thời cơ. Chỉ cần :
1.
Có Ý CHÍ đòi quyền Tự Quyết cho dân tộc.
2.
Có NGHỊ LỰC để vượt qua mọi trở ngại.
3.
Có QUYẾT TÂM đi đến cùng để tránh cảnh Đánh
Trống Bỏ Dùi, đâm tuông bỏ vãi.
PHÁT TRIỂN có 2 phần : CON NGƯỜI và ĐẤT NƯỚC.
Ở thế kỷ trước, mất nước là mất phương tiện khác triển. Nay chúng
ta có đầy đủ phương tiện để phát triển con người, vậy sao lại không có ý chí
ginh quyền Tự Quyết cho dân tộc để có phương tiện Phát Triển Con Người và Đất
Nước ?
BA PHƯƠNG TIỆN MỚI CÓ là :
A.
Chương
trình dùng sức mạnh của Văn Hóa Thuần Việt để kết hợp sức mạnh TÂM LINH
là do công sức của Đồng Bào Hải Ngoại.
*** Thêm vào đó chúng ta đã biết cách đọc
thông điệp người xưa ký thác trong HUYỀN SỬ để biết lịch sử thời đó là thời
chưa có chữa viết.
** Phần Huyền Thoại được dùng để chuyên
chở Thông Điệp
B.
Phương
tiện Truyền Thông hiện đại làm nơi huấn luyện sức mạnh Tâm Linh cho đồng bào
(không tốn tiền, nhưng cần ý chí và nghị lực thì ai cũng có)
C.
Đồng
Bào Hải Ngoại là nơi hướng dẫn cách phát triển nền VĂN HÓA THUẦN VIỆT, vì họ
sống trong môi trường KHUYẾN KHÍCH vệc tìm hiểu cội nguồn.
Sau đó:
1)
Phát
huy sức mạnh Tâm Linh để lật đổ chế độ Cộng Sản giành quyềt TỰ QUYẾT cho dân
tộc bằng sự kết hợp dân tộc.
2)
Dùng
sự độc lập đề PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC và CON NGƯỜI.
NHƯ THẾ LÀ BÀI TOÁN ĐÃ CÓ LỜI GIẢI.
Điều kiện ^pải có là : Ý CHÍ, NGHỊ LỰC và QUYẾT TÂM
Chúng ta có 2 việc phải luôn luôn phát triển là :
a)
PHÁT
TRIỂN ĐẤT NƯỚC :
Đây là việc phải làm thường xuyên để đủ
sức bảo vệ Tự Chủ.
Không có tự chủ thì không được quyền Canh
Tân, tức tụt hậu
b)
BẢO VỆ BẢN SẮC DÂN TỘC :
Không bào vệ Bản Sắc thì ta không còn là
ta nữa.
Bản sắc dn tộc, hay Truyền Thống dân tộc
là chất liệu để kết hợp dân tộc.
Không kết hợp thì xã hội tan rã theo CÁ
NHÂN CHỦ NGHĨA như xã hội chúng ta ngày hôm nay. Ngôn từ người xưa là xã hội
NHIỄU NHƯƠNG
CÔNG
VIỆC PHẢI LÀM :
Chúng ta có 4 loại Truyền Thống phải thi hành nghiêm túc :
-
Những
truyền thống nào cần phải phát huy.
-
Những
Truyền Thống nào cần phải thay đổi cho hợp thời.
-
Những
Truyền Thống nào LÔI THỜI phải hủy bỏ
-
Những
Truền Thống nào chưa có cần phải sáng tạo để bổ xung
TRUYỀN
THỐNG CẦN PHẢI PHÁT HUY TỐI ĐA
·
Màu vàng của lụa tơ tầm là sắc thái dân tộc. Màu cờ NỀN VÀNG là màu
cờ của dân tộc. Quốc kỳ phải mang NỀN VÀNG với ý nghĩa : Nước Nam của dân
Việt đã có từ ngày lập quốc
-
Nói
lên ý nghĩa NGƯỜI DÂN LÀM CHỦ ĐẤT NƯỚC. Dân tộc có trước, Đất Nước
có sau.
-
Nó
trái với ý nghĩa ĐẤT CỦA CHÚA, LÚA CỦA TRỜI , tức đất nước có trước do ông BẠO
CHÚA đẻ ra, dân chúng đến tá túc nên gọi là THẦN DÂN (người dân thần phục Bạo
Chúa, hạnh phúc của mình do Bạo Chúa ban phát (chế đô Cộng Sản là một đển
hình ; hay chế độ bên Tàu từ nhà CHU cho tới ngày hôm nay.
·
Tinh
thần Tự Trọng và Cầu Tiến nằm trong danh từ Văn Lang và
Liên Bang VIỆT
·
Tinh
thần Tự Lực, Tự Cường nằm trong hình
ảnh 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha ra biển để trấn giữ biên cương
trong thế Toàn dân kháng chiến, toàn diện đấu tranh trong thế liên hoàn tiếp
ứng.
·
Tinh
thần Phục Thiện
·
Khí
phách RỒNG TIÊN, văn hóa LẠC HỒNG
·
Tinh
thần ĐỒNG BÀO là no đói có nhau, vui
cùng huỏng mà họa cùng chịu ; nằm
trong câu chuyện Rồng Tiên và mặt trống đồng Đông Sơn 14 tia
Hệ số giữa chu vi vòng tròn
và đường kính là :
1.
Toán
học thực dụng thì p = 3,2 . Công thức : Chia chu vi làm
8 phần, bỏ đi 3 phần còn lại chung đôi thì ra ĐƯỜNG KÍNH
2.
Toán
học thuần lý (Tây Phương) thì p = 3,14159….
CÁCH TÍNH :
Thợ mộc lên rừng đốn cây về làm cột thì họ đo chi vi thân cây bằng
một sợi giây.
a)
Sau
đó chung đôi ba lần = chia làm 8 phần đếu nhau (8/8 = chu vi)
b)
Bỏ đi
3 phần.
c)
Còn
lại chung đôi
Công thức toán học ngày nay : (8/8)-(3/8) = 5/8 (tức 2 đường
kính).
Cách đo thời xưa :
Đường kính chia ra làm 10 đơn vị, thì chu
vi = 32 đơn vi
![]()
![]()
PHẦN BỎ ĐI 12 đơn vị
·
Phần
bỏ đi là 1 đường kính (10 đơn vị) và phần lẻ (2 đơn vị)
·
32 –
12 = 20 đơn vị (tức 2 đường kính)
·
Chia
tất cả cho 4, thì ta có : 8-3 = 5 (5x4 = 20 đơn vị, tức 2 đường kính)
·
(5/8)/2
= (5/16) hay 1/3,2 tức p = 3,2
THẦN CHÚ : Chia TÁM, bỏ BA, còn NĂM. Chung đôi sẽ ra ĐƯỜNG KÍNH
¾
CÁCH XƯNG HÔ ĐỘC ĐÁO
và ĐÁNG KÍNH CỦA NÒI VIỆT
Quy luật cần phát huy
· Xưng hô theo vai vế trong gia đình phát xuất từ danh từ Đồng Bào, theo quy luật là Con Hơn Cha Là Nhà Có Phúc. Do đó cách xưng hô không cứng ngắc mà uyển chuyển theo môi trường gặp nhau (coi biểu đồ vai vế trong gia đình)
ö
TRUYỀN THỐNG CẦN PHẢI THAY ĐỔI
·
Cách tổ chức xã hội theo chế độ PHÂN CÔNG
phải hoà toàn khác với xã hội làm ăn cá
thể, nó kéo theo nhũng quan niệm lỗi thờ phải cải sửa như chữ HIẾU, Thuế
Má, lương hưu….. phụ cấp Gia Đình, người neo đơn đã có trong bộ luật Hồng Đức
bị Gia Long, Thực Dân Pháp và Việt Cộng bỏ đi ; vì họ chủ trương bóc lộc
sứclao động người dân. Còn sức thì bóc lột ; khi hết khả năng làm việc thì
là gánh nạng cần phải tiêu diệt như nhà nông thấy trâu bò hay ngựa không còn đu
sức để bóc lột thì ngả làm thịt trước khi chúng gầy gò ốm yếu.
·
Quan niệm về chỗ đứng của phái nữ trong phát
triển đất nuớc và con ngưòi phải thay đổi.
Nên nhớ rằng dân Việt
thuộc Mẫu Hệ nên người đàn bà có chỗ đứng bình đẳng quyền lợi và trách nhiệm
với đàn ông từ ngày lập nước Văn Lang (2879BC) cho tới hềt nhà Tây Sơn (1802AD)
– Quan niệm sai lầm này được dùng để phục vụ Chánh Trị dưới thời : Xướng
Ca Vô Loài (Nguyễn Sãi 1.620AD) ; Nôm Na là Cha Mách Qué dưới thời Gia
Long (1802). Thực Dân Pháp có nhu cầu gây bất ổn để bót lột cho dễ nên đào thêm
cái hố ngăn cách. Bọn Việt Cộng li làm ngược li để gây rối loạn trong xã hội
thì chúng mới trị được bằng luật rừng
ö
TRUYỀN
THỐNG CẦN PHẢI DẸP BỎ
Quan niệm:
·
Con vua thì lại làm vua, con thày chùa đi
quét lá đa. Bắt đầu từ các Chúa Nguyễn
với tư tưởng ất Của Chúa, Lúa của Trời
·
Xướng Ca Vô
Loài. Bắt nguồn từ Chúa Sãi (1620) là con Nguyễn Hoàng, ra mặt ly khai
vua Lê để chia đôi đất nước và dân tộc ; chỉ vì có ông Đào Duy Từ tận tin
sáng tạo ra chiến lũy ĐỒNG HỚI để ngăn quân Trịnh, đánh hoài mà chịu
thua :
Trong một xã hội phân công thì nghề
nào cũng quý, ngoại trừ nghề bán nước, phá hủy xã hội, lưu manh luờng gạt hay
tội ăn cắp ăn cướp.
Nghề bán chôn nuôi miệng là do xã hội
thối nát đào tạo ra. Đẩy người ta đến
đường cùng là lỗi ở xã hội tham nhũng thối nát mà ra.
Còn xã hội
chú trọng đến phát triển Giáo Dục, kinh tế phồn thịch, không người thất nghiệp
thì thì tự nhin các nghề lao nô đĩ điếm sẽ biến mất.
·
BÀI VIỆT : Bắt
nguồn từ Gia Long với :
Phong Trào Nôm Na là Cha
Mách Qué.
Trọng Nam khinh Nữ .
Trọng Phú khinh Bần.
Trọng Văn kinh Võ.
Phá hủy ền Văn Hóa Việt : Bắt kiêng chữ CẢ, vì đã vinh danh ông Cố Đạo Bá Đa Lộc làm Đức Cha CẢ. Khi chết lại
có lăng tẩm ở Tân Sơn Nhất và chính Gia Long đích thân đến đọc điếu văn ca tụng
công đức đã giúp Gia Long xây được NGHỆP ĐẾ.
Nên chiếu ban ra cấm dùng chữ CẢ là phạm húy, mang tội chết chém.
Do đó người trong Nam mới gọi tên con Trưởng là Anh Hai, Chị Hai,
Cô Hai chứ không được dùng chữ Cả.
Đây là quốc hồn quốc túy không những cần
phải phục hồi lại mà còn để xóa bỏ tinh thần Hướng Ngoại, Vong Nô.
·
HỌC
THUYẾT TAM VÔ (vô Gia Đình, vô Tổ Quốc, vô Tôn Giáo).
Bắt nguồn từ Việt Nô Cộng Sản đem
v vào ngay 02/9/1945 đê tiêu diệt thinh thần ĐỒNG BÀO bằng PHONG TRÀO GIAI CẤP
ĐẤU TRANH để người Việt sát hạt lẫn nhau
·
TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO ĐÀO TẬN GỐC TRỐC TẬN RỄ để hủy diệt toàn thể nhân tài của dân
Việt. Du nhập vào nước Việt từ ngày 02/9/1945 do HỒ CH MINH sáng tạo
Trắng trợn là chấp nhận làm vô lệ Giặc Tàu với chánh sách bắt dân
Sinh Bắc Tử Nam để sát hại Đồng Bào bằng lệnh đi làm nghĩa vụ Quốc Tế với chủ
nghĩa Tam Vô (vô gia đình, vô tổ quốc và vô tông giáo. Tuyên bố rõ ràng :
Con người là Công Cụ Sản Xuất để tiêu diệt cho dễ.
·
TINH
THẦN Tự-ti, Mặc cảm, vọng ngoại vong nô do ền giáo dục c »a Thực Dân Pháp
để bóc lột cho dễ.
·
Tinh
thần KỲ THỊ TÔN GIÁO do Thực Dân Pháp gây chia rẽ để dễ trị
·
Tinh
thần Tôn Thờ Lãnh Tụ, xa lánh chánh trị để
chấp nhận nô lệ và cắm đầu chịu bóc lột bằng tuyền truyền xảo trá, vong ơn bội
nghĩa do Hồ Chí Minh đem tới vào ngày 02/9/1945
ö
TRUYỀN
THỐNG CẦN PHẢI
PHÁT
HUY và SÁNG TẠO
·
Tinh
thần làm việc tập thể, tôn trọng giờ giấc, kỷ luật và phân công.
·
Tổ
chức lại xã hội cho phù hợp với nhu cầu phát tirển của thế kỷ Điện Toán 2022 –
theo chế độ phân công và thể chế DÂN CHỦ CHẾ TÀI
·
Khôi
phục lại Nền Văn Hóa Thuần Việt đã được cập nhật theo bối cảnh sinh sống ngày
hôm nay
¾
ÔN
LẠI CHUYỆN XƯA
Tất cả những điều vừa trình bày đều nằm trong tinh thần Cầu Tiến.
Mà tinh thần cầu tiến là danh xưng của Liên Bang Việt gồm 15 Bộ
Lạc.
Ø
Bộ
Lạc là tiếng Việt (vùng An Lạc) theo ngôn từ ngày hôm nay là Tiểu Bang (là tiếng
Tàu).
Ø
Việt
có nghĩa là Vượt mọi khó khăn để thăng tiến cùng người.
Ø
Liên
bang Việt là liên bang của những người có tinh thần CẦU TIẾN.
Ø
Còn
Văn Lang là nước của con người có tinh thần TỰ TRỌNG . Văn Lang là nước của con
người Hào Hoa, Phong Nhã ; Phóng Khoáng Hào Hiệp ; Lịch Sự Bặt Thiệp.
Sau các đợt nô lệ liên tục, dân ta đã để mất những đức tính cao
thượng và huy hoàng để tự biến mình thành đồi trụy với chủ nghĩa cá nhân và ích
kỷ nên xã hội mới tan rã và vô tổ chức, mạnh ai nấy sống như ngày hôm nay
Theo nhu cầu sinh tử thì phải ưu tiên cho phát triển, nhưng đừng
lạm dụng.
Do đó :
·
Những
truyền thống nào làm cản trở cho công cuộc Phát Triển thì phải dẹp bỏ
như : Trọng Nam Khinh Nữ, trọng Phú Khinh Bần, Trọng Văn Khinh Võ, là truyền
thống do Giao Long tạo ra vời phong trào Nôm Na là Cha Mách Qué.
Nó đã đưa dân ta vào vòng nô lệ người
Pháp.
** Xướng ca vô loài ám chỉ
ông Đào Duy Từ, phát xuất từ chúa Nguyễn Sải
(1620) ra mặt ly khai để đất nước suy tàn về mọi mặt.
·
Những
truyền thống nào không hợp với thời đại đang sống thì phải hoàn chỉnh lại như
quan niệm về chữ HIẾU do Giao Long đặt ra để trói chặt con cái với cha mẹ nên
không dám làm loạn.
Ngược lại nhà Trần quan niệm : Tiểu
hiếu phải hy sinh trước Đại Hiếu (lời ông Nguyễn Phi Khanh khuyên con là ông
Nguyễn Trãi đừng heo cha sang Tàu ; hãy nghĩ đến nước và quay về tìm cách
ửa nhục cho nước
·
Những
truyền thống cần cho nhu cầu phát triển theo cách :
** Làm việc phân công của tập
thể, làm việc dây chuyền thì phải sáng tạo ra để bảo vệ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
như :
** Trường học, nhà nuôi trẻ
với sinh hoạt thuần Việt cho các ấu nhi, nhà săn sóc người không còn khả năng
sản xuất, trợ cấp người nghè, tăng thuế gười giàu …. Tìm mọi cách để xã hội
phát triển, không ai thất nghiệp vì những lý do xã hội thiếu tổ chức
·
Phát
huy tối đa những truyền thống không ảnh hưởng đến phát triển để kết hợp dân tộc
và để bảo vệ bản sắc của dân tộc Việt như :
1. NƯỚC
BÁCH VIỆT :
Chuyện Rồng Tiên là học thuyết căn bản của KHOA NHÂN VĂN
VIỆT TỘC, được lồng vào huyền thoại để chuyên chở thông điệp về cách ĐẤU TRANH
CÁCH MẠNG và ĐẤU TRANH CHÁNH TRỊ dưới thở Lãnh Vương Câu Tiễn giết Ngô Phù Sai
và sát nhập nước Ngô vào với nước Văn Lang rồi cải danh thành nước Bách Việt
(#600BC) mà cương vực lên đến tận sông Dương Tử.
2.
NƯỚC NAM VIỆT :
Về sau Triệu Đà người Bách Việt gốc Ngô đổi thành nước Nam Việt
(207BC) ; phía nam sông Dương Tử là đất của dân Bách Việt.
Ngày hôm nay chúng ta thấy sử gia vẽ bản đồ nước Bách Việt mà ghi
từng nước nhỏ vì họ nhầm nươc Bách Việt là một Liên Bang ; vậy thì các
nước nhỏ lúc đó gọi là Bộ Lạc (nay gọi là tiểu bang)
3.
TINH THẦN ĐỒNG BÀO :
Danh tử Đồng Bào phát xuất từ chuyện Rồng Tiên, nói lên tinh thần
đùm bọc giữa dân NGÔ và dân VIỆT. Từ đây mới đẽ ra thành ngữ : Bàu (Ngô)
ơi, thương lấy Bí (Việt) cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một dàn. Tức
cùng nhau bảo vệ nước Bách Việt chống lạidân phương Bắc lúc đó là thời nhà CHU,
ngũ Bá Tranh Hùng (Sở, Tống, Tề, Tấn và Tần) ở phía bắc sông Dưong Tử. Còn ở
phía Nam sông Dương Tử là Nhị Bá Tranh Vương (Ngô và Việt)
4.
CÁCH XƯNG HÔ ĐỘC ĐÁO
:
Từ danh từ Đồng Bào mới sinh ra cách xương hô trong đại gia đình
mà chúng ta đang dùng.
Vì không biết quy luật nên chúng ta cho là rườm rà nên đ vô tình
vt bỏ những nét đặc thù và đánh kính của
Nền Văn Hóa Thuần Việt mà tổ tiên đã nát óc nghĩ ra .
5.
SẮC THÁI DÂN VIỆT :
·
Màu
vàng của lụa tơ tầm (người xưa biết dệt lụa vào 8.000BC, lấy mo cau làm
go, vỏ só là dao, xơng cá làm kim và dùi)
Quốc Kỳ NỀN VÀNG là nói lên tinh thần độc lập dân tộc.
Nền Vàng là DÂN VIỆT LÀM CHỦ NƯỚC VIỆT, với quan niệm : DÂN
CÓ TRƯỚC, NƯỚC CÓ SAU
Người Tàu lấy NỀN ĐỎ (lửa mặt trời) có nghĩa l đất của B(o Chúa
(Thiên Tử = con trai của Tri) vói quan nệm : NƯỚC CÓ TRƯỚC, DÂN CÓ SAU.
Do đó mới có chữ Thần Dân (người dân thần phụcBạo Chúa), mới có ch»
HỆ HẠ và Hạ Thầy là do quan niệm « Đất Của Chúa Lúa Của Trờỉ »
6. NHÂN
SINH QUAN CỦA NGƯỜI VIỆT :
Cha ăn mặn, con khát nước. Cha ăn cướp, con ngồi tù, Cha lù khù,
con dốt nát.
Phong tục tế lễ gia tiên có từ khi biết sống quần cư quanh ruộng.
Người thân chết thì đem chôn ngoài đồng, hàng năm làm giỗ mà ta
gọi là ĐẠO GIA TIÊN tượng trưng bằng bàn thờ Gia Tiên trong nhà.
RẰNG :
Không một tôn giáo nào được quyền thay thế bàn thờ gia tiên mà ta
gọi là VIỆT GIÁO hay đạo Gia Tiên.
Do đó chúng ta phải phát huy tinh thần Việt Tộc, mà chủ yếu là tinh thần Đồng Bào, tinh thần Tự Trọng và
Cầu Tiến để kết hợp dân tộc ới nhau thnh bó đũa.
Nghi thức Tế Lễ cho ta biết quan niệm của Tổ Tiên về sự liên hệ
giữa cái sống và cái chết của con người.
Không có thuyết luân hồi hay siêu thoát chi cả.
Quan niệm là Cha Mẹ Sinh Con Trời Sinh Tánh. Có nghĩa là linh hồn
tự ý chọn tông đường.
·
Linh
hồn nhập vào hài nhi 1 tháng trước khi sanh và sống mãi với tông đường đó.
·
Do đó
con cái phải biết bảo vệ thanh danh cho tông đường.
·
Khi
qua đời thì hương linh quanh quẩn nơi mộ phần, phù hộ cho con cháu gặp lành
tránh dữ.
Quan niệm này là do trực giác mà ra, nên người ta mới nói :
Sống về mồ về mả, chứ không
ai sống về cả chén cơm.
Hay sống thì ăn ở có đức có
nhân để con cháu được nhờ.
7. THUYẾT
NHÂN QUẢ :
Cha ăn mặn thì con khát nước,
Cha ăn cướp thì con ngồi tù.
Cha lù-khù thì con ngu dốt,
Cha đốt nhà thì con ngủ đường.
Vì thế nên những truyền thống cần phải phát huy thì rất nhiều
nhưng ta chỉ nói một vài truyền thống tiêu biểu thôi.
8. TRUYỀN
THỐNG LUNG LAY :
·
Quốc
kỳ bắt buộc phải nền vàng, biểu tượng của sự tự chủ.
·
Đất
nước thuộc về toàn dân :
·
Nước Nam của người Việt Nam.
·
Dân có trước, nước có nước sau.
·
Không
được thay đổi chữ Quốc-ngữ, vì mỗi lần thay đổi chữ viết là một lần đoạn tuyệt
với tiền nhân.
·
Thay
đổi chữ Quốc-ngữ là chạy tội diệt chủng cho bọn Việt Nô Cộng Sản ; vì hậu
thế không đọc được tư tưởng của chúng ta.
·
Tuy
nhiên cần phải hoàn chỉnh chữ Quốc-ngữ cho đúng với quy luật của tiếng Việt.
·
Phát
huy và giải thích quy luật của cách xưng hô để chứng tỏ là con người có giáo
dục Nhân Văn Việt Tộc.
·
Chúng
ta đã thiết lập được biểu đồ Xưng Hô
và quy luật Xưng Hô dùng làm
căn bản để giảng dạy cho thuần nhất ; nhất là cho các em thiếu nhi trong
việc hòa đồng các sắc dân trên đất Việt.
** ĐỒ là vẽ.
** SƠ là tóm lược. (Sơ đồ mạch điện)
** HỌA là vẽ có kích thước. (Họa đồ căn
nhà)
** ĐỊA là hình thể đất đai. (Địa đồ nước
Việt Nam)
** BIỂU là chỉ vị trí cao/thấp, co/dãn. (Hàn
Thử Biểu)
·
Không
được thay đổi nghi thức Tế Lễ.
RẰNG :
Nghi Thức Tế phản ảnh nhân
sinh quan của người sống đối với người chết
Giữ nguyên Nghi Thức Nguyên Thủy (tức Cổ Truyền) không những chứng
tỏ tinh thần đoàn kết cùng nhau hướng về cội nguồn mà còn tìm hiểu tư tưởng và
lịch sử thời đó.
Còn thay đổi nghi thức là chứng tỏ chối bỏ cội nguồn, bắt đời sau
phải theo tư tưởng của mình ; con người mất gốc mà ta cứ tưởng là TÂN
TIẾN, y hệt những kẻ đòi đoạn tuyệt với tiền nhân bằng thay đổi chữ viết.
Người ta có hàng vạn cách Tế Lễ, và hàng vạn cách viết đi ghi tiếng
nói của dân tộc.
Một dân tộc độc lập thì bao giờ họ cũng hãnh diện về chiếu dài
lịch sử của họ. Vì thế nên bao giờ họ cũng vun đắp cái gốc (bản sắc = identity)
của dân tộc họ..
Còn TA, có 4.901 năm lịch sử (2.879BC – 2022AD) , không biết quý
lai đòi phá đi để nô lệ tư tưởng bọn Việt Nô Cộng Sản mà cứ ca tụng là TỨC
THỜI !!
Cũng chỉ vì bị nô lệ triền miên nên dân ta đã LẠC HỒN DÂN VIỆT,
tâm tư xao xuyến không biết mình là ai và sống để làm gỉ ?
·
Khi
bắt tay vào việc thì chúng ta sẽ thấy những yếu tố kết hợp dân tộc khác cần
phải phát huy. Trên dây chỉ là một vài yếu tố dùng làm thí dụ.
--------------------------------------




0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil