T68 Tết Tàu lai
T68(a) Tết Tàu lai
Giải thích theo di vật
Phần 1/2 ngày 24/02/2022
Giải thích theo Khoa Học
(phần 2/2 ngày 03.03.22)
GIẢI TỎA THẮC MẮC
Câu hỏi đặt ra là :
Ø
Tết Việt hay Tết
Tàu ?
Câu trả lời là :
ü
Người Việt đang
ăn Tết TÀU lai VIỆT.
ü
Vì Âm lịch là
lịch của dân Du-mục. Cung Chúc Tân Xuân là lễ hội mừng xuân của Nhà Nông nó đi
với Nông lịch chứ không đi với Âm Lịch
·
Tết theo Âm Lịch
là Tết TÀU (du-mục)
·
Cách mừng xuân là
của người Việt (nông nghiệp).
·
Vì thế nên chúng
ta có cái Tết lai căng.
·
Cái này do Mã Viên
ăn cắp Văn Hóa Việt đem về Tàu hóa vào năm 43AD là năm hắn sang ăn cướp nước
ta.
·
Nên nhớ rằng
chúng chỉ kiểm soát được vùng duyên hải ban ngày, còn ban đêm là kháng chiến
hoành hành ; nay ta gọi là vùng tạm chiếm hay vùng xôi đậu, vùng da beo.
Vì vậy nên ông Nguyễn Trãi nói là đánh nhau thì có, nhưng nô lệ 1 ngày cũng
không. Nay Tàu MAO (1997) cũng công nhận như vậy.
TẾT
là biến âm của chữ TIẾT, tức một khoảng thời gian ừ 3 đến 7 ngày
Sau đây là bản đồ vùng tạm
chiếm do MAO vẽ lại vào năm 1997AD (After Day Christ né)
GIẢI THÍCH THEO DI VẬT
Sau đây là một vài chỉ dấu
trái khoáy để dẫn tới sự nghiên cứu rành rọt để trả lại sự thật cho lịch sử
1/- TẾT HIỆN NAY :
Hiện nay chúng ta ăn Tết ÂM LỊCH là lịch
của dân du-mục tính theo Trăng để đi săn ban đêm. Đúng là Tết TÀU không chối
cãi được.
2/- CUNG CHÚC TÂN NIÊN :
Chúng ta vẫn chúc nhau CUNG CHÚC TÂN NIÊN
(Nguyên Đán = đầu năm) và CUNG CHÚC TÂN XUÂN cùng một tiết. Trong khi đó đầu
năm Âm Lịch của TÀU rơi đúng vào tiết xuân thì sao lại Cung Chúc Tân
Xuân ?
3/- NHUẬN
Âm Lịch cứ 5 năm lại nhuận 2 tháng, tức là
đầu năm du di từ 23 janvier (tháng Giêng Dương Lịch) đến 20 Février (tháng Hai
Dương Lịch).
Trong khi đó TIẾT XUÂN du di từ 28 Févrie
đến 06 Mars (tháng Ba Dương Lịch). Vậy thì không ổn.
4/- NÔNG LỊCH
CUNG CHÚC TÂN NIÊN của Nông Lịch cùng ngày với CUNG CHÚC TÂN XUÂN. Vì NÔNG LỊCH tính theo sao để định mùa, nên người xưa lấy ngày mồng một tháng GIÊNG là ngày đầu xuân. Vì thế nên Việt Lịch không thể chọn ngày đầu năm theo nhu cầu Chánh Trị như Dương lịch và Âm lịch được.
5/- ĐẶC THÙ CỦA NÔNG NGHIỆP (VIỆT) :
Chỉ có dân NÔNG NGHIỆP mới có ngày HỘI MỪNG XUÂN để ăn
mừng có công ăn việc làm, không phải nhịn đói nằm co trong mùa Đông thất nghiệp
liên miên.
Chữ
CUNG CHÚC TÂN XUÂN bắt nguồn từ ngày hội Mừng Xuân này. Vậy có đúng là Tết Tàu lai Việt không ?
6/- NIÊN ĐẠI CÁC NGÀY HỘI DÂN TỘC :
Kể từ năm 2003, cuốn sách nghiên cứu Miền Đất Phương
Đông (EDEN IN THE EAST) của Giáo Sư Stephen OPPENHEIMER xuất bản bên LONDON
(Luân Đôn) nói về BƯỚC CHÂN LOÀI NGƯỜI (MANKIND) mà quý vị có thể lấy trên mạng
thì chúng ta mới biết rõ niên đại của sự đột biến Văn Hóa trên vùng HOA LỤC
ngày hôm nay.
Chữ
HOA có nghĩa là văn minh, vì đó là nơi 3 quốc gia NGÔ, SỞ và VIỆT được thành
lâp quốc gia để đánh nhau tranh đất giành dân vào năm 2.879BC.
Mỗi nước có học thuyết riêng và cách tổ chức hoàn toàn khác nhau vì mục tiêu và tâm tình (văn hóa) của 3 sắc dân này hoàn toàn khác nhau ; mặc dù cũng là sắc dân Nông Nghiệp cả.
Thứ
nhất là : Con nguời biết nói vào
khoảng 13.000BC (trước đó là tiếng hú, tiếng kêu rời rạc).
Thứ
nhì là : Con người biết viết vào
khoảng 500BC, biết đan mành-mành để viết lên đó (thời đại đồ thép non).
Đi
đâu thì CUỐN lại rồi XÁCH đi theo nên gọi là CUỐN XÁCH. Nay chúng ta viết là Cuốn Sách vì lâu ngày ý nghĩa biến đổi.
Thứ ba là : Khi có cuộc sống Quần Cư và Định Cư theo ruộng không di dời được, nên người ta mới tổ chức hội hè đình đám .
Trong
khi đó, vì di dời nơi ở luôn luôn nên dân Du-mục và Du-cư (TÀU) không có hội hè
linh đình như dân Nông Nghiệp.
Thứ
Tư là : Niên đại các ngày hội
dân tộc, xác định bằng khoa học ngày nay thì :
** Cung Chúc Tân Xuân (#13.000BC)
** Cung Chúc Tân Niên
(#11.00BC)
** TẾT TRUNG THU (#2.500BC)
** Dân Tàu bắt chiếc dân Việt ăn Tết vào năm 43AD.
Vì tự ái nên Mã Viện thay đổi chút đỉnh về nghi thức
rồi bắt dân Việt ăn Tết theo.
Nhà Đường đẻ ra tục múa Lân, ông Táo chầu trời. Về sau
biết làm pháo nên đốt chơi cho xôm rồi giải thích theo nhu cầu của mỗi nhóm.
Tục đánh cờ người thì mãi thời nhà Minh (1400AD) mới có. Đó là lúc có SÚNG THẦN để công thành do Hồ Nguyên Trừng phát minh. Nay ta gọi là súng ĐẠI PHÁO là do chữ pháo đốt chơi ; hay súng THẦN CÔNG là súng của Thần dùng để Công thành hay súng Hỏa Mai phải châm ngòi nổ
Còn đánh đu, cây nêu, làm bánh chưng cúng gia tiên là phong tục Việt có rất lâu, trước khi Mã Viện qua. Như sự tích bánh chưng (chưng trên bàn thờ để cúng gia tiên) có từ thời Hùng Vương thứ BA (#2.400BC)
7/- ĐỊA BÀN SINH SỐNG :
Nông Nghiệp (Bách Việt) cần đất Canh Tác nên là chủ
nhân ông ở Hoa Lục
Du-muc cần cỏ cho gia súc nên di theo vùng Thảo Nguyên
chỉ có đồi cỏ hoang (steppe) nên nơi phát xuất từ Trung Đông (IRAN) lên đến
biển CASPIENNE thì tách đôi sang Tây Á (phía tây) và sang Đông Á (phía đông)
theo cánh đồng cỏ.
Nông nghiệp tính nết hiền hòa và nhân ái, còn du-mục thì nóng nảy và hung dữ, lấy thịt đè người (nay ta gọi là văn hóa = cách sống và cách suy nghĩ của con người).
Từ những yếu tố này chúng ta mới biết là : Nhà HẠ (1.700BC-1.500BC) , nhà THƯƠNG (1.500BC-1.300BC) và nhà ÂN (1.300BC-1.046BC) là dân Du-mục gốc Nông Nghiệp nên chung sống hòa bình với dân Nông Nghiệp ở lưu vực con sông Hoàng Hà, mà ta gọi là con cháu Đế Nghi (600BC).
Từ
năm 1.046BC (nhà Chu) về sau, dân du-mục gốc du-mục từ Trung Đông di qua đánh
đuổi và tiêu dịệt tận gốc thổ dân (Con cháu Đế Nghị, nhà Hạ, Thương và Ân) bằng
phong trào KHỬ TỊCH (Khử là diệt, Tịch là gốc gác) có nghĩa là tiêu diệt gốc
gác các chế độ cũ ; như kiểu Cách Mạng Văn Hóa của Mao Xếnh Xáng.
Con
cháu đế Nghi, nhà Hạ, Thương và Ân phải chạy qua Mỹ Châu tỵ nạn, nay là dân da
đỏ. Suy ra từ di vật của nhà Thương/Ân và dân da đỏ rồi suy ra
--------------------------------
Ø Xin giới thiệu với quý vị 3 đường dẫn sau đây, và kính
mời các vị hiền tài tiếp tay cho chương trình này được phong phú.
http://nhanvanviettoc.blogspot.com
là nơi lưu trữ tài liệu để soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com
là nơi lưu trữ các bài đã soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm)
từ Tiểu Học đến Trung Học.
Nơi lưu trữ 3 kinh
nhật tụng
1. Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để
lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18
tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)
SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ (Đủ Bộ) https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ
(Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k
SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ
BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph
ØKênh Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN
VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ
là nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã
chuyển qua MP4 để quý vị lưu trữ vô máy.
T68(b) : Giải quyết
mâu thuẫn hậu Cộng Sản
Phần 1/2 ngày 24.02.2022
Tài liệu : Học Thuyết
Nhân Vị (Ngô Đình Nhu)
BA YẾU TỐ PHẢI NHỚ :
(Phát triển, Hiến Pháp và Tội Phạm)
A /- Chúng ta phải để
ý đến PHÁT TRIỂN để tránh dịch chủ tái nô. Do đó phải kết hợp lòng dân làm sao
cho kẻ thù không lợi dụng được. Không phát triển là TỤT HẬU và sẽ TIÊU VONG.
B/- Kẻ có tội đối với dân
tộc thì phải đền tội theo đúng Hiến Pháp do toàn dân chung quyết. Vì thế người
dân phải nói lên nguyện vọng của mình trước khi bàu các nghị viên vào Quốc Hội
Lập Hiến để soạn ra Hiến Pháp, rồi theo đó mà làm.
C/- Cách xử lý cho đúng với
HẾN PHÁP, với TÌNH NGƯỜI và với NHU CẦU PHÁT TRIỂN.
·
Luật
là có tội đến đâu thì kết án đến đó.
·
Tình
là nương tay để phạm nhân có dịp Lập Công Chuộc Tội.
·
Nhu
Cầu Phát Triển là làm sao phạm nhân thi hành án lệnh mà PHÁT TRIỂN không bị cản
trở.
Đó là 3 yêu tố cần thiết,
đừng để hận thù che mờ lý trí.
²
Sau đây là những gợi
ý :
1/- CÁCH
XỬ LÝ CỦA TỔ TIÊN
Không nhất thiết phải theo nếu nguyên tắc này không đáp ứng được 3
yếu tố căn bản nói trên
Ôn
Cố Tri Tân :
*** Huấn dụ người xưa : Một sự nhịn
là chín sự lành
*** Học thuyết Rồng Tiên (uy dũng và
công minh) : Đấu tranh TỰ VỆ
Áp dụng đặc tính của Rồng : Cương
quyết tiêu diệt kẻ thù không nhân nhượng, nhưng không được truy kích hay trả
thù trong khi đấu tranh.
Áp dung đặc tính của Tiên (hiền từ và nhân
ái) : Phải ĐỘ LƯỢNG và KHOAN DUNG với kẻ thù sau khi chiến thắng để tạo xã
hội hài hòa, phát triển kinh tế và tụ lực
*** Lịch Sử :
1945 : Nhật Hoàng và Marc Arthur (giải thích)
Nhà
Trần : Đốt kho hồ sơ
tốc cáo Việt Gian giúp gịặc. Đối với Tù Binh (giải thích)
Nhà
Lê : Tha cho Vương
Thông để đổi lấy hòa bình (giải thích hội nghị Bồ Đê)
Nhà
Tây Sơn chiêu dụ hiên tài,
phóng thìch tù binh (giải thích đường lối
chánh trị)
Nền
Cộng Hòa : đãi ngộ
cán binh Việt Cộng đê phát triển kinh tế gảm thiểu hận thù với BAN TÂM LÝ CHIẾN
(giải thích học thuyết Cần Lao và Áp Chiến
Lược)
2/-
QUY TRÌNH DÂN TỘC TỰ QUYẾT
Người dân phải trình bày rõ ràng nguyện vọng của mình trước khi
thành lập Quốc Hội Lập Hiến để các Nghị Viên dựa vào đó lập ra Hiến Pháp hợp với
lòng dân để có sự đồng thuận khi lấy chung quyết thành bản văn có hiệu lực thi
hanh : Hành Pháp dựa vào đó để thi hành nhiệm vụ. Lập Pháp dựa vào đó để
ban hành các sắc luật bảo vệ Hiến Pháp và Tư Pháp dựa vào đó để bảo vệ trật tự
xã hội đặng người dân yên ổn làm ăn
QUY TRÌNH
A/- Hiến pháp phải do toàn dân chung quyết:
RẰNG:
Hiến pháp là bản văn quy định
đường lối sinh hoạt của đất nước; ông Nguyễn Trãi gọi là Văn Hiến; nhà Trần gọi
là phép nước, còn trước đó gọi là gì thì chưa biết.
Lập quốc là biến từ sinh hoạt cá thể (tự mình lo hết mọi
việc) sang sinh hoạt phân công của
một tâp thể nên phải có bản văn luật lệ trắng đen rõ rệt vì có sự vinh danh và
trừng phạt. Không có Hiến Pháp thì không có Quốc Gia.
1/- Tuyên bố
giành được chủ quyền từ tay bọn cướp Cộng Nô.
Bác bỏ
trách nhiệm về những gì bọn cướp Việt Nô đã ký kết với ngoại bang hay người
Việt. Mọi hợp đồng đều phải xét lại cho hợp với chủ quyền đất nước
2/- Đề cử Ủy Ban Thường Vụ lo việc
thường ngày vả triệu tập Quốc Hội Lập Hiến. Người dân phải nói lên những gì
mình mong muốn để các Nghị Viên biết đường soạn ra Hiến Pháp hợp lòng dân;
đừng để đến phút chót dùng quyền chung quyết để bác bỏ.
3/- Giá trị Hiến Pháp chỉ có 15 năm
là thời gian để xây dựng lớp trẻ bằng Nền VĂN HÓA THUÂN VIỆT, 10 năm sau thì
các em thành ngưới, 5 năm kinh nghiệm tiếp súc với thực tế ; lúc đó các em
sẽ lập ra Hiến Pháp mới và chính các em sẽ là chủ nhân ông của đất nước.
Thế hệ chúng ta đã
làm mất nước thì thế nào cũng có nhiều sai lầm quan trọng, chỉ vì chưa có kinh
nghiệm.
4/- Bày tỏ ý
nguyện vọng :
Người
dân phải bày tỏ nguyện vọng của mình về cách xây dựng xã hội hài hòa với Thế
Chế Dân Chủ Chế Tài , qua thời gian chuyển tiếp bằng nền Dân Chủ Ỷ LẠI (tam
quyền phân lập).
5/ GIÁO DỤC :
Người
dân phải bày tỏ quan điểm của mình về đường lối giáo dục để đào tạo Nhân Tài
cho hậu thế.
Chúng ta có 2 nền
giáo dục khác nhau phải dạy cho chu đáo :
a/- Khoa Nhân Văn Việt Tộc dùng để xây dựng con người (người Việt lo
liệu 100%)
b/- Khoa học Thực
Dụng dùng để Canh Tân đất nước , học hỏi ở Tây Phương
Chú trọng đến chương trình giáo dục NHÂN VĂN VIỆT TỘC , BÌNH ĐẲNG GIÁO DỤC và CƯỠNG BÁCH GIÁO DỤC cho đế 16 tuổi ; tiến hành theo từng giai đoạn. Đây là chương trình đào tạo Hiền Tài cho tương lai dân tộc, không nên hà tiện việc đầu tư tiền bạc và não trạng.
Chương trình là phát
huy Nền Văn Hóa Thuần Việt để kết hợp dân tộc thành một bó đũa, thì dù có yếu
về cơ bắp nhưng không ai đụng tới đươc.
· Coi gương Thụy Sỹ, Monaco và nhiều tiểu quốc khác
3/- VÀI NÉT GỢI Ý VỀ ĐẤU TRANH CHÁNH
TRỊ :
Ở đây chúng ta chỉ
bàn về cách giải quyết những mâu thuẫn nội bộ do Việt Cộng để lại.
²
3.1/- Đối với các đảng viên Việt Cộng
Chúng ta nên thận
trọng với 5 triệu Đảng Viên Việt Cộng vì đầu óc mất gốc nên khó có thể sửa được,
nhưng xã hội cần chúng để phát triển.
Mặc dù chúng chủ trương tiêu diệt dân Việt với chủ nghĩa TAM VÔ, phong trào GIAI CẤP ĐẤU TRANH và TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO đào tận gốc trốc tận rễ để tiến tới Đại Đồng Thế Giới cho giặc TÀU lãnh đạo.
Vậy tốt nhất
là :
3.1.1
- HÌNH PHẠT :
1.
Tước quyền công dân của 5 triệu đảng viên
để họ mất quyền lãnh đạo.
Nếu để
họ lãnh đạo, ở bất cứ địa vị nào thì thế nào họ cũng lái theo tư tưởng Cộng Sản
mà họ đã tôn thờ. Nếu họ trở cờ một cách dễ dàng thì họ là con người ba phải
cũng không đủ khả năng lãnh đạo từ cấp cán bộ xã lên đến Nguyên Thủ Quốc Gia.
2.
Nên tạo môi trường để họ lập công chuộc
tộc và có thể được phục hồi quyền công dân ; nhưng phải qua nhiều
đợt thử thách xem Tâm còn xao xuyến hay không.
3.
Ai có tội thì xử cho có án đàng hoàng, kể
cả tử hình.
Nhưng
vì nhu cầu cần Phó Thuờng Dân để phát triển kinh tế và canh tân đất nước nên họ
được hưởng án treo ; nếu tái phạm thì tội sẽ nặng hơn 1 hay 2 cấp chi đó.
4.
Những kẻ sống nước người mà không khai báo
đúng kỳ hạn thì đương nhiên không phải là công dân Việt.
Khi
muốn hoàn tịch thì phải đáng ứng được những điều kiện khắt khe
3.1.2
- TÀI SẢN PHI PHÁP :
Theo luật Quốc Tế
hay bất cứ Quốc Gia nào cũng vậy : Phải hoàn trả tài sản Phi Pháp cho khổ
chủ.
Tài sản phi pháp
là những tài sản chiếm đoạt bằng bạo lực, lưu manh hay lường gạt như : ăn
cắp, ăn trộm, ăn cướp, gian thương … tức chiếm đoạt trái với pháp luật cho
phép.
Do đó Chánh Quyền
hợp Hiến và hợp Pháp là đại diện đất nước và dân tộc có đủ thẩm quyền và tư
cách pháp nhân đứng ra tìm cách thu hồi tài sản của đất nước đã bị đánh cắp và
để ở Ngoại Quốc, ngoài ra còn có thể đòi bồi thường thiệt hại về tinh thần nữa
… Điểm này phải nhờ Luật Sư chuyên ngành mới được.
·
Tịch thu tài sản PHI PHÁP để sung vào quỹ
bồi thuờng thiệt hại cho nạn nhân mà Việt Cộng gây ra từ năm 1945 đến nay.
Nhưng tôn trọng tài sản mà họ kiếm được bằng công sức của họ.
·
Khuyến khích phạm nhân tự đem nộp thì được
hưởng ít nhất là 10% và cao nhất là 30% được đền bù với danh nghĩa XÁM HỐI.
Nên nhớ
là các nước sở tại có quyền đóng băng trong khi chưa xử và có bổn phản phải trả
lại cho đất nước vì đó là tài sản của nạn nhân bị cướp.
Điều
này phải định thời hạn để chứng tỏ sự xám hối của họ
Muốn phát triển đất nuớc thì phải tạo điều kiện để yên lòng dân. Do đó phải xử theo LUẬT, nhưng phải thi hành án lệnh theo TÌNH NGƯỜI và quyền lợi của PHAT TRIỂN
3.1.3
- Quỹ Nạn Nhân Việt Cộng :
Chúng ta chia tài
sản phi pháp lấy lại đuợc làm nhiều phần, tỷ dụ như sau ;
a/- Người chết: PHỤC HỒI DANH DỰ.
Bồi thường tượng trưng cho
người thừa kế (5%)
b/- Người tàn phế
của cả 2 bên : (15%)
c/- Chương trình
giáo dục : (20%)
d/- Tỷ lệ bồi thường vật chất : Định mức bồi thường tối đa là
500.000 hay 1 triệu Mỹ Kim, phần còn lại đợi xét tùy theo khả năng thăng dư
ngân quỹ : (45%)
c/- Tỷ lệ bồi
thường tinh thần : (10% ngân quỹ)
d/- Còn 5% để
phòng hờ cho những thiệt hại bỏ sót.
²
3.2/-
ĐỐI VỚI NẠN NHÂN
DO
ĐẢNG VIỆT CỘNG GÂY RA
·
Phục
hồi danh dự cho người đã chết vì Việt Cộng.
·
Chú
trọng đến nạn nhân dốt nát vì thiếu giáo dục do Việt Nô Cộng Sản gây ra bằng
cách : Bình Đẳng và cưỡng bách Giáo Dục cho Thiếu Nhi và Thiếu Niên (dưới 17
tuổi)
·
Đãi
ngộ xứng đáng với Thương Phế Binh VNCH. Nơi ăn chốn ở phải đúng tiêu chuẩn.
Phục hồi nhân phẩm cho họ.
·
Đãi
ngộ đúng mức vì nhân đạo, độ lương và bao dong với Thương Phế Binh Cộng Sản để
tạo xã hội hài hòa có tinh thần ĐỒNG BÀO .
Không được sỉ nhục hay làm mất danh dự của
họ. Vì cuộc chiến 1945-1975 là Nga Mỹ thử vũ khí trên đất Việt do chính Hồ Chí
Minh đem tới bằng 6 văn kiện bán nước mà họ là nạn nhân.
Thủ phạm chánh là ĐẢNG VIỆT NÔ CỘNG SẢN
·
Bồi
thường thiệt hại cho dân oan mất nhà, mất đất và nạn nhân khác có giới hạn. Tỷ
dụ lấy tối đa là 1.000.000 Mỹ Kim ; chỗ còn lại sẽ xét sau
ª
3.3/-
VẤN ĐỀ TÔN GIÁO
·
Nhiệm
vụ của Tôn Giáo là vun trồng Việt Giáo
nên không thể lấn lướt rồi thay thế Việt Giáo được. Bàn thờ Gia Tiên là một đặc
thù của nền văn hóa Việt (thuộc về Việt Giáo)
·
Lấy Việt Giáo làm chánh để xây dựng con
người. Vì không có Việt Giáo làm gốc thì Ta không còn là ta nữa, do đó lấy tôn
giáo để bổ xung cho Việt Giáo.
·
Học
đường chỉ dậy Việt Giáo thôi
·
Bình đẳng và tự do tôn giáo.
·
Đặt tiêu chuẩn sinh hoạt cho mọi tôn giáo
để cấm những tôn giáo hủy hoại Việt Giáo như Chủ Nghĩa Cộng Sản (Tôn Giáo vô
thần, ca tụng Lãnh Tụ). Thật vậy Chủ Nghĩa hay Tôn Giáo đều thuộc về Triết Học,
nếu không thận trọng tín đồ sẽ u mê gây ra chiến tranh tôn giáo.
·
Đặt số lượng tín đồ để được hưởng quy chế
TÔN GIÁO.
·
Tín đồ là người đóng góp niên liễm, chứ
không phải thập phương đến học giáo lý
·
Những người đến Giáo Hội để học Giáo Lý
với mục đích phục vụ cho Việt Giáo ,
vì họ là người Việt nên phải có trách nhiệm với dân Việt.
·
Để tiến tới mục tiêu này thì nên cấm mọi
người đóng góp tiền bạc cho Giáo Hội để tạo sự buôn thần bán thánh.
Ngược
lại, tùy theo sinh hoạt của Giáo Hội, chánh quyền co bổn phận phải chu cấp
phương tiện Tự Túc Mưu Sinh cho Giáo Hội Tự Túc Mưu Sinh.
·
Cấm dựa vào Tôn Giáo để trục lợi cho cá
nhân hay cho Giáo Hội.
·
Chúng ta đã bị con buôn chánh trị dùng Tôn
Giáo để gây ra nhiều bất công và xung khắc nguy hiểm. Nay chúng ta phải thận
trọng, ngăn chặn sự cuồng tín.
õ
4/- VẤN ĐỀ SẮC TỘC
Nước Văn Lang được
thành lập vào năm 2.879BC để chống sự xâm lăng của người NGÔ.
Lúc đó cuộc sống
tập thể mới bắt đầu nên sự tổ chức rất đơn giản của bên xâm lăng (Ngô) cũng như
bên tự vệ (Sở và Việt).
Tuy nhiên các bên đều có học thuyết để thuyết phục người dân về lý do phải lập binh đội, về Hiến Pháp để ổn định xã hội từ làm ăn cá thể sang trách nhiệm phân công.
Quy luật thiên nhiên.
Ø Học
Thuyết của bên xâm lược NGÔ là học thuyết THIÊN TỬ để nói bổn phận trời cho hắn
đỉ « Giải Phóng » các dân bị
trị ; y như bọn cán ngố Việt Nô Cộng Sản ngày hôm nay, tự cho mình cái
quyền vào Nam ăn cướp.
Ø Học
thuyết của bên tự vệ là bảo vệ nền Văn Hóa của mình, không chịu sống theo Văn
Hóa của kẻ xâm lăng.
Nước Sở
với học thuyết Vô Vi.
Nước
Văn Lang với học thuyết Rồng Tiên mà lúc ban đầu chỉ chú ý đến việc xây dựng
tinh thần TỰ TRỌNG (ý nghĩa của chữ Văn Lang) và tinh thần Cầu Tiến (ý nghĩa
của Tộc Danh là liên bang VIỆT)
Văn Hóa là danh từ
của học giả Tây Học PHẠM QUỲNH đẻ ra vào thập niên 1930 với ý nghĩa là phải
thay đổi cách sống và cách suy nghĩ một cách đẹp đẽ cho hợp với cuộc sống đương
thời. Đừng vì bài Tây mà vhịu tụt hậu.
Ta thấy ngay là
Văn Hóa Thuần Việt cập nhật theo thời là chất liệu để kết hợp toàn dân ; vì
mọi người có cùng một nếp sống, cùng một hướng suy nghĩ và cùng một mục tiêu là
sống cho mình và sống cho người (Rồng Tiên song hiệp) .
Lúc lập quốc (2.879BC) thì nguời Văn Lang gọi là tinh thần Tự Trọng và Cầu Tiến mà chúng ta đã học rồi
Lúc đầu thì học
thuyết còn sơ sài, về sau cuộc sống mỗi ngày mỗi phức tạp nên các học thuyết
đều được bổ xung cho có khả năng đáp ứng với nhu cầu BẢO VỆ TỰ CHỦ.
Biên giới thiên nhiên lúc đó là địa hình hiểm trớ ; THỦ thì dễ, nhưng CÔNG thì khó. Do đó chúng ta có thể định được biên giới của 3 nước đưọc thành lập đầu tiên của nhân loại là NGÔ, SỞ và VIỆT, tất cả đều thuộc sắc dân nông nghiệp vì đó là đất canh tác, không có thảo nguyên (cách đồng cỏ= Steppes để nuôi gia súc) ở vùng miền TRUNG của ĐÔNG Á (nay gọi là viễn đông) ; vể sau người ta gọi là vùng đất TRUNG HOA (tinh hoa của miền Trung của Đông A ; chứ không phải là Trung Tâm Tinh Hoa của Vũ Trụ như ý nghĩa của mụ LÃ HẬU đặt ra vào năm 183BC để đi xâm lăng.
Cương vực của vùng đất TRUNG HOA (miền trung của Đông Á):
Từ Vạn Lý Trường Thành tới đèo Hải
Vân là địa bàn của dân Nông Nghiệp, tức Bách Việt (NGÔ + VIỆT) ; lúc
đó chưa có người Tàu thuộc sắc dân Du Mục.
Chữ Trung Hoa (địa danh) này khác với ý nghĩa Trung Hoa (chánh trị) của mụ Lã Hậu (182BC) đã bị Triệu Việt Vương
thay thế bằng thằng TÀU (ngố), con Xẩm (lòa), hay Trung Hoa tái sinh của tham
vọng Mao Trạch Đông (Trung Tâm tinh hoa của vũ trụ mà tôi đã giải thích rồi)
·
Biên giới nước Ngô nằm trong lòng 2 con sông
Dương Tử và Tây Giang.
·
Cương vực nước Sở từ dãy núi Hoài (nơi Hạng
Võ tự tử) đến Tây Tạng, đất rộng người đông. Tức vùng TỨ XUYÊN ngày hôm nay
(vùng đất có 4 con sồng dài chảy qua là Hoàng Hà, Dương Tử, Hồng Hà chảy qua
Thăng Long/Hà Nội và Cửu Long chảy qua thành đất bồi mang tên là Phù Nam, nó
nhú lên vào khoảng 100AD ; mãi đến 1665AD mới khẩn hoang được. Vị chỉ phải
đợi 1500 năm sau, đất bồi của sông Cửu Long mới có nước ngọt để có thể khẩn
hoang thành đất canh tác đuợc.
Đồng bằng Bắc Việt
cũng vậy : Nhú lên vào khoảng 300BC, khẩn hoang được vào khoảng nhà Lý
1.000AD ; tức phải đợi 1.300 năm sau mới có nước ngọt để sinh sống
·
Biên giới nước Văn Lang mà ta quen gọi là
nước Việt (là ý niệm Tây hóa) từ sông
Tây Giang tới đèo Hải Vân, lúc này đồng bằng sông HỒNG chưa có, nó mới nhú lên
vào khoảng 300BC ; mãi tới 1000AD mới có nước ngọt đã có thể khẩn
hoang thành đất canh tác được. Vị chi
phải đợi 1.300 năm sau mới có nước ngọt để canh tác.
*** GIẢI QUYẾT SUNG KHẮC SẮC TỘC :
Lúc khởi thủy (2.879BC), nước Văn Lang
có 15 Bộ Lạc (Nay là Triều Đại) Bộ Lạc là một vùng an lạc, được tổ chức thành
Liên Bang Việt theo Việt Giáo (Tự Trọng và Cầu Tiến), theo Vệt Đạo (Kết hợp với
nhau bằng Tâm, cư xử với nhau bằng Đức, Bình đẳng tột cùng và thân thương tột
độ (hình 14 tia trên mặt trống đồng 14 tia, về sau là tinh thần Đồng Bào ( #600BC).
Đâylà lúc nước Văn Lang và Nước Ngô
sát nhập với nhau thành nước BÁCH VIỆT, biên giới lên tới sông Dương Tử. Thay
đổi nếp sống thành BÌNH ĐẲNG SẮC TỘC và HỘI NHẬP VĂN HÓA , đó là đường lối chánh
trị của LÃNH VƯƠNG vùng Lạc Việt (nay là QUẢNG ĐÔNG) tên là CÂU TIỄN.
Ø Nước Bách Việt
lúc đó gồm 18 Bộ Lạc chung sống hài hòa với nhau.
207BC Trệu Đà người vùng Chiết Giang (người Bách Việt gốc NGÔ)
dứt THỤC PHÁN và đổi tên nước là NAM VIỆT (phía nam sông Dương Tử là đất của
dân Bách Việt).
1471AD Vua Lê Thánh Tôn sát nhập nướ CHÀM vào nước Đại Việt
cũng theo chánh sách Bình Đẳng Sắc Tộc và Hội Nhập Văn Hóa.
Trước năm 1945 dân ta có 54 sắc tộc vẫn sống hài hòa theo tinh
thần ĐỒNG BÀO, tự cưu mang và giúp đỡ nhau trong vụ đói do giặc Pháp và giặc Nhật
cố tình gây ra để giết trên 1 triệu dân Bắc trong vòng vài tháng (vụ đói năm Ất
Dậu 1945) với mục đích tiêu diệt các nhóm cách mạng đòi độc lập
Ngày 02/9/1945 : SẮC
TỘC VONG NÔ (nô lệ tư tưởng ngoại bang)
Việt Cộng, tay sai cỉa Nga Cộng cướp chánh quyền trong tay Chánh
Phủ Trần Trọng Kim và du nhập nền Văn Hóa Hận Thù và Khát Máu để tiêu diệt dân
Việt bằng Phong Trào Gia Cấp Đấu Tranh, Trí Phú Địa Hào Đào Tận Gốc Trốc Tận
Rễ,
Hy sinh cho Thế Giới Đại Đồng bằng chủ
nghĩa TAM VÔ (vô gia đình, vô tổ quốc và vô tôn giáo.
Đây là SẮC TỘC VONG NÔ CỘNG SẢN, kẻ
thù của dân Việt ; vì chúng quyết tâm phá hủy tinh thần ĐỒNG BÀO mà tổ
tiên nòi Việt đã mất 2.622 năm mới xây dựng xong.
Vì bị nòi Việt chống đối nên nay (1975AD) chúng mời thêm SẮC TỘC TÀU
CỘNG, kẻ thù truyền kiếp của dân Việt xâm nhập để kéo bè, kết cánh quyết tiêu
diệt dân Việt.
Khi Việt Nô Cộng Sản ra đi thì chúng
để lại cho chúng ta vấn đề xung khắc sắc tộc phải giải quyết càng nhanh thì
càng tốt.
Nay chúng ta giải quyết ra sao
đây ?
-
Đối với 54
sắc tộc nguyên thủy thì chúng ta áp dụng đường lối chánh trị :
Bình Đẳng Sắc Tộc và Hội Nhập Văn Hóa với tinh thần Đồng Bào ; no đói
có nhau, vui cùng hưởng và họa cùng chịu ; như Việt Vương Câu Tiễn
(#600BC),Vua Lê Thánh Tông (1471AD).
-
Đối với sắc
tộc Việt Nô Cộng Sản thì tước bỏ quyền công dân của chúng, sống dưới sự
che chở của dân Việt như những kẻ vô tổ quốc cần có một quốc gia để nương náu
-
Đối với sắc tộc TÀU CỘNG thì chỉ được quyền hành một số nghề có tính cách
phục vụ, mở đường cho họ nhập Việt Tịch như thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã
làm. Tịch biên tài sản bất hợp pháp, số còn lại không được chuyển ra ngoại
quốc.,
õ
PHÁT TRIỂN và HẬN THÙ
cách giải quyết
RẰNG :
Dân tộc Việt gồm nhiều sắc tộc vẫn lấy tinh thần Đồng Bào thương yêu và đùm bọc nhau và xây dựng xã hội hài hòa bằng Bình Đẳng sắc tộc và Hội Nhập Văn Hóa, điển hình là thời Câu Tiễn (#600BC) Triệu Đà (207BC) và Lê Thánh Tôn (1471BC).
Dû sống trong nô lệ Tàu hay Tây thì dân ta vẫn có tinh thần Đồng Bào, tinh thần Độ Lượng và Khoan
Dung ; điển hình là vụ đó năm Ất Dậu (1945) do Thực Dân Pháp và Phát Xít
Nhật tạo ra vì muốn diệt cách mạng bằng nồi cơm ; ấy thế mà dân Bắc chẳng
ai bảo ai, tất cả đều ăn cầm hơi mỗi ngày một tô cháo hoa với muối để dành thực
phẩm cứu đói. Đợi đến này mùa thì ăn trả bữa. Do đó tổng sốn nạn nhân chết ít
đi.
·
Nhà
Trần và nhà Hậu Lê cũng đối xử khoan dung với kẻ thù ngoại chủng.
·
Nhà
Tây Sơn cũng lấy tình lấy nghĩa đối với công thần nhà Nguyễn, nhà Trịnh và nhà
Lê, dẹp bỏ mọi hận thù nghĩ tới tương lai.
Mỗi triền đại đều có giải pháp phù hợp với thời đại đương thời của
họ.
Nay vì sức hồi sinh của dân tộc thì chúng ta xử trí ra sao cho có tình, có lý và để phát triển được vẹn toàn thì mới tạo được VIỆT LỰC đủ mạnh để bảo vệ tự chû. Còn mất Tự Chủ là tiêu vong. Đừng để hận thù che mờ lý trí
Trước năm 1945 chúng ta có 54 sắc tộc đoàn kết đẻ đòi quyền
TỰ QUYẾT, nên coi Việt Cộng là Đồng Bào.
Bằng cớ là trong Nội Các Trần Trọng Kim có đảng viên Cộng Sản,
không những vậy mà chính cụ Trần Trọng Kim còn yêu cầu người Nhật phóng thích
đảng viên Việt Cộng.
Đó là một cái nhầm tai hại do thiếu kinh nghiệm Chánh Trị mà ra.
Do đó, nay chúng ta phải coi Việt Nô Cộng Sản là kẻ thù của dân
tộc nên phải loại trừ. Chúng đã ngang nhiên tuyên bố « Quyết Tâm tiêu diệt
nòi Việt » bằng :
·
Giai
Cấp Đấu Tranh, tức người Việt giết người Việt (trái với tinh thần Đồng Bào)
·
Trí
Phú Địa Hào đào tận gốc trốc tận rễ ; tức tiêu diệt nhân tài để phá hủy
đất nước cho Giặc Tàu nó hưởng (trái
với Tâm Việt và Hồn Việt).
·
Bắt
dân Việt chết cho Nghĩa vụ Quốc Tế bằng cách bắt thanh niên Nam Nữ vượt Trường
Sơn để Sinh Bắc Tử Nam, xâm lăng và phá hoại độc lập của đồng bào miền Nam để
thống nhất lãnh thổ rồi đem dâng cho giặc TÀU dưới khuẩu hiệu tiến tới Đại Đồng
Thế Giới bằng chũ nghĩa Tam Vô (vô gia đình, vô tổ quốc và vô tôn giáo. Tức ta
chết đi cho Tàu Cộng nó mạnh để nó bần cùng hóa cả nhân loại.
Tóm lại :
Trước năm 1954 nước Việt có 54 sắc tộc quyết tâm bảo vệ sức sống
của dân Việt.
Khi Việt Cộng lên nắm quyền thì chúng tạo ra sắc tộc VIỆT NÔ chủ
ngĩa Cộng Sản để tiêu diệt dân Việt, đem đất hiến dâng cho giặc Tàu Mao.
Sắc tộc Việt Nô Cộng Sản là KÝ SINH TRÙNG trong cơ thể dân Việt ; vì nó đã mất hết Hồn Việt và Tâm Việt rồi.
Vì Việt Nô Cộng Sảng thấy không đủ sức để ăn bám vào cơ thể Việt
nên nó tăng cường bởi giăc Tàu Mao từ năm 1948 chứ không phài ngày hôm nay.
Nay, giặc Tàu MAO đã bám rễ vào cơ thể Việt từ năm 1948, và nay đã hiện nguyên hình là kẻ cướp nước, tàn sát dân Việt như thời Bình Ngô Đại Cáo.
Sau khi phân tích như trên, và vì chúng ta chủ trương dùng Nền Văn
Hóa Thuần Việt để gỡ thế kẹt và xây dựng xã hội hài hòa.
Vì tinh thần độ lượng và bao dong nên thay vì tiêu diệt bọn Việt Nô hãy tìm cách vô hiệu hóa chúng :
Do đó, rút kinh nghiệm người xưa, chúng
tôi đề nghị :
A/- Phát huy giáo dục để
kết hơp 54 sắc tộc Việt bằng cách Bình Đẳng Sắc Tộc và Hội Nhập Văn Hóa như
Triệu Vũ Đế đã làm và đã thành công. Như vua Lê Thánh Tông đã làm khi sát nhập
nuớc Chàm vào nước Đại Việt nhưng chỉ thành công có 60% thôi.
ü
Như
chương trình Phục Việt của Hoàng Đế Quang Trung, đang trên đà thành công thì
Ngài đột tử nên chương trình hủy bỏ.
ü Như Tổng Tống Ngô Đình Diệm với chương trình Ấp Chiến Lược bảo vệ Tự Chủ bằng cách phát huy học thuyết Cần Lao Nhân Vị. Vì thành công nên Hò Chí Minh và Kennedy hè nhau vào sát hại cả 3 anh em để tự do thao túng chiến trưòng bằng vũ khí mới sáng tạo của Nga và Mỹ.
Mỹ thua Nga nên tiền đồn bị bỏ rơi để Mỹ thay đổi chiến lược dùng
kinh tế hoán chuyển chánh trị bằng cách thả con săn sắt (Nam Việt Nam) để bắt
con cá rô (làm sập khối Cộng Sản, ngày 25/12/1991, chính Gorbatchev phải lên
đài truyền hình tuyên bố giải tán đảng Nga Cộng sau khi kể tội đảng Cộng Sản và
đồng thời trả độc lập cho các chư hầu trong khói Cộng Sản.
Vậy tại sao chúng ta lại không dùng Nền Văn Hóa Thuần Việt để làm
rã ngũ đảng Việt Cộng nhỉ ?
Giải pháp này có sức mạnh mãnh liệt là làm thức tỉnh thành phần bảo vệ mấy tên đầu não thì tự nó sẽ sập ngay.
Giải pháp vô hiệu hóa sắc tộc
TÀU CỘNG
Nay chúng đã mọc rễ , thì
chúng ta áp dụng kế sách của Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi thu hồi 2 đặc khu
Saigon và chợ Lớn (1955-56) ; trong khi Mã Lai mất toi thành phố Singapour
với người Tàu dịnh cư làm ăn do người Anh đem vô.
Ít nhất phải bắt chúng từ bỏ Quốc Tịch Tàu thì mới được quyền làm
ăn trên đất Việt với tư cách Việt Tịch hay người Vô Tổ Quốc được dân Việt che
chở.
Như vậy tài sản phải để trong nước Việt và mọi sự tranh tụng chỉ có Tòa Án Việt mới có quyền phân xử.
Giải pháp vô hiệu hóa Việt Nô
Cộng Sản
Còn bọn Việt Nô Cộng Sản thì phải kiểm soát thường xuyên tư tưỏng
và hành động của chúng như người bị quản thúc.
Tước bỏ quyền Công Dân để chúng không thể nắm chức vụ Điều Hành
được (từ tên cán bộ phường, hay xóm đến Nguyên Thủ Quốc Gia).
Vì chúng là thành phần quyết Tâm Tiêu Diệt Dân Việt bằng chủ nghĩa
Tam Vô nên phải theo dõi thường xuyên để ngăn chặn hậu họa, mặc dù đã tước
quyền công dân của chúng.
5/-
VẤN ĐỀ NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN
Xét rằng nhân tài là vốn quý của đất nước nên cần sự đóng góp của
những người bỏ nước ra đi vì nạn Việt Cộng nên phải :
·
Phục
hồi quyền công dân của họ và con cháu của họ.
·
Mời
gọi họ về giúp dân PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC.
·
NHẬP
GIA TÙY TỤC, nên tuyệt đối không chấp nhận nền VĂN HÓA VIỆT LAI. Lý do nó sẽ
gây chia rẽ một cách trầm trọng cộng đồng người Việt.
Coi bọn Việt Nô đem văn hóa Việt Lai Cộng
Sản về đã gây thiệt hại như thế nào để biết đướng cấm đoán trong Hiến Pháp
Vấn đề xây dựng Cộng Đồng Hải
Ngoại
Nên nhớ rằng chúng ta có 2 cộng đồng Quốc Nội và Hải Ngoại phải
vun trồng để Phục Hồi lại TÂM VIỆT và HỒN VIỆT trong con người Việt nên đừng để
cho con cái sinh trưởng ở nước người trở thành những kẻ mất gốc quên nguồn.
Bộ Giáo Dục phải đặt chương trình sinh hoạt Nhân Văn Việt Tộc cho
thế hệ sinh sống ở Hải Ngoại để chúng biết đường hướng về nguồn cội.
Coi gợi ý về chương trình sinh hoạt ở các bài học của phần 3 : Xây dựng xã hội hài hòa
6/-
VẤN ĐỀ GIÁO DỤC
Gợi ý về giáo dục để đào tạo nhân tài như Triều Đại nhà LÝ và nhà TRẦN.
Chúng ta sẽ phân tích nhu cầu Giáo Dục bằng một buổi học riêng. Đây là cốt lõi của vấn đề BẢO VỆ TỰ CHỦ
Điều kiện phải thi hành :
Bình Đẳng, Cưỡng Bách, Trợ Giúp GIÁO DỤC cho Thiếu Nhi (6-12 tuổi)
và Thiếu Niên (12-16 tuổi).
Đây là rường cột của sự sinh tồn trong vinh quang của nòi Việt nên
phải chăm sóc đàng hoàng và kỷ càng.
Đầu tư trí tuệ, công sức và tiền tài vào thế hệ này thì đất nước
sẽ có nhiều Hiền Tài như nhà Lý và nhà Trần đã có thặng dư nhân tài
Vì thế đây là khâu phải bàn bạc kỹ lưỡng, nếu chúng ta muốn tránh cảnh DỊCH CHỦ TÁI NÔ từ nhà Nguyễn GIA LONG cho đến ngày hôm nay.
Phải nhìn thẳng vào sự thật thì mới cứu nguy tương lai con cháu
chúng ta được.
Đừng vì tự ái mà tự lừa dối mình để lún sâu vào Lạc Hồn dân Việt.
Đây chỉ là phác họa con đường phải đi để thoát khỏi cảnh nô lệ tư tưởng triền miên.
TIỂU HỌC (thiếu nhi 6-12 tuổi) :
Các em phải được chăm sóc kỹ lưỡng và được dạy dỗ về môn VĂN HÓA
THUẦN VIỆT do thày cô giàu kinh nghiệm và có Tâm Việt và Hồn Việt dạy dỗ.
Ăn ở nội trú ban ngày và : Miễn phí ăn uống, tiền học và mọi
chi phí cho việc học hành.
6 giờ chiều các em về với gia đình để gây tình gia đình và để nghỉ
ngơi lấy sức hôm sau học tiếp.
Ngày nghỉ thì đi du ngoạn . Thỉnh thoảng đi giao lưu văn hóa với các
trường khác
TRUNG HỌC SƠ ĐẲNG
(thiếu niên 12-16 tuổi)
Nội trú toàn thời, chỉ được về cuối tuần và ngày nghỉ.
·
Chú
trọng về môn Học Làm Người Việt Tốt (Nhân Văn Việt Tộc).
·
Tập
đóng góp ý kiến.
· Du Ngoạn và giao lưu văn hóa thường xuyên để có Tâm Việt và Hồn Việt, để biết yêu quý quê hương, thương yêu nòi giống
TRUNG HỌC CAO ĐẲNG
(tráng niên 16-19 tuổi)
Chú trọng về môn Nhân Văn Việt tộc.
·
Tập
tranh luận, tập đặt vấn đề và giải quyết vấn đề.
·
Tập
làm đề án.
·
Tổ chức những buổi đi xa, xuất ngoại để biết quê
huơng và bạn bè khắp nơi với mục đích mở mang kiến thức để sau này có đủ kinh
nghiệm và khả năng lãnh đạo đất nước.
Các em phải được trang bị đầy đủ kiến thức căn bản về môn Nhân Văn
Việt Tộc trước khi bước chân vào đời.
---------------------
Tiêu chuẩn viết bài Giáo Khoa:
Nhóm Nhân Văn Việt Tộc xin đóng góp với quý vị : 17 TIÊU CHUẨN VIẾT SÁCH GIÁO KHOA để dạy con trẻ về môn Việt giáo, Việt đạo và Việt triết
A.- VIỆT GIÁO : Giáo lý học làm người Việt (7 tiêu chuẩn)
1/- Học để biết Hào-khí của tổ tiên.
2/- Học để hãnh-diện là con dân đất Việt với sự Tự-hào dân tộc.
3/- Học để biết Tự-lực, Tự-cường.
4/- Học để biết Tự-trọng cho người khỏi khinh.
5/- Học để biết Cư-xử cho người kiêng nể.
6/- Học để có Tâm Việt trong con người Việt.
7/- Học để thấm nhuần Tư-tưởng Việt Tộc.
B.- VIỆT ĐẠO : Kết hợp dân tộc thành bó đũa (6 tiêu chuẩn)
8/- Học để biết Việt Đạo với Tình Tự dân tộc.
9/- Học để biết Đùm Bọc nhau trong tinh thần Đồng Bào.
10/- Học để biết yêu quý Quê Hương thương yêu Nòi Giống.
11/- Học để khơi động dòng máu Việt trong huyết quản của mình.
12/- Học để có khả năng gìn giữ Quê Hương, bảo vệ Tự Chủ.
13/- Học để có tinh thần Cầu Tiến, song song đồng tiến với người văn minh hiện đại.
C.- VIỆT TRIẾT : Triết lý sống của dân Việt (4 tiêu chuẩn về Văn Hóa Thuần Việt)
14/- Học để biết khí phách Rồng Tiên : Uy-Dũng và Công Minh của Rồng; Hiền từ và Nhân Ái của Tiên
15/- Học để biết Độ Lượng và Bao Dong với kẻ thù sau khi Chiến Thắng.
16/- Học để biết cách đòi lại những gì dân tộc đã mất (đấu tranh tự vệ).
17/- Học để biết ứng phó với hoàn cảnh : Đi với bụt mặc áo cà-sa ; đi với ma mặc áo giấy
Học để xứng đáng làm người Việt tốt (giống nòi Rồng Tiên), thì không ai ưu-tư và có khả-năng dạy dỗ con em chúng ta bằng chính chúng ta, vì chúng ta là người có Tâm và Hồn Việt trong dòng máu Rồng Tiên, nay chỉ cần khơi động là có VIỆT LỰC chứ chẳng cần ông MARX, bác LENINE hay kẻ thù dân tộc là Tàu MAO dắt đường chỉ lối.
-------------------------------------------




0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil