T53-Rồng Tiên> Bình Ý
T53(a) Rồng Tiên> Bình Ý
Facebook Văn Hóa Thuần Việt (21.10.2021)
soạn giả: Hoàng Đức Phương
RÔNG TIÊN, phần Tráng Niên
Câu
chuyện RỒNG TIÊN là học thuyết căn bản của khoa NHÂN VĂN VIỆT TỘC
Phần
giáo khoa dạy thiếu niên vể huyết thống tinh anh của nòi VIỆT.
·
Phần
1 là câu chuyện lung linh huyền ảo dạy cho Thiếu Nhi để các em mơ ước sau này
theo gót RỒNG TIÊN, không phụ lòng tổ tông.
·
Phần
2 giải thích nghĩa đen của phần đầu, tới SÙNG LÃM là đoạn gieo giống để các em
hãnh diện về dòng máu trong huyết quản của mình và đừng làm hổ danh người xưa.
·
Phần
3 là đoạn chót của bản văn từ LẠC LONG QUÂN kết hôn cùng ÂU CƠ đến lời căn dặn
của cha LẠC LONG : Giảng nghĩa rõ nghĩa đen và nghĩa bóng về quy luật đấu tranh
CÁCH MẠNG và CHÁNH TRỊ để các em nắm vững quy luật đấu tranh thì mới có đủ khả
năng giải quyết những nan đề của đất nước mà cách em sẽ là rường cột của xã hội.
Vì mục
đích hướng dẫn các em tham gia sinh hoạt chánh trị nên: Nối kết Hoa Văn trên mặt
trống đồng ĐÔNG SƠN (1.800BC) với chuyện Huyền Thoại Rồng Tiên và Sơ đồ Kỹ Thuật
Bảo Vệ Tự Chủ…. Sau khi nắm vững quy luật đấu tranh, tâm tính dân Việt thì đặt
đề tài để các em phát huy sáng kiến như: Các em sẽ làm gì để chống giặc ngoại
xâm tư tưởng chúng ta như bọn VIỆT NÔ CỘNG SẢN với mục đích giành lại quyền DÂN
TỘC TỰ QUYẾT…. Hãy nói quan điểm Chánh Trị của các em về : Học Thuyết Cần Lao
Nhân Vị, và Áp Chiến Lược dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, tốt hay xáu mà nền Đệ NHị
Cộng Hỏa lại phá bỏ; hay chương trình hội nhập nước Ngô vào nước Văn Lang của
TRIỆU ĐÀ; hoặc hội nhập nước Chàm vào nước ĐẠI VIỆT …..
Nay
chúng ta nói về phần 3 giải thích nghĩa đen từ lúc Lạc Long Quân lấy Âu Cơ. Tức BÌNH Ý để
tìm hiểu thông điệp người xưa nói về trận chiến VIỆT NGÔ.
Mục
đích: Kết thúc chiến tranh bất tận giữa NGÔ và Việt bằng cách HỘI NHẬP VĂN HÓA
và BÌNH ĐẲNG SẮC TỘC cùng đổi Quốc Hiệu thành nước BÁCH VIỆT.
Muốn
bình ý đến nơi đến chốn thì phải nói thêm phần nguyên nhân thù hận để đưa đến
chiến tranh, sau đó mới nói đến thong điệp trong bản văn
Sau đây là thông điệp của bản văn : Bình
văn trước, bình ý sau
NGUYÊN VĂN THÔNG ĐIỆP
LẠC LONG QUÂN lấy ÂU CƠ là dòng dõi Tiên, đẻ ra một bọc
100 trứng, nở ra 100 con, tạo thành 100 giống Việt mà ta gọi là BÁCH VIỆT với 100 đặc tính khác nhau
nhưng thương yêu và đùm bọc nhau như một bó đũa, vì cùng một lò Lạc Long và Âu Cơ mà ra.
Chọn màu VÀNG của lụa tơ tầm làm sắc thái dân VIỆT, tức
bản sắc của dân ta.
Gọi nhau bằng ĐỒNG
BÀO.
Khi lớn lên thì chia nhau đi bảo vệ biên cương không
cho giặc TÀU đánh chiếm đất đai của mình.
1/- 50 con theo mẹ lên dãy núi Ngữ Lĩnh bảo vệ biên cương phía Bắc.
2/- 50 con theo cha ra biển để trấn giữ vùng duyên hải ở phía Đông
không cho giặc Tàu từ biển vô.
3/-Trước khi chia tay thì cha LẠC LONG có căn dặn các
con một cách kỹ càng là : CHỪNG NÀO
GIẶC THÙ ĐẾN CƯỚP PHÁ CHỐNG ĐỠ KHÔNG NỔI THÌ GỌI BỐ ƠI VỀ CỨU CHÚNG CON
---------------------------------
Ý nghĩa hoa văn 14 tia trên mặt trống đồng ĐÔNG SƠN (#1.800BC)
1.
Sự hình thành của nước Văn Lang bằng liên bang Việt gồm 15 tiểu
bang ; tức BỘ LẠC là tiếng Việt 100% (tức : danh từ Đồng Bào trong
chuyện Rồng Tiên)
2.
Vòng ngoài là bộ binh bảo vệ nước Văn Lang trong thế thủ (tức là
hình ảnh của thời Thất Quốc Tranh Hùng mà ta gọi là Đông CHU liệt quốc).
3.
Vòng thứ nhì là Bộ Kinh Tế đề nuôi quân, có thực mới vực được đạo.
4.
Vòng ngoài cùng là Bộ Văn Hóa để xây dựng con người có đức tính Rồng
Tiên và Văn Hóa Lạc Hồng
------------------------
Chuyển
ngữ :
Từ lời
văn huyền thoại Rồng Tiên sang ngôn ngữ Sơ Đồ cho dễ nhớ
KỸ THUẬT BẢO VỆ TỰ
CHỦ
Thiết kế: Nhân Văn Việt Tộc - ngày 15/08/2015 - hiệu chính 17.3.21
·
Đây
là lộ trình giáo dục phải theo thì toàn dân mới có đủ khả năng bảo vệ sự tự chủ
của mình được.
·
Việt
Lực được suy ra từ lời căn dặn của cha LẠC LONG. Sơ đồ này là chuyển ý từ thông
điệp Rồng Tiên khai quốc: 100 trứng, 100 con. Chuyện Rồng Tiên khai quốc là học
thuyết căn bản của khoa nhân văn Việt tộc.
Chuyện
Rồng Tiên được dựng lên do nhu cầu chánh trị mà 2 ông Phạm Lãi, Văn Chủng đã lồng
trận đánh ‘diệt Ngô Đại Cáo’dưới dạng Huyền Thoại ở thời điểm chưa có chữ viết
(#600BC), để đem thông điệp cứu nước và giữ nước cho hậu thế noi theo.
ü
Huyền
thoại chỉ là phần chuyên chở thông điệp. Thông điệp là triết lý của câu chuyện.
Muốn hiểu thì phải dùng tư duy huyền thoại.
ü
Xin
coi thêm Đặc San Huyền Thoại với chủ để : Bạch hóa huyền sử thời vua Hùng (2.879BC-250BC) bằng các di vật ngời
Văn Lang để lại (Nhóm Nhân Văn Việt Tộc đã ấn hành/link :
http://vanhoathuanviet.blogspot.com
ö
NGUYÊN
NHÂN ĐƯA ĐẾN MỐI THÙ NGÔ/VIỆT
Nhân
vật chính là :
1. NGŨ TỬ TƯ, người nước SỞ
2. HẠP LƯ, ngưới nước NGÔ
3. CÂU TIỄN ,người nước VĂN LANG (Việt)
Thời đó bên ta chia
ra tên nước (VĂN LANG), tên dân tộc (VIỆT) và trên TRIỀU ĐÌNH (HÙNG VƯƠNG, LÃNH
VƯƠNG)
Bên SỞ và NGÔ chỉ có
tên Triều Đình (nhà Vua), còn tên nước và tên dân tộc là một (người NGÔ thì nước
NGÔ như ngày hôm nay, người Mỷ thì nước Mỹ…)
Vì thế khi đọc bản
văn thời xưa thì ta phải lưu ý điểm này kẻo lộn ; như bên TÀU theo chế độ
BẠO CHÚA nên chỉ có tên nước ; vì người dân thuộc nhiều sắc tộc và gọi
chung là THÀN DÂN (người thần phục BẠO CHÚA, mà BẠO CHÚA thì không được gọi tên
tục vì phạm húy = khi quân = mất đầu).
Như TẦN, HÁN, ĐƯỜNG,
TỐNG, NGUYÊN MINH, THANH, TRUNG HOA đều la tên nước cả.
Cha ông chúng ta lẫn
lộn chỗ này nên gọi là Nhà HÁN, nhà ĐƯỜNG …. Nên chúng ta bị rối mù như tại sao
ông LƯU BANG lập nghiệp Đế mà không xưng là LƯU THÁI TỔ mà lại xưng là HÁN CAO
TỔ ?
Sau này dân Việt bắc
chước cách xung này nên mới cho thêm niên hiệu vô bên cạng miếu hiệu.
Miếu hiệu là tên thứ
tự trong nghiệp làm vua nên không đổi được.
Còn Niên Hiệu (tên hiệu
theo năm tháng) thì chính mình chọn lấy ; do đó 1 ông vua có quyền thay đổi
niên hiệu cho phù hợp với hoàn cảnh lúc đó. Như vua LÊ THÁNH TÔN (miếu hiệu)
khi được mời về lãnh đạo thì ông lấy niên hiệu là THUẬN THIÊN (ta về làm vua là
hợp với lóng trới, tức chánh danh) từ năm 146 đến năm 1470. Sau đó ông đổi
thành HỒNG ĐỨC và ban bộ luật : QUỐC TRIỀU HÌNH SỰ (có đức lớn vì ông đã ổn
định được tình thế rối loạn khi lên ngôi vua do quần thần năn nỉ)
MỐI
THÙ NGÔ VIỆT
NGŨ TỬ TƯ làm loạn giết vua Sở.
Âm mưu bại lộ, bố và anh bị giết còn ông là chủ mưu nên chạy thoát sang nước
NGÔ và mang chí phục thù. Ông là một tay gian hùng đa
mưu túc-trí nên đáng sợ.
Chạy thoát sang nước NGÔ thì ông thuyết phục HẠP LƯ giết vua tiếm
quyền ; tức là nước người ta đang yên lành ông đến để gây loạn với mục
đính HẠP LƯU gíp ông trả thù vua nước SỞ vì đã giết cha và anh của ông.
Về phần HẠP LƯ thì ông ta là cháu đích tôn của vua ông. Đáng lý
thì ông lên ngôi vua chánh danh nhưng : Vua ông có 3 người con trai mà ông
quý nhất là cậu con út, muốn nhường ngôi nhưng phải theo luật nên ông trối trăn
là anh nhường ngôi cho em chứ không phải cho con.
Khi chết đi thì Bố Hạp Lưu nối ngôi. Khi ông này chết thì nhường
ngôi cho cậu em, tức chú ruột của Hạp Lư. Ông chú chết thì trao quyền cho cậu
em ; nhưng cậu này không nhận nên trao cho con trai, tức em họ HẠP LƯU.
Không biết tài ăn nói thế nào mà HẠP LƯU đồng ý mưu phản giết vua
đòi lại ngôi báu.
Mọi việc đều do NGŨ TỬ TƯ lên kế hoạch và tuyển dụng sát thủ như
CHUYÊN CHƯ người nước NGÔ khi không tình nguyện làm thích-khách giết vua để hy
sinh cả sinh mạng một cách đần độn để phục vụ một cá nhân. Yêu Ly đi giết KHÁNH
KỴ là Thái Tử cầm bing quyền trong tay.
Điều này cho ta thấy tâm tíng người NGÔ và nguời SỞ là háo danh và
háo sát, sẵn sàng hy sinh thân xac cho quyền lợi của một cá nhân. Trong khi đó
người VIỆT thì phục vụ cho dân tộc trường
tồn trong vinh quang, coi nhẹ quyền hành và trọng tình nghĩa con người. Khi
tranh chấp thì ta nên lưu ý điểm này đừng để kẻ thù lợi dụng tình cảm rồi chê
là ta NGU.
*** ĐI
VỚI BỤT MẶC ÁO CÀ SA, Đi VỚI MA MẶC ÁO GIẤY
Sau
đó Ngũ Tử Tư xây dựng triều đình mới :
·
BÁ HY làm quan văn để lo phát triển đất nước
·
TÔN VĂN (tức TôN TỬ) làm quan võ lo hát triển quân sự
Khi đất nước hùng cường thì đi đánh nước Sở để chiếm ngôi SIÊU CƯỜNG
và đồng thời trả thù cho NGŨ TỬ TƯ
Đang khi các nước hội họp để phân chia ngôi thứ thì Lãnh Vương
vùng Lạc Việt ở Quảng Đông tên là CÂU TIỄN đem quấn đánh phá kinh thành nên HẠP
LƯ phải kéo quân về trừng phạt.
Khi xung trận thì HẠP LƯ bị chém cụt ngón chân cái nên lui binh và
sau đó chết vì vết thương quá nặng
Cháu là PHÙ SAI lên nối ngôi và quyết chí phục thù : Mối thù
NGÔ VIỆT bắt đầu từ đây.
KHO TÀI LIỆU
Xin
giới thiệu với quý vị 3 đường dẫn sau đây, và kính mời các vị hiền tài tiếp tay
cho chương trình này được phong phú.
http://nhanvanviettoc.blogspot.com
là nơi lưu trữ tài liệu để soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com
là nơi lưu trữ các bài đã soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm)
từ Tiểu Học đến Trung Học.
Nơi
lưu trữ 3 kinh nhật tụng
1.
Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18 tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)
SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ (Đủ Bộ)
https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ
(Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k
SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT
(ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph
ØKênh
Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ
là nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu trữ
vô máy.
Nhóm Nhân Văn Việt Tộc kính báo.
T53(b) Biến đổi Văn Hóa
Facebo ok Văn Hóa Thuần Việt (21.10.2021)
soạn giả Hoàng Đức Phương
NGUYÊN LÝ VẬN HÀNH CỦA VẠN VẬT
Muốn tồn tại thì phải có 2 đức tính căn bản là : TỰ TRỌNG (Văn Lang) và CẦU TIẾN
(liên bang Việt). Nước Văn Lang được
thành lập bằng 15 BỘ LẠC, tức 15 vùng an lạc (15 tiểu bang)
Dân số trong 1 Tribu có khoảng từ 1.000 đến 2.000 người ;
tương đương với một làng hay một xã ; nên tiếng Việt gọi Tribu là TÙ tức
khu dân cư có lũy tre bao bọc (giống như nhà tù vậy)
Tinh thần TỰ TRỌNG không chấp nhận tinh thần Ỷ LẠI ; do đó đẻ
ra tinh thần TỰ LỰC TỰ CƯỜNG.
Muốn có khả năng Tự Lực Tự Cường thì phải có tinh thần Cầu Tiến ;
tức phải cập nhận hóa kiến thức.
Do đó cần phải có tinh thần PHỤC THIỆN, nghĩa là phải biết lắng nghe và phải có tư duy độc lập để biết phải biết trái
Thực
vậy :
Văn minh thay đổi nếp sống vật chất, kéo theo thay đổi não trạng để
tồn tại trong vinh quang, ngang vai với người.
Sự thay đổi Văn Hóa đưa đến quy luật thăng tiến của xã hội (con người và cộng đồng) mà cha ông chúng ta đã ghi lại trên mặt trống đồng Đông Sơn với 14 tia để truyền đạt quy luật sinh tồn trong xã hội loài người cho hậu thế. Hình ảnh trên mặt trống đồng 14 tia nói lên sự hình thành của nước Văn Lang mà toàn dân phải bảo vệ. Đó là ngôn từ của dân Văn Lang vào thời điểm 800BC.
Khi nước Văn Lang hợp với nước Ngô và cải danh thành nước Bách Việt
thì ông Phạm Lãi và Văn Chủng đã chuyển ngữ bằng huyền thoại Rồng Tiên theo
ngôn từ ở thời điểm 600BC.
Nay chúng ta chuyển ngữ theo ngôn từ của chúng ta dưới dạng SƠ ĐỒ
vì chúng ta quen với máy vi tính (computeur)
NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI:
Theo tài liệu phổ biến vào năm 2003 của giáo sư Stephen
OPPENHEIMER thì con người có mặt trên trái đất từ 4 triệu năm nay. Lấy năm Chúa
sanh làm mốc thời gian thì người ta chia ra làm 5 giai đoạn như sau cho dễ
nghiên cứu.
1. NGƯỜI VIỄN CỔ: Từ
4.000.000 năm tới 1.000.000 năm gọi là người VIỄN CỔ hay người VƯỢN, vì tay dài
(từ 4 triệu đến 1 triệu).
2. NGƯỜI THÁI CỔ : Từ
1.000.000 năm đến 100.000 năm gọi là người THÁI CỔ (từ 1 triệu đến 100 ngàn)
3. NGƯỜI THƯỢNG CỔ: Từ
100.000 năm đến 40.000 năm là người THƯỢNG CỔ (từ 100 ngàn đến 40 ngàn)
4. NGƯỜI HIỆN ĐẠI : Tức
chúng ta đó.Từ 40.000BC đến 2.000AD, còn gọi là người ĐỨNG THẲNG, tức người
Homo Sapien Sapien.
5. NGƯỜI TƯƠNG LAI tức
con cháu chúng ta; tinh khôn và cao lớn hơn chúng ta:
Từ giai đoạn nọ bước sang giai đoạn kia theo tiến trình tiệm tiến
chứ không phải đột biến như trong hình vẽ đơn sơ ở trên
SỰ
PHÁT TRIỂN CỦA
XÃ HỘI LOÀI
NGƯỜI
Vì nhu cầu đi lang thang kiếm ăn nên con người di hành trên khắp mặt
đất. Nhìn vào sự di hành theo thời gian thì người ta biết được là con người đã
trở nên bất trị vào năm 65.000BC. Lúc đầu bị cầm tù ở vùng nhiệt đới vì da mỏng
lại không có lông, nhưng khi biết dùng lửa để sưởi ấm nên sống được ở vùng ôn đới….
Mãi về sau biết cách tự túc mưu sinh nên mới sống được ở vùng Hàn đới.
Dựa
vào những khám Cuộc sống
mung-lung :
·
Thời kỳ đồ đá cuội, chưa biết dùng lửa (100.000BC –
80.000BC)
Thời kỳ đồ đá ghèphá mới
(2003AD) thì:Từ ngày con người xuất hiện trên trái đất (4 triệu năm BC) cho đến
lúc biết cách dùng lửa để có thể sống trong vùng ôn đới (75.000BC) thì đời sống
rất là cơ cực hơn loài thú (hữu sinh vô dưỡng)
Phải đợi đến khoảng 23.000BC
thì loài người mới biết làm đồ gốm để luộc tôm cá và ngũ cốc nên đời sống bắt đầu
có tương lai. Đồ gốm là đồ làm bằng đất nung như bát đĩa, chum vại, gạch ngói
….
Ø 13.000BC là
lúc con người biết cách trồng trọt, cầy cấy để tự túc mưu sinh thi đời sống bắt
đầu được bảo đảm; nhưng chưa biết lý do thất thu vì chưa biết phải trồng theo
thời tiết (mùa).
Ø 11.000BC là
lúc biết tính lịch theo vị trí ngôi sao chuẩn vào giữa đêm thì mới biết định
mùa để gieo mạ, đời sống sung túc nên tăng gia sinh sản; rồi đưa đến chiến
tranh để tự hủy diệt cho tới ngày hôm nay. Con người có hạnh phúc mà không biết
hưởng, chỉ vì lòng tham không đáy. Hưởng tới đâu cũng chưa đủ; mặc dù văn hóa
có phát triển nhưng chưa đủ sức để kìm hãm lòng tham: THAM THÌ THÂM, BỤT ĐÃ BẢO
THẦM RẰNG CHỚ CÓ THAM mà không nghe.
Đó chính là bài toán cần phải giải quyết rốt ráo để tránh nạn tận
thế cận kề.
Người hiện đại là con người biết cách tự sáng tạo ra thực phẩm nên
có nếp sống tập thể. Nay chúng ta gọi là
Văn Hóa và chia ra làm 9 thời đại văn minh như sau:
·
, Biết cách lấy lửa nhưng chưa biết dùng (80.000BC - 65.000BC)
Cuộc sống tự túc mưu sinh:
1. Thời
kỳ thứ nhất : Phát triển - #65.000BC : Biết cách dùng lửa
để có thể sống nơi xứ lạnh (ôn đới).
2. Thời
kỳ đồ gốm - #23.000BC: Biết dùng lửa để nung đất thành đồ dùng. Ngày hôm nay
chúng ta vẫn dùng đồ gốm; nhưng tinh xảo hơn xưa….
Ø Muốn
biết sinh hoạt loài người thì nghiên cứu đồ gốm
3. Thời
kỳ Nông Nghiệp - #13.000BC :
Tự lực mưu sinh (có cuộc sống quần cư), vì biết tạo
ra nông sản và chăn nuôi để bảo đảm cuộc sống.
Hai
ngàn năm sau mới biết tính lịch (11.000BC),
sau đó phải đợi 1.000 năm nữa mới có lý luận về Triết (10.000BC).
Triết
là sự vận hành tự nhiên của vạn vật, nó nằm trong danh từ Lý Dịch.
4.
Thời kỳ đồ ĐỒNG tinh xảo, 8.000BC - #4.000BC : Lập quốc để đánh nhau cướp của và bắt nô lệ.
Vũ khí bằng đồng
- Vì
nhu cầu phát minh ra dụng cụ nên đẻ ra danh từ Đồng Hồ: Hồ nước bằng đồng
dùng để đo thời gian (trở về quê cũ vào 3.400BC, là lúc nước rút và giữ nguyên
trạng cho tới nay)
5. Thời
kỳ đồ SẮT - #2.000BC : Thời Hùng Vương
(2.879BC), - nhà Hạ (1.700BC)
6.
Thời kỳ đồ THÉP (khoảng 550BC) - Khổng Khâu đẻ ra thuyết Thiên Mệnh(500BC), đó là thời có cưa và
dao cứng để cưa tre, chẻ lạt đan mành mành để viết lên trên, rồi cuốn lại và xách đi nên gọi là cuốn
sách… Đến năm 257BC thì biết làm nỏ Liên Châu, bắn đi một phát dăm bảy cái tên quý bằng đồng mà người
xưa gọi là Nỏ Thần
7. Thời
kỳ KỸ NGHỆ thép, là thời kỳ
Tây Phương biết sáng tạo ra máy móc để thay cho cơ bắp nên gọi là thời kỳ phát
triển công nghiệp (#1600AD-After Day).
Sức mạnh của hơi nước (chaudière) do ông Denis PAPIN sáng chế vào năm 1690AD. Cái vốn của sáng tạo là
TOÁN học phát triển.
8. Thời
kỳ NGUYÊN TỬ (1945AD) có vào
khoảng thập niên 30 (1930).
Trên
lý thuyết thì nhóm F. JOLIOT CURIE ở Paris để bằng sáng chế lò điện Nguyên Tử ở
Paris vào tháng MAI 1939, chạy bằng URANIUM 235 tinh luyện 20%.
Ø Hitler
biết nhưng không dám phiêu lưu làm bom Nguyên Tử vì nghèo. Sau này người Mỹ áp
dụng làm nhà máy điện nguyên tử, và thành công vào tháng décembre 1942 ở
Chicago, sau đó áp dụng ngay vào làm bom nguyên tử nên lấy thời điểm là năm
1945; vì nước Nhật lãnh 2 quả bom Nguyên Tử ở Hiroshima (6/8/1945) và Nagasaki
(9/8/1945).
9. Thời
kỳ ĐIỆN TỬ bắt đầu từ năm
2.000 trở đi.
Sự
thực thì máy điện toán đã có từ 1960, nhưng chưa tinh xảo nên người ta tính từ
năm 2.000AD trở đi là lúc kỹ nghệ nylon, kỹ nghệ truyền thông phát triển.
NHÌN NGƯÒI MÀ NGHĨ ĐẾN TA
Hiện nay loài người đang sống ở thời kỳ điện tử với tia LASER, tức
là đang sống ở trên 9 từng mây.
Còn dân ta thì đang sống ở thời
đại đồ đểu, lấy sự láu-cá phá-hoại làm lẽ sống chụp giựt, nên đi đâu cũng bị
loài người xếp ngang hàng với thú vật.
Ø Thời
kỳ đồ đá và đồ đất (thời kỳ thứ 3 ;
mới lên đến từng mây thứ 3/9)
Nên
nhớ là : Nhà cầm quyền Việt Cộng chỉ có thể kìm hãm bước tiến của
dân tộc, chứ họ không đủ khả năng để kìm hãm sự phát minh khoa học.
Đo đó dân tộc nào tụt hậu thì chỉ có nước tiêu vong mà thôi; lúc
đó thì đảng cầm quyền cũng đi luôn vì họ chỉ là những con sâu ăm bám để tàn phá
cơ thể. Khi cơ thể đi đến chỗ chết thì họ cũng chết theo.
Đây là điều đáng để mọi người suy nghĩ, ai cũng có trách nhiệm vực
dạy sức sống của dân tộc, nếu còn nghĩ rằng mình là người Việt.
Tổ tiên chúng ta đã dạy: Thà làm Đầy Tớ thằng khôn còn hơn làm
Thày thằng ngu.
Ø Lãnh đạo Việt Cộng không tên nào qua khỏi
Tú Tài vậy tại sao lại có người tình nguyện chết cho chúng sống nhỉ?
HÀNH ĐỘNG ĐỂ TỰ TỒN
·
Khi nắm vững sự phát triển không ngưng nghỉ của khoa học rồi thì
chúng ta mới có thể đưa ra học thuyết thoát hiểm để tiến bằng người được. Còn không biết là đấu võ mù!
·
Nếp sống là tiếng Việt, Văn Hóa là tiếng Tàu, danh từ của ông Phạm
Quỳnh vào thập niên 1930. Có nghĩa là phải
thay đổi cách sống và cách suy nghĩ một cách đẹp đẽ cho phù hợp với văn minh hiện
đại.
Chữ
HÓA là biến đổi, viết tắt của chữ PHONG HÓA , mà PHONG là cách sống.
·
Mỗi tầng là một thời đại mới đi từ: Mung-lung, biết cách dùng lửa,
đồ gốm, đồng đồng, đồ sắt, đồ thép, kỹ nghệ, nguyên tử và nay là thời điện tử
thì dân ta lại sống thụt lùi trong thời kỳ đồ đểu, lừa lọc, dối trá, điêu ngoa,
….….cái giá phải trả là : Thế giới coi khinh!
Hãy
tự vấn xem :
Thế giới đang ở trên 9 từng mây (thay đổi văn hóa tiến lên từng thứ
9 là nếp sống của loài người thượng đẳng).
Còn dân Việt thì đang sống lam lũ của loài khỉ Trường Sơn răng hô
môi vẩu vì đói ăn rách mặc, ở thời kỳ Đồ Đá và Đồ Đất, từng mây thứ 3, không biết
Tự Trọng và Liêm Sỉ là gì. Ấy thế mà còn TỰ HÀO một cách lố bịch.
Nguyên
nhân từ đâu mà ra ?
Trong khi dân Việt cũng tinh khôn như dân các nước đang có cuộc sống
của loại người văn minh THƯỢNG ĐẲNG.
Xét
cho cùng thì dân ta đang ở trên 9 từng mây bị khỉ ột kéo xuống từng thứ 3 cho
ngang với loài thú ; mà còn tự mãn.
Chẳng
phải nhìn dâu xa :
Thời Quốc Gia Việt Nam
(1949-1955) là lúc mới lấy lại chủ quyền mà người dân ra nước ngoài thì ai ai
cũng kính trọng ; đừng nói chi đến thời Rồng cất cánh của nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa vội.
sơ đồ : Thay Đổi Nếp Sống
cập nhật theo văn minh khoa học, tụt hậu là
tiêu vong
(vòng xoáy đi lên ; mỗi nấc thang
là 1 lần thay đổi cách sống)


......................................................................................................................
Theo sơ đồ này thì ta thấy rằng: Xã hội loài người thăng tiến không ngừng là do phát minh khoa học, không phát triển sẽ tiêu vong.
Ø Sáng chế
ra cái mới thì không bao giờ ngừng và đủ cả.
Vì thế nên chúng ta
cần phải hiểu rõ rằng:
Sơ đồ thay đổi nếp sống là một vòng xoáy đi lên, nếu theo không kịp
thì sẽ bị tụt hậu và tiêu vong theo luật đào thải bất biến.
Hãy nhìn cho kỹ lý
do tụt hậu của dânViệt :Hồ Chí Minh là cái tên giả, không cha không mẹ nên
dấu nhẹm tiểu sử (con rơi), không làm lễ nhậm chức và cũng chẳng thèm hứa hẹn
chi với dân cả. Vậy tại sao lại có người có thể gán cho hắn (và cái đảng lưu
manh, láu-cá) cái danh từ yêu nước, thương dân nhỉ?... Họ có còn tư duy độc lập
hay không ?
---------------------------
XÂY DỰNG VIỆT LỰC :
Sơ đồ:
KỸ THUẬT BẢO VỆ TỰ CHỦ
QUY LUẬT NHÂN QUẢ CỦA DÂN VIỆT
Cha ăn mặn, con khát nước. Cha ăn
cướpcon ngồi tù
Cha lù dù, con ngu dốt. Cha đốt
nhà con ngủ ruộng
Xin
lưu ý : Đây là lộ trình giáo dục phải theo để toàn dân có đủ khả năng bảo
vệ sự tự chủ đất nước.
·
Chương trình huấn luyện lãnh đạo không thuộc phạm vi Nhân Văn Việt
Tộc.







0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil