T54-MỐI THÙ NGÔ VIỆT
T54(a) MỐI THÙ NGÔ
VIỆT
Facebook Văn Hóa Thuần Việt (28.10.2021)
soạn giả : Hoàng Đức Phương
NGUYÊN NHÂN
MỐI
THÙ NGÔ/VIỆT
Nhân vật chính là :
1. NGŨ TỬ TƯ,
người nước SỞ
2. HẠP LƯ, người nước NGÔ
3. CÂU TIỄN
,người nước VĂN LANG (Việt)
Thời đó bên ta chia ra tên nước (VĂN LANG), tên dân tộc (VIỆT) và
trên TRIỀU ĐÌNH (HÙNG VƯƠNG, LÃNH VƯƠNG)
Bên SỞ và NGÔ chỉ có tên Triều Đình (nhà Vua), còn tên nước và tên
dân tộc là một (người NGÔ thì nước NGÔ như ngày hôm nay, người Mỷ thì nước Mỹ…)
Vì thế khi đọc bản văn thời xưa thì ta phải lưu ý điểm này kẻo lộn ;
như bên TÀU theo chế độ BẠO CHÚA nên chỉ có tên nước ; vì người dân thuộc
nhiều sắc tộc và gọi chung là THÀN DÂN (người thần phục BẠO CHÚA, mà BẠO CHÚA
thì không được gọi tên tục vì phạm húy = khi quân = mất đầu).
Như TẦN, HÁN, ĐƯỜNG, TỐNG, NGUYÊN MINH, THANH, TRUNG HOA đều là
tên nước cả.
Cha ông chúng ta lẫn lộn chỗ này nên gọi là Nhà HÁN, nhà ĐƯỜNG ….
Nên chúng ta bị rối mù như tại sao ông LƯU BANG lập nghiệp Đế mà không xưng là
LƯU THÁI TỔ mà lại xưng là HÁN CAO TỔ ?
Sau này dân Việt bắt chước cách xung này nên mới cho thêm niên hiệu
vô bên cạnh miếu hiệu.
Ø Miếu
hiệu là tên thứ tự trong nghiệp làm vua nên không đổi được.
Ø Còn
Niên Hiệu (tên hiệu theo năm tháng) thì chính mình chọn lấy
Do đó 1 ông vua có quyền thay đổi niên hiệu cho phù hợp với hoàn cảnh
lúc đó. Như vua LÊ THÁNH TÔNG (miếu hiệu) khi được mời về lãnh đạo thì ông lấy
niên hiệu là THUẬN THIÊN (ta về làm vua là hợp với lóng trới, tức chánh danh) từ
năm 146 đến năm 1470. Sau đó ông đổi thành HỒNG ĐỨC và ban bộ luật : QUỐC
TRIỀU HÌNH SỰ (có đức lớn vì ông đã ổn định được tình thế rối loạn khi lên ngôi
vua do quần thần năn nỉ)
MỐI
THÙ NGÔ VIỆT
NGŨ TỬ TƯ làm loạn giết vua Sở. Âm mưu bại lộ, bố và anh bị giết
còn ông là chủ mưu nên chạy thoát sang nước NGÔ và mang chí phục thù. Ông là một
tay gian hùng đa mưu túc-trí nên đáng sợ.
Chạy thoát sang nước NGÔ thì ông thuyết phục HẠP LƯ giết vua tiếm
quyền ; tức là nước người ta đang yên lành ông đến để gây loạn với mục
đính HẠP LƯU gíp ông trả thù vua nước SỞ vì đã giết cha và anh của ông.
Về phần HẠP LƯ thì ông ta là cháu đích tôn của vua ông. Đáng lý
thì ông lên ngôi vua chánh danh nhưng : Vua ông có 3 người con trai mà ông
quý nhất là cậu con út, muốn nhường ngôi nhưng phải theo luật nên ông trối trăn
là anh nhường ngôi cho em chứ không phải cho con.
Khi chết đi thì Bố Hạp Lưu nối ngôi. Khi ông này chết thì nhường
ngôi cho cậu em, tức chú ruột của Hạp Lư. Ông chú chết thì trao quyền cho cậu
em ; nhưng cậu này không nhận nên trao cho con trai, tức em họ HẠP LƯU.
Không biết tài ăn nói thế nào mà HẠP LƯU đồng ý mưu phản giết vua
đòi lại ngôi báu.
Mọi việc đều do NGŨ TỬ TƯ lên kế hoạch và tuyển dụng sát thủ như
CHUYÊN CHƯ người nước NGÔ khi không tình nguyện làm thích-khách giết vua để hy
sinh cả sinh mạng một cách đần độn để phục vụ một cá nhân. Yêu Ly đi giết KHÁNH
KỴ là Thái Tử cầm bing quyền trong tay.
Điều này cho ta thấy tâm tính người NGÔ và nguời SỞ là háo danh và
háo sát, sẵn sàng hy sinh thân xac cho quyền lợi của một cá nhân. Trong khi đó
người VIỆT thì phục vụ cho dân tộc trường
tồn trong vinh quang, coi nhẹ quyền hành và trọng tình nghĩa con người.
Khi tranh chấp thì ta nên lưu ý điểm này đừng để kẻ thù lợi dụng
tình cảm rồi chê là ta NGU.
*** ĐI VỚI BỤT MẶC ÁO CÀ SA, Đi VỚI MA MẶC ÁO GIẤY
Sau
đó Ngũ Tử Tư xây dựng triều đình mới :
·
BÁ HY làm quan văn để lo phát triển đất nước.
·
TÔN VĂN (tức TÔN TỬ) làm quan võ lo phát triển quân sự.
Khi đất nước hùng cường thì đi đánh nước Sở để chiếm ngôi SIÊU CƯỜNG
và đồng thời trả thù cho NGŨ TỬ TƯ
Đang khi các nước hội họp để phân chia ngôi thứ thì Lãnh Vương
vùng Lạc Việt ở Quảng Đông tên là CÂU TIỄN đem quấn đánh phá kinh thành nên HẠP
LƯ phải kéo quân về trừng phạt.
Khi xung trận thì HẠP LƯ bị chém cụt ngóc chấn cái nên lui binh và
sau đó chết vì vết thương quá nặng
Cháu là PHÙ SAI lên nối ngôi và quyết chí phục thù : Mối thù
NGÔ VIỆT bắt đầu từ đây.
--------------------------------------
Xin
giới thiệu với quý vị 3 đường dẫn sau đây, và kính mời các vị hiền tài tiếp tay
cho chương trình này được phong phú.
http://nhanvanviettoc.blogspot.com
là
nơi lưu trữ tài liệu để soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com
là
nơi lưu trữ các bài đã soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm) từ
Tiểu Học đến Trung Học.
Nơi lưu trữ 3
kinh nhật tụng
1.
Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để lại)
2.
Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18 tuổi)
3.
Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)
SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ (Đủ Bộ)
https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ
(Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k
SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph
ØKênh
Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ
là nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu trữ
vô máy.
¾
KỸ THUẬT BẢO VỆ TỰ CHỦ
Thiết kế: Nhân Văn Việt Tộc - ngày 15/08/2015 - hiệu chính 17.3.21

·
Đây là lộ trình giáo dục phải theo thì toàn dân mới có đủ khả năng
bảo vệ sự tự chủ của mình được.
·
Việt Lực được suy ra từ lời căn dặn của cha LẠC LONG.
·
Sơ đồ này là chuyển ý từ thông điệp Rồng Tiên khai quốc: 100 trứng,
100 con. Rồng Tiên khai quốc là học thuyết căn bản của khoa nhân văn Việt tộc.
·
Chuyện Rồng Tiên chuyển ý từ HOA VĂN 14 tia trên mặt trống đồng
Đông Sơn
Ø Chuyện
Rồng Tiên được dựng lên do nhu cầu chánh trị mà 2 ông Phạm Lãi, Văn Chủng đã lồng
trận đánh ‘diệt Ngô Đại Cáo’dưới dạng Huyền Thoại ở thời điểm chưa có chữ viết
(#600BC), để đem thông điệp cứu nước và giữ nước cho hậu thế noi theo.
T54(b)
– Thực trạng đất nước VN
Facebook Văn Hoá Thuần Việt (28.10.21)
Thảo luận Học Thuyết Nân Vị -Ngô Đình
Nhu
VẤN ĐỀ CHÍNH CỦA DÂN VIỆT LÀ GÌ?
(Thảo luận về Học Thuyết Cần Lao Nhân Vị-NGÔ
ĐÌNH NHU)
Nguồn:
google/CHÍNH ĐỀ - NGÔ TÙNG CHÂU (phổ
biến)
Chính
Đề là những vấn đề cốt lõi củ đất nước (thuộc phần ôn cố)
BỐI CẢNH CỦA VẤN ĐỀ
Nước Việt Nam là một nước nhỏ, nhỏ về dân số,
nhỏ về lãnh thổ, nhỏ về kinh tế kém phát triển, và nhỏ về sự góp phần của chúng ta vào văn minh nhân loại. Trong suốt phần lịch sử nhân loại mà chúng ta
được biết tới ngày nay, số phận của các quốc gia nhỏ, từ xưa vẫn không thay đổi.
Lúc nào các quốc gia nhỏ cũng phải bị chi phối bởi những trận phong ba bão táp
vô trách nhiệm do các nước lớn gây ra. Và lúc nào cũng sống dưới sự đe dọa liên
tục của một cuộc ngoại xâm. Từ ngày lập
quốc, hơn một ngàn năm lịch sử đã chứng minh rằng Việt Nam chúng ta không thoát
ra ngoài vận mạng thông thường đó. Hết phải chống Bắc, rồi phải chống Tây, rồi
lại phải chống Bắc. Liên tục, và lúc này hơn lúc nào hết, nạn ngoại xâm vẫn đe
dọa dân tộc Việt Nam. Để duy trì ách thống
trị của mình, các cường quốc xâm lăng thường áp dụng, đối với các dân tộc bị trị,
nhiều biện pháp, tuy có khác nhau về hình thức, nhưng chung qui vẫn thuộc hai
loại chính:
* Ngăn ngừa không để cho các quyền lợi kinh tế thuộc vào tay người bản
xứ.
* Kiềm hãm không để cho dân trí phát triển.
Các loại biện pháp thứ nhứt nhằm mục đích
tiêu diệt tất cả các phương tiện vật chất của người bị trị. Các loại biện pháp thứ hai nhằm mục đích tiêu
diệt những người có khả năng xử dụng các phương tiện vật chất trên, nghĩa là
các nhà lãnh đạo xứng danh.
Đối với các dân tộc bị trị hai loại biện
pháp trên đều có những hậu quả vô cùng thảm khốc. Tuy nhiên, nếu không có
phương tiện của mình thì còn có thể tìm phương tiện khác, chớ nếu không có người
lãnh đạo, thì dù có phương tiện cũng không xử dụng đƣợc. Vì vậy cho nên, đối với một quốc gia mà nền độc
lập bị đe dọa hay đã mất, thì phương pháp hữu hiệu nhứt và điều kiện thiết yếu
nhứt để chống lại ngoại xâm là nuôi dưỡng
và phát triển sự lãnh đạo. Trong thực
tế, nuôi dưỡng và phát triển sự lãnh đạo có nghĩa là tạo hoàn cảnh thuận lợi để
cho cái tinh túy của tập thể hun đúc nên thiểu số lãnh đạo xứng danh. Như thế nào là lãnh đạo xứng danh? Thiểu số lãnh đạo và sự thấu triệt vấn đề của
cộng đồng . Trong toàn bộ của cộng đồng, gồm có thiểu số lãnh đạo cộng đồng và
đại đa số chịu sự lãnh đạo. Cộng đồng lành mạnh khi nào giữa thiểu số lãnh đạo
và đa số chịu sự lãnh đạo, sự thông cảm chạy đều, dẫn dắt đến một sự phối hợp hữu
hiệu trong mọi công cuộc của cộng đồng.
-
Thiểu số lãnh đạo xứng danh phải bao gồm những người có đạo đức. Nghĩa là có
“Nhân” theo cổ nhân.
-
Thiểu số lãnh đạo xứng danh phải gồm những người có đủ khả năng vật chất, lý
trí và tinh thần để ứng phó với các tình thế. Nghĩa là có “Dũng” và có “Lược”
theo cổ nhân.
- Thiểu số lãnh đạo xứng danh phải gồm những
người thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của tập thể. Nghĩa là có “Trí” theo
cổ nhân. Đời sống của một cộng đồng cũng như đời sống của một cá nhân, có thể
chia thành từng thời kỳ. Trong đời sống của một cá nhân, một thời kỳ trung bình
mười năm. Đối với một cộng đồng, mỗi thời kỳ cố nhiên phải tương xứng với đời sống
cộng đồng và có thể là một vài thế kỷ. Trong mỗi thời kỳ của đời sống, mỗi cá
nhân phải đương đầu với một ít vấn đề chánh và đặc biệt của thời kỳ đó. Và mỗi
cộng đồng cũng phải giải quyết một số vấn đề chánh, thiết yếu cho cộng đồng,
trong mỗi thời kỳ.
- Thiểu
số lãnh đạo xứng danh phải thấu triệt vấn đề đó để hướng dẫn cộng đồng trên đường
tiến hóa, thích nghi chẳng những với khung cảnh của thế hệ hiện tại, mà lại còn
với đời sống vĩnh cửu của cộng đồng. Các
đức tính “Nhân” “Dũng” “Lược” phát sinh từ một căn bản thiên phú, nếu được hoàn
cảnh bên ngoài xã hội và cố gắng bên trong cá nhân nuôi dưỡng và rèn luyện, sẽ
phát triển đến đúng mức. Nhưng nếu không gặp được cơ hội rèn luyện và phát triển,
các đức tính trên, vì là thiên phú nên vẫn tồn tại trong bản chất. Do đó, các đức
tính “Nhân” “Dũng” “Lược” là những điều kiện chủ quan. “Trí” nghĩa là thấu triệt
vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng, là một điều kiện khách quan. Bởi vì sự
thấu triệt vấn đề chỉ có thể được thực hiện bằng cách sưu tầm, khảo cứu, phân
tích, lĩnh hội, quan sát và tổng kết những tài liệu bên ngoài liên quan đến vấn
đề. Không có tài liệu bên ngoài thì một bộ óc dù thông minh xuất chúng, cũng
không làm sao hiểu được vấn đề. Các đức
tính trên đều cần thiết cho một sự lãnh đạo xứng danh. Tuy nhiên, trong thực tế,
sự khiếm khuyết một trong các đức tính, không mang đến những hậu quả như
nhau. Một sự lãnh đạo có đủ “Nhân”
“Dũng” “Lược” nhưng không thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng
không thể đưa con thuyền cộng đồng đến chiến thắng.
Một sự lãnh đạo, dù thiếu “Nhân”, “Dũng”,
“Lược” nhưng lại thấu triệt vấn đề của cộng đồng, vẫn có hy vọng mang thắng
lợi về cho cộng đồng, dù rằng thắng lợi đó phải trả bằng những gian lao và tang
tóc. Chúng ta có thể ví trường hợp thứ
nhất với trường hợp của một người có xe và đánh xe rất tài, phát tốc độ, kềm
cương ngựa tới, kéo ngựa lui, quanh phải, quanh trái vừa mau lẹ, vừa khoan thai
không ai bì kịp. Nhưng lộ trình lại không biết. Như thế, dù xe có phóng nước lớn
và vượt nghìn dặm cũng không đưa được khách đến nơi cần phải đến, vì chính người
đánh xe cũng không biết đó là nơi nào. Trường hợp thứ hai là trường hợp của một
người không xe và cũng không biết đánh xe, nhưng lại thấu triệt lộ trình. Như vậy
những người đồng hành với người này, có ngày sẽ đến nơi phải đến, tuy biết rằng
cuộc hành trình sẽ đầy gian lao và đòi hỏi nhiều kiên nhẫn. Suy luận như trên đây không có nghĩa là muốn
chứng minh rằng “Nhân” “Dũng” “Lược” không thiết yếu cho sự lãnh đạo. Nhưng để
chỉ rõ rằng mặc dù các đức tính “Nhân” “Dũng” “Lược” “Trí” đều cần thiết, tuy
nhiên sự thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng là quan trọng hơn
cả. Như thế thì, tới đây, chúng ta đã
làm sáng tỏ được ba điểm:
1.
Việt Nam của chúng ta là một nước nhỏ và yếu, lúc nào cũng
bị nạn ngoại xâm đe dọa
2. Trong công cuộc chống ngoại xâm, một khí giới
hữu hiệu nhứt là phát triển lãnh đạo.
3.
Trong công cuộc phát triển lãnh đạo, điều kiện thiết yếu cần được thỏa
mãn là: Thiểu số lãnh đạo phải thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng. Đa số chịu lãnh đạo và vấn đề cần phải giải
quyết của cộng đồng.
Sự thấu triệt vấn đề của cộng đồng quan hệ
như thế nào đối với thiểu số lãnh đạo, trên đây chúng ta đã thấy. Một cộng đồng trong toàn bộ gồm nhiều phần tử
cá nhân hợp thành, chia làm hai khối, thiểu số lãnh đạo và đa số chịu sự lãnh đạo.
Thiểu số lãnh đạo có trách nhiệm với vận mạng của cộng đồng. Cộng đồng có tồn tại mới bảo đảm được phát
triển của cá nhân. Cộng đồng tồn tại nhờ cố gắng và hy sinh của cá nhân, tình
nguyện hay cưỡng bách, đóng góp. Nhưng lý do của cuộc sống là sự thỏa mãn ước vọng
chánh đáng của cá nhân.
Nói một cách khác, lý do của cuộc sống là
lý do cá nhân. Mà điều kiện của cuộc sống là điều kiện cộng đồng. Vì thế cho
nên, ngay trong bản chất đã có sự mâu thuẫn giữa quyền lợi của cộng đồng và quyền
lợi của cá nhân trong cộng đồng. Một mâu thuẫn như thế thuộc vào loại mâu thuẫn
lúc nào cũng có ở trong nội tâm[1] của mọi cuộc phối hợp sáng tạo giữa hai lực
lượng tương phản. Cứu cánh của sự lãnh đạo
là thực hiện một trạng thái điều hòa tuyệt đối giữa hai quyền lợi mâu thuẫn, cá
nhân và cộng đồng. Nếu sự điều hòa được thực hiện dưới hình thức một sự thăng bằng
động tiến, nghĩa là hai lực lượng tương phản sẽ dựa nhau và kích thích nhau để
tiến, thì toàn thể cộng đồng sẽ tiến triển. Nếu sự điều hòa được thực hiện dưới
hình thức một sự thăng bằng tĩnh chỉ, nghĩa là hai lực lượng tương phản sẽ đóng
khung và kềm giữ nhau, toàn thể cộng đồng sẽ mất đà tiến và trở thành trụ đóng.
Ø Nếu
sự điều hòa không được thực hiện, cộng đồng sẽ tan vỡ.
Nhưng sự mâu thuẫn giữa hai quyền lợi cá
nhân và cộng đồng không phải lúc nào cũng quyết liệt. Trong những thời kỳ bình
thường của cộng đồng, cộng đồng không đứng trước một thử thách khó khăn, và
không đòi hỏi nhiều sự đóng góp của cá nhân. Trong những thời kỳ đó, sự mâu thuẫn
dịu đi – và công cuộc lãnh đạo chú trọng đến việc giữ cho trật tự xã hội được mọi
người tôn trọng, và đời sống của mỗi cá nhân được phát triển.
Nhưng ở vào những thời kỳ mà cộng đồng phải
đương đầu với một cuộc thử thách nghiêm trọng, và vì sự sống còn của cộng đồng,
đòi hỏi những đóng góp to tát của cá nhân, sự mâu thuẫn trên lên đến cực độ. Sự lãnh đạo ngoài sự bảo vệ trật tự
xã hội còn phải qui tụ những phương tiện vật chất và nhân sự vượt quá mức thông
thường để đưa cộng đồng lướt qua các trở lực.
Sự mâu thuẫn trở thành cực kỳ trầm trọng. Trạng thái điều hòa rất khó thực
hiện và sự tan vỡ của cộng đồng có thể đến bất cứ lúc nào.
Như thế, sự mâu thuẫn, khi nhẹ khi nặng,
lúc nào cũng có. Trong thực tế, sự mâu thuẫn giữa hai quyền lợi, cộng đồng và
cá nhân, sẽ biến hình thành sự mâu thuẫn giữa thiểu số lãnh đạo và đa số chịu sự
lãnh đạo, vì thiểu số lãnh đạo nhân danh cộng đồng đòi hỏi sự đóng góp của đa số
chịu sự lãnh đạo. Sự mâu thuẫn càng ác liệt, nếu đại đa số không ý thức cộng đồng
và không hiểu biết vấn đề cần giải quyết của cộng đồng. Trường hợp này càng dễ
xảy ra trong các cộng đồng nghèo nàn về
vật chất và ấu trĩ trong tổ chức. Đa số chịu lãnh đạo không được cộng đồng
bảo đảm cho những cần thiết tối thiểu và sơ đẳng nên không có lý do tâm lý để
biết đến cộng đồng, và, mải bận tâm giải quyết các vấn đề của đời sống hằng
ngày, không có thời giờ mà hiểu biết vấn đề của cộng đồng. Trong những thời kỳ bình thường, có thể miễn
cưỡng thay thế sự tự ý tham gia của đa số chịu sự lãnh đạo vào đời sống của cộng
đồng bằng sự cưỡng bách tôn trọng luật lệ của cộng đồng. Nhưng trong những thời
kỳ thử thách thì uy tín vững chắc của một lãnh tụ, hay sự cưỡng bách bằng võ lực
cũng không thay thế được sự đóng góp có ý thức vào nhu cầu của cộng đồng. Và điều kiện thiết yếu để thực hiện sự tự
giác đóng góp như vậy là đa số chịu sự lãnh đạo phải ý thức cộng đồng và hiểu
biết vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng. Có như vậy thiểu số lãnh đạo và
đa số chịu sự lãnh đạo mới phối hợp điều hòa và tạo cho cộng đồng sinh lực cần
thiết để vượt qua các thử thách quyết liệt đang đợi chờ. Nhiều hậu quả trực tiếp Sự liên hệ đương nhiên giữa thiểu số lãnh đạo
và đa số chịu sự lãnh đạo trong một cộng đồng cũng đã đặt cho đa số chịu lãnh đạo
sự cần thiết phải hiểu biết vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng.
Hơn nữa, trong thực tế, nếu đa số chịu lãnh
đạo ý thức vấn đề của cộng đồng, thì cộng đồng còn có thể tránh được nhiều bước
lỡ lầm mà hậu quả sẽ rất tai hại cho các công cuộc chung. Đa số chịu lãnh đạo càng ý thức được vấn đề
chung, thì đường đất xoay trở càng rộng cho chiến thuật hành động của thiểu số
lãnh đạo. Cuộc tranh đấu càng gay go, chiến thuật càng trở nên khuất khúc và bất
ngờ. Và như vậy sự phối hợp giữa thiểu số lãnh đạo và đa số chịu lãnh đạo sẽ
không sứt mẻ và cái sắc bén của chiến thuật không bị sờn. Kẻ địch không lợi dụng
được hoàn cảnh nghiêm khắc do cuộc thử thách tạo ra để ly gián giữa thiểu số và
đa số của cộng đồng. Mọi sự lãnh đạo đều phải chịu sự phê bình.
Có phê bình xây dựng và cũng có phê bình đả phá. Ngay trong lúc bình thường, đa
số chịu lãnh đạo cũng không dễ dàng phân biệt được sự phê bình xây dựng với sự
phê bình đả phá. Trong những lúc nhiệt độ không khí tranh đấu lên cao và bao trùm
mọi việc thì sự nhận định càng dễ bị đánh lạc hướng và thiện chí càng dễ bị lợi
dụng bởi những chủ trương phá hoại.
Tuy
nhiên, nếu đa số chịu lãnh đạo ý thức vấn đề của cộng đồng, thì ít nhiều cũng sẽ
có một tiêu chuẩn để nhận xét tính chất của sự phê bình và không bị những chủ
trương phá hoại lừa gạt. Ví như hành khách, có thể không thấu lộ trình như người
lái xe, nhưng nếu nhiều hành khách có ý thức về lộ trình thì người lái xe khó
mà mang một lộ trình lạ vào thay thế cho lộ trình mà nhiều người đã biết
qua.
Một sự lãnh đạo chân thành vì quyền lợi của
cộng đồng cũng có lúc phạm vào những lỗi lầm mà hậu quả sẽ có hại cho cộng đồng.
Nhiều cuộc đầu cơ khéo ngụy trang có thể lừa gạt đa số chịu lãnh đạo của cộng đồng.
Trong hai trường hợp trên đa số có thể bị lôi cuốn vào những công việc tai hại.
Và do đó có thể dẫn dắt cộng đồng đến chỗ sụp đổ. Đa số chịu lãnh đạo dù không thấu triệt vấn đề
cần phải giải quyết của cộng đồng, nhưng nếu đã có ý thức, cũng có thể kịp thời
nghe theo những lời cảnh tỉnh xây dựng và từ chối không dự vào những công cuộc
đưa cộng đồng vào vòng tiêu diệt. Càng
phân tích các trường hợp như trên, chúng ta càng nhận thấy tính cách thiết yếu
của sự hiểu biết vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng đối với đa số chịu
lãnh đạo. Nhiều hậu quả gián tiếp Đối với một cộng đồng quốc gia nhỏ và yếu như
quốc gia của chúng ta, lúc nào cũng bị nạn ngoại xâm đe dọa, sự ý thức vấn đề của
cộng đồng đối với đa số chịu lãnh đạo còn hàm nhiều hậu quả tuy gián tiếp nhưng
rất là quan trọng. Trong những thời kỳ
phải đương đầu với nhiều thử thách quyết liệt, vận mạng của cộng đồng bị đe dọa,
thiểu số lãnh đạo bắt buộc phải đòi hỏi ở đa số chịu lãnh đạo nhiều cố gắng phi
thường, nhiều hy sinh nặng nề và nhiều đóng góp to tát. Nhưng nếu trong hoàn cảnh
đó, đa số chịu lãnh đạo lại không ý thức đúng mức vấn đề của cộng đồng, thì chẳng
những sự góp phần của họ sẽ miễn cưỡng và không xứng đáng, mà lại còn sẽ phát
sinh một hiện tượng tâm lý rất nguy hiểm cho cộng đồng.
Vì
tin rằng bị cưỡng bách đóng góp một cách quá đáng vào một công cuộc mà họ không
hiểu, đa số chịu lãnh đạo càng ngày càng bất mãn đối với thiểu số lãnh đạo. Và
lần lần sự bất mãn biến thành căm thù và cuối cùng vùng lên thành phẫn nộ.
Đến cực độ này, đa số chịu lãnh đạo sẽ trở
thành một công cụ sắc bén cho bất cứ một kẻ ngoại xâm nào biết thừa cơ hội đứng
lên khoác áo nghĩa hiệp giải phóng cho đa số tự cho là bị thiểu số lãnh đạo bóc
lột.
Trong lịch sử của chúng ta, sự thất bại của
nhà Hồ và cuộc xâm lăng nước ta của quân Minh tiếp theo đó, là một sự kiện lịch
sử điển hình cho trường hợp vừa phân tích trên đây.
Hồ
Quý Ly quyết định thực hiện một cuộc cách mạng toàn diện cho dân tộc Việt Nam.
Xét lại sử liệu, cuộc cách mạng theo nhà Hồ quan niệm, nếu thành công đã thay đổi
hẳn cuộc tiến hóa của dân tộc. Nghĩa là con đường nhà Hồ đã vạch ra là con đường
vô cùng lợi ích cho cộng đồng.
²
Nhưng Hồ Quý Ly, để thực hiện chương trình, đã cưỡng
bách đa số chịu lãnh đạo đóng góp nặng nề, trong khi đa số không ý thức được vấn
đề của cộng đồng.
Và
những biến cố đã xảy ra như ta đã biết: Quân Minh đã lấy danh nghĩa giải thoát
dân tộc Việt Nam khỏi tay một tên soán ngôi, để cướp cả nước của chúng ta. Trong ví dụ lịch sử trên đây, nếu đa số chịu
lãnh đạo hiểu biết được ít nhiều vấn đề, đã tránh cho chúng ta một trong bảy cuộc
xâm lăng mà nuớc Tàu đã dành cho chúng ta trong một ngàn năm lịch sử.
Nhưng sự hiểu biết vấn đề của cộng đồng đối
với đa số chịu lãnh đạo không những
có một hiệu quả tiêu cực đối với nạn ngoại xâm, như chúng ta vừa thấy trên đây,
mà lại còn có một hiệu quả tích cực
trong công cuộc chống lại nạn ngoại xâm lúc nào cũng đe dọa chúng ta.
Những
lý lẽ để chứng minh sự kiện này lại nằm trong một ngàn năm lịch sử của dân tộc
Việt chống lại Trung Hoa. Kinh nghiệm lịch
sử của chúng ta chứng tỏ rằng, rốt cuộc lại, không phải ngoại giao, cũng không
phải quân lực đã giúp cho chúng ta mấy lần đánh bại các cuộc xâm lăng của Trung
Hoa và mấy lần quật khởi sự thống trị ác nghiệt của họ. Bởi vì, ngoại giao chỉ
mạnh khi nào có quân lực mạnh làm hậu thuẫn. Và bởi vì, dù dũng lược có thừa,
nhưng tài nguyên vật chất và nhân lực của chúng ta giới hạn thì quân lực của
chúng ta cũng giới hạn.
Các truờng hợp đã phân tích trên đây chứng
minh rằng sự đa số chịu lãnh đạo hiểu biết
vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng hàm chứa nhiều kết quả quả ích lợi thiết
yếu cho cộng đồng. Nếu chúng ta nhìn
nhận rằng, sự đa số chịu lãnh đạo hiểu biết vấn đề mặc nhiên sẽ đưa đến sự đa số
chịu lãnh đạo tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào chính sự của cộng đồng.
Và nếu
chúng ta lại nhìn nhận rằng, sự đa số chịu lãnh đạo tham gia trực tiếp hay gián
tiếp vào chính sự của cộng đồng là bản chất của tinh thần dân chủ, thì các điểm
sau đây lại được sáng tỏ:
1. Chỉ
có sự tôn trọng tinh thần dân chủ mới là một lợi khí sắc bén nhứt để cho một nước
nhỏ và yếu như nước chúng ta chống lại ngoại xâm.
2.
Phát huy sự hiểu biết của đa số chịu lãnh đạo đối với vấn đề cần phải giải quyết
của quốc gia là góp phần tích cực nhất vào công cuộc xây dựng và củng cố tinh
thần dân tộc. Một ví dụ cụ thể và khắc
tín.
Trên đây chúng ta đã dẫn chứng để quả quyết
hai điều.
* Thiểu
số lãnh đạo thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng là một điều thiết
yếu cho cộng đồng.
* Đa
số chịu lãnh đạo hiểu biết vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng là một điều
thiết yếu cho cộng đồng.
Các biến cố dồn dập xảy ra trong lịch sử Việt
Nạm từ hai mươi năm nay mà mọi người đều còn ghi nhớ có thể lấy làm một ví dụ cụ
thể và minh xác để chú giải hai điều trên đây.
Ø Thiểu
số lãnh đạo và vấn đề cần phải giải quyết.
Chú thích:
Thời đó người ta quan niệm trong một quốc gia chỉ có 2
KHỐI là GIAI CẤP LÃNH ĐẠO và GIAI CẤP THỪA HÀNH (dân chung).
Nay quan niệm của chúng ta về chế độ DÂN CHỦ CHẾ TÀI
có khác có khác các chế độ trước.
Dân tộc được chia làm 3 giới: XƯỚNG (thành phần ưu tú
của dân tộc). HỌA là người bắt tay vào việc (nhân dân) và THI CÔNG là người thi
hành các quyết sách do giới Nguyên Khí Quốc Gia (Trí, Phú, Địa, Hào) đề ra và
người dân chung quyết.
Do đó cách tổc chức phải khác để tránh các sai lầm do
chế độ DÂN CHỦ Ỷ LẠI (tam quyền phân lập
²
Từ hai mươi năm nay và còn trong nhiều năm
nữa, các biến cố chính trị ở Việt Nam đều phát sinh từ sự tranh giành ảnh hưởng
giữa hai chủ trương Quốc Gia và Cộng Sản. Mặc dù toàn bộ Việt Nam đều bị sự chi
phối nặng nề của hai thế giới Tự Do và Cộng Sản, sự hơn kém giữa hai chủ trương
vẫn tùy thuộc ở một số yếu tố nội bộ quyết định, trong số đó sự lãnh đạo chiếm
một vai trò quan trọng.
Sau này trong phần chính của quyển sách,
chúng ta sẽ phân tích với nhiều chi tiết những lý do vì sao chủ trương Cộng Sản
chẳng những sẽ không giải quyết được vấn đề của quốc gia Việt Nam trong thời kỳ
nầy của cộng đồng mà lại còn sẽ đưa dân tộc vào một con đường đen tối cho nhiều
thế hệ trong tương lai.
Mặc
dù lý trí của phần đông chưa quan niệm được một cách rõ rệt hiểm họa trên,
nhưng số người trong mọi tầng lớp ngày càng chống lại chủ trương Cộng Sản càng
tăng, vì ghê sợ phương pháp cai trị tàn bạo của họ và ý thức ít nhiều về sự họ
từ chối không nhìn nhận lý do cá nhân của cuộc sống.
Đã
thế một sự kiện không khỏi làm cho chúng ta suy nghĩ. Vì sao, trong hoàn cảnh
đó, chủ trương Cộng Sản lại càng ngày càng lấn áp chủ trương Quốc Gia?... Các lãnh tụ quốc gia, lo cho vận mạng của nước
nhà, đã để nhiều tâm trí tìm câu trả lời.
Lý thuyết tranh đấu: Nhiều người tin
rằng, sở dĩ chủ trương Cộng Sản thắng thế là vì nhờ có một lý thuyết tranh đấu.
Để đối phó với chủ trương Cộng Sản thì ngược lại chủ trương Quốc Gia không có một
lý thuyết tranh đấu. Do đó từ hai mươi năm nay, nhiều lý thuyết đã được tạo ra.
Nhiều lý thuyết lấy một học thuyết triết học hay tôn giáo làm căn bản. Một số
khác mượn nền tảng của một chủ nghĩa tranh đấu chính trị đã, trong một lúc nào
đó và tại một nơi nào đó trên thế giới, chống lại chủ nghĩa Cộng Sản.
Đối với một vài lý thuyết, tư tưởng hoàn
toàn đóng khung trong giới hạn dân tộc. Một vài lý thuyết khác khoáng đạt hơn dựa
trên một hệ thống tư tưởng của các triết học danh gia thế giới. Có nhiều xu hướng lại mang lập trường Quốc
Gia để chọi lại lập trường Quốc tế, xem như là lập trường của Cộng Sản. Và quên
đi rằng đối với một quốc gia, ngay cả các quốc gia Cộng Sản, mọi chủ truơng đều
được nghiên cứu vừa trên lập trường Quốc Gia vừa trên lập trường Quốc tế. Các lý thuyết đưa ra làm lý thuyết tranh đấu
để chống lại chủ nghĩa Cộng Sản đã có nhiều. Và hiện nay vẫn còn có người đang
đi tìm một lý thuyết khác nữa với tác dụng trên.
Giá
trị tư tưởng các lý thuyết rất khác nhau nhưng tất cả đều bất lực trong vai trò
mong mỏi: Giúp cho chủ trương Quốc gia chiến thắng chủ trương Cộng Sản. Chẳng
những thế tất cả các lý thuyết đều mang đến một kết quả bất ngờ và trái ngược:
Mỗi lý thuyết có một số người tin tưởng, nhứt quyết trung thành với lý thuyết của
nhóm mình và thành thật hay miễn cưỡng bảo vệ lý thuyết đó. Thành ra khối người
theo chủ trương Quốc Gia chia năm xẻ bảy làm cho sinh lực chống lại kẻ địch còn
yếu hơn là lúc chưa có lý thuyết. Thật là không có gì làm cho người Cộng Sản
vui sướng bằng tình trạng đó. Và họ chỉ ước mong khối quốc gia tạo ra thêm nhiều
lý thuyết tương tự.
Một
quan niệm cần chỉnh đốn:
Nguyên
do của một tình trạng như vậy rất dễ hiểu. Đã là một lý thuyết thì không phải
là thực tế. Nếu lý thuyết lại lấy một thuyết học triết lý làm căn bản thì lại
càng không thực tế nữa.
Như chúng ta đều biết:
Hai người chủ trương hai học thuyết triết học
khác nhau có thể cãi vã nhau đến tận thế mà không bao giờ đi đến một sự thỏa
thuận. Vì thiếu căn bản thiết thực đó
cho nên các lý thuyết đưa ra dù có một giá trị tư tưởng khá cao đi nữa, cũng
không có năng lực phát quang để thuyết phục ai cả. Tự đặt cho mình một lý thuyết
thiếu căn bản thực tế lại còn mang đến một hậu quả tai hại khác.
Những
người tin tưởng vào lý thuyết đó tự bắt buộc phải tôn trọng những nguyên tắc
thiếu thực tế mà lý thuyết đề ra. Đến khi hành động và đụng chạm với thực trạng
của vấn đề thì phải lâm vào một tình thế không lối thoát. Bởi vì thực trạng của
vấn đề đâu có chiều ý của tác giả lý thuyết mà uốn nắn mình vào khuôn khổ các
nguyên tắc đã đề ra.
Trong
trường hợp đó thì, hoặc phản bội lý thuyết mà theo thực tể, hoặc tôn trọng lý
thuyết mà phủ nhận thực tế. Trong trường hợp thứ nhứt thiểu số lãnh đạo sẽ mất
uy tín, dần dần mất tin tưởng của đa số và sẽ đi đến thất bại. Trong trường hợp
thứ hai thất bại sẽ đến ngay. Vì thực tế không thể phủ nhận được.
Sức mạnh
của sóng và gió:
Khi
nhìn thấy mãnh lực qui tụ của lý thuyết tranh đấu Cộng Sản và bị mãnh lực đó ám
ảnh, các nhà lãnh đạo của khối Quốc Gia mới suy thấu có một nửa đường. Họ chưa
nhìn thấy rằng lý thuyết Cộng Sản chỉ là một phương tiện tranh đấu và sở dĩ
phương tiện tranh đấu đó có một mãnh lực như chúng ta đều biết, là nhờ có hậu
thuẫn của một công trình nghiên cứu sự kiện thực tế lịch sử của nhiều thế hệ tư
tưởng gia. Trong trường hợp nào khối Cộng Sản đã lấy lý thuyết đó làm một
phương tiện tranh đấu, chúng ta sẽ thấy sau này trong phần chính của quyển
sách.
Lý
luận trên đây giúp cho chúng ta thấy ngay vì sao một lý thuyết tranh đấu do một
nhóm người ngồi lại nạo óc viết ra không thể phù hợp với thực tế được. Đã không
phù hợp với thực tế thì làm sao mang đến những kết quả mong mỏi được và sớm muộn
gì cũng bị đào thải. Người ta nhìn thấy
mãnh lực của lý thuyết tranh đấu, nhưng không nhìn thấy công trình nghiên cứu
thực tế lịch sử làm hậu thuẫn cho mãnh lực đó, cũng như nhìn thấy mãnh lực của
lượn sóng mà không nhìn thấy sức mạnh của gió tạo ra lượn sóng.
Cộng
Sản và Tây phương:
Nếu có thể tạo được một giương đó, nhiều
lãnh tụ Quốc Gia cũng cho rằng nếu giải quyết các vấn lý thuyết để chống lý
thuyết tranh đấu Cộng Sản thì đã lâu rồi, trong cuộc chiến đấu ác liệt giữa xã
hội Tây phương và Cộng Sản, Tây phương đã tạo ra thứ khí giới sắc bén đó.
Nhưng, biết rằng lý thuyết Cộng sản là một phương tiện tranh đấu chỉ tìm được
mãnh lực của nó trong sự nghiên cứu thực trạng xã hội, nên Tây phương nhứt là
những dân tộc có óc thực tế như Anh, Mỹ đã tìm giải quyết các vấn đề do thực trạng
xã hội tạo ra để thắng chủ nghĩa Cộng Sản. Họ đã thành công.
Ngày nay (1965), ở Âu Mỹ, sở dĩ chủ nghĩa Cộng
Sản xuống trào, không phải vì giá trị tư tưởng tuyệt đối đã kém. Nhưng vì thực
trạng xã hội ở Âu Mỹ hiện nay đã thay đổi khác xưa nhiều và cái lý thuyết mà Cộng
Sản dùng làm phương tiện tranh đấu không còn phù hợp với thực trạng hiện nay của
xã hội Âu Mỹ nữa. Đây là nguyên nhân chánh của sự tu chỉnh lý thuyết Các-mác
Lê-nin mà nhiều lãnh tụ Cộng Sản đang chủ trương.
Sự
kiện trên lại chứng minh rằng sức mạnh của một lý thuyết tranh đấu không phải ở
giá trị tư tưởng của lý thuyết mà ở sự thấu triệt thực trạng của đối tượng. Như thế thì, khi tạo ra những lý thuyết để chống
lại Cộng sản mà không tìm hiểu thực trạng của vấn đề, các nhà lãnh đạo của khối
Quốc Gia đã làm một việc của những người lãnh đạo không thấu triệt vấn đề. Và
lý thuyết tranh đấu, mặc dù là một khía cạnh đáng để ý của vấn đề, tuyệt nhiên
chưa phải là vấn đề.
Vấn
đề xã hội Tây phương đã thắng chủ nghĩa Cộng Sản trong nội bộ xã hội của họ, bằng
cách giải quyết các vấn đề xã hội cho lớp người sút kém về kinh tế. Nhân cái đề
xã hội trong nội bộ của mình thì chúng ta sẽ thắng Cộng Sản.
Nhận
xét trên đúng mà không đúng: Đúng
vì vấn đề xã hội cũng chiếm một phần quan trọng trong vấn đề của chúng ta,
nhưng tuyệt nhiên chưa phải là vấn đề. Một mặt khác thực trạng của xã hội Tây
phương lúc chủ nghĩa Cộng Sản hoành hành không phải là thực trạng của xã hội của
chúng ta ngày nay.
Tín
ngưỡng : Lại có nhiều chủ trương lấy tín ngưỡng
mà chống lại Cộng Sản vì tín ngưỡng là một nhu cầu thiêng liêng của tất cả mọi
người. Vì thế nên khả năng qui tụ của một tôn giáo đối với các tín đồ là một điều
kiện không thể phủ nhận được. Tín ngưỡng là một tín hiệu tập hợp hữu hiệu. Các
chế độ Cộng Sản đàn áp tôn giáo chính vì khả năng qui tụ nói trên, lúc nào cũng
đe dọa sự độc quyền lãnh đạo cộng đồng mà theo họ nhứt thiết phải dành cho đảng
Cộng Sản.
Nhưng tác dụng thật sự và đương nhiên của sự
qui tụ của tín ngưỡng là một tác dụng tôn giáo nghĩa là chú trọng về phần linh
hồn, về phần sau của cuộc đời hiện tại. Và nếu không có Cộng Sản thì sụ qui tụ
đó cũng vẫn có. Nói một cách khác sự qui tụ đó tự nó không có mục đích chống lại
chủ trương Cộng Sản.
Chỉ khi nào, ví dụ trong một chế độ Cộng Sản,
có sự đàn áp tôn giáo, bởi vì chế độ Cộng Sản không thể dung dưỡng một sự qui tụ
nào khác hơn sự qui tụ là đảng Cộng Sản, thì sự qui tụ tôn giáo mới trở thành một
hành động chống Cộng Sản. Nhưng sự chống lại vẫn là một hành động tiêu cực,
nghĩa là sự chống lại có mục đích tự bảo vệ và nếu đàn áp chấm dứt thì sự chống
lại cũng chấm dứt.
Sự qui tụ tôn giáo chỉ có hiệu lực chính trị
khi nào cộng đồng tôn giáo đứng vào thế đối lập và tích cực chống lại một chủ
trương. Ở trong một trường hợp mà sự kiện
Cộng Sản đàn áp tôn giáo vẫn còn là một viễn ảnh chưa thành hình thì sự qui tụ
tôn giáo tự nó chưa có điều kiện để chống Cộng Sản. Nếu mà các tín đồ có nhìn
được xa và nhứt quyết không muốn sống cảnh đàn áp tôn giáo của Cộng Sản, và do
đó nhứt quyết chống lại Cộng Sản, thì hành động đó cũng vẫn còn là một hành động
tiêu cực chưa có thể mang lại thắng lợi.
Muốn cho khả năng qui tụ tôn giáo trở thành một lợi khí chống Cộng Sản
thì phải mang cái khả năng qui tụ đó mà dùng vào một công cuộc có mục đích giải
quyết vấn đề thiết thực của cộng đồng. Nghĩa là các nhà lãnh đạo chủ trương lấy
tín ngưỡng mà chống lại Cộng Sản, phải thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của
cộng đồng và xử dụng khả năng qui tụ của tín ngưỡng để giải quyết vấn đề
đó.
Nói tóm lại, tín ngưỡng tự nó không phải là một lợi khí chống lại
chủ trương Cộng Sản. Tín ngưỡng sẽ trở thành lợi khí chống lại Cộng Sản trong
hai trường hợp:
1.- Khi bị Cộng Sản đàn áp.
2.- Khi khả năng qui tụ của tín ngưỡng được
xử dụng trong công cuộc giải quyết các vấn đề do thực trạng xã hội tạo ra.
Lý thuyết Cộng Sản mạnh nhờ có một hậu thuẫn
phong phú là: Sự nghiên cứu các sự kiện
thiết thực lịch sử. Tín ngưỡng sẽ là một lợi khí mạnh chống lại chủ trương
Cộng Sản khi cũng có một hậu thuẫn nghiên cứu sự kiện thiết thực lịch sử.
Chủ
trương lấy tín ngưỡng để thắng Cộng Sản lại có thể đưa đến một kết quả bất lợi,
cũng tương tự như kết quả bất lợi mang đến bởi các lý thuyết chống chủ trương Cộng
Sản.
Ranh
giới các cộng đồng tôn giáo không ăn khớp với các cộng đồng quốc gia.
Ø Một quốc gia gồm nhiều cộng đồng tôn giáo
Ø Nhưng một tôn giáo có thể có tín đồ trong
nhiều quốc gia khác.
Ø Thêm vào đó sự kiện đương nhiên là: Mỗi
tín ngưỡng đều có cái phần giáo lý riêng biệt của mình thường không dung nạp
các giáo lý khác.
Thành
ra sự huy động thiếu tinh vi lực lượng tín đồ của nhiều tôn giáo có thể mang đến
xung đột và chia rẽ trong nội bộ của cộng đồng quốc gia.
Tiêu
cực chống và tích cực chống:
Như
vậy thì các biến cố chính trị ở Việt Nam từ hai mươi năm nay là một ví dụ cụ thể
để minh xác rằng sự thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng rất
là thiết yếu cho thiểu số lãnh đạo. Về phần họ, các nhà lãnh đạo Cộng Sản
có phải là một thiểu số lãnh đạo thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng
đồng không?
Trong
phần chính của quyển sách sau này, chúng ta sẽ thấy rằng cường điểm của
họ ở chỗ cùng với sự thâu nhận lý thuyết Cộng Sản làm lợi khí tranh đấu, họ đã
thừa hưởng của Cộng Sản quốc tế một
công trình nghiên cứu sự kiện thực tế lịch sử rất phong phú.
Tuy
nhiên, nhược điểm của họ cũng ở chỗ là họ đã trụ vào một di sản ngoại
lai, trong khi thực trạng vấn đề Việt Nam ngày nay không phải là thực trạng vấn
đề các quốc gia Cộng Sản mà họ lấy làm gương mẫu.
Tóm lại các điểm dưới đây có thể dùng làm kết luận cho
đoạn trên.
1.- Lý thuyết Cộng Sản là một phương tiện tranh đấu của một chủ
trương.
Sức
mạnh của chủ trương này do di sản của cộng sản quốc tế: Một công trình nghiên cứu
thực trạng xã hội rất phong phú. Trên
chính trường của Việt Nam từ hai mươi năm nay, chủ trương cộng sản đưa ra làm một
giải pháp cho vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng quốc gia Việt Nam. Toàn
bộ của vấn đề này do thực trạng lịch sử của cộng đồng Việt Nam trong thời kỳ
này tạo ra. Thời kỳ này cố nhiên gồm nhiều thế kỷ vừa qua và sẽ gồm nhiều thế kỷ
sắp đến. Giải pháp Cộng Sản có thích hợp
cho cộng đồng hay không, phần chính của quyển sách sẽ trả lời tỉ- mỉ câu hỏi
này. Nay chỉ biết rằng sức mạnh của chủ trương Cộng Sản ở chỗ chủ trương này đã
lấy làm hậu thuẫn sự nghiên cứu đến nơi thực trạng của vấn đề.
Như
thế thì, nếu muốn cho chủ trương Cộng Sản thất bại,
thì phải làm hai việc:
a/- Tìm hiểu rõ
thực trạng của vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng.
b/- Có một giải
pháp khác để thay thế cho giải pháp Cộng Sản.
Nhưng thay vì làm hai việc thiết thực trên,
thì, cho đến ngày nay, các nhà lãnh đạo của khối Quốc Gia chỉ đặt vấn đề chống
lại chủ trương Cộng Sản một cách tiêu cực.... Tiêu cực ở đây không có nghĩa là
không nhiệt thành mà chống lại, nhưng có nghĩa là đặt sự chống làm mục đích tối
hậu mà không đề ra một phương án canh tân thay thế nào cả.
Ø
Vì sau cái việc chống không có một giải
pháp nào cho vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng dân tộc cả.
Nếu vấn đề chưa giải quyết, thì, dù chủ trương Cộng Sản bị đánh bại bằng
những phương pháp nào đó trong nhứt thời cái nguyên nhân để cho chủ trương Cộng
Sản tồn tại vẫn còn.
Hơn nữa, để thực hiện sự chống lại chủ
trương Cộng Sản, chẳng những tư tưởng của khối Quốc Gia tiêu cực, mà lợi khí xử
dụng lại không sắc bén.
Các chủ trương chính trị không có khả năng
qui tụ, nhưng một khi qui tụ rồi thì lại không xử dụng được sự qui tụ đó vì thiếu
chương trình để giải quyết vấn đề của dân tộc.
Soạn giả chú thích: Coi sơ đồ giáo dục về kỹ thuật bảo vệ tự chủ bài số 3.10abc: Tụ Lực bằng cách xây dựng cộng đồng Văn Hóa Lạc Hồng (nhân bản và
nhân ái); mà thí điểm là cộng đồng tỵ nạn Cộng Sản ở Hải Ngoại. Tuy là yểm
trợ quốc nội, nhưng yếu kém thì làm sao đắc lực được?
Nếu cần một ví dụ để làm sáng tỏ suy luận
trên đây, chúng ta có thể ví thiểu số lãnh đạo Cộng Sản với một số người, trước
khi xây một ngôi nhà đã thừa hưởng kết quả của một cuộc đào cẩn thận cho đến tận
đá, và trên cái khối đá vững chắc đó, họ đã đặt nền móng cho một ngôi nhà theo
quan niệm của họ. Nhưng hướng, kích thước, và kiến trúc của ngôi nhà có thích hợp
với cộng đồng không? Chúng ta sẽ trả lời
sau này.
Nay chỉ biết rằng ngôi nhà họ (Cộng Sản) muốn xây dựng,
được đặt trên một nền móng vững vàng có thể chịu đựng được sự lay chuyển của biến
cố. Trong khi đó thiểu số lãnh đạo khối
Quốc Gia không nỗ lực đào đến đá, không quan niệm trước sẽ xây ngôi nhà ra sao,
lại bất cứ trên bùn trên cát cũng hấp tấp xây nhà, cái nhỏ, cái lớn. Nhưng nền
móng không vững, các biến cố xảy đến gây sụp đổ lần lượt cái này đến cái khác.
Nếu khối Quốc Gia đánh lại được khối Cộng Sản, làm cho chọ không xây được ngôi
nhà mà họ quan niệm, thì sự nghiệp đã đào đến đá mà họ thừa hưởng của Cộng Sản
Quốc Tế vẫn còn đó, và quan niệm của họ về ngôi nhà vẫn còn đó.
Vấn đề của thiểu số lãnh đạo Quốc Gia là: Phải đào cho
đến đá, trên đó đặt nền móng cho một ngôi nhà được quan niệm rõ rệt cho thích hợp
với cộng đồng. Chỉ có cách đó khối Quốc Gia mới thay thế được và loại hẳn ra được
ngôi nhà của chủ trương Cộng Sản.
Sở dĩ khối Quốc Gia lâm vào tình trạng sa lầy
như trên chỉ vì thiểu số lãnh đạo không thấu triệt vấn đề. Như vậy thì các biến cố chính trị ở Việt Nam
hai mươi năm nay là một ví dụ rất cụ thể và minh xác cho sự kiện:
1. Thiểu
số lãnh đạo (giai cấp lãnh đạo) phải thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết
của cộng đồng.
2. Và đa
số chịu lãnh đạo (dân
chúng thưa hành) phải hiểu biết vấn đề.
Thiểu
số lãnh đạo đã không thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng, tất
nhiên đa số chịu lãnh đạo không làm sao hiểu được vấn đề. Và như thế những sự kiện khả dĩ làm đổ vỡ sự
điều hòa giữa thiểu số lãnh đạo và đa số chịu lãnh đạo, như chúng ta đã biết, sẽ
lại xảy ra còn trầm trọng hơn là trong trường hợp mà thiểu số lãnh đạo thấu triệt
vấn đề nhưng đa số chịu lãnh đạo không hiểu biết vấn đề.
Giữa hai thành phần, Chỉ huy và Phục Tùng,
thiểu số và đa số, của cộng đồng chẳng những không có một sự phối hợp điều hòa,
lại còn có một sự đoạn tuyệt kinh khủng. Đối với bất cứ một vấn đề gì, chủ
trương của thiểu số lãnh đạo đều không được đa số hiểu biết và tán thành.
Do
đó, thiểu số lãnh đạo chỉ còn có phương pháp mạnh để bắt buộc đa số phải tuân
theo. Kẻ thù không bỏ lỡ cơ hội, cố tâm
nỗ lực đào sâu cái hố giữa thiểu số và đa số. Lúc nào sự bất mãn của đa số đối
với thiểu số cũng ngấm ngầm, và bùng nổ dữ dội trong những lúc khủng hoảng. Thỉnh thoảng uy tín cá nhân của một vài người
có thể thực hiện được sự qui tụ cần thiết cho sự tiến triển của quốc gia trong
một thời gian. Nhưng vì những yếu tố căn bản của sự điều hòa giữa hai khối thiểu
số và đa số không có, nên không bao lâu, việc đâu lại hoàn đấy.
Ôn lại và phân tích các biến cố chính trị
đã xảy ra từ hơn hai mươi năm nay (1945-1965) trong khối Quốc Gia Việt Nam, tất
cả đều có thể hiểu được khi ta biết rằng nguyên do chính ở chỗ không có sự phối
hợp giữa đa số chịu lãnh đạo và thiểu số lãnh đạo. Trong những hậu quả mà sự đoạn tuyệt giữa thiểu
số lãnh đạo và đa số chịu lãnh đạo mang đến cho cộng đồng, hậu quả sau đây đã
thể hiện một cách rõ rệt trong những biến cố hiện đang tiến diễn.
Chúng
ta biết rằng, mâu thuẫn đương nhiên lúc nào cũng có giữa thiểu số lãnh đạo và
đa số chịu lãnh đạo trở nên vô cùng trầm trọng khi hai điều kiện dưới đây xảy
ra cùng một lúc.
1.- Có sự đoạn tuyệt giữa thiểu số lãnh đạo và đa số chịu lãnh đạo.
2.- Nhu cầu của cộng đồng bắt buộc thiểu số đòi hỏi một sự đóng góp nặng nề của
đa số chịu lãnh đạo.
Vì đa số chịu lãnh đạo không hiểu biết lý do của sự đóng góp của mình và
nghĩ rằng bị thiểu số bóc lột. Sự phẫn nộ do đó càng ngày càng lên. Lúc bấy giờ
bất cứ một kẻ xâm lăng nào đứng lên phất cờ giải phóng, đa số chịu lãnh đạo sẽ
hướng vào một cách mù quáng.
Trường
hợp trên đây đã xảy ra một cách điển hình, ít có, gần đây trong khối Quốc Gia của
Việt Nam. Vì nhu cầu phát triển, thiểu số lãnh đạo đã đòi hỏi nhiều nỗ lực ở đa
số chịu lãnh đạo, nhứt là ở thôn quê vào những năm 1958-1959 trong những chương trình gọi là phát triển cộng đồng.
Nhưng
vì một khiếm khuyết của thiểu số lãnh đạo, cho nên đa số chịu lãnh đạo không ý
thức sự cần thiết của những nỗ lực đòi hỏi. Do đó sự bất mãn nhen nhúm và lần lần
lan tràn. Nhà cầm quyền Cộng Sản ở Hà Nội
khai thác ngay cơ hội và năm 1960 đã đưa ngay quân xâm lăng vào miền Nam với
danh nghĩa quân “Giải phóng”.
Cố nhiên là những người tự cho mình bị thiểu
số lãnh đạo miền Nam bóc lột huởng ứng và hiện nay chúng ta còn đang mục kích
hiện tượng nói trên.
Ở miền
Bắc Việt Nam tình trạng mâu thuẫn giữa thiểu số lãnh đạo Cộng Sản và đa số chịu
lãnh đạo cũng không kém gay go. Thiểu số
lãnh đạo Cộng Sản ý thức vấn đề phát triển của cộng đồng, như chúng ta sẽ thấy
trong phần chánh sau này. Nhưng phương pháp phát triển của họ đòi hỏi một sự
đóng góp tột bực của đa số chịu lãnh đạo. Vì vậy cho nên, mặc dù kỹ thuật dân vận
của họ có hiệu quả, sự bất mãn của đa số ngày càng cao và tuy chế độ cảnh sát của
họ rất nghiệt, thỉnh thoảng vẫn có những cuộc nổi dậy chứng tỏ sự phẫn nộ của
đa số chịu lãnh đạo.
Nếu thời cơ đưa đến, bất cứ một người nào
phất cờ giải phóng miền Bắc, sẽ được đa số chịu lãnh đạo hưởng ứng nồng nhiệt.
Như vậy các biến cố xảy ra ở Việt Nam từ hơn hai mươi năm nay là một ví dụ cụ
thể, minh xác tính cách thiết yếu của sự
hiểu biết vấn đề cộng đồng cần phải giải quyết đối với đa số chịu lãnh đạo.
Đề xuất đối tượng:
Thiểu số lãnh đạo (lãnh tụ) thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng là một
điều kiện thiết yếu cho cộng đồng.
Đa số chịu lãnh đạo (dân chúng) hiểu biết vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng là một
điều kiện thiết yếu cho cộng đồng.
²
Đối
tượng của quyển sách này là tìm xem vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng Quốc
Gia Việt Nam trong thời kỳ này của cộng đồng là vấn đề gì.
Trong
khuôn khổ vài ba trăm trang giấy, và đối với một vấn đề đương nhiên quan hệ cho
dân tộc và tự nó phức tạp như vấn đề nêu lên đây, ước vọng của tác giả không
làm sao vượt lên quá được cái mức công việc chỉ nêu lên các khía cạnh của vấn đề,
và, những dây liên hệ giữa các khía cạnh trong toàn bộ.
Mặc
dù đã tham khảo một số lớn tài liệu trong nước cũng như ngoại quốc và để tâm
nghiên cứu vấn đề trong nhiều năm, tác giả không khỏi lấy làm lo sợ và đắn đo
khi phải trình bày kết quả suy luận riêng của mình. Động cơ duy nhứt khiến cho
tác giả thắng được sự e dè của mình là nỗi lo âu mà tác giả chia sẻ với toàn
dân Việt Nam trước tình thế rất bi quan của dân tộc.
ü Vì vậy mà dám đánh bạo đóng góp một phần
nhỏ nhặt vào công cuộc tìm lối thoát
cho cộng đồng Quốc Gia.
Ba bối cảnh:
Đối
tượng chánh vẫn là vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng dân tộc. Nhưng, bao
giờ cũng vậy, một phần của toàn bộ (cục bộ) lúc nào cũng được sáng tỏ hơn khi
được đặt vào toàn bộ (tổng thể).
Vì
thế nên vấn đề cần phải giải quyết riêng của Việt Nam sẽ được đặt trong ba bối
cảnh.
Bối cảnh thứ nhứt: Bối cảnh rộng lớn của tình hình chính trị
thế giới.
Bối cảnh thứ hai: Nhỏ hơn, gồm các nước trong thế giới đang
ứng phó với một thử thách tương tự, như thử thách của Việt Nam.
Bối cảnh thứ ba: Một bối cảnh hẹp gồm các quốc gia thuộc về
một khối văn hóa với Việt Nam: Các nước láng giềng ở Đông Á và Đông Nam Á.
Thị kỳ
sở dĩ[2] :
Một
mặt khác mỗi thời kỳ của cộng đồng dân tộc gồm nhiều thế hệ trước và sau thế hệ
hiện tại. Vả lại, thực trạng lịch sử mà chúng ta nhìn thấy trước mắt là hậu quả
của những sự kiện đã xảy ra hằng mấy thế kỷ trước và là nguyên nhân của những sự
kiện sau này.
ü Coi
thêm sơ đồ Bảo Vệ Tự Chủ :
Phát huy Viêt Giáo (xây dựng cá nhân) hợp thời + Việt Đạo (xây dựng
xã hội) tân tiến + Việt Triết (văn hóa thượng đẳng của loài người)
hài hòa , thì tự động sẽ có Việt Lực (Kết
Hợp và Tinh Khôn) để bảo vệ sự TỰ CHỦ của dân tộc; vì lúc đó toàn dân
giải quyết được 3 khó khăn Nội Tại, Ngoại Lai và Phát Triển.
Vì thế nếu muốn tìm hiểu thực trạng hiện tại và dự
đoán các biến cố trong tương lai, bắt buộc phải xét lại lịch sử của nhiều thế kỷ
đã qua. Ví như chúng ta hiểu được cốt truyện đang diễn tả trên màn bạc và đoán
được ít nhiều những cảnh sắp tới, là khi nào chúng ta đã xem qua các đoạn trước
của cuốn phim. Do đó, sẽ có nhiều chương dành cho lịch sử của nhiều quốc gia
trong những thế kỷ đã qua.
Giải
pháp:
Sau
khi, nhờ ở những sự phân tích trên, vấn đề cần phải giải quyết của Việt Nam
trong thời kỳ hiện tại của cộng đồng đã sáng tỏ, nhiều chương sẽ dành cho sự
nghiên cứu một giải pháp mà tác giả nghĩ rằng thích hợp cho dân tộc. Nhưng trước khi bàn tới giải pháp đề nghị,
thì, theo gương các người lữ hành, trước khi lên đường, chúng ta sẽ kiểm điểm lại cái vốn tinh thần và vật chất
mà chúng ta có, cũng như những món nợ phải mang theo mình.
Vài
chương sẽ được dành cho bản mục lục đó.
Cuối cùng vài chương sẽ dành để phác họa giải pháp mà tác giả thiển nghĩ
rằng thích hợp cho vấn đề. Các khía cạnh chính trị, kinh tế và văn hóa sẽ được
đề cập đến.
Như
trên đã nói, đối với một vấn đề bao la và phức tạp như vậy và trong khuôn khổ của
vài ba trăm trang, ước vọng của tác giả không thể vượt quá cái mức công việc chỉ
nêu lên các khía cạnh của vấn đề. Phần nghiên cứu tỉ-mỉ và chỉ giáo xin trân trọng
dành cho các bậc học giả trong nước
CHÚ Ý: Lúc này chưa có cộng đồng Hải Ngoại; bài viết trước
ngày30/4/1975).
Vị
trí của tác giả:
Bất
cứ một đối tượng nào cũng có thể được nhìn từ nhiều vị trí.
Vị
trí khác, kết quả của sự nhìn sẽ khác, nghĩa là hai người từ hai vị trí khác
nhau cùng nhìn một vật thể, mỗi người sẽ thấy một vật thể khác. Trong các đoạn nhận xét, phân tích và suy luận
dưới đây, đối với một vấn đề hay nhiều vấn đề, tùy theo hoàn cảnh tác giả sẽ đứng
từ những vị trí nào.
Ví dụ
có nhiều sự kiện sẽ có khi được nhận xét từ một vị trí quốc gia, và có khi từ một
vị trí của một cộng đồng ngoài quốc gia. Lúc nào trường hợp đến, người đọc sẽ
nhận thấy ngay là vị trí nào. Tuy nhiên,
có hai vị trí cần phải có sự thỏa thuận trước giữa tác giả và người đọc. Vì nếu
không có sự thỏa thuận trước, thì nhiều vấn đề hoặc khía cạnh của vấn đề sẽ
không được sáng tỏ, vì tác giả và người đọc sách sẽ đứng vào những vị trí khác
nhau.
Vị
trí thứ nhứt là một vị trí
lúc nào tác giả cũng sẽ đứng vào để nhìn tất cả các vấn đề trình bày: Đó là vị
trí thực tế lịch sử. Bởi vì thực tế lịch sử không có thể phủ nhận được. Và trên
nền tảng vững chắc đó mới có thể lấy óc khoa học mà suy luận không sợ phạm vào
những lỗi lầm căn bản.
Vị
trí thứ hai là vị trí không
bao giờ tác giả dám đứng vào để nhìn bất cứ vấn đề nào được trình bày: Đó là vị trí triết lý tôn giáo, và lý thuyết
là những lĩnh vực mà sự đối chọi giữa hai chủ trương trái ngược có thể kéo dài
vô cùng tận.
Bất cứ trong lãnh vực nào của đời sống của
cộng đồng: Chính trị, văn hóa, và kinh tế, sự nhận xét phân tách và suy luận của
tác giả đều căn cứ trên những sự kiện lịch sử và để một bên tất cả các lý thuyết.
Hành động như trên không có nghĩa là phủ nhận sự ích lợi của lý thuyết và giá
trị của nhiều lý thuyết. Nhưng cố định đứng ngoài vị trí triết lý và lý thuyết
để tránh tất cả các sự biện luận không thiết thực và do đó không thích hợp với
mục đích của quyển sách.
Tài
liệu tranh đấu:
Mấy
trăm trang dưới đây không phải là một tài liệu tranh đấu theo nghĩa thông thường
của danh từ này: Nghĩa là lời văn sẽ không đanh thép, và ý văn sẽ không đề cao
bất cứ cái gì của dân tộc hay của khối Quốc Gia.
Hình thức sẽ không cổ võ nhiều người đứng
lên dấn thân vào một công cuộc chung và nội dung sẽ không cố tình binh vực một
lập trường đã quyết định trước. Nhưng mấy
trăm trang dưới đây có thể là một tài liệu tranh đấu, nếu gọi là một tài liệu
tranh đấu, tài liệu nào khả dĩ mang thắng lợi tới cho chủ trương Quốc Gia Dân Tộc. Bởi vì mấy trăm trang dưới đây là một tài liệu
nghiên cứu sự kiện thực tế của lịch sử. Mà thấy được thực trạng của vấn đề, biết
mình và biết chung quanh mình là một yếu tố quyết định cho sự thắng lợi.
Chính
vì lập trường nghiên cứu sự kiện thực tế của lịch sử cho nên tự-ti mặccảm tuyệt
nhiên không có, khi nhận xét rằng Việt Nam là một quốc gia nhỏ và yếu. Nhỏ và yếu
vì dân số, vì kinh tế kém mở mang, và vì sự góp phần vào văn minh nhân loại.
Trái lại, chính vì không tự-ti mặc cảm nên mới có nhận xét như vậy. Cứ gì có một
dân số khổng lồ, một kinh tế phong phú mới là một dân tộc lớn. Và chính là khi
chúng ta dám nhìn thẳng vào thực trạng của dân tộc, chúng ta mới đủ điều kiện
đưa dân tộc vượt lên.
Và
cũng vì lý do trên mà tài liệu này không đề cập đến bốn ngàn năm văn hiến của
dân tộc, lại chỉ nói đến một ngàn năm lịch sử. Cũng như trên, làm như vậy không
phải vì tự-ti mặc-cảm. Những gì trong lịch sử của chúng ta chỉ có một ngàn năm
sau này mới có đủ tài liệu đích xác để làm nền tảng cho suy luận.
Hai mươi năm nay, các biến chuyển đã đưa lần
sự thắng lợi và thất bại của thế hệ của chúng ta đến chỗ chỉ còn cách nhau một
đường tơ.
Các
trang trong phần chính sẽ giải thích vì sao trách nhiệm ứng phó với thử thách
hiện tại, ngày giờ này đang đè nặng lên vai của miền Nam Việt Nam. Và chưa bao
giờ cộng đồng dân tộc đòi hỏi mỗi phần tử phải tham gia vào một công cuộc đầy
kích thích như ngày nay.
1.
Nếu
không thấy vấn đề thì trong sự thất bại hay thắng lợi, thì mười phần trách nhiệm
trong đó của người là năm phần và còn năm phần là vận nước.
2.
Đã
thấy vấn đề thì trong sự thắng lợi hay thất bại, thì mười phần trách nhiệm
trong đó của người là bảy phần và còn ba phần là vận nước.
Đối với
mọi phần tử của cộng đồng, không có sự ước mong nào thiết tha hơn là sự ước
mong thấy dân tộc lại vượt qua thử thách, lần nầy cũng như những lần đã qua
trong lịch sử.
Chú
thích:
[1]
loại mâu thuẫn lúc nào cũng có ở trong nội tâm: Mâu Thuẫn Nội Tại
[2] Cách thức khảo sát của Khổng Tử là:
"tam khan": "Thị kỳ sở dĩ, quan kỳ sở do, sát kỳ sở an"
(xem việc người đó làm, khảo sát quá trình người đó làm, xem xét người đó làm
lúc an, lúc nguy).
[
Phần I :
NHẬN ĐỊNH VỀ THẾ GIỚI
Lĩnh
vực chính trị
Hiện
nay trong lĩnh vực chính trị, thế giới chia làm hai khối rõ rệt: một bên là khối
tự do, một bên là khối Cộng Sản. Mặc dầu
gần đây, có xảy ra một mặt những cuộc tranh chấp đôi khi lên đến một cao độ
đáng chú ý giữa các quốc gia trong khối Cộng Sản, cũng như trong khối Tự Do, một
mặt khác nhiều thỏa ước có tính cách chính trị, văn hóa, khoa học hay kinh tế
đã được ký kết giữa những quốc gia thuộc khối khác nhau, sự phân biệt trên vẫn
còn giữ nguyên giá trị.
Lý
do của tình trạng đó là sự khác biệt giữa hai khối do hai quan niệm khác nhau về
phương pháp lãnh đạo. Hai bên đều tuyên bố mục đích tối hậu của mình là mưu hạnh
phúc cho nhân dân. Tuy nhiên, để đạt mục đích đó, khối Tự Do chủ trương khắc phục
cho được sự tự ý tham gia của quần chúng vào công cuộc xây dựng hạnh phúc đó.
Trái lại khối Cộng Sản chủ trương một sự tham gia cưỡng bách. Hai quan niệm đều
có ưu và khuyết điểm. Sự chọn lựa một trong hai quan niệm trên không căn cứ
trên các ưu và khuyết điểm ấy mà lại do những hoàn cảnh lịch sử, mà chúng ta sẽ
thấy. Nay chỉ cần biết rằng sự khác biệt
giữa hai quan niệm ấy đã dẫn dắt đến các sự khác biệt về lý thuyết chính trị, về
bộ máy chính phủ, về hệ thống kinh tế và về quyền sở hữu. Lĩnh vực văn hóa.
Bây giờ nếu chúng ta đứng vào lĩnh vực văn
hóa thì nhận thấy thế giới lại chia ra làm nhiều khối hơn.
1.
Trước
tiên là khối Âu Mỹ gồm các nước ở Âu Châu, kể cả Nga Sô và các nước Đông Âu thuộc
Nga. Các nước ở Bắc và Nam Mỹ và những quốc gia do người Âu lập ra ở Úc Châu,
Tân Tây Lan và Nam Phi. Khối này gồm các nước thuộc vào xã hội Tây Phương thừa
hưởng văn hóa Hy Lạp và La Mã khi xưa và văn hóa Gia Tô sau này.
2.
Khối
thứ hai gồm các quốc gia Ả Rập ở từ vùng cận Đôngđến Hồi Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ,
Soudan, Ai Cập và các quốc gia Bắc Phi Châu. Khối này lập thành xã hội Hồi Giáo
thừa hưởng văn hóa Hồi Giáo.
3.
Khối
thứ ba gồm các quốc gia ở phía Đông Đại lục Âu Á: Nhật Bổn, Đại Hàn, Trung Hoa
và Việt Nam, lập thành xã hội Đông Á thừa hưởng văn hóa xưa của Hoa Lục.
4.
Khối
thứ tư gồm Ấn Độ và – ngoài các nước nhỏ phụ cận phía Bắc Ấn Độ – Miến Điện,
Thái Lan, Lào, Cam Bốt, Mã Lai và Nam Dương. Lập thành xã hội Ấn Độ thừa hưởng
văn hóa Ấn Độ.
5.
Và
sau hết khối Hắc Phi gồm các quốc gia mới xuất hiện ở Phi Châu lập thành xã hội
Hắc Phi có một văn hóa phôi thai.
Lĩnh
vực khoa học kỹ thuật:
Bây
giờ nếu chúng ta đứng vào lĩnh vực khoa học và kỹ thuật, thì chúng ta lại nhận
thấy các khối chính trị văn hóa nói trên tự nhiên biến mất, và lại hiện ra một
hiện trạng thống nhất bất ngờ. Tất cả các quốc gia trên đều theo đuổi một khoa
học – khoa học Tây phương, đều áp dụng một kỹ thuật – kỹ thuật Tây phương, dù kỹ
thuật đó thuộc về lĩnh vực chính trị, hay quân sự, hay giáo dục, hay sản xuất,
hay kinh tế, hay kỹ nghệ, hay vận tải và giao thông.
Ø Vì những lý do gì mà tùy theo lĩnh vực, thế
giới khi thì hợp thành một khối, khi lại chia ra nhiều khối?
Các
sự kiện lịch sử dưới đây sẽ giải thích rõ hình trạng mới xem qua phức tạp
đó.
Văn
minh Tây phương chinh phục thế giới:
Trở
ngược lại dòng lịch sử và nhìn vào bản đồ thế giới vào khoảng thế kỷ XIV, thời
kỳ mà các phương tiện giao thông còn nghèo nàn, thì chúng ta nhận thấy rằng
cách đây không quá 600 năm các xã hội mà chúng ta đã phân biệt trên kia trong
lĩnh vực văn hóa đã có.
Chẳng những thế, lúc bấy giờ ranh giới giữa
các xã hội trên lĩnh vực văn hóa lại cũng là ranh giới trên các lĩnh vực chính
trị, kinh tế và kỹ thuật.
Nhưng
sau đó, văn minh Tây phương thoát khỏi thời kỳ phôi thai và phát triển một cách
hùng mạnh. Nền vãn minh này tự tạo cho mình một sinh lực dồi dào nhờ thừa hưởng
được văn hóa Hy Lạp và La Mã xây dựng trên những căn bản lý trí chính xác và nhờ
ở kinh Thánh Gia Tô gieo cho quần chúng một đức tin mãnh liệt. Nhờ đó, người
Tây phương tìm được nhiều phát minh khoa học và sáng chế được nhiều kỹ thuật khả
dĩ giúp cho họ vượt biển và chinh phục
nhiều đất đai mới.
Lúc đầu họ chiếm những vùng dân cư thưa và
lạc hậu ở Nam và Bắc Mỹ lập thành những quốc gia mới theo kiểu Âu Châu. Nhưng lần lần theo đà phát triển càng ngày
càng mãnh liệt và càng ngày càng nhanh của xã hội Tây phương, người Tây phương
khắc phục được nhiều kỹ thuật mới lạ khả dĩ đặt vào trong tay họ những mãnh lực
vật chất mà không xã hội nào đương đầu nổi.
²
Và vào thế kỷ thứ 16 (1601-1600) họ đã bắt
đầu chinh phục xã hội Hồi Giáo lân cận. Thế kỷ thứ 17 và thứ 18 (1701-1800) chứng
kiến sự thất bại của các quốc gia trong xã hội Ấn Độ và thế kỷ thứ 19
(1801-1900) đến lượt các quốc gia trong xã hội Đông Á. Đến thế kỷ thứ 20
(1901-2000) văn minh Tây phương đã hoàn toàn chinh phục thế giới và nhờ đó mang
lại cho các dân tộc Tây phương một nền thịnh vượng chưa từng thấy. Tất cả các
quốc gia ngoài xã hội Tây phương đều bị biến thành thuộc địa hay bán thuộc địa.
Chỉ trừ một vài dân tộc như Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật Bổn vì nhờ đã sớm nhận định được
bí quyết thành công của người Tây phương là ưu thế của họ trong lĩnh vực khoa học
và kỹ thuật.
Những nước này đã “Duy Tân” kịp thời, khắc
phục những kỹ thuật của Tây phương để chẳng những tự vệ đối với sự tấn công của
Tây phương mà lại còn, cũng như các nước trong xã hội Tây phương, mang lại cho
dân tộc của họ một mức sống dồi dào hơn.
Còn tất cả các nước khác như Việt Nam đều
phải chịu mang ách nô lệ, và cũng như Việt Nam, đã mất một cơ hội thứ nhứt để
xây dựng cho dân tộc mình một quốc gia hùng cường và để mang lại hạnh phúc cho
đời sống của quần chúng.
Ngày
nay tình trạng thống nhất của thế giới trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật có
hai ý nghĩa.
1. Văn minh Tây
phương đã chinh phục thế giới, và
đã chinh phục bằng khoa học kỹ thuật.
2. Các quốc gia nào muốn tồn tại đều phải khắc phục khoa học Tây phương và
kỹ thuật Tây phương.
Nhưng
muốn khắc phục được khoa học Tây phương và kỹ thuật Tây phương, trước tiên phải
khắc phục lối suy luận của Tây phương đặt trên căn bản chính xác về lý trí. Và
sau đó khắc phục những tập quán trong đời sống hằng ngày khả dĩ nuôi dưỡng và
duy trì lối suy luận trên. Nếu chỉ hấp thụ khoa học và kỹ thuật không, thì
không sáng tác được.
Ø Mà
không sáng tác được khi người Tây phương tiếp tục sáng tác là mối đe dọa của
Tây phương vẫn còn mãi.
Vì vậy
cho nên, ngày nay trên thế giới vấn đề Tây phương hóa là một vấn đề thiết yếu
cho các quốc gia muốn tồn tại, mặc dầu Tây phương hóa theo kiểu khối Tự Do hay
Tây phương hóa theo kiểu khối Cộng Sản.
Và đó cũng là một vấn đề thiết yếu cho nước Việt Nam. Sau này chúng ta sẽ xem vấn đề Tây phương hóa
là như thế nào, và việc Tây phương hóa có hại đến tinh thần dân tộc không.
Vấn đề
Cộng Sản: Từ đầu của thế kỷ thứ XX (1901-2000), lý
thuyết Cộng Sản đã làm chấn động xã hội Tây phương. Sau đó lý thuyết Cộng Sản
đã trụ đóng và phát triển ở Nga. Và ngày nay lý thuyết Cộng Sản đang hoành hành
ở Á Châu và đang đe dọa Nam Mỹ. Nhưng ở mỗi nơi lý thuyết Cộng Sản được tiếp nhận
bởi những lý do khác nhau và được giải thích theo một lối thích nghi với hoàn cảnh
địa phương.
Cộng Sản ở Âu Châu khác Cộng Sản ở Nga. Cộng
Sản ở Nga khác Cộng Sản ở Tàu, nhưng ba nơi đều là Cộng Sản. Các sự kiện lịch sử
dưới đây sẽ giải thích vẻ phức tạp mới xem qua đó. Cộng Sản ở Tây phương: Khoa học và kỹ thuật của
Tây phương đã phát triển theo một đà càng ngày càng nhanh, vì thế cho nên nhiều
lúc đã vấp phải sức thụ động của các cơ cấu xã hội lúc nào cũng tiến hóa chậm
hơn. Trong các thời kỳ đó sự xung đột bộc lộ bằng những xáo trộn xã hội.
Cuối
thế kỷ thứ 19:
Tây
phương phát minh những kỹ thuật sản xuất kỹ nghệ. Lúc đầu những lực lượng sản xuất mới đó chưa
được điều khiển hoàn bị, đã gây ra nhiều cuộc đảo lộn trong một xã hội thủ công
nghệ.
Đa số
thợ thủ công bị phá sản và trở thành thợ thuyền vô sản, trong khi những máy móc
sản xuất tối tân tập trung tư bản vào tay một thiểu số. Sự quân bình trong việc
phân phối tài sản của xã hội thủ công nghệ cũ đã bị đổ vỡ và đại đa số dân
chúng thợ thuyền phải sống một đời vô cùng cực khổ. Karl Max, triết học gia và kinh tế gia, người Đức gốc Do Thái, sống ở Anh, nhận
thấy rằng tất cả các tệ đoan lúc bấy giờ do ở chỗ các cơ cấu của xã hội Tây
phương không còn thích nghi với những lực lượng sản xuất mới do các phát minh kỹ
thuật mang đến.
Do
đó Karl Max đề nghị một kiểu xã hội
mới xây dựng trên những căn bản mới để cho phù hợp với các phương tiện sản xuất
mới. Ông chủ trương thành lập xã hội mới bằng một cuộc cách mạng toàn diện. Như vậy, ở Tây phuơng, thuyết Cộng Sản là một
phương thuốc của Tây phương đề nghị để chữa căn bệnh cho xã hội Tây phương
trong một giai đoạn phát triển cam go.
Về
sau các nhà lãnh đạo Tây phương lại tìm được nhiều phương thuốc khác, nhờ đó mà
xã hội Tây phương chẳng những trở nên lành mạnh mà còn phát triển mạnh bạo hơn,
như chúng ta thấy ngày nay. Do đó mà hiện nay, thuyết Cộng Sản đã mất rất nhiều
sinh lực trong xã hội Tây phương và trong một ngày gần đây sẽ không còn nữa.
Cộng
Sản ở Nga:
Trong
xã hội Tây phương, Nga là một dân tộc Slave
ở trên ranh giới giữa Âu và Á, chịu ảnh hưởng Á châu rất nhiều bởi các cuộc
chinh phục như của Thành Cát Tư Hãn và của Attila. Các nước ở Tây Âu lại thuộc
giống Latin hay là Saxon. Sự hai bên
cùng theo đạo Gia Tô đáng lý ra phải giúp cho sự xum họp, lại trở thành thêm một
yếu tố chia rẽ sau khi giáo hội Gia Tô đã vỡ ra thành hai giáo hội, một giáo hội
Đông trong đó có Nga và một giáo hội Tây ở La Mã.
Vì
lý do trên mà trong lịch sử giữa Nga và Tây Âu có một cuộc tranh chấp không ngừng
hiện nay vẫn đang tiếp diễn. Cuộc tranh chấp lúc trầm lúc bổng. Tây Âu thắng nhờ
kỹ thuật tiến bộ hơn. Lúc nào Nga hấp thụ được kỹ thuật Tây phương thì lại giữ
phần thắng nhờ khối dân đông và đất rộng. Tây phương lại phát minh những kỹ thuật
mới và lại thắng, và cứ như thế tấn tuồng lại tái diễn.
Vào cuối thế kỷ thứ 19, khi Tây
phương, ngoài đã chinh phục thế giới nhưng trong lại gặp phải những trở lực xã
hội tạo hoàn cảnh cho thuyết Cộng Sản bành trướng, thì Nga ở vào một thời kỳ yếu
thế vì kém về kỹ thuật. Các nhà lãnh đạo Nga, theo chiến thuật cổ truyền, đang
nỗ lực hấp thụ các kỹ thuật mới của Tây phương. Nhưng lần này ngoài các kỹ thuật
vật chất họ lại thâu nhận thêm thuyết Cộng Sản. Vì hai lý do:
1.- Họ muốn gấp rút bắt kịp Tây Âu bằng cách tổ chức trước Tây phương một xã
hội mới thích nghi với các phương tiện sản xuất mới như Marx đã đề nghị.
2. Nếu nước Nga trở nên thành trì của thuyết Cộng Sản, thì sự bành trướng của
thuyết Cộng Sản trong các nước Tây Âu sẽ biến các Đảng Cộng Sản của các quốc
gia nầy thành những đồng minh nội tuyến trong lòng địch, rất quí báu cho Nga
trong cuộc tranh chấp hằng mấy thế kỷ với Tây Âu.
Như vậy, chuyển từ Tây Âu sang Nga thuyết Cộng
Sản đã nghiễm nhiên từ một phương thuốc được đề nghị cho xã hội Tây phương, biến
thành vừa là một phương tiện giúp cho sự phát triển của Nga vừa là một khí giới
sắc bén giúp Nga đánh bại kẻ thù. Dầu sao sự tranh chấp vẫn là một sự tranh chấp
nội bộ giữa các quốc gia trong xã hội Tây phương.
Sở dĩ Nga đã đưa cuộc tranh chấp ấy lên
thành một cuộc tranh chấp quốc tế chỉ vì kẻ thù Tây Âu lúc bấy giờ đã bủa vây
lưới kinh tế của họ trên khắp thế giới. Và cũng vì để tạo cho họ vây cánh trên
khắp thế giới mà các nhà lãnh đạo Nga Sô đã hô hào các lãnh tụ các quốc gia bị
chinh phục làm thuộc địa hay bán thuộc địa gia nhập vào hàng ngũ Cộng Sản (Xướng/Họa).
Như vậy
thuyết Cộng Sản đối với Nga chỉ là một phương tiện và ngày nào mục đích đã đạt được, phương tiện sẽ
không còn giá trị nữa. Ngày nay, mục đích đã đạt, Nga đã thắng nhờ khắc phục được
kỹ thuật Tây Âu và nhờ khối dân đông và đất rộng của mình.
Các
biến cố hiện tại ở Âu Mỹ chứng tỏ rằng Nga sắp đến lúc bỏ phương tiện Cộng Sản
và trở về với xã hội Tây phương Những sự
tiếp xúc của tòa thánh La Mã với các lãnh tụ giáo hội Nga là một trong những cố
gắng để đưa Nga Sô về xã hội Tây phương. Và ngày đó sự tranh chấp quyết liệt giữa
Cộng Sản và Tư Bản, như ngày nay, sẽ tự tiêu và nhường chỗ cho một cuộc tranh
chấp khác quyết liệt hơn hiện nay đã bắt đầu thành hình giữa khối Trung Cộng và
khối Âu Mỹ.
Lời tiên tri này quá đúng:
Nhóm của ông Ngô Đình Nhu soạn bản văn này
từ năm 1945 đến năm 1954 mới xong, và ông Nhu chết ngày 02/11/1963.
Năm 1991 Liên Bang Sô Viết tan rã, Tây
phương và Mỹ viện trợ cho Nga giữ được thăng bằng.
Cộng
Sản ở Á Châu:
Trong
hệ thống giá trị truyền thống của hai nền văn minh Á Châu: văn minh Ấn Độ và
văn minh Trung Hoa, không có một điểm nào có thể làm mầm cho một thuyết tàn bạo
như thuyết Cộng Sản nảy nở được.
Sở dĩ ngày nay thuyết Cộng Sản hoành hành
được ở Á Châu là vì chính Tây phương đã tạo hoàn cảnh cho nó nẩy nở và chính
Tây phương đã đưa nó vào.
Sau
khi thảm bại trước lực lượng chinh phục của Tây phương, các quốc gia ở Á Châu đều
lần lượt bị biến thành thuộc địa hay bán thuộc địa. Tinh thần bất khuất của dân
tộc khiến các lãnh tụ vẫn tiếp tục một cuộc tranh đấu vô hy vọng. Bởi vì, để
đương đầu với những lực lượng xâm lăng hùng hậu của Tây phương bủa lưới khắp
chiến trường thế giới, chúng ta chỉ có thể đưa ra để nghinh chiến những lực lượng
kém kỹ thuật trong một chiến trường giới hạn trong từng quốc gia. Sự thất bại
đã cầm chắc nếu chúng ta không có những đồng minh đồng sức với kẻ thù.
Vì
nhận định như vậy cho nên các lãnh tụ cách mạng thức thời đều hưởng ứng lời kêu
gọi của Nga Sô. Sự đồng minh với Nga Sô sẽ mang lại cho họ:
1.- Những phương tiện xứng đáng để đánh bật kẻ
thù ra khỏi lãnh thổ.
2.- Một kiểu mẫu và những phương pháp phát triển
quốc gia khi đã phục hồi độc lập.
Như
vậy sang Á Châu thuyết Cộng Sản chỉ còn là một phương tiện để đánh kẻ xâm lăng
và một phương pháp phát triển.
Cho tới đây những nhà lãnh đạo chủ trương theo Cộng Sản
còn có lý vững chắc. Nhưng sau đó họ hoàn toàn lầm lẫn nếu họ say mê mà tôn thờ
thuyết Cộng Sản như là một chân lý, và quên rằng.
1.-
Nga Sô chỉ xem thuyết Cộng Sản là một phương tiện và chỉ có giá trị là một
phương tiện.
2.-
Phương pháp Cộng Sản áp dụng ở Nga mặc dầu đã đưa đến kết quả, nhưng không phải
vì vậy mà có thể áp dụng một cách hữu hiệu cho mọi quốc gia.
Mao
Trạch Đông đã nhìn thấy rõ hai điểm trên đây. Sự khác biệt giữa các phương pháp
Cộng Sản ở Nga và ở Tàu là một bằng cớ. Cộng Sản ở Việt Nam cũng nằm trong
khuôn khổ trình bày trên đây.
[




0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil