T55-Ảo thuật nếm phân của Câu Tiễn
T55(a) Ảo thuật nếm phân của
Câu Tiễn
Facebook Văn Hóa Thuần Việt (04.11.2021)
soạn giả : Hoàng Đức Phương
Ảo thuật nếm phân của Câu Tiễn
Ngay sau khi lên
ngôi vua, PHÙ SAI lo vệc binh để trả thù cho ông là HẠP LƯ. Sau 3 năm mãn tang
kéo binh sang hạch tội.
Câu Tiễn là Lãnh Vương. Phạm Lãi là Lạc Tướng (quan võ) và Văn Chủng là Lạc Hầu (quan văn). Cách tổ
chức Triều Đình thời đó.
Câu Tiễn hỏi quần thần đánh hay đầu hàng ?
Phạm Lãi khuyên án binh bất động, thủ cho kỹ thì hát lâu chầu mỏi
nó sẽ lui binh. Câu Tiên ngựa non háu đá nên chết là nhát.
Văn Chủng khuyên nên viết thư xin lỗi để tránh việc can qua vì nó
đánh để hả dạ, nay ta xin lỗi thì nó lui binh. Câu Tiễn chê NHỤC.
Thế là sự tranh hùng vì hận thù cá nhân bắt đầu.
Câu Tiễn thua, quân chết sạch chỉ còn 3.000 quân đóng ở Cối Khê (gần
Phiên Ngung) để tử thủ.
VĂN CHỦNG tự ý làm thuyết khách, đang đêm xin vào yết kiến BÁ HY
nhờ xin lui binh và CÂU TIỄN xin sang bên NGÔ để đền tội.
PHÙ SAI đồng ý và buộc CÂU TIÊN sang bên NGÔ để đền tội.
Khi về kinh đô để sửa soạn đi tù thì thấy nhà nào cũng chít khăn
tang nên e thẹn không dám gặp dân và biết cái tội ngông cuồng của mình nên quê
hương tang tóc.
Đến ngày đi tù biệt sứ thì chỉ có hoàng hậu và môt ít tùy tùng đi
tiễn chân sang NGÔ không có ngày về thì :
1.
Hoàng
Hậu tình nguyện đi theo với tinh thần liên đới trách nhiệm.
2.
Phạm
Lãi theo hầu vì vua nhục thì tôi cũng nhục với tinh thần vui cùng hưởng và họa
cùng chịu.
3.
Văn
Chủng ở lại là xủ lý thường vụ lo việc nước
Phân công xong thì ai lo việc nấy.
Phạm Lãi khuyên vua đừng nghĩ đến phục thù vì có người theo dõi.
Vua tôi 3 người lo việc chăn ngựa cho chu đáo và vui vẻ với công việc vua Ngô
trao cho.
Hôm đó Phù Sai gọi lên để giết vì có chí lớn muốn phục thù.
Nhờ tổ phù hộ nên Phù Sai
đau bụng nễ hoãn ngày xửa trảm.
Phạm Lãi làm nghề thuốc nên biết đó là bệnh THƯƠNG HÀN vì tóc rụng.
Nếu trong 40 ngày không chết thì sẽ khỏi bệnh, nhưng phải ăn chất lỏng cho ruột
hoạt động trởi lại trong 7 ngày ; vì lâu ngày không hoạt động nên da mỏng
đi và ăn đồ đặc thì sẽ lũng ruột. Sau đó ăn lại bữa trong 3 ngày là hoàn toàn hồi
phục.
Vì biết vậy nên mới xúi CÂU TIỄN nếm cứt để đoán bệnh.
CÂU TIỄN không chịu và nói : Dù sao thì ta cũng là vua, nh(c
vậy đủ rồi.
PHẠM LÃI thuyết phục : Cùi không sợ hủi, dù sao thì đã nhục rồi
nếu ông để nói giết đi thì ông ông mang nhục ngàn thu. Ông chịu nhục thêm 1 lần
nữa nó tha thì thiên hạ mới bết chí lớn của ông.
Phạm Lãi bảo ông làm áo thuật như thế này này : Lấy ngón tay
tỏ chấm vào cứt rồi đưa lên mồm nếm. Trong khi đó ông lấy tay trái cầm giẻ lau
trong túi nâng ngón trỏ lên và nếm bên cạng, sau đó lấy giẻ chùi mồm và cứt đi
thì thiên hạ tưởng ông nếm thật. Động tác này phải tập cho nhuần nhuyễn để kẻ
thù tin thật.
¾
Xin giới thiệu với quý vị 3
đường dẫn sau đây, và kính mời các vị hiền tài tiếp tay cho chương trình này được
phong phú.
http://nhanvanviettoc.blogspot.com
là nơi lưu trữ tài liệu để soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com
là nơi lưu trữ các bài đã soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm)
từ Tiểu Học đến Trung Học.
Nơi lưu trữ 3 kinh nhật tụng
1. Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ cách tìm hiểu
lịch sử qua di vật để lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa
Việt Tộc cho trẻ 8-18 tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số
TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)
SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ (Đủ Bộ)
https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ
(Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k
SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph
Kênh Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN
VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ
là nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu trữ
vô máy.
Nhóm Nhân Văn Việt Tộc kính báo.
-----------------------------------------------------
T55(b) : Tâm lý quần chúng
Facebook Văn Hóa Thuần Việt(04.11.2021)
Thảo luận Học Thuyết Nhân Vị-Ngô Đình Nhu
TÂM LÝ QUẦN CHÚNG
CƯỠNG BÁCH ĐÓNG GÓP (?)
Đối với một cộng đồng
quốc gia nhỏ và yếu như quốc gia của chúng ta, lúc nào cũng bị nạn ngoại xâm đe
dọa, sự ý thức vấn đề của cộng đồng đối với đa số chịu lãnh đạo còn hàm nhiều hậu
quả tuy gián tiếp nhưng rất là quan trọng.
Trong những thời kỳ phải đương đầu với nhiều thử thách quyết liệt, vận mạng
của cộng đồng bị đe dọa, thiểu số lãnh đạo bắt buộc phải đòi hỏi ở đa số chịu
lãnh đạo nhiều cố gắng phi thường, nhiều hy sinh nặng nề và nhiều đóng góp to
tát. Nhưng nếu trong hoàn cảnh đó, đa số chịu lãnh đạo lại không ý thức đúng mức
vấn đề của cộng đồng, thì chẳng những sự góp phần của họ sẽ miễn cưỡng và không
xứng đáng, mà lại còn sẽ phát sinh một hiện tượng tâm lý rất nguy hiểm cho cộng
đồng.
Vì tin rằng bị cưỡng
bách đóng góp một cách quá đáng vào một công cuộc mà họ không hiểu, đa số chịu
lãnh đạo càng ngày càng bất mãn đối với thiểu số lãnh đạo. Và lần lần sự bất
mãn biến thành căm thù và cuối cùng vùng lên thành phẫn nộ.
Đến cực độ này, đa số chịu lãnh đạo sẽ trở thành một
công cụ sắc bén cho bất cứ một kẻ ngoại xâm nào biết thừa cơ hội đứng lên khoác
áo nghĩa hiệp giải phóng cho đa số tự cho là bị thiểu số lãnh đạo bóc lột.
Trong lịch
sử của chúng ta, sự thất bại của nhà Hồ và cuộc xâm lăng nước ta của quân Minh
tiếp theo đó, là một sự kiện lịch sử điển hình cho trường hợp vừa phân tích
trên đây.
Hồ Quí Ly quyết định
thực hiện một cuộc cách mạng toàn diện cho dân tộc Việt Nam. Xét lại sử liệu,
cuộc cách mạng theo nhà Hồ quan niệm, nếu thành công đã thay đổi hẳn cuộc tiến
hóa của dân tộc. Nghĩa là con đường nhà Hồ đã vạch ra là con đường vô cùng lợi
ích cho cộng đồng.
²
Nhưng Hồ
Quí Ly, để thực hiện chương trình, đã cưỡng bách đa số chịu lãnh đạo đóng góp nặng
nề, trong khi đa số không ý thức được vấn đề của cộng đồng. Và những biến cố đã
xảy ra như ta đã biết: Quân Minh đã lấy danh nghĩa giải thoát dân tộc Việt Nam
khỏi tay một tên soán ngôi, để cướp cả nước của chúng ta. Trong ví dụ lịch sử trên đây, nếu đa số chịu
lãnh đạo hiểu biết được ít nhiều vấn đề, đã tránh cho chúng ta một trong bảy cuộc
xâm lăng mà nuớc Tàu đã dành cho chúng ta trong một ngàn năm lịch sử.
Nhưng sự
hiểu biết vấn đề của cộng đồng đối với đa số chịu lãnh đạo không những có một hiệu quả tiêu cực đối với nạn ngoại xâm, như
chúng ta vừa thấy trên đây, mà lại còn
có một hiệu quả tích cực trong công cuộc chống lại nạn ngoại xâm lúc nào cũng
đe dọa chúng ta. Những lý lẽ để chứng minh sự kiện này lại nằm trong một ngàn
năm lịch sử của dân tộc Việt chống lại Trung Hoa. Kinh nghiệm lịch sử của chúng ta chứng tỏ rằng,
rốt cuộc lại, không phải ngoại giao, cũng không phải quân lực đã giúp cho chúng
ta mấy lần đánh bại các cuộc xâm lăng của Trung Hoa và mấy lần quật khởi sự thống
trị ác nghiệt của họ. Bởi vì, ngoại giao chỉ mạnh khi nào có quân lực mạnh làm
hậu thuẫn. Và bởi vì, dù dũng lược có thừa, nhưng tài nguyên vật chất và nhân lực
của chúng ta giới hạn thì quân lực của chúng ta cũng giới hạn.
CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ ĐÂY?
Các truờng
hợp đã phân tích trên đây chứng minh rằng sự đa số chịu lãnh đạo hiểu biết vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng
hàm chứa nhiều kết quả quả ích lợi thiết yếu cho cộng đồng.
Nếu chúng ta nhìn nhận rằng, sự đa số chịu lãnh đạo hiểu biết vấn đề mặc
nhiên sẽ đưa đến sự đa số chịu lãnh đạo tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào
chính sự của cộng đồng.
Và nếu chúng ta lại
nhìn nhận rằng, sự đa số chịu lãnh đạo tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào chính sự của cộng đồng là bản chất của
tinh thần dân chủ, thì các điểm sau đây lại được sáng tỏ:
1. Chỉ có
sự tôn trọng tinh thần dân chủ mới là một lợi khí sắc bén nhứt để cho một nước
nhỏ và yếu như nước chúng ta chống lại ngoại xâm.
2. Phát
huy sự hiểu biết của đa số chịu lãnh đạo đối với vấn đề cần phải giải quyết của
quốc gia là góp phần tích cực nhất vào công cuộc xây dựng và củng cố tinh thần
dân tộc. Một ví dụ cụ thể và khắc tín.
Trên đây chúng ta đã dẫn chứng để quả
quyết hai điều.
Ø NHƯỢC
ĐIỂM NÀY - GIẢI QUYẾT RA SAO ĐÂY?
Ø Một tổ
chức trung gian???
* Thiểu số lãnh đạo thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng
là một điều thiết yếu cho cộng đồng.
* Đa số chịu lãnh đạo hiểu biết vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng
là một điều thiết yếu cho cộng đồng.
Các biến
cố dồn dập xảy ra trong lịch sử Việt Nạm từ hai mươi năm nay mà mọi người đều
còn ghi nhớ có thể lấy làm một ví dụ cụ thể và minh xác để chú giải hai điều
trên đây.
1. Thiểu số lãnh đạo,
2. Vấn đề cần phải giải quyết.
Chú thích:
Thời đó người ta
quan niệm trong một quốc gia chỉ có 2 KHỐI là GIAI CẤP LÃNH ĐẠO và GIAI CẤP THỪA
HÀNH (dân chung).
Nay quan niệm của
chúng ta về chế độ DÂN CHỦ CHẾ TÀI có khác có khác các chế độ trước.
Dân tộc được chia
làm 3 giới: XƯỚNG (thành phần ưu tú của dân tộc). HỌA là người bắt tay vào việc
(nhân dân) và THI CÔNG là người thi hành các quyết sách do giới Nguyên Khí Quốc
Gia (Trí, Phú, Địa, Hào) đề ra và người dân chung quyết.
Do đó cách tổc chức
phải khác để tránh các sai lầm do chế độ DÂN CHỦ Ỷ LẠI (tam quyền phân lập
²
Từ hai
mươi năm nay và còn trong nhiều năm nữa, các biến cố chính trị ở Việt Nam đều
phát sinh từ sự tranh giành ảnh hưởng giữa hai chủ trương Quốc Gia và Cộng Sản.
Mặc dù toàn bộ Việt Nam đều bị sự chi phối nặng nề của hai thế giới Tự Do và Cộng
Sản, sự hơn kém giữa hai chủ trương vẫn tùy thuộc ở một số yếu tố nội bộ quyết
định, trong số đó sự lãnh đạo chiếm một vai trò quan trọng.
Sau này
trong phần chính của quyển sách, chúng ta sẽ phân tích với nhiều chi tiết những
lý do vì sao chủ trương Cộng Sản chẳng những sẽ không giải quyết được vấn đề của
quốc gia Việt Nam trong thời kỳ nầy của cộng đồng mà lại còn sẽ đưa dân tộc vào
một con đường đen tối cho nhiều thế hệ trong tương lai.
Mặc dù lý trí của
phần đông chưa quan niệm được một cách rõ rệt hiểm họa trên, nhưng số người
trong mọi tầng lớp ngày càng chống lại chủ trương Cộng Sản càng tăng, vì ghê sợ
phương pháp cai trị tàn bạo của họ và ý thức ít nhiều về sự họ từ chối không
nhìn nhận lý do cá nhân của cuộc sống.
Đã thế một sự kiện
không khỏi làm cho chúng ta suy nghĩ. Vì sao, trong hoàn cảnh đó, chủ trương Cộng
Sản lại càng ngày càng lấn áp chủ trương Quốc Gia?... Các lãnh tụ quốc gia, lo cho vận mạng của nước
nhà, đã để nhiều tâm trí tìm câu trả lời.
Lý thuyết tranh đấu: Nhiều người tin
rằng, sở dĩ chủ trương Cộng Sản thắng thế là vì nhờ có một lý thuyết tranh đấu.
Để đối phó với chủ trương Cộng Sản thì ngược lại chủ trương Quốc Gia không có một
lý thuyết tranh đấu. Do đó từ hai mươi năm nay, nhiều lý thuyết đã được tạo ra.
Nhiều lý thuyết lấy một học thuyết triết học hay tôn giáo làm căn bản. Một số
khác mượn nền tảng của một chủ nghĩa tranh đấu chính trị đã, trong một lúc nào
đó và tại một nơi nào đó trên thế giới, chống lại chủ nghĩa Cộng Sản.
Đối với
một vài lý thuyết, tư tưởng hoàn toàn đóng khung trong giới hạn dân tộc. Một
vài lý thuyết khác khoáng đạt hơn dựa trên một hệ thống tư tưởng của các triết
học danh gia thế giới. Có nhiều xu hướng
lại mang lập trường Quốc Gia để chọi lại lập trường Quốc tế, xem như là lập trường
của Cộng Sản. Và quên đi rằng đối với một quốc gia, ngay cả các quốc gia Cộng Sản,
mọi chủ truơng đều được nghiên cứu vừa trên lập trường Quốc Gia vừa trên lập
trường Quốc tế. Các lý thuyết đưa ra làm
lý thuyết tranh đấu để chống lại chủ nghĩa Cộng Sản đã có nhiều. Và hiện nay vẫn
còn có người đang đi tìm một lý thuyết khác nữa với tác dụng trên.
Giá trị tư tưởng
các lý thuyết rất khác nhau nhưng tất cả đều bất lực trong vai trò mong mỏi:
Giúp cho chủ trương Quốc gia chiến thắng chủ trương Cộng Sản. Chẳng những thế tất
cả các lý thuyết đều mang đến một kết quả bất ngờ và trái ngược: Mỗi lý thuyết
có một số người tin tưởng, nhứt quyết trung thành với lý thuyết của nhóm mình
và thành thật hay miễn cưỡng bảo vệ lý thuyết đó. Thành ra khối người theo chủ
trương Quốc Gia chia năm xẻ bảy làm cho sinh lực chống lại kẻ địch còn yếu hơn
là lúc chưa có lý thuyết. Thật là không có gì làm cho người Cộng Sản vui sướng
bằng tình trạng đó. Và họ chỉ ước mong khối quốc gia tạo ra thêm nhiều lý thuyết
tương tự.
Một quan niệm cần chỉnh đốn: Nguyên
do của một tình trạng như vậy rất dễ hiểu. Đã là một lý thuyết thì không phải
là thực tế. Nếu lý thuyết lại lấy một thuyết học triết lý làm căn bản thì lại
càng không thực tế nữa.
Như
chúng ta đều biết:
Hai người
chủ trương hai học thuyết triết học khác nhau có thể cãi vã nhau đến tận thế mà
không bao giờ đi đến một sự thỏa thuận.
Vì thiếu căn bản thiết thực đó cho nên các lý thuyết đưa ra dù có một
giá trị tư tưởng khá cao đi nữa, cũng không có năng lực phát quang để thuyết phục
ai cả. Tự đặt cho mình một lý thuyết thiếu căn bản thực tế lại còn mang đến một
hậu quả tai hại khác.
Những người tin tưởng
vào lý thuyết đó tự bắt buộc phải tôn trọng những nguyên tắc thiếu thực tế mà
lý thuyết đề ra. Đến khi hành động và đụng chạm với thực trạng của vấn đề thì
phải lâm vào một tình thế không lối thoát. Bởi vì thực trạng của vấn đề đâu có
chiều ý của tác giả lý thuyết mà uốn nắn mình vào khuôn khổ các nguyên tắc đã đề
ra.
Trong trường hợp
đó thì, hoặc phản bội lý thuyết mà theo thực tể, hoặc tôn trọng lý thuyết mà phủ
nhận thực tế. Trong trường hợp thứ nhứt thiểu số lãnh đạo sẽ mất uy tín, dần dần
mất tin tưởng của đa số và sẽ đi đến thất bại. Trong trường hợp thứ hai thất bại
sẽ đến ngay. Vì thực tế không thể phủ nhận được.
Sức mạnh của sóng và gió:
Khi nhìn thấy mãnh
lực qui tụ của lý thuyết tranh đấu Cộng Sản và bị mãnh lực đó ám ảnh, các nhà
lãnh đạo của khối Quốc Gia mới suy thấu có một nửa đường. Họ chưa nhìn thấy rằng
lý thuyết Cộng Sản chỉ là một phương tiện tranh đấu và sở dĩ phương tiện tranh
đấu đó có một mãnh lực như chúng ta đều biết, là nhờ có hậu thuẫn của một công
trình nghiên cứu sự kiện thực tế lịch sử của nhiều thế hệ tư tưởng gia. Trong
trường hợp nào khối Cộng Sản đã lấy lý thuyết đó làm một phương tiện tranh đấu,
chúng ta sẽ thấy sau này trong phần chính của quyển sách.
Lý luận trên đây
giúp cho chúng ta thấy ngay vì sao một lý thuyết tranh đấu do một nhóm người ngồi
lại nạo óc viết ra không thể phù hợp với thực tế được. Đã không phù hợp với thực
tế thì làm sao mang đến những kết quả mong mỏi được và sớm muộn gì cũng bị đào
thải. Người ta nhìn thấy mãnh lực của lý
thuyết tranh đấu, nhưng không nhìn thấy công trình nghiên cứu thực tế lịch sử
làm hậu thuẫn cho mãnh lực đó, cũng như nhìn thấy mãnh lực của lượn sóng mà
không nhìn thấy sức mạnh của gió tạo ra lượn sóng.
Cộng Sản và Tây phương:
Nếu có
thể tạo được một lý thuyết để chống lý thuyết tranh đấu Cộng Sản thì đã lâu rồi,
trong cuộc chiến đấu ác liệt giữa xã hội Tây phương và Cộng Sản, Tây phương đã
tạo ra thứ khí giới sắc bén đó. Nhưng, biết rằng lý thuyết Cộng sản là một
phương tiện tranh đấu chỉ tìm được mãnh lực của nó trong sự nghiên cứu thực trạng
xã hội, nên Tây phương nhứt là những dân tộc có óc thực tế như Anh, Mỹ đã tìm
giải quyết các vấn đề do thực trạng xã hội tạo ra để thắng chủ nghĩa Cộng Sản.
Họ đã thành công.
Ngày nay
(1965), ở Âu Mỹ, sở dĩ chủ nghĩa Cộng Sản xuống trào, không phải vì giá trị tư
tưởng tuyệt đối đã kém. Nhưng vì thực trạng xã hội ở Âu Mỹ hiện nay đã thay đổi
khác xưa nhiều và cái lý thuyết mà Cộng Sản dùng làm phương tiện tranh đấu
không còn phù hợp với thực trạng hiện nay của xã hội Âu Mỹ nữa. Đây là nguyên
nhân chánh của sự tu chỉnh lý thuyết Các-mác Lê-nin mà nhiều lãnh tụ Cộng Sản
đang chủ trương.
Sự kiện trên lại
chứng minh rằng sức mạnh của một lý thuyết tranh đấu không phải ở giá trị tư tưởng
của lý thuyết mà ở sự thấu triệt thực trạng của đối tượng. Như thế thì, khi tạo ra những lý thuyết để chống
lại Cộng sản mà không tìm hiểu thực trạng của vấn đề, các nhà lãnh đạo của khối
Quốc Gia đã làm một việc của những người lãnh đạo không thấu triệt vấn đề. Và
lý thuyết tranh đấu, mặc dù là một khía cạnh đáng để ý của vấn đề, tuyệt nhiên
chưa phải là vấn đề.
Vấn đề xã hội Tây
phương đã thắng chủ nghĩa Cộng Sản trong nội bộ xã hội của họ, bằng cách giải
quyết các vấn đề xã hội cho lớp người sút kém về kinh tế. Nhân cái gương đó,
nhiều lãnh tụ Quốc Gia cũng cho rằng nếu giải quyết các vấn đề xã hội trong nội
bộ của mình thì chúng ta sẽ thắng Cộng Sản.
Nhận xét trên đúng mà không đúng: Đúng vì
vấn đề xã hội cũng chiếm một phần quan trọng trong vấn đề của chúng ta, nhưng
tuyệt nhiên chưa phải là vấn đề. Một mặt khác thực trạng của xã hội Tây phương
lúc chủ nghĩa Cộng Sản hoành hành không phải là thực trạng của xã hội của chúng
ta ngày nay.
Tín ngưỡng : Lại có nhiều chủ
trương lấy tín ngưỡng mà chống lại Cộng Sản vì tín ngưỡng là một nhu cầu thiêng
liêng của tất cả mọi người. Vì thế nên khả năng qui tụ của một tôn giáo đối với
các tín đồ là một điều kiện không thể phủ nhận được. Tín ngưỡng là một tín hiệu
tập hợp hữu hiệu. Các chế độ Cộng Sản đàn áp tôn giáo chính vì khả năng qui tụ
nói trên, lúc nào cũng đe dọa sự độc quyền lãnh đạo cộng đồng mà theo họ nhứt
thiết phải dành cho đảng Cộng Sản.
Nhưng
tác dụng thật sự và đương nhiên của sự qui tụ của tín ngưỡng là một tác dụng
tôn giáo nghĩa là chú trọng về phần linh hồn, về phần sau của cuộc đời hiện tại.
Và nếu không có Cộng Sản thì sụ qui tụ đó cũng vẫn có. Nói một cách khác sự qui
tụ đó tự nó không có mục đích chống lại chủ trương Cộng Sản.
Chỉ khi
nào, ví dụ trong một chế độ Cộng Sản, có sự đàn áp tôn giáo, bởi vì chế độ Cộng
Sản không thể dung dưỡng một sự qui tụ nào khác hơn sự qui tụ là đảng Cộng Sản,
thì sự qui tụ tôn giáo mới trở thành một hành động chống Cộng Sản. Nhưng sự chống
lại vẫn là một hành động tiêu cực, nghĩa là sự chống lại có mục đích tự bảo vệ
và nếu đàn áp chấm dứt thì sự chống lại cũng chấm dứt.
Sự qui tụ
tôn giáo chỉ có hiệu lực chính trị khi nào cộng đồng tôn giáo đứng vào thế đối
lập và tích cực chống lại một chủ trương.
Ở trong một trường hợp mà sự kiện Cộng Sản đàn áp tôn giáo vẫn còn là một
viễn ảnh chưa thành hình thì sự qui tụ tôn giáo tự nó chưa có điều kiện để chống
Cộng Sản. Nếu mà các tín đồ có nhìn được xa và nhứt quyết không muốn sống cảnh
đàn áp tôn giáo của Cộng Sản, và do đó nhứt quyết chống lại Cộng Sản, thì hành
động đó cũng vẫn còn là một hành động tiêu cực chưa có thể mang lại thắng lợi. Muốn cho khả năng qui tụ tôn giáo trở thành một
lợi khí chống Cộng Sản thì phải mang cái khả năng qui tụ đó mà dùng vào một
công cuộc có mục đích giải quyết vấn đề thiết thực của cộng đồng. Nghĩa là các
nhà lãnh đạo chủ trương lấy tín ngưỡng mà chống lại Cộng Sản, phải thấu triệt vấn
đề cần phải giải quyết của cộng đồng và xử dụng khả năng qui tụ của tín ngưỡng
để giải quyết vấn đề đó.
Nói tóm lại, tín ngưỡng tự nó không phải là một lợi
khí chống lại chủ trương Cộng Sản. Tín ngưỡng sẽ trở thành lợi khí chống lại Cộng
Sản trong hai trường hợp:
1.- Khi bị Cộng Sản
đàn áp.
2.- Khi khả năng qui tụ của tín ngưỡng được xử dụng trong công cuộc giải
quyết các vấn đề do thực trạng xã hội tạo ra.
Lý thuyết
Cộng Sản mạnh nhờ có một hậu thuẫn phong phú là: Sự nghiên cứu các sự kiện thiết thực lịch sử. Tín ngưỡng sẽ là một
lợi khí mạnh chống lại chủ trương Cộng Sản khi cũng có một hậu thuẫn nghiên cứu
sự kiện thiết thực lịch sử.
Chủ trương lấy tín
ngưỡng để thắng Cộng Sản lại có thể đưa đến một kết quả bất lợi, cũng tương tự
như kết quả bất lợi mang đến bởi các lý thuyết chống chủ trương Cộng Sản.
Ranh giới các cộng
đồng tôn giáo không ăn khớp với các cộng đồng quốc gia.
Ø Một quốc
gia gồm nhiều cộng đồng tôn giáo
Ø Nhưng một
tôn giáo có thể có tín đồ trong nhiều quốc gia khác.
Ø Thêm
vào đó sự kiện đương nhiên là: Mỗi tín ngưỡng đều có cái phần giáo lý riêng biệt
của mình thường không dung nạp các giáo lý khác.
Thành ra sự huy động
thiếu tinh vi lực lượng tín đồ của nhiều tôn giáo có thể mang đến xung đột và
chia rẽ trong nội bộ của cộng đồng quốc gia.
Tiêu cực chống và tích cực chống:
Như vậy thì các biến cố chính trị ở Việt Nam từ hai
mươi năm nay là một ví dụ cụ thể để minh xác rằng sự thấu triệt vấn đề cần
phải giải quyết của cộng đồng rất là thiết yếu cho thiểu số lãnh đạo. Về phần
họ, các nhà lãnh đạo Cộng Sản có phải là một thiểu số lãnh đạo thấu triệt vấn đề
cần phải giải quyết của cộng đồng không?
Trong phần chính của quyển sách sau này, chúng ta sẽ thấy rằng cường
điểm của họ ở chỗ cùng với sự thâu nhận lý thuyết Cộng Sản làm lợi khí
tranh đấu, họ đã thừa hưởng của Cộng Sản quốc tế một công trình nghiên cứu sự kiện thực tế lịch sử rất phong phú.
Tuy nhiên, nhược điểm của họ cũng ở chỗ là họ đã trụ vào một di sản
ngoại lai, trong khi thực trạng vấn đề Việt Nam ngày nay không phải là thực trạng
vấn đề các quốc gia Cộng Sản mà họ lấy làm gương mẫu.
Tóm lại các điểm dưới đây có thể dùng làm kết
luận cho đoạn trên.
1.- Lý thuyết Cộng
Sản là một phương tiện
tranh đấu của một chủ trương.
Sức mạnh của chủ trương này do di sản của cộng sản quốc tế: Một công
trình nghiên cứu thực trạng xã hội rất phong phú. Trên chính trường của Việt Nam từ hai mươi
năm nay, chủ trương cộng sản đưa ra làm một giải pháp cho vấn đề cần phải giải
quyết của cộng đồng quốc gia Việt Nam. Toàn bộ của vấn đề này do thực trạng lịch
sử của cộng đồng Việt Nam trong thời kỳ này tạo ra. Thời kỳ này cố nhiên gồm
nhiều thế kỷ vừa qua và sẽ gồm nhiều thế kỷ sắp đến. Giải pháp Cộng Sản có thích hợp cho cộng đồng
hay không, phần chính của quyển sách sẽ trả lời tỉ- mỉ câu hỏi này. Nay chỉ biết
rằng sức mạnh của chủ trương Cộng Sản ở chỗ chủ trương này đã lấy làm hậu thuẫn
sự nghiên cứu đến nơi thực trạng của vấn đề.
Như thế thì, nếu muốn cho chủ
trương Cộng Sản thất bại, thì phải làm hai việc:
a/- Tìm hiểu rõ
thực trạng của vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng.
b/- Có một giải
pháp khác để thay thế cho giải pháp Cộng Sản.
Nhưng
thay vì làm hai việc thiết thực trên, thì, cho đến ngày nay, các nhà lãnh đạo của
khối Quốc Gia chỉ đặt vấn đề chống lại chủ trương Cộng Sản một cách tiêu cực....
Tiêu cực ở đây không có nghĩa là không nhiệt thành mà chống lại, nhưng có nghĩa
là đặt sự chống làm mục đích tối hậu mà không đề ra một phương án canh tân thay
thế nào cả.
Ø
Vì sau
cái việc chống không có một giải pháp nào cho vấn đề cần phải giải quyết của cộng
đồng dân tộc cả.
Nếu vấn
đề chưa giải quyết, thì dù chủ trương Cộng Sản bị đánh bại bằng những phương
pháp nào đó trong nhứt thời cái nguyên nhân để cho chủ trương Cộng Sản tồn tại
vẫn còn.
Hơn nữa, để thực hiện sự chống lại chủ trương Cộng Sản, chẳng những tư
tưởng của khối Quốc Gia tiêu cực, mà lợi khí xử dụng lại không sắc bén. Các chủ
trương chính trị không có khả năng qui tụ, nhưng một khi qui tụ rồi thì lại
không xử dụng được sự qui tụ đó vì thiếu chương trình để giải quyết vấn đề của
dân tộc.
Soạn giả chú thích:
Coi sơ đồ giáo dục
về kỹ thuật bảo vệ tự chủ dưới đây
thì rõ kỹ thuật đấu tranh:
Tụ Lực bằng cách
xây dựng cộng đồng Văn Hóa Lạc Hồng
(nhân bản và nhân ái); mà thí điểm là cộng đồng tỵ nạn Cộng Sản ở Hải
Ngoại. Tuy là yểm trợ quốc nội, nhưng yếu kém thì làm sao đắc lực được?
Nếu cần
một ví dụ để làm sáng tỏ suy luận trên đây, chúng ta có thể ví thiểu số lãnh đạo
Cộng Sản với một số người, trước khi xây một ngôi nhà đã thừa hưởng kết quả của
một cuộc đào cẩn thận cho đến tận đá, và trên cái khối đá vững chắc đó, họ đã đặt
nền móng cho một ngôi nhà theo quan niệm của họ. Nhưng hướng, kích thước, và kiến
trúc của ngôi nhà có thích hợp với cộng đồng không? Chúng ta sẽ trả lời sau này.
Nay chỉ
biết rằng ngôi nhà họ (Cộng Sản) muốn xây dựng, được đặt trên một nền móng vững
vàng có thể chịu đựng được sự lay chuyển của biến cố. Trong khi đó thiểu số lãnh đạo khối Quốc Gia
không nỗ lực đào đến đá, không quan niệm trước sẽ xây ngôi nhà ra sao, lại bất
cứ trên bùn trên cát cũng hấp tấp xây nhà, cái nhỏ, cái lớn. Nhưng nền móng
không vững, các biến cố xảy đến gây sụp đổ lần lượt cái này đến cái khác. Nếu
khối Quốc Gia đánh lại được khối Cộng Sản, làm cho chọ không xây được ngôi nhà
mà họ quan niệm, thì sự nghiệp đã đào đến đá mà họ thừa hưởng của Cộng Sản Quốc
Tế vẫn còn đó, và quan niệm của họ về ngôi nhà vẫn còn đó.
Vấn đề
của thiểu số lãnh đạo Quốc Gia là: Phải đào cho đến đá, trên đó đặt nền móng
cho một ngôi nhà được quan niệm rõ rệt cho thích hợp với cộng đồng. Chỉ có cách
đó khối Quốc Gia mới thay thế được và loại hẳn ra được ngôi nhà của chủ trương
Cộng Sản.
Sở dĩ khối
Quốc Gia lâm vào tình trạng sa lầy như trên chỉ vì thiểu số lãnh đạo không thấu
triệt vấn đề. Như vậy thì các biến cố
chính trị ở Việt Nam hai mươi năm nay là một ví dụ rất cụ thể và minh xác cho sự
kiện thiểu số lãnh đạo phải thấu triệt vấn
đề cần phải giải quyết của cộng đồng.
&
KỸ THUẬT BẢO VỆ TỰ CHỦ
Thiết kế: Nhân Văn Việt Tộc - ngày 15/08/2015 - hiệu chính 17.3.21
·
Đây
là lộ trình giáo dục phải theo thì toàn dân mới có đủ khả năng bảo vệ sự tự chủ
của mình được.
·
Việt
Lực được suy ra từ lời căn dặn của cha LẠC LONG.
·
Sơ đồ
này là chuyển ý từ thông điệp Rồng Tiên khai quốc: 100 trứng, 100 con. Rồng
Tiên khai quốc là học thuyết căn bản của khoa nhân văn Việt tộc.
·
Chuyện
Rồng Tiên chuyển ý từ HOA VĂN 14 tia trên mặt trống đồng Đông Sơn
Ø
Chuyện
Rồng Tiên được dựng lên do nhu cầu chánh trị mà 2 ông Phạm Lãi, Văn Chủng đã lồng
trận đánh ‘diệt Ngô Đại Cáo’dưới dạng Huyền Thoại ở thời điểm chưa có chữ viết
(#600BC), để đem thông điệp cứu nước và giữ nước cho hậu thế noi theo.
ö
Đa số chịu lãnh đạo và vấn đề (tức dân
chúng):
Thiểu số lãnh đạo đã
không thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng, tất nhiên đa số chịu
lãnh đạo không làm sao hiểu được vấn đề.
Và như thế những sự kiện khả dĩ làm đổ vỡ sự điều hòa giữa thiểu số lãnh
đạo và đa số chịu lãnh đạo, như chúng ta đã biết, sẽ lại xảy ra còn trầm trọng
hơn là trong trường hợp mà thiểu số lãnh đạo thấu triệt vấn đề nhưng đa số chịu
lãnh đạo không hiểu biết vấn đề.
Giữa hai
thành phần, Chỉ huy và Phục Tùng, thiểu số và đa số, của cộng đồng chẳng những
không có một sự phối hợp điều hòa, lại còn có một sự đoạn tuyệt kinh khủng. Đối
với bất cứ một vấn đề gì, chủ trương của thiểu số lãnh đạo đều không được đa số
hiểu biết và tán thành.
Do đó, thiểu số lãnh
đạo chỉ còn có phương pháp mạnh để bắt buộc đa số phải tuân theo. Kẻ thù không bỏ lỡ cơ hội, cố tâm nỗ lực đào
sâu cái hố giữa thiểu số và đa số. Lúc nào sự bất mãn của đa số đối với thiểu số
cũng ngấm ngầm, và bùng nổ dữ dội trong những lúc khủng hoảng. Thỉnh thoảng uy tín cá nhân của một vài người
có thể thực hiện được sự qui tụ cần thiết cho sự tiến triển của quốc gia trong
một thời gian. Nhưng vì những yếu tố căn bản của sự điều hòa giữa hai khối thiểu
số và đa số không có, nên không bao lâu, việc đâu lại hoàn đấy.
Ôn lại và
phân tích các biến cố chính trị đã xảy ra từ hơn hai mươi năm nay (1945-1965)
trong khối Quốc Gia Việt Nam, tất cả đều có thể hiểu được khi ta biết rằng
nguyên do chính ở chỗ không có sự phối hợp giữa đa số chịu lãnh đạo và thiểu số lãnh
đạo. Trong những hậu quả mà sự đoạn tuyệt
giữa thiểu số lãnh đạo và đa số chịu lãnh đạo mang đến cho cộng đồng, hậu quả
sau đây đã thể hiện một cách rõ rệt trong những biến cố hiện đang tiến diễn.
Chúng ta biết rằng,
mâu thuẫn đương nhiên lúc nào cũng có giữa thiểu số lãnh đạo và đa số chịu lãnh
đạo trở nên vô cùng trầm trọng khi hai điều kiện dưới đây xảy ra cùng một
lúc.
1.- Có sự đoạn tuyệt giữa
thiểu số lãnh đạo và đa số chịu lãnh đạo.
2.- Nhu cầu của cộng
đồng bắt buộc thiểu số đòi hỏi một sự đóng góp nặng nề của đa số chịu lãnh đạo.
Vì đa số
chịu lãnh đạo không hiểu biết lý do của sự đóng góp của mình và nghĩ rằng bị
thiểu số bóc lột. Sự phẫn nộ do đó càng ngày càng lên. Lúc bấy giờ bất cứ một kẻ
xâm lăng nào đứng lên phất cờ giải phóng, đa số chịu lãnh đạo sẽ hướng vào một
cách mù quáng.
Trường hợp trên
đây đã xảy ra một cách điển hình, ít có, gần đây trong khối Quốc Gia của Việt
Nam. Vì nhu cầu phát triển, thiểu số lãnh đạo đã đòi hỏi nhiều nỗ lực ở đa số
chịu lãnh đạo, nhứt là ở thôn quê vào những năm 1958-1959 trong những chương trình gọi là phát triển cộng đồng.
Nhưng vì một khiếm
khuyết của thiểu số lãnh đạo, cho nên đa số chịu lãnh đạo không ý thức sự cần
thiết của những nỗ lực đòi hỏi. Do đó sự bất mãn nhen nhúm và lần lần lan
tràn. Nhà cầm quyền Cộng Sản ở Hà Nội
khai thác ngay cơ hội và năm 1960 đã đưa ngay quân xâm lăng vào miền Nam với
danh nghĩa quân “Giải phóng”.
Cố nhiên
là những người tự cho mình bị thiểu số lãnh đạo miền Nam bóc lột huởng ứng và
hiện nay chúng ta còn đang mục kích hiện tượng nói trên.
Ở miền Bắc Việt
Nam tình trạng mâu thuẫn giữa thiểu số lãnh đạo Cộng Sản và đa số chịu lãnh đạo
cũng không kém gay go. Thiểu số lãnh đạo
Cộng Sản ý thức vấn đề phát triển của cộng đồng, như chúng ta sẽ thấy trong phần
chánh sau này. Nhưng phương pháp phát triển của họ đòi hỏi một sự đóng góp tột
bực của đa số chịu lãnh đạo. Vì vậy cho nên, mặc dù kỹ thuật dân vận của họ có
hiệu quả, sự bất mãn của đa số ngày càng cao và tuy chế độ cảnh sát của họ rất
nghiệt, thỉnh thoảng vẫn có những cuộc nổi dậy chứng tỏ sự phẫn nộ của đa số chịu
lãnh đạo.
Nếu thời
cơ đưa đến, bất cứ một người nào phất cờ giải phóng miền Bắc, sẽ được đa số chịu
lãnh đạo hưởng ứng nồng nhiệt. Như vậy các biến cố xảy ra ở Việt Nam từ hơn hai
mươi năm nay là một ví dụ cụ thể, minh xác tính
cách thiết yếu của sự hiểu biết vấn đề cộng đồng cần phải giải quyết đối với đa
số chịu lãnh đạo.
Đề xuất đối tượng:
Thiểu số lãnh đạo
(lãnh tụ) thấu triệt vấn đề cần phải
giải quyết của cộng đồng là một điều kiện thiết yếu cho cộng đồng.
Đa số chịu lãnh đạo
(dân chúng) hiểu biết vấn đề cần phải
giải quyết của cộng đồng là một điều kiện thiết yếu cho cộng đồng.
²
Đối tượng của quyển
sách này là tìm xem vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng Quốc Gia Việt Nam
trong thời kỳ này của cộng đồng là vấn đề gì.
Trong khuôn khổ
vài ba trăm trang giấy, và đối với một vấn đề đương nhiên quan hệ cho dân tộc
và tự nó phức tạp như vấn đề nêu lên đây, ước vọng của tác giả không làm sao vượt
lên quá được cái mức công việc chỉ nêu lên các khía cạnh của vấn đề, và, những
dây liên hệ giữa các khía cạnh trong toàn bộ.
Mặc dù đã tham khảo
một số lớn tài liệu trong nước cũng như ngoại quốc và để tâm nghiên cứu vấn đề
trong nhiều năm, tác giả không khỏi lấy làm lo sợ và đắn đo khi phải trình bày
kết quả suy luận riêng của mình. Động cơ duy nhứt khiến cho tác giả thắng được
sự e dè của mình là nỗi lo âu mà tác giả chia sẻ với toàn dân Việt Nam trước
tình thế rất bi quan của dân tộc.
ü Vì vậy mà
dám đánh bạo đóng góp một phần nhỏ nhặt vào công cuộc tìm lối thoát cho cộng đồng Quốc Gia.
Ba bối cảnh:
Đối tượng chánh vẫn
là vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng dân tộc. Nhưng, bao giờ cũng vậy, một
phần của toàn bộ (cục bộ) lúc nào cũng được sáng tỏ hơn khi được đặt vào toàn bộ
(tổng thể).
Vì thế nên vấn đề
cần phải giải quyết riêng của Việt Nam sẽ được đặt trong ba bối cảnh.
Bối cảnh thứ nhứt: Bối cảnh
rộng lớn của tình hình chính trị thế giới.
Bối cảnh thứ hai: Nhỏ
hơn, gồm các nước trong thế giới đang ứng phó với một thử thách tương tự, như
thử thách của Việt Nam.
Bối cảnh thứ ba: Một bối
cảnh hẹp gồm các quốc gia thuộc về một khối văn hóa với Việt Nam: Các nước láng
giềng ở Đông Á và Đông Nam Á.
Thị kỳ sở dĩ[2] :
Một mặt khác mỗi
thời kỳ của cộng đồng dân tộc gồm nhiều thế hệ trước và sau thế hệ hiện tại. Vả
lại, thực trạng lịch sử mà chúng ta nhìn thấy trước mắt là hậu quả của những sự
kiện đã xảy ra hằng mấy thế kỷ trước và là nguyên nhân của những sự kiện sau
này.
Vì thế
nếu muốn tìm hiểu thực trạng hiện tại và dự đoán các biến cố trong tương lai, bắt
buộc phải xét lại lịch sử của nhiều thế kỷ đã qua. Ví như chúng ta hiểu được cốt
truyện đang diễn tả trên màn bạc và đoán được ít nhiều những cảnh sắp tới, là
khi nào chúng ta đã xem qua các đoạn trước của cuốn phim. Do đó, sẽ có nhiều
chương dành cho lịch sử của nhiều quốc gia trong những thế kỷ đã qua.
Giải pháp:
Sau khi, nhờ ở những
sự phân tích trên, vấn đề cần phải giải quyết của Việt Nam trong thời kỳ hiện tại
của cộng đồng đã sáng tỏ, nhiều chương sẽ dành cho sự nghiên cứu một giải pháp
mà tác giả nghĩ rằng thích hợp cho dân tộc.
Nhưng trước khi bàn tới giải pháp đề nghị, thì, theo gương các người lữ
hành, trước khi lên đường, chúng ta sẽ kiểm
điểm lại cái vốn tinh thần và vật chất mà chúng ta có, cũng như những món nợ phải
mang theo mình.
Vài chương sẽ được
dành cho bản mục lục đó. Cuối cùng vài
chương sẽ dành để phác họa giải pháp mà tác giả thiển nghĩ rằng thích hợp cho vấn
đề. Các khía cạnh chính trị, kinh tế và văn hóa sẽ được đề cập đến.
Như
trên đã nói, đối với một vấn đề bao la và phức tạp như vậy và trong khuôn khổ của
vài ba trăm trang, ước vọng của tác giả không thể vượt quá cái mức công việc chỉ
nêu lên các khía cạnh của vấn đề. Phần nghiên cứu tỉ-mỉ và chỉ giáo xin trân trọng
dành cho các bậc học giả trong nước
(Lời soạn giả:
Lúc này chưa có cộng
đồng Hải Ngoại; bài viết trước ngày30/4/1975).
Vị trí của tác giả:
Bất cứ một đối tượng
nào cũng có thể được nhìn từ nhiều vị trí.
Vị trí khác, kết
quả của sự nhìn sẽ khác, nghĩa là hai người từ hai vị trí khác nhau cùng nhìn một
vật thể, mỗi người sẽ thấy một vật thể khác.
Trong các đoạn nhận xét, phân tích và suy luận dưới đây, đối với một vấn
đề hay nhiều vấn đề, tùy theo hoàn cảnh tác giả sẽ đứng từ những vị trí nào.
Ví dụ có nhiều sự
kiện sẽ có khi được nhận xét từ một vị trí quốc gia, và có khi từ một vị trí của
một cộng đồng ngoài quốc gia. Lúc nào trường hợp đến, người đọc sẽ nhận thấy
ngay là vị trí nào. Tuy nhiên, có hai vị
trí cần phải có sự thỏa thuận trước giữa tác giả và người đọc. Vì nếu không có
sự thỏa thuận trước, thì nhiều vấn đề hoặc khía cạnh của vấn đề sẽ không được
sáng tỏ, vì tác giả và người đọc sách sẽ đứng vào những vị trí khác nhau.
Vị trí thứ nhứt là một
vị trí lúc nào tác giả cũng sẽ đứng vào để nhìn tất cả các vấn đề trình bày: Đó
là vị trí thực tế lịch sử. Bởi vì thực tế lịch sử không có thể phủ nhận được.
Và trên nền tảng vững chắc đó mới có thể lấy óc khoa học mà suy luận không sợ
phạm vào những lỗi lầm căn bản.
Vị trí thứ hai là vị
trí không bao giờ tác giả dám đứng vào để nhìn bất cứ vấn đề nào được trình
bày: Đó là vị trí triết lý tôn giáo, và
lý thuyết là những lĩnh vực mà sự đối chọi giữa hai chủ trương trái ngược có thể
kéo dài vô cùng tận.
Bất cứ
trong lãnh vực nào của đời sống của cộng đồng: Chính trị, văn hóa, và kinh tế,
sự nhận xét phân tách và suy luận của tác giả đều căn cứ trên những sự kiện lịch
sử và để một bên tất cả các lý thuyết. Hành động như trên không có nghĩa là phủ
nhận sự ích lợi của lý thuyết và giá trị của nhiều lý thuyết. Nhưng cố định đứng
ngoài vị trí triết lý và lý thuyết để tránh tất cả các sự biện luận không thiết
thực và do đó không thích hợp với mục đích của quyển sách.
Tài liệu tranh đấu:
Mấy trăm trang dưới
đây không phải là một tài liệu tranh đấu theo nghĩa thông thường của danh từ
này:
Nghĩa là lời văn sẽ
không đanh thép, và ý văn sẽ không đề cao bất cứ cái gì của dân tộc hay của khối
Quốc Gia.
Hình thức
sẽ không cổ võ nhiều người đứng lên dấn thân vào một công cuộc chung và nội
dung sẽ không cố tình binh vực một lập trường đã quyết định trước. Nhưng mấy trăm trang dưới đây có thể là một
tài liệu tranh đấu, nếu gọi là một tài liệu tranh đấu, tài liệu nào khả dĩ mang
thắng lợi tới cho chủ trương Quốc Gia Dân Tộc.
Bởi vì mấy trăm trang dưới đây là một tài liệu nghiên cứu sự kiện thực tế
của lịch sử. Mà thấy được thực trạng của vấn đề, biết mình và biết chung quanh
mình là một yếu tố quyết định cho sự thắng lợi.
Chính vì lập trường
nghiên cứu sự kiện thực tế của lịch sử cho nên tự-ti mặccảm tuyệt nhiên không
có, khi nhận xét rằng Việt Nam là một quốc gia nhỏ và yếu. Nhỏ và yếu vì dân số,
vì kinh tế kém mở mang, và vì sự góp phần vào văn minh nhân loại. Trái lại,
chính vì không tự-ti mặc cảm nên mới có nhận xét như vậy. Cứ gì có một dân số
khổng lồ, một kinh tế phong phú mới là một dân tộc lớn. Và chính là khi chúng
ta dám nhìn thẳng vào thực trạng của dân tộc, chúng ta mới đủ điều kiện đưa dân
tộc vượt lên.
Và cũng vì lý do
trên mà tài liệu này không đề cập đến bốn ngàn năm văn hiến của dân tộc, lại chỉ
nói đến một ngàn năm lịch sử. Cũng như trên, làm như vậy không phải vì tự-ti mặc-cảm.
Những gì trong lịch sử của chúng ta chỉ có một ngàn năm sau này mới có đủ tài
liệu đích xác để làm nền tảng cho suy luận.
Hai mươi
năm nay, các biến chuyển đã đưa lần sự thắng lợi và thất bại của thế hệ của
chúng ta đến chỗ chỉ còn cách nhau một đường tơ.
Các trang trong phần
chính sẽ giải thích vì sao trách nhiệm ứng phó với thử thách hiện tại, ngày giờ
này đang đè nặng lên vai của miền Nam Việt Nam. Và chưa bao giờ cộng đồng dân tộc
đòi hỏi mỗi phần tử phải tham gia vào một công cuộc đầy kích thích như ngày
nay.
1. Nếu
không thấy vấn đề thì trong sự thất bại hay thắng lợi, thì mười phần trách nhiệm
trong đó của người là năm phần và còn năm phần là vận nước.
2. Đã thấy
vấn đề thì trong sự thắng lợi hay thất bại, thì mười phần trách nhiệm trong đó của
người là bảy phần và còn ba phần là vận nước.
Đối với mọi phần tử của cộng đồng, không có
sự ước mong nào thiết tha hơn là sự ước mong thấy dân tộc lại vượt qua thử
thách, lần nầy cũng như những lần đã qua trong lịch sử.
Chú thích:
[1] loại mâu thuẫn lúc nào cũng có ở trong nội tâm: Mâu Thuẫn Nội Tại
[2] Cách thức khảo sát của Khổng Tử là: "tam khan": "Thị
kỳ sở dĩ, quan kỳ sở do, sát kỳ sở an" (xem việc người đó làm, khảo sát
quá trình người đó làm, xem xét người đó làm lúc an, lúc nguy).
[
Phần I :
NHẬN ĐỊNH VỀ THẾ GIỚI
Lĩnh vực chính trị
Hiện nay trong
lĩnh vực chính trị, thế giới chia làm hai khối rõ rệt: một bên là khối tự do, một
bên là khối Cộng Sản. Mặc dầu gần đây,
có xảy ra một mặt những cuộc tranh chấp đôi khi lên đến một cao độ đáng chú ý
giữa các quốc gia trong khối Cộng Sản, cũng như trong khối Tự Do, một mặt khác
nhiều thỏa ước có tính cách chính trị, văn hóa, khoa học hay kinh tế đã được ký
kết giữa những quốc gia thuộc khối khác nhau, sự phân biệt trên vẫn còn giữ
nguyên giá trị.
Lý do của tình trạng
đó là sự khác biệt giữa hai khối do hai quan niệm khác nhau về phương pháp lãnh
đạo. Hai bên đều tuyên bố mục đích tối hậu của mình là mưu hạnh phúc cho nhân
dân. Tuy nhiên, để đạt mục đích đó, khối Tự Do chủ trương khắc phục cho được sự
tự ý tham gia của quần chúng vào công cuộc xây dựng hạnh phúc đó. Trái lại khối
Cộng Sản chủ trương một sự tham gia cưỡng bách. Hai quan niệm đều có ưu và khuyết
điểm. Sự chọn lựa một trong hai quan niệm trên không căn cứ trên các ưu và khuyết
điểm ấy mà lại do những hoàn cảnh lịch sử, mà chúng ta sẽ thấy. Nay chỉ cần biết rằng sự khác biệt giữa hai
quan niệm ấy đã dẫn dắt đến các sự khác biệt về lý thuyết chính trị, về bộ máy
chính phủ, về hệ thống kinh tế và về quyền sở hữu. Lĩnh vực văn hóa.
Bây giờ
nếu chúng ta đứng vào lĩnh vực văn hóa thì nhận thấy thế giới lại chia ra làm
nhiều khối hơn.
1. Trước
tiên là khối Âu Mỹ gồm các nước ở Âu Châu, kể cả Nga Sô và các nước Đông Âu thuộc
Nga. Các nước ở Bắc và Nam Mỹ và những quốc gia do người Âu lập ra ở Úc Châu,
Tân Tây Lan và Nam Phi. Khối này gồm các nước thuộc vào xã hội Tây Phương thừa
hưởng văn hóa Hy Lạp và La Mã khi xưa và văn hóa Gia Tô sau này.
2. Khối thứ
hai gồm các quốc gia Ả Rập ở từ vùng cận Đôngđến Hồi Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Soudan,
Ai Cập và các quốc gia Bắc Phi Châu. Khối này lập thành xã hội Hồi Giáo thừa hưởng
văn hóa Hồi Giáo.
3. Khối thứ
ba gồm các quốc gia ở phía Đông Đại lục Âu Á: Nhật Bổn, Đại Hàn, Trung Hoa và
Việt Nam, lập thành xã hội Đông Á thừa hưởng văn hóa xưa của Hoa Lục.
4. Khối thứ
tư gồm Ấn Độ và – ngoài các nước nhỏ phụ cận phía Bắc Ấn Độ – Miến Điện, Thái
Lan, Lào, Cam Bốt, Mã Lai và Nam Dương. Lập thành xã hội Ấn Độ thừa hưởng văn
hóa Ấn Độ.
5. Và sau
hết khối Hắc Phi gồm các quốc gia mới xuất hiện ở Phi Châu lập thành xã hội Hắc
Phi có một văn hóa phôi thai.
Lĩnh vực khoa học kỹ thuật:
Bây giờ nếu chúng
ta đứng vào lĩnh vực khoa học và kỹ thuật, thì chúng ta lại nhận thấy các khối
chính trị văn hóa nói trên tự nhiên biến mất, và lại hiện ra một hiện trạng thống
nhất bất ngờ. Tất cả các quốc gia trên đều theo đuổi một khoa học – khoa học
Tây phương, đều áp dụng một kỹ thuật – kỹ thuật Tây phương, dù kỹ thuật đó thuộc
về lĩnh vực chính trị, hay quân sự, hay giáo dục, hay sản xuất, hay kinh tế,
hay kỹ nghệ, hay vận tải và giao thông.
Ø Vì những
lý do gì mà tùy theo lĩnh vực, thế giới khi thì hợp thành một khối, khi lại
chia ra nhiều khối?
Các sự kiện lịch sử
dưới đây sẽ giải thích rõ hình trạng mới xem qua phức tạp đó.
Văn minh Tây phương chinh phục thế giới:
Trở ngược lại dòng
lịch sử và nhìn vào bản đồ thế giới vào khoảng thế kỷ XIV, thời kỳ mà các
phương tiện giao thông còn nghèo nàn, thì chúng ta nhận thấy rằng cách đây
không quá 600 năm các xã hội mà chúng ta đã phân biệt trên kia trong lĩnh vực
văn hóa đã có. Chẳng những thế, lúc bấy
giờ ranh giới giữa các xã hội trên lĩnh vực văn hóa lại cũng là ranh giới trên
các lĩnh vực chính trị, kinh tế và kỹ thuật.
Nhưng sau đó, văn
minh Tây phương thoát khỏi thời kỳ phôi thai và phát triển một cách hùng mạnh.
Nền vãn minh này tự tạo cho mình một sinh lực dồi dào nhờ thừa hưởng được văn
hóa Hy Lạp và La Mã xây dựng trên những căn bản lý trí chính xác và nhờ ở kinh
Thánh Gia Tô gieo cho quần chúng một đức tin mãnh liệt. Nhờ đó, người Tây
phương tìm được nhiều phát minh khoa học và sáng chế được nhiều kỹ thuật khả dĩ
giúp cho họ vượt biển và chinh phục nhiều
đất đai mới.
Lúc đầu
họ chiếm những vùng dân cư thưa và lạc hậu ở Nam và Bắc Mỹ lập thành những quốc
gia mới theo kiểu Âu Châu. Nhưng lần lần
theo đà phát triển càng ngày càng mãnh liệt và càng ngày càng nhanh của xã hội
Tây phương, người Tây phương khắc phục được nhiều kỹ thuật mới lạ khả dĩ đặt
vào trong tay họ những mãnh lực vật chất mà không xã hội nào đương đầu nổi.
²
Và vào
thế kỷ thứ 16 (1601-1600) họ đã bắt đầu chinh phục xã hội Hồi Giáo lân cận. Thế
kỷ thứ 17 và thứ 18 (1701-1800) chứng kiến sự thất bại của các quốc gia trong
xã hội Ấn Độ và thế kỷ thứ 19 (1801-1900) đến lượt các quốc gia trong xã hội
Đông Á. Đến thế kỷ thứ 20 (1901-2000) văn minh Tây phương đã hoàn toàn chinh phục
thế giới và nhờ đó mang lại cho các dân tộc Tây phương một nền thịnh vượng chưa
từng thấy. Tất cả các quốc gia ngoài xã hội Tây phương đều bị biến thành thuộc
địa hay bán thuộc địa. Chỉ trừ một vài dân tộc như Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật Bổn vì nhờ
đã sớm nhận định được bí quyết thành công của người Tây phương là ưu thế của họ
trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật.
Những nước
này đã “Duy Tân” kịp thời, khắc phục những kỹ thuật của Tây phương để chẳng những
tự vệ đối với sự tấn công của Tây phương mà lại còn, cũng như các nước trong xã
hội Tây phương, mang lại cho dân tộc của họ một mức sống dồi dào hơn.
Còn tất
cả các nước khác như Việt Nam đều phải chịu mang ách nô lệ, và cũng như Việt
Nam, đã mất một cơ hội thứ nhứt để xây dựng cho dân tộc mình một quốc gia hùng
cường và để mang lại hạnh phúc cho đời sống của quần chúng.
Ngày nay tình trạng
thống nhất của thế giới trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật có hai ý
nghĩa.
1. Văn minh Tây phương đã chinh phục thế giới, và đã
chinh phục bằng khoa học kỹ thuật.
2. Các quốc gia
nào muốn tồn tại đều phải khắc phục khoa học Tây phương và kỹ thuật
Tây phương.
Nhưng muốn khắc phục
được khoa học Tây phương và kỹ thuật Tây phương, trước tiên phải khắc phục lối
suy luận của Tây phương đặt trên căn bản chính xác về lý trí.
Và sau đó khắc phục
những tập quán trong đời sống hằng ngày khả dĩ nuôi dưỡng và duy trì lối suy luận
trên. Nếu chỉ hấp thụ khoa học và kỹ thuật không, thì không sáng tác được.
Mà không sáng tác
được khi người Tây phương tiếp tục sáng tác là mối đe dọa của Tây phương vẫn
còn mãi.
KHOA HỌC THỰC DỤNG và KHOA HỌC NHÂN VĂN VIỆT
TỘC
bổ xung cho nhau để có cuộc sống được trọn
vẹn
Vì vậy cho nên,
ngày nay trên thế giới vấn đề Tây phương hóa là một vấn đề thiết yếu cho các quốc
gia muốn tồn tại, mặc dầu Tây phương hóa theo kiểu khối Tự Do hay Tây phương
hóa theo kiểu khối Cộng Sản. Và đó cũng
là một vấn đề thiết yếu cho nước Việt Nam.
Sau này chúng ta sẽ xem vấn đề Tây phương hóa là như thế nào, và việc
Tây phương hóa có hại đến tinh thần dân tộc không.
Vấn đề Cộng Sản: Từ đầu của thế kỷ thứ XX (1901-2000),
lý thuyết Cộng Sản đã làm chấn động xã hội Tây phương. Sau đó lý thuyết Cộng Sản
đã trụ đóng và phát triển ở Nga. Và ngày nay lý thuyết Cộng Sản đang hoành hành
ở Á Châu và đang đe dọa Nam Mỹ. Nhưng ở mỗi nơi lý thuyết Cộng Sản được tiếp nhận
bởi những lý do khác nhau và được giải thích theo một lối thích nghi với hoàn cảnh
địa phương.
Cộng Sản
ở Âu Châu khác Cộng Sản ở Nga. Cộng Sản ở Nga khác Cộng Sản ở Tàu, nhưng ba nơi
đều là Cộng Sản. Các sự kiện lịch sử dưới đây sẽ giải thích vẻ phức tạp mới xem
qua đó. Cộng Sản ở Tây phương: Khoa học
và kỹ thuật của Tây phương đã phát triển theo một đà càng ngày càng nhanh, vì
thế cho nên nhiều lúc đã vấp phải sức thụ động của các cơ cấu xã hội lúc nào
cũng tiến hóa chậm hơn. Trong các thời kỳ đó sự xung đột bộc lộ bằng những xáo
trộn xã hội.
Cuối thế kỷ thứ 19, Tây
phương phát minh những kỹ thuật sản xuất kỹ nghệ. Lúc đầu những lực lượng sản xuất mới đó chưa
được điều khiển hoàn bị, đã gây ra nhiều cuộc đảo lộn trong một xã hội thủ công
nghệ.
Đa số thợ thủ công
bị phá sản và trở thành thợ thuyền vô sản, trong khi những máy móc sản xuất tối
tân tập trung tư bản vào tay một thiểu số. Sự quân bình trong việc phân phối
tài sản của xã hội thủ công nghệ cũ đã bị đổ vỡ và đại đa số dân chúng thợ thuyền
phải sống một đời vô cùng cực khổ. Karl
Max, triết học gia và kinh tế gia, người
Đức gốc Do Thái, sống ở Anh, nhận thấy rằng tất cả các tệ đoan lúc bấy giờ
do ở chỗ các cơ cấu của xã hội Tây phương không còn thích nghi với những lực lượng
sản xuất mới do các phát minh kỹ thuật mang đến.
Do đó Karl Max đề nghị một kiểu xã hội mới
xây dựng trên những căn bản mới để cho phù hợp với các phương tiện sản xuất mới.
Ông chủ trương thành lập xã hội mới bằng một cuộc cách mạng toàn diện. Như vậy, ở Tây phuơng, thuyết Cộng Sản là một
phương thuốc của Tây phương đề nghị để chữa căn bệnh cho xã hội Tây phương
trong một giai đoạn phát triển cam go.
Về sau các nhà
lãnh đạo Tây phương lại tìm được nhiều phương thuốc khác, nhờ đó mà xã hội Tây
phương chẳng những trở nên lành mạnh mà còn phát triển mạnh bạo hơn, như chúng
ta thấy ngày nay. Do đó mà hiện nay, thuyết Cộng Sản đã mất rất nhiều sinh lực
trong xã hội Tây phương và trong một ngày gần đây sẽ không còn nữa.
Cộng Sản ở Nga:
Trong xã hội Tây
phương, Nga là một dân tộc Slave ở
trên ranh giới giữa Âu và Á, chịu ảnh hưởng Á châu rất nhiều bởi các cuộc chinh
phục như của Thành Cát Tư Hãn và của Attila. Các nước ở Tây Âu lại thuộc giống Latin hay là Saxon. Sự hai bên cùng
theo đạo Gia Tô đáng lý ra phải giúp cho sự xum họp, lại trở thành thêm một yếu
tố chia rẽ sau khi giáo hội Gia Tô đã vỡ ra thành hai giáo hội, một giáo hội
Đông trong đó có Nga và một giáo hội Tây ở La Mã.
Vì lý do trên mà
trong lịch sử giữa Nga và Tây Âu có một cuộc tranh chấp không ngừng hiện nay vẫn
đang tiếp diễn. Cuộc tranh chấp lúc trầm lúc bổng. Tây Âu thắng nhờ kỹ thuật tiến
bộ hơn. Lúc nào Nga hấp thụ được kỹ thuật Tây phương thì lại giữ phần thắng nhờ
khối dân đông và đất rộng. Tây phương lại phát minh những kỹ thuật mới và lại
thắng, và cứ như thế tấn tuồng lại tái diễn.
Vào cuối thế kỷ thứ 19, khi Tây
phương, ngoài đã chinh phục thế giới nhưng trong lại gặp phải những trở lực xã
hội tạo hoàn cảnh cho thuyết Cộng Sản bành trướng, thì Nga ở vào một thời kỳ yếu
thế vì kém về kỹ thuật. Các nhà lãnh đạo Nga, theo chiến thuật cổ truyền, đang
nỗ lực hấp thụ các kỹ thuật mới của Tây phương. Nhưng lần này ngoài các kỹ thuật
vật chất họ lại thâu nhận thêm thuyết Cộng Sản. Vì hai lý do:
1.- Họ muốn gấp
rút bắt kịp Tây Âu bằng cách tổ chức trước Tây phương một xã
hội mới thích nghi với các phương tiện sản xuất mới như Marx đã đề nghị.
2. Nếu nước Nga trở
nên thành trì của thuyết Cộng Sản, thì sự bành trướng của thuyết Cộng
Sản trong các nước Tây Âu sẽ biến các Đảng Cộng Sản của các quốc gia nầy thành
những đồng minh nội tuyến trong lòng địch, rất quí báu cho Nga trong cuộc tranh
chấp hằng mấy thế kỷ với Tây Âu.
Như vậy,
chuyển từ Tây Âu sang Nga thuyết Cộng Sản đã nghiễm nhiên từ một phương thuốc
được đề nghị cho xã hội Tây phương, biến thành vừa là một phương tiện giúp cho
sự phát triển của Nga vừa là một khí giới sắc bén giúp Nga đánh bại kẻ thù. Dầu
sao sự tranh chấp vẫn là một sự tranh chấp nội bộ giữa các quốc gia trong xã hội
Tây phương.
Sở dĩ
Nga đã đưa cuộc tranh chấp ấy lên thành một cuộc tranh chấp quốc tế chỉ vì kẻ
thù Tây Âu lúc bấy giờ đã bủa vây lưới kinh tế của họ trên khắp thế giới. Và
cũng vì để tạo cho họ vây cánh trên khắp thế giới mà các nhà lãnh đạo Nga Sô đã
hô hào các lãnh tụ các quốc gia bị chinh phục làm thuộc địa hay bán thuộc địa
gia nhập vào hàng ngũ Cộng Sản (Xướng/Họa).
Như vậy thuyết Cộng Sản đối với Nga chỉ là
một phương tiện và ngày nào mục đích đã đạt được, phương tiện sẽ
không còn giá trị nữa. Ngày nay, mục đích đã đạt, Nga đã thắng nhờ khắc phục được
kỹ thuật Tây Âu và nhờ khối dân đông và đất rộng của mình.
Các biến cố hiện tại
ở Âu Mỹ chứng tỏ rằng Nga sắp đến lúc bỏ phương tiện Cộng Sản và trở về với xã
hội Tây phương Những sự tiếp xúc của tòa
thánh La Mã với các lãnh tụ giáo hội Nga là một trong những cố gắng để đưa Nga
Sô về xã hội Tây phương. Và ngày đó sự tranh chấp quyết liệt giữa Cộng Sản và
Tư Bản, như ngày nay, sẽ tự tiêu và nhường chỗ cho một cuộc tranh chấp khác quyết
liệt hơn hiện nay đã bắt đầu thành hình giữa khối Trung Cộng và khối Âu Mỹ (tiên đoán quả đúng, Ngô Đình Nhu viết năm
1954, chết ngày 02/11/1963; năm 1989 Nga Sô sập, Tây phương và Mỹ viện trợ cho
Nga giữ được thăng bằng).
Cộng Sản ở Á Châu:
Trong hệ thống giá
trị truyền thống của hai nền văn minh Á Châu: văn minh Ấn Độ và văn minh Trung
Hoa, không có một điểm nào có thể làm mầm cho một thuyết tàn bạo như thuyết Cộng
Sản nảy nở được.
Sở dĩ
ngày nay thuyết Cộng Sản hoành hành được ở Á Châu là vì chính Tây phương đã tạo
hoàn cảnh cho nó nẩy nở và chính Tây phương đã đưa nó vào.
Sau khi thảm bại
trước lực lượng chinh phục của Tây phương, các quốc gia ở Á Châu đều lần lượt bị
biến thành thuộc địa hay bán thuộc địa. Tinh thần bất khuất của dân tộc khiến
các lãnh tụ vẫn tiếp tục một cuộc tranh đấu vô hy vọng. Bởi vì, để đương đầu với
những lực lượng xâm lăng hùng hậu của Tây phương bủa lưới khắp chiến trường thế
giới, chúng ta chỉ có thể đưa ra để nghinh chiến những lực lượng kém kỹ thuật
trong một chiến trường giới hạn trong từng quốc gia. Sự thất bại đã cầm chắc nếu
chúng ta không có những đồng minh đồng sức với kẻ thù.
Vì nhận định như vậy
cho nên các lãnh tụ cách mạng thức thời đều hưởng ứng lời kêu gọi của Nga Sô. Sự
đồng minh với Nga Sô sẽ mang lại cho họ:
1.-
Những phương tiện xứng đáng để đánh bật kẻ thù ra khỏi lãnh thổ.
2.- Một kiểu mẫu và những phương pháp phát triển quốc gia khi đã phục
hồi độc lập.
Như vậy sang Á
Châu thuyết Cộng Sản chỉ còn là một phương tiện để đánh kẻ xâm lăng và một
phương pháp phát triển.
Cho tới
đây những nhà lãnh đạo chủ trương theo Cộng Sản còn có lý vững chắc. Nhưng sau
đó họ hoàn toàn lầm lẫn nếu họ say mê mà tôn thờ thuyết Cộng Sản như là một
chân lý, và quên rằng.
1.- Nga Sô chỉ xem
thuyết Cộng Sản là một phương tiện và chỉ có giá trị là một phương tiện.
2.- Phương pháp Cộng
Sản áp dụng ở Nga mặc dầu đã đưa đến kết quả, nhưng không phải vì vậy mà có
thể áp dụng một cách hữu hiệu cho mọi quốc gia.
Mao Trạch Đông đã
nhìn thấy rõ hai điểm trên đây. Sự khác biệt giữa các phương pháp Cộng Sản ở
Nga và ở Tàu là một bằng cớ. Cộng Sản ở Việt Nam cũng nằm trong khuôn khổ trình
bày trên đây.
[



0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil