dimanche 14 juillet 2024

T56- Kế hoạch phục thù của Câu Tiễn

T56(a)  Kế hoạch phục thù của Câu Tiễn

Facebook Văn Hóa Thuần Việt (11.11.2021)

soạn giả ;  Hoàng Đức Phương

 

CÂU TIỄN PHỤC THÙ

Thế là CÂU TIỄN được phóng thích. Về nhà tìm cách phục thù.

 

A/- Kế hoạch tăng gia tiềm lực

·        Tăng gia binh bị bằng toàn dân vi binh, khi thường làm dân, khi cần thì làm lính ; bằng cách giải làm cướp để các trai tráng các làng phải thay nhau luyện võ nghệ cho điêu luyện.

·        Tăng gia sản xuất, tích lũy lương thực, khuyến nông để đàn bà tham gia vào việc sản xuất

·        Mở vườn trẻ để giáo dục con trẻ phục vụ dân tộc và để người mẹ yên tâm ra đồng làm việc.

·        Trợ cấp gia đình : Nhà nào có 2 trẻ trở lên thì đứa thứ nhì trở lên quan nuôi cho ăn học đàng hoàng, phát huy năng khiếu tối đa.

·        Khuyến khích sinh sản : Nhà nào nào sinh con thì quan biếu để khao một hũ rượu và 1 con chó cho bé trai, một hũ rượu và một con heo cho bé gái. Mục đích là để trám chỗ cho chiến trận phục phù 20 năm tới. Lúc đó bé gái đã 20 tuổi có khả năng sinh con. Đồng thời cấm bà già nuôi trai tơ để nó còn giao giống.

B/- Kế hoạch làm cho vua NGÔ sao lãng việc nước :

·        Biếu gỗ quý để nhà vua bắt dân xây cung đình, mở mang đô thị bóc lột sức dân cho việc kiến thiêt chưa cần thiết.

·        Dâng đoàn VĂN CÔNG để nhà vua giải trí.

·        Tìm cách làm cho nhà vua sao nhãng việc nước bằng nhiều thú vui.

·        Phao tin nhà vua thất đức nên mất mùa vì lúa vua ban không nảy mầm. Sự thực thì Câu Tiễn trả nợ bằng lúc tốt nhưng một phần đã đổ nưóc sôi nên lúc bị chột không nảy mầm được.

C/- Kết quả của âm mưu là :

·        20 năm sau Câu Tiến báo thù thì PHÙ SAI phần thì già nua, phần thì việc nước chểng mảng nên thua.

·        BINH PHÁP  VIỆT/NGÔ:

a)           PHÙ SAI dùng BINH THƯ TÔN VĂN (Tôn Tử) thua CÂU TIỄN dùng Binh Pháp PHẠM LÃI.

b)           Như vậy là BINH PHÁP VIỆT cao hơn BINH PHÁP NGÔ

c)           Binh Pháp là phương pháp dụng binh. Binh Thư là sách viết về Binh Pháp

Khi bị vây đợi chết thì PHÙ SAI có kể công đức của mình nên CÂU TIỄN muốn tha nhưng PHẠM LÃI và VĂN CHỦNG không chịu và nói :

·        Từ 20 năm nay toàn dân vì ông để có ngày hôm nay. Khi trước nó tha ông nên mới có bi kịch ngày nay. Nay ông tha nó thì lặng miếu cỏ dòng họ ông sẽ bị san bằng, đó là chuyện riêng tư. Nhưng sinh mạng và tương lai của toàn dân thì ông để ở đâu ?

·        Câu Tiễn ở vào thế phải giết Phù Sai nên không đủ can đảm. Do đó sai PHẠM LÃI lấy đầu PHÙ SAI.

·        Để tránh hậu họa thì PHẠM LÃI nói : Dù sao PHÙ SAI cũng là bậc Đế Vương chỉ có ông mới có quyền giết, con tôi là bày tôi nên không dám làm.

·        Câu Tiễn mới đẩy cho PHẠM LÃI và VĂN CHỦNG thảo bản luận tội trước khi hành quyết

·        PHẠM LÃI và VĂN CHỦNG gài cho CÂU TIỄN phải giết để diệt trừ hậu họa nên kể 7 tội đáng chết mà tội thứ 7 là bất hiếu đã tha cho kẻ thù của Tiên Vương nên mới có ngày hôm nay.

·        Tuy nhiên Câu Tiễn vẫn chưa đủ can đảm để tự tay mình hạ sát đối phương và cho  phép PHÙ SAI được tự sát để có cái chết tronh thanh danh.

 

Sau đó cho PHÙ SAI được hưởng tang lê uy nghi của bậc Đế Vương, sách nhập nước NGÔ vào nước VĂN LANG ; chia nước Ngô làm 3 vùng la NGÔ VIỆT (chiết giang), MÂN VIỆT (Thiều Châu và Tây Giang) và BÁCH VIỆT (Hồ Nam), thay tên đổi họ thành HỒ ĐỘNG ĐÌNH.

 

THÀNH  LẬP NƯỚC BÁCH VIỆT (#600BC):

Để có sự bình đẳng sắc tộc và hội nhập Văn Hóa nên đổi tên nước thành BÁCH VIỆT có giới tuyến từ phía nam con sông DƯƠNG TỬ GIANG đến tận ĐÈO ẢI VÂN (Gia Long đổi thành Hải Vân), phía tây lan tới cn sông CỬU LONG GIANG.

Sai Phạm Lãi và Văn Chủng dựng chuyện RỒNG TIÊN KHAI QUỐC để truyền đạt cho con cháu nguyên tắc đấu tranh CÁCH MẠNG (tiêu diệt kẻ thù) và đấu tranh CHÁNH TRỊ (xây dựng đất nước) để người dân yên ổn làm ăn tronh vị thế bình đẳng theo chế độ DÂN CHỦ PHÂN QUYỀN.

Đọc chuyện RỒNG TIÊN với tư tưởng dưới thời CÂU TIỄN thì mới nhìn ra sự thật là :

 

Câu chuyện RỒNG TIÊN là lịch sử truyền miệng và cũng là chuyển ngữ từ hình hoa văn 14 tia tên mặt trống đồng Đông Sơn. Nay ta chuyển sang SƠ ĐỒ là ngôn ngữ của chúng ta vào năm 2021.

 

õ


T56(b) – Phát triển đất nước

Facebook Văn Hóa Thun Việt (11.11.2021)

Thảo luận Học Thuyết Nhân Vị-Ngô Đình Nhu

BÀN VỀ PHÁT TRIỂN HẬU CỘNG SẢN

(PHẦN ½)

NGUỒN : Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Chính đề VN – TÙNG CHÂU PHỔ BIẾN

Can Lao Nhan Vi / Ngo Dinh Nhu

CHÚ Ý:

Bài này được viết vào thập niên 1950 nên bối cảnh lịch sử có khác với ngày hôm, tuy nhiên căn bản vẫn đúng nhưng ta phải thay đổi cách hành động.

1.      Chánh trị toàn cầu lúc đó là lưỡng cực NGA và MỸ nên nay đã khác

2.      Hồi đó chưa có Cộng Đồng Hải Ngoại

3.      Hồi đó quan niệm Chánh Quyền (lãnh đạo) và người dân (chịu sự lãnh đạo). Nay ta chia khối dân tộc là 3: Thành phần người XƯỚNG (đề ra đề án/Thành phần ưu tú), Thành phần người phụ Họa (quần chúng) và thành phần THI CONG (Cai Thầu Chánh Trị, thực thi đề án)

4.      Thế chế là TAM QUYỀN PHÂN LẬP (chế độ dân chủ ỷ lại vào chương trình ứng cử viên) Nay ta chuyển sang chế độ Dân Chủ Chế Tài (toàn dân đưa ra đề án, ứng cử viên thi hành-chế độ vua Hùng, không đủ khả năng để thi công thì ra đi)

 

VỊ TRÍ CỦA VIỆT NAM TRONG

KHUNG CẢNH THẾ GIỚI

 

Địa lý chánh trị của Việt Nam do các điểm dưới đây minh định: 

1.- Việt Nam là một nước nhỏ và kém mở mang. 

2.- Theo truyền thống văn hóa, Việt Nam thuộc vào xã hội Đông Á. 

3.- Việt Nam thuộc vào khối các nước Á Châu vừa thoát khỏi ách thực dân đế quốc. 

4.- Việt Nam đang cần phải Tây phương hóa như tất cả các nước không thuộc khối Tây phương để:

·        Một là tồn tại, bảo vệ độc lập;

·        Hai là phát triển đời sống kinh tế hầu xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. 

 

Bốn điểm trên đây minh định vị trí của nước chúng ta trong thế giới ngày nay vừa trong lĩnh vực địa dư vừa trong lĩnh vực tiến hóa chung của nhân loại. Vì vậy cho nên, cùng với những điều kiện nội bộ riêng cho Việt Nam mà chúng ta sẽ thấy sau này:

Ø  Các điểm này chi phối mọi đường lối chính trị của chúng ta trong ít lắm là vài thế kỷ.

 

Lời bàn của soạn giả:

Nếu chúng ta và con cháu biết khai thác địa lý chánh trị để chuyển đổi thì có rầt nhiều hy vọng thăng tiến được; vì chúng ta có cộng đồng Hải Ngoại chưa được tổ chức đàng hoàng mà lúc đó tác giả chưa nghĩ tới; vì nó chưa thành hình.

           P Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều (Nguyễn Du)

 

Do đó, việc phân tích từng điểm một, bốn điểm trên đây là một việc thiết yếu. Việt Nam là một nước nhỏ và kém mở mang. 

Mục đích của những trang nhận định này không phải để xách động quần chúng, nên không phải chỗ để ca ngợi sự nghiệp mấy ngàn năm văn hiến của tổ tiên chúng ta, và cũng không phải chỗ để cho chúng ta hãnh diện với những trang sử oanh liệt của người xưa.

  Ø   Những người có trách nhiệm với tiền đồ dân tộc không thể tự ru ngủ trên dĩ vãng, mặc dầu dĩ vãng đó thật có là anh hùng đi nữa.

Trái lại, một nhận định khách quan rất cần thiết cho những người lãnh đạo, nếu họ muốn tránh những sơ xuất có hại cho tương lai của một dân tộc.

  Ø   Tự-ti mặc-cảm khi nhìn thấy nước nhà yếu và kém không phải là tâm trạng của những kẻ quật-cường. 

 

Trên quan điểm đó chúng ta phải nhìn nhận rằng trong thế giới ngày nay nước chúng ta là một nước nhỏ và dân tộc chúng ta là một dân tộc kém mở mang.

Chẳng những thế, trong suốt mấy nghìn năm lịch sử, chưa lúc nào dân tộc chúng ta đã đạt lên được mức một văn minh chiếu sáng.

  Ø   Vì vậy chúng ta còn ở vào tình trạng thụ hưởng hơn là tình trạng góp phần vào văn minh nhân loại.

 

Tuy nhiên, dĩ vãng của chúng ta cho phép chúng ta tin rằng dân tộc có một năng lực tiềm tàng khả dĩ trong một tương lai rất ngắn đưa chúng ta thoát khỏi tình trạng thứ nhứt để vào tình trạng thứ hai.

Đó là mục đích và lý do của cuộc tranh đấu hiện tại của chúng ta. Bởi vì theo luật quân bình, người thụ hưởng bao giờ cũng đứng sau người đóng góp, và trong thực tế mức sống của người thụ hưởng phải kém mức sống của người đóng góp. 

Và tranh đấu để thoát khỏi tình trạng kém mở mang có nghĩa là vừa tranh thủ một mức sống cao hơn cho dân tộc, và cũng có nghĩa là sẵn sàng lãnh trách nhiệm đóng góp vào văn minh thế giới.

  Ø   Như vậy đối với chúng ta nỗ lực để thoát khỏi tình trạng kém mở mang có thể hình dung bằng một sự cố gắng để vượt qua lằn mức ranh giới giữa tình trạng thụ hưởng và tình trạng đóng góp. 

 

So sánh với các nước kỹ nghệ mở mang ngày nay, nước Việt Nam chúng ta nhỏ vì đất đai không rộng, dân số ít và thiên sản không phong phú. 

So sánh với các khối kinh tế vĩ đại như Nga Sô, Trung Cộng, Ấn Độ, Mỹ quốc và khối Âu Châu đang thành hình, chúng ta lại còn không đáng kể vào đâu nữa.

¾

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil