T57-THÔNG ĐIỆP RỒNG TIÊN
T57(a) THÔNG ĐIỆP RỒNG
TIÊN
Facebook Văn Hóa huÀn Việt
(18.11.202)
soạn giả Hoàng Đức
Phương
THÔNG
ĐIỆP RỒNG TIÊN
Giáo
khoa Tráng Niên
NGUYÊN VĂN THÔNG ĐIỆP GHI
TRONG CHUYỆN RỒNG TIÊN
LẠC LONG QUÂN lấy ÂU CƠ là dòng dõi Tiên, đẻ ra một bọc 100 trứng, nở ra 100 con, tạo thành 100 giống Việt mà ta gọi là BÁCH VIỆT với 100 đặc tính khác nhau nhưng thương yêu và đùm bọc
nhau như một bó đũa, vì cùng một lò Lạc
Long và Âu Cơ mà ra.
Chọn màu VÀNG của lụa tơ tầm làm sắc thái
dân VIỆT, tức bản sắc của dân ta.
Gọi nhau bằng ĐỒNG BÀO.
Khi lớn lên thì chia nhau đi bảo vệ biên
cương không cho giặc TÀU đánh chiếm đất đai của mình.
1/-
50 con theo mẹ lên dãy núi Ngữ Lĩnh bảo vệ biên cương phía Bắc.
2/-
50 con theo cha ra biển
để trấn giữ vùng duyên hải ở phía Đông không cho giặc Tàu từ biển vô.
3/-Trước khi chia tay thì cha LẠC LONG có căn dặn các con một cách
kỹ càng là : CHỪNG NÀO GIẶC THÙ ĐẾN
CƯỚP PHÁ CHỐNG ĐỠ KHÔNG NỔI THÌ GỌI BỐ ƠI VỀ CỨU CHÚNG CON
BẠCH HÓA Thông ĐIỆP RỒNG
TIÊN :
Chúng ta cò HAI NỀNkhoa học độc lập sau đây
Theo sự hiểu biết giới hạn của khoa học ngày hôm nay thì :
Ø
HỮU
HÌNH THÌ CÓ 2 khoa để học : Thực Dụng và Nhân Văn.
Ø
VÔ
HÌNH THÌ CÓ 1 KHOA ĐỂ HỌC : Tâm Linh
KHOA
HỌC HỮU HÌNH :
a/- Khoa học THỰC DỤNG dùng
để kiếm gạo.
Căn bản của khoa này là phát minh khoa học
thực dụng, mà vốn là TOÁN ; để
làm cuộc sống vật chất thoải mái hơn
b/- Khoa học NHÂN VĂN là học làm người, mỗi dân tộc
quan niệm một cách sống khác nhau, chẳng ai giống ai cả.
Con người khác con vật ở chỗ có văn hóa, có tư tưởng và có tiếng nói nên
không hành động theo HỨNG như loài thú
Ø
Căn
bản của khoa NHÂN VĂN là TRIẾT.
Triết là môn học về sự vận hành của vạn vật , nó là cái vốn để tư
tưởng đẻ ra học thuyết ; thay đổi tư duy cho phù hợp với môi trường đang
sống.
Khoa học về NHÂN VĂN VIỆT TỘC cũng giống như khoa học Thực Dụng có
nhiền ngành như Tóan, Lý, Hóa,Vạn Vật, Y học, Ngoại Giao, Thương mại, Chánh Trị
….. Mỗi ngành lại có các môn chuyên của ngành.
Nhân Văn Việt Tộc là học làm Người Việt Tốt theo nếp sống của
người Việt mà ta gọi nôm na là VIỆT ĐẠO, hay ĐẠO GIA TIÊN.
Tức thờ cúng ông bà và tông đường theo quan niệm chữ HIẾU của
người Việt ; hoàn toàn khác với chữ HIẾU của đạo Khổng hay các tôn giáo
khác.
Đạo Gia Tiên nay chỉ còn hình thức bàn thờ, còn bao nhiêu kho tàng
triết lý sống làm người ở đằng sau nghi thức đã bị xóa từ thời Gia Long (1802)
với phong trào Nôm Na là Cha Mách Qué (vọng ngoại vong nô).
Sau đó là Nền Giáo Dục Thực Dân Pháp (1860-1945) phỉ nhổ nền Văn
Hóa Thuần Việt ; tiếp theo là chủ nghĩa TAM VÔ (vô gia đình, vô tổ quốc và
vô tôn giáo) của Việt Nô Cộng Sản đã hăng say tiêu diệt sức sống của dân Việt
để biến dân Việt thành công cụ sản xuất cho Đảng Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế do Nga
và Tàu lãnh đạo.
Trong khoa Nhân Văn Việt Tộc thì môn học căn bản là VĂN HÓA THUẦN VIỆT.
Văn hóa là cách sống và cách suy nghĩ của người Việt đã thành phản xạ tự nhiên
vì nó đã thành nếp rồi, mà ta gọi là NẾP SỐNG.
Trong khoa Nhân Văn Việt Tộc có bộ sách Giáo Khoa Việt Tộc dạy cách sống làm người Vệt tốt cho các
em từ 8 tuổi đến 18 tuổi để trưóc khi bước chân vào đời thì các tráng niên đã
được trang bị đầy đủ tinh thần về Việt Học để thừa sức chống trọi với cuộc sống
tranh đua với người mỗi lúc mỗi phức tạp ; trong mục đích bảo vệ và phát
huy sức sống của nòi Việt trong vinh quang.
Ø
Lẽ dĩ
nhiên là môn học này phải cập nhật theo môi trường văn minh hiện đại, cũng
giống như khoa học Thực Dụng vậy. Trongkhoa Nhân Văn Việt Tộc có dạy tinh thần Tự Trọng (ý nghĩa của chữ Văn
Lang) và tinh thần Cầu Tiến.*
Ø
Cầu Tiến là ý nghĩa của danh từ VIỆT trong liên bang Việt ;
biết kết hợp 15 tiểu bang thành nước Văn Lang để tồn tại trong vinh quang. Cuối
cùng được ghi lại trong danh từ Đồng Bào (#600BC).
Và cách xưng hô Cô Dì Chú Bác bắt nguồn từ
danh từ Đồng Bào, nó c& quy luật hẳn hoi đó nha.
Việt Học là môn học về người Việt và nước Việt từ ngày lập nước
Văn Lang (2.879BC) cho đến nay và tiếp tục theo sự tồn tại của nòi Việt.
Nên nhớ là Khoa Học Phát Tiển không ngừng, nên ngày hôm nay (2003)
với khám phá mới của khoa học chúng ta đã biết rõ Lịch Sử, Cương vực, Văn Minh
và Văn Hóa của nòi Việt qua di vật để lại. Nhất là chúng ta đã Bạch Hóa được
nhũng câu chuyện Huyền Thoại để biết thông điệp người xưa muốn trao truyền kinh
nghiệm bảo vệ đất nước ra sao.
Chúng ta đả biết niên đại và cương của :
·
Thành
Văn Lang (thủ đô của nước Văn Lang là nơi vua Hùng ngự triều)
·
Nước
Văn Lang (2.879BC-600BC).
·
Nước
Bách Việt (600BC-157BC).
·
Và
của nước Nam Việt (207BC-111BC).
Vậy thì đừng khẳng định : Hùng Vương là thời Huyền Sử hay
Khuyết Sủ nữa.
Vì thời đó là thời chưa có chữ viết, các sử gia chưa biết bạch hóa
Huyền Thoại và khai thác di vật.
Nay đối với chúng ta thì đó là thời Lich Sử Truyền Miệng vì chưa
có chữ viết. Chữ viết mới xuất hiện vào thời đồ thép non (500BC).
Trăm năm bia đá cũng mòn,
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.
Nói theo thời đại chúng ta thì RỒNG TIÊN
là Chủ Nghĩa của nòi Việt.
·
Chủ
Nghĩa là danh từ Việt Cộng du nhập từ Tây Phương vào ngày 19/8/1945 để ca tụng
chủ nghĩa ngoại lai, đả phá nền Văn Hóa Thuần Việt một cách mù quáng.
·
Bụt
nhà không thiêng nên mới ra nông nỗi này đây.
Khi trước thì dân Việt gọi là Văn Hóa Lạc Hồng, khí phách Rồng Tiên, hay Học Thuyết Rồng Tiên.
Ø
Từ
đây mới đẻ ra CHỦ THUYẾT (chứ không phải Chủ Nghĩa) hợp thời để kết hợp dân tộc
và khai phóng dân trí để đủ sức bảo vệ Việt Tộc truờng tồn trong vinh quang.
KHOA
HỌC VÔ HÌNH
Khoa học VÔ HÌNH là khoa TÂM
LINH mà ta gọi là THẦN HỌC, nó là căn bản đẻ ra các Tôn Giáo. Mỗi tôn giáo
có một vị sáng tạo ra nó gọi chung là Giáo Chủ. Khi Giáo Chủ qua đời thì từ
Giáo Lý gốc, các môn đệ mới bổ xung để thành các giáo lý khác nhau. Với các em
Tráng niên đã có khả năng lý luận thì phải trang bị cho các em đầy đủ hành
trang Việt Học (học về người Việt và đất Việt) để các em có đủ khả năng giúp
nước cứu đời. Do đó không những phải giảng nghĩa rõ quy luật đấu tranh để bảo
vệ sức sống của nòi Việt mà còn dạy các em cách đặt vấn đề và cách giải quyết
vấn đề như : Các em nghĩa gì về Học
Thuyết Rồng Tiên ? Thiếu đủ hay bổ xung ra sao cho hợp với thời
đại ? Tỷ dụ Việt Cộng ra đi thì chúng ta phải làm gì để xóa bỏ xung khắc
sắc tộc và hận thù phe nhóm trong vòng 6 tháng ?
·
Khoa
học ngày hôm nay đã chứng minh : Vô Hình hay Hữu Hình chỉ là sự thay đổi
trạng thái mà ngũ giác của ta không cảm nhận được.
BẢN ĐỒ HỒI HƯƠNG SAU ĐẠI HỒNG THỦY (3.400BC)
QUY
LUẬT ĐẤU TRANH TỰ VỆ
chuyển
ngữ qua SƠ ĐỒ BẢO VỆ TỰ CHỦ
A.
- Việt
Giáo : TỰ LỰC TỰ CƯỜNG
Giáo lý
học làm người Việt nằm trong hình ảnh 50 con theo mẹ lên núi, 50 theo cha ra
biển để bảo vệ biên cương nói lên quy luật đấu tranh Tự Vệ : Toàn dân
kháng chiến, toàn diện đấu tranh trong thế liên hoàn tiếp ứng Đó là câu căn dặn
của cha Lạc Long trước khi thi hành công tác là : Chừng nào giặc thù đến
cướp pháp, chống đỡ không nổi thì gọi « BỐ ƠI về cứu chúng con »
B. - Việt Đạo :
KẾT HỢP TOÀN DÂN
Học
thuyết xây dựng xã hội bằng Tâm và bằng Đức được ký thác trong danh tử Đồng
Bào : Kết hợp với nhau bằng Tâm, cư
xử với nhau bằng Đức, Bình Đẳng Tột Cùng và Thán Thương Tột Độ.
C. - Việt
Triết : NẾPSỐNG CAO THƯỢNG
Triết
lý sống của dân Việt : Ta là ai và sống để làm gì ? Đó là nền Văn Hóa
độc đáo và đánh kính của dân Việt : Ta sống cho ta và sống cho đời với đức
độ Rồng Tiên.
- Rồng : Uy Dũng và Công Minh - Tiên : Hiền Từ và Nhân Ái
Quy luật đấu tranh Tự vệ :
·
Cương quyết tiêu diệt kẻ thù không nhân nhượng ; nhưng
không được truy kích hay trả thù trong khi đấu tranh
·
Phải độ lượng và khoan dung với kẻ thù sau khi chiến
thắng
·
Việt Giáo + Việt Đạo + Việt Triết = VIỆT LỰC để bảo vệ Tự
Chủ
a)- Sơ
đồ bảo vệ tự chủ là ngôn ngữ của chúng ta ngày hôm nay, nó là sự chuyển ngữ từ
chuyện Rồng Tiên Khai Quốc (ngôn ngữ ở thời #600BC).
b)-
Huyền Thoại Rồng Tiên (#600BC) là chuyển ngữ hoa văn 14 tia trên mặt trống đồng
Đông Sơn (800BC)
Hoa
văn Trống ĐồngèThông Điệp Rồng Tiên èSơ đồ bảo vệ Tự Chủ
KỸ THUẬT BẢO VỆ TỰ CHỦ
![]()
![]()
·
Sơ đồ
bảo vệ Tự Chủ là lộ trình giáo dục phải theo thì toàn dân mới có đủ khả năng
bảo vệ sự tự chủ của mình được.
·
Việt
Lực được suy ra từ lời căn dặn của cha LẠC LONG. Sơ đồ này là chuyển ý từ thông
điệp Rồng Tiên khai quốc: 100 trứng, 100 con. Chuyện Rồng Tiên khai quốc là học
thuyết căn bản của khoa nhân văn Việt tộc.
Chuyện Rồng Tiên được dựng lên do nhu cầu chánh trị mà 2 ông Phạm
Lãi, Văn Chủng đã lồng trận đánh ‘diệt Ngô Đại Cáo’dưới dạng Huyền Thoại ở thời
điểm chưa có chữ viết (#600BC), để đem thông điệp cứu nước và giữ nước cho hậu
thế noi theo.
ü
Huyền
thoại chỉ là phần chuyên chở thông điệp. Thông điệp là triết lý của câu chuyện.
Muốn hiểu thì phải dùng tư duy huyền thoại.
ü
Xin
coi thêm Đặc San Huyền Thoại với chủ để : Bạch hóa huyền sử thời vua Hùng (2.879BC-250BC) bằng các di vật ngời
Văn Lang để lại (Nhóm Nhân Văn Việt Tộc đã ấn hành/link : http://vanhoathuanviet.blogspot.com
Ý nghĩa của hoa văn :
1.
Vòng
tròn 14 tia là nước Văn lang được thành lập bời 15 Bộ Lạc (tiếng Việt là vùng
an lạc, tiếng Tàu là Tiểu Bang), kết hợp với nhau bằng Tâm, Cư Xử với nhau bằng
Đức, bình đẳng tột cùng và thân thương tột độ (đồng bào) - Tiểu bang chính giữa
là nơi vua Hùng làm việc (u tròn là chỗ đánh trên mặt trống).
2.
Vòng
ngoài là bộ binh bảo vệ nước Văn Lang (Tự Vệ)
3.
Vòng
giữa là bộ kinh tế lấy lương thực nuôi quân
4.
Vòng
ngoài cùng là Nền Văn Hóa Lạc Hồng (con cái to hơn con đực là chế độ Mẫu Hệ
nhưng Phụ Quyền, chia nhau dạy dỗ con cái.
Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cáo có
nghĩa là : Nhờ 3 loại cậy Tre (bộ binh), cây Lúa (kinh tế) và cây Cau (văn
hóa) nên mới có nước Văn Lang hùng vĩ như núi BA VÌ ở Sơn Tây
¾
Xin giới thiệu với quý vị 3
đường dẫn sau đây, và kính mời các vị hiền tài tiếp tay cho chương trình này
được phong phú.
http://nhanvanviettoc.blogspot.com
là nơi lưu trữ tài liệu để
soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com
là nơi lưu trữ các bài đã
soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm) từ Tiểu Học đến Trung
Học.
Nơi lưu trữ 3 kinh nhật tụng
1. Bạch Hóa Huyền Sử thời
Hùng Vương (chỉ cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18
tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)
SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ (Đủ
Bộ) https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ
(Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k
SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph
ØKênh Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ
là nơi lưu trữ các livestream
đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu trữ vô máy.
Nhóm Nhân Văn Việt Tộc kính báo.
sơ đồ
BIẾN ĐỔI VĂN HÓA
Thiết kế:
Hoàng Đức Phương
Paris 28/5/2008
T57(b) – BÀN VỀ PHÁT TRIỂN HẬU CỘNG SẢN
Facebook Văn Hóa Thuần Việt (18.11.2021)
Tài Liệu Học Thuyết Nhân Vị (Ngô Đình Nhu)
BÀN VỀ PHÁT TRIỂN HẬU CỘNG SẢN
PHẦN 2/2 (Ngô Đình Nhu)
Trên phương diện quân sự, những kỹ
thuật nguyên tử tối tân với sức tàn phá mãnh liệt có thể làm giảm đi yếu tố
đông dân và tất nhiên số lượng quân đội đông không còn ảnh hưởng nặng nề trên
sự thắng bại.
Tuy nhiên, lên đến
một mức độ nào đó, ví dụ lên đến khối dân số Trung Cộng, yếu tố dân đông vẫn
còn là một yếu tố đáng kể. Vì vậy mà trong trường hợp của chúng ta, nếu chúng
ta khắc phục được những kỹ thuật nguyên tử, thì cái họa xâm lăng đối với chúng
ta chỉ có giảm chớ không chấm dứt.
Trên phương diện kinh tế, yếu
tố đông dân đối với kỹ thuật sản xuất đại qui mô của cơ khí là một yếu tố quyết
định. Dân càng đông thị trường càng mạnh. Có một mức tiêu thụ tối thiểu trong
mỗi ngành kỹ nghệ, dưới mức đó sự sản xuất kỹ nghệ không thể thực hiện với các
điều kiện thuận lợi.
Lý do: Lợi
nhậu ít ỏi nên không có ngân sách để nghiên cứu các sản phẩn tân tiến hơn. Kỹ
nghệ của Mỹ tiến nhanh là vì ngân sách nghiên cứu dồi dào: Nước chảy chỗ chũng.
Khi thị trường
tiêu thụ càng lớn thì đó là động cơ thúc đẩy kỹ nghệ càng nảy nở nhanh hơn,
càng trưởng thành hơn và càng phát triển vì giá sản xuất càng nhẹ và mức lời
càng lớn.
Ø
Đó là
lý do tranh giành thị trường trong thế kỷ vừa qua và hiện nay.
Như vậy nếu dân số
ta ít thì điều kiện nảy nở của kỹ nghệ chúng ta rất kém và sự cạnh tranh với
khối kinh tế bên ngoài là một điều mà chúng ta không thể đương đầu nổi.
Trên phương diện văn hóa, việc dân số ít là một trở lực to tát. Ngôn ngữ của chúng ta chỉ được một thiểu số sử dụng. Những sáng tác bằng Việt ngữ, ví dụ mà thật sự có giá trị thế giới đi nữa thì không có mấy người biết đến giá trị đó vì ngôn từ của chúng ta không được nhiều người biết.
Hãy nghĩ đến việc
một tác phẩm bằng Anh ngữ hay Hoa ngữ có thể phổ biến ngay cho khắp thế giới
thì đủ thấy cái mãnh lực của sự đông dân như thế nào. Trong một khối người to
lớn như vậy có thể trao đổi tư tưởng với nhau bằng ngôn ngữ của họ được nhiều
người sử dụng.
Dân tộc chúng ta chỉ vì dân số ít nên phải ở ngoài vòng tư tưởng trên, ngoại trừ một số người biết ngoại ngữ. Dân số ít lại còn là một trở lực trong công cuộc phát triển như chúng ta sẽ thấy dưới đây.
Trong
khuôn khổ thế giới ngày nay, một dân tộc kém mở mang là một dân tộc có một tình
trạng ứng vào các điều kiện dưới đây:
1.- Thiếu kỹ thuật và
phương tiện kỹ thuật sản xuất.
2.- Do đó lợi tức quốc gia thấp kém.
3.- Do đó mức sống của toàn dân thấp và thường xuyên đói rách, túng
thiếu.
4.- Sự mưu sống hằng ngày chiếm hết thời gian và năng lực, đời sống văn
hóa không mở mang được. Do đó trí tuệ
cùn đi.
5.- Sự sáng tác kém giá trị và sự góp phần vào văn minh của nhân loại
không có.
Trình
bày như trên đây, ta nhận thấy rằng điều kiện thứ nhứt là nguyên nhân của điều
kiện thứ hai và cả hai là nguyên nhân của điều kiện thứ ba và ba điều kiện đầu
lại là nguyên nhân của điều kiện thứ tư, vân vân...
Và như vậy nguyên
nhân chính và trước tiên của sự kém mở mang là thiếu kỹ thuật và thiếu phương
tiện kỹ thuật sản xuất. Nhưng muốn có đủ kỹ thuật, nghĩa là máy móc sản xuất
thì phải có được một trình độ kiến thức khá cao cho toàn dân, và phải có lợi
tức dồi dào để mua dụng cụ máy móc. Như
thế các điều kiện ảnh hưởng tương phối nhau làm thành một cái vòng lẩn quẩn. (Trí tuệ kém mở mang kìm hãm sản xuất.
Mà sản xuất không phát triển –kinh tế nghèo nàn thì trí tuệ không có dịp mở
mang)
Việc đưa dân tộc lên đường phát triển có
nghĩa là bẻ gẫy cái vòng luẩn quẩn đó. Vì thế cho nên các phương pháp phát
triển đề nghị hay mang ra thực hiện ngày nay trong các nước trên thế giới, kể
cả phương pháp Cộng Sản, chung qui chỉ là một phương pháp bẻ gãy cái vòng lẩn
quẩn nói trên. Và dưới đây chúng ta sẽ có dịp trở lại, một cách chi tiết hơn,
vấn đề cốt yếu này.
Nay chỉ nhận xét
thêm là các điều kiện trên cho chúng ta thấy rằng, công cuộc phát triển không
phải là một công trình mà một nhóm người hay một thiểu số có thể thực hiện
được.
Ø Chỉ khi nào toàn dân hay là đại đa số cùng
quyết tâm đứng lên mới có thế đạt đến kết quả.
Đây là một yếu tố
quyết định, nó sẽ chi phối nặng nề các sự lựa chọn đường lối sau này.
Điều thứ hai cần phải nêu lên
là cái vốn duy nhất có thể dùng ngay được của các nước kém mở mang là công
nhân.
Vì vậy mà dân số
đông lại là một lợi khí cho công cuộc phát triển, theo một phương pháp lao công
cưỡng bách. Yếu tố này cũng là quyết định đối với sự lựa chọn đường lối sau
này.
------------------------------------------------







0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil