T58 Cách luận sử
T58(a) Cách luận sử
Facebook Văn Hóa Thuần Việt (25/11/2021)
soạn giả: Hoàng Đức hương
NGUYÊN TẮC LUẬN SỬ
để có kết luận
công minh
---------------------
ĐẾ CHẾ GIA LONG : Ân nhân hay Tội
Đồ của dân Việt ?
QUAN ĐIỂM PHÊ
BÌNH SỬ (LUẬN CỔ SUY KIM) : Chúng ta có 3 mục
đích về phê bình sử:
1)
LUẬN
SỬ đế rút kinh nghiệm giải quyết vấn nạn đương thời của
chúng ta mà ta gọi là LUẬN CỔ SUY KIM. Trong trường hợp này chúng ta không đả
kích hay ca tụng người xưa ; ngược lại chúng ta phải phanh phui phần chìm
của chế độ thì sự phê bình mới có đầy đủ dữ kiện. Về phần chìm thì chúng ta có
thể dựa vào di vật để lại như thành quả, văn kiện mật, hành động hay ngôn từ ……
của vị nguyên thủ Quốc Gia. Cách này dành riêng cho những nggười đưa ra đề án
giải quyết vấn nạn đương thời. Đem ra áp dụng thì nếu thành quả tốt thì đề án tốt
là do luận sử đúng ; còn nếu thành quả sai thì dẹp đề án và cách suy luận
của tác giả sai
2)
LUẬN
SỬ để luận tội hay vinh danh người xưa thì cần phải thu
thập phần chìm cho đầy đủ, lấy quyền lợi dân tộc là chánh ; và mỗi chúng
ta là một vị quan tòa sáng suốt hay gà mờ là tùy ở sự hiểu biết của mình.
3)
LUẬN
SỬ để biết diễn biết của lịch qsử thì chỉ cần biết phần
nổi là đủ… Đây
là công việc của các sử gia.
Ở đây chúng tôi chọn cách Bình Sừ thứ nhất để đưa ra đề án thoát hiểm : Hoặc né tránh những gì Gia Long làm, hoặc học hỏi những thành công mà Gia Long đã đem Phúc Lợi đến cho dân tộc mà cái quan trọng trước tiên là : Xóa bỏ xung khắc sắc tộc và hận thù phe nhóm để xây dựng xã hội hài hòa bằng cách BÌNH ĐẲNG 54 sắc tộc và HỘI NHẬP VĂN HÓA của 54 sắc tộc đó
Còn
chuyện :
a)
Gia Long là ân nhân của dân tộc, tức Gia Long
làm cho dân tộc có khí phách và đời sống tốt hơn thời Tây Sơn là chế độ mà ông
đã lật đổ.
b)
Gia Long là tội đồ của dân tộc vì đã làm ly
tán lòng dân với những bộ luật phi dân tộc, hay đã làm đất nước suy yếu mà hậu
quả là thảm trạng ngày hôm nay,
Là
do sự phê phán của từng cá nhân, nó thuộc mục tiêu thứ nhì thì chúng tôi không
bàn tới vì phải nghiên cứu nền giáo dục, cách tuyển chọn nhân tài, các bộ luật nhất
là so sánh mức thuế giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn Gia Long để xem ai được lòng
dân thì chi phí an ninh chánh trị sẽ ít hơn. Hoặc các vụ nổi dạy chống Triều
Đình dưới nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức
nhiều vô kể
Về
Bộ Hình Luật thì Triều Đại nào cũng có. Bộ luật do nhân sỹ trong nước soạn hay
vá víu mỗi nơi một ít là do chương trình của Triều Đại có đem phúc lợi cho người
dân hay không. Điều này cho ta biết đó là CHÁNH TRIỀU hay là NGỤY TRIỀU
Ø Còn chuyện thống
nhất lãnh thổ nó không quan trọng bằng THỐNG NHẤT LÒNG NGƯỜI.
Việc
mở mang lãnh thổ chỉ là hỏa mù, vấn đề chính là mở mang lãnh thổ cho dân hưởng
hay cho nhà Vua hưởng mới là quan trọng…. Đi cưóp nước lân bang có gì là vinh dự ?
Nó chỉ gây hận thù cho các thế hệ sau mà thôi.
ö
LỜI DẠY CỦA TỔ TIÊN :
Trông
chờ ngoại bang là trông chờ nô lệ. Vì chánh phủ không có quyền lấy tiền của dân
để làm từ thiện. Vậy thì họ giúp ta vì lợi và tìm cách lấy đất nước của ta, biến
dân ta thành NÔ Lệ tư tưởng qua chánh sách Giáo Dục Vọng Ngoại, Vong Nô. Nô lệ
tư tưởng và văn hóa là nô lệ từ trong Tâm Nô Lệ ra ; nô lệ từ đi cha truyền
đến đời con ;
Ø Đúng hay
sai ?
Ø Tôi dựa trên
tiêu chuẩn này để luận sử, và lấy quyền lợi dân tộc làm mục tiêu tối hậu (cứu
cánh).
Ø Ai không đồng ý
thì cách luận này sai đối với họ vì cứu cánh khác nhau
LUẬN VỀ NGUYỄN ÁNH
(theo tiêu chuẩn trên)
·
Nguyễn
Phúc Ánh là tên cúng cơm, còn Gia Long là vương hiệu vua TÀU phong cho , vào
năm 1802AD ; chứng tỏ tinh thần vong nô.
Vì Vương hiệu hay Quốc Hiệu là tự mình đặt ra chẳng cần phải ai phong cho mới
có
·
Nguyễn
Phúc Ánh mới 13 tuổi đã bị truy lùng ráo riết,
ẩn dật nay đây mai đó nên là con người thất học, không biết nhìn xa trông rộng
vì bị hận thù che mờ lý trí nên khi có uy quyền không nghĩ đến tương lai của
dân tộc và ngay chính tương lai của con cháu thì ông ta cũng chẳng màng tới.
·
Mục
đích là chiếm đoạt Ngai Vua bằng bất cứ giá nào để trả thù dân tộc đã bỏ ông đi
theo Tây Sơn.
·
Luật
hình sự của Gia Long và hành động của ông ta đã chứng minh điều này.
·
18
năm trị vì có tới 19 vụ nổi loạn.
·
Bên
cạnh luôn luôn có 2 tên Thực Dân Pháp ban lệnh, nên ông ta chỉ là một tên vua
bù nhìn để đợi ngày dứt điểm vì người Pháp chưa hoàn thành chế độ Thực Dân.
ü Lý do là chánh
trị nước Pháp lúc đó đang rối ren, nhà vua LOUIS XVI đang lo ổn định tình thế
nhưng bất thành nên bị Napoléon lật đổ vào năm 1802, rồi đem Vua Louis XVI và
Hoàng Hậu ra chém đầu ở công trường CONCORDE - Paris
(Kỳ
sau nói tiếp về tư tưởng Gia Long trong vấn đề mời Ngoại Bang giúp sức, hết
Xiêm La rồi đến Pháp sau khi Hòa Lan và Tây Ban Nha từ chối)
T58(b) – Tây Phương
Hóa
Facebook Văn Hóa
Thuần Việt (25.11.2021)
Tài Liệu Học Thuyết
Nhân Vị (Ngô Đình Nhu)
BÀN
VỀ PHÁT TRIỂN HẬU CỘNG SẢN
(tiếp theo kỳ trước)
Việt Nam thuộc xã hội Đông Nam Á (Nam Á Tế Á - Lục Địa
và Hải Đảo)
Tức
phía nam của vùng ĐÔNG Á CHÂU (Viễn Đông)
Xã
hội Đông Nam Á gồm có các nước Đài Loan, Nhật Bổn, Triều Tiên …. và Việt Nam bao
quanh đại lục Trung Hoa, nay gọi là vòng đai Ấn Độ.
Trong
hơn gần 5.000 Văn Hiến sáu ngàn năm lịch sử
(?), các quốc gia trong xã hội
này đều đã tiến hóa từ nền văn minh phát sinh trong đất Hán (?)
, lấy Hán
tự làm nền tảng (?) và
phương tiện cho sự phát triển trong các lĩnh vực.
-Theo soạn giả thì cái nhìn
này đúng như vậy, nhưng cần phải xét lại cách dùng Tộc Danh vì: Mảnh đất được gọi
là “Hán” (tức lãnh vực nhà Chu khi xưa) chỉ ở quanh vùng trung lưu con sông
Hoàng Hà.
**HÁN là tên nước như VĂN LANG chứ không phải tộc danh như VIỆT
Về sau do sự xâm lăng của Mông Cổ và Mãn Thanh (là dân ngoại chủng) các
miền đất khác bị cưỡng bách sát nhập bằng chế độ BẠO CHÚA nên không thể nói là
văn minh phát sinh trong đất Hán được; mà phải nói rằng : Văn Minh bắt
nguồn từ đất Giang Nam (phía nam con sông Dương Tử Giang) tức vùng Chiết
Giang, Phúc Kiến, Hồ Nam và VĂN LANG là đất Bách Việt khi xưa mới đúng.
**Ý nghĩa của chữ TRUNG HOA
: NGÔ, SỞ và VĂN LANG là 3 quốc gia được thành lập đầu tiên trên thế giới (2.879BC),
chiếm cứ vùng TRUNG của ĐÔNG Á nên gọi là vùng đất TRUNG HOA, khác với danh từ chánh trị Trung Hoa của Lã Hậu (183BC)
tự đặt cho mình để đi xâm lăng.
Vì thế năm 182BC, trước khi phản công tái chiếm Hồ Nam thì Triệu Đà đặt cho
bọn lãnh đạo Lã Hậu cái tên TÀU (thằng ngố, sức lực chẳng có bao nhiêu mà bày đặt
ra Trung Hoa).
Vợ thằng Ngố là con LÒA (tức mụ XẨM mà ta vẫn dùng)
Nay, Bắc Kinh (năm 2000) và
Đài Loan (năm 2005) khi phổ biến lịch sử vùng Hoa Lục, bằng sách hẳn hoi đều
nói như vậy. Họ còn trưng bày cổ vật để chứng minh là họ có mặt ở vùng này sớm
nhất là nhà HẠ (XIA) vào năm 1.700BC.
Trong khi đó dân nông nghiệp (tức con cháu Lộc Tục) đã có mặt trên mảnh
đất này từ 3.400BC, tức sau trận Đại Hồng Thủy, và lập quốc đánh nhau tơi bời
vào năm 2.879BC (sau 500 năm ổn cư, kinh tế phát triển, sinh sản đông đúc sinh
ra nạn nhân mãn nên lập quốc để đi xâm lăng).
èĐó là nguyên nhân đưa đến việc lập quốc theo chế độ Phân Công.
** HẠ (1.700BC), THƯƠNG (1.500BC), ÂN (1.300BC là dân du-mục gốc Nông
Nghiệp; còn CHU (1046BC) là dân du-mục gốc du mục ở IRAN di tới, chiếm đất cũa
dân nông nghiệp (con cháu ĐẾ NGHI)
Đó là 3 nước Ngô, Sở và Việt – lúc đó chưa có HÁN. Triều đại nhà Hán do
Lưu Bang thành lập vào năm 206BC. Danh xưng Trung Hoa (trung tâm tinh hoa của
vũ trụ) do bà Lã Hậu (nhiếp chính=cướp quyền của con) đẻ ra để đẩy phe chống đối
đánh nước nam Việt của Triệu Đà.
Cuộc xâm lăng của Tây phương gây ra nhiều sự thay đổi,
bởi vì đứng trước hiểm họa chung phản ứng của mỗi dân tộc mỗi khác. Do đó mỗi
dân tộc, tùy theo sự nắm được hay không những cơ hội đưa đến cho mình, đã đi
theo những con đường càng ngày càng khác nhau, dẫn dắt đến sự cách biệt mà
chúng ta nhận thấy ngày nay.
Trước thời kỳ đó, tất cả các
quốc gia trong xã hội Đông Á kể trên đều tin tưởng và bảo vệ những giá trị như
nhau trên các lĩnh vực chính trị, văn hóa và tôn giáo.
Tất cả đều áp dụng đường lối chính trị quân chủ chuyên chế. Tất cả đều
thừa nhận như là một di sản chung các sáng tác bằng Hán văn.
Nền mỹ thuật của tất cả các quốc gia đều phát triển theo những tiêu chuẩn
chung. Tất cả các quốc gia đều tin tưởng vào Phật giáo và Lão giáo, lấy giáo
điều của Khổng Mạnh làm mực thước cấu tạo xã hội.
è Phát minh khoa học năm 2003 đã chứng minh là nhận xét này không hẳn
đúng như thế.
Lời bàn của soạn giả:
Cái nhìn này chỉ đúng với tư duy nô dịch trong thời bưng bít tông tin mà
thôi; nay là năm 2015 khoa học tiến nên cái nhìn nó trung thực hơn. Lúc đó cái
gọi là “Hán văn” là chữ viết chung trong thế giới Đông Nam Á, chứ không phải là
chữ riêng của người Tàu; giống như tiếng Anh ngày hôm nay vậy.
èDân Mỹ và dân Ấn Độ hay Gia Nã Đại, Úc Châu dùng Anh Ngữ làm quốc ngữ của
họ mà họ đâu có nô lệ Anh Quốc đâu.
²
Nguyên nhân của
tình trạng lúc bấy giờ được chia làm 2 địa dư và lịch sử.
Địa dư:
Trong một thời kỳ
mà phương tiện giao thông nghèo nàn, việc giáp ranh với nhau là một yếu tố đè nặng
lên sự bang giao của hai nước. Dân tộc chúng ta đã rút nhiều kinh nghiệm xương
máu về tình trạng ấy.
Ngày nay nhiều
phát minh khoa học, dù cho có là cho vạn lý và trùng dương đi chăng nữa thì sự
cách biệt này không còn là những trở lực không vượt nổi như khi xưa.
Tuy nhiên ảnh hưởng
sự lân cận giữa các quốc gia, nếu có giảm đi vẫn còn là một yếu tố quan trọng
trong sự giao hảo giữa hai nước. Và trong sự chọn lựa đường lối của chúng ta
sau này, sự chúng ta ở sát nách Trung Hoa là một yếu tố vô cùng thiết yếu.
Lời bàn của soạn giả:
Điều này chỉ đúng khi toàn thể dân chúng Hoa Lục bị cai trị bởi chế độ BẠO
CHÚA – nay ta gọi là Quân Phiệt (facisme).
Ngày hôm nay (2015), thế giới đã đổi khác rồi.
Nếu nhà cầm quyền Bắc Kinh dùng võ lực để bành trướng thì Hoa Lục sẽ vỡ
ra như Liên Sô vậy.
Hãy coi Hong Kong đòi trự trị và tự quản nè, mãnh đất này ngày xưa thuộc
Việt Vương câu Tiễn (tức vùng Lạc Việt), bị sát nhập dưới thời nhà NGUYÊN
(1271-1368).
Sau Nguyên (quân ngoại chủng Mông Cổ) bị quân Ngô đánh bại, và quân Ngô
(tức nước Ngô ngày xưa, nay là Chiết Giang, Thiều Chân Tây Giang và Hồ Nam) thống
trị toàn thể nước Tàu lập ra Triều Đại nhà MINH (1368-1644); vì thế cho nên Quốc
Sư Nguyễn Trãi mới lấy tiêu đề là: Bình NGÔ đại cáo; chứ không phải bình MINH đại
cáo.
Lịch sử:
Ngoài những
nguyên nhân địa dư như trên, nhiều sự kiện lịch sử đã cấu tạo những dây liên hệ
giữa Hoa Lục và các quốc gia cùng trong một xã hội Đông Á, như chúng ta đã thấy
ở trên.
Với thời gian,
các dây liên hệ về tôn giáo, văn hóa và xã hội đã ăn sâu vào tiềm thức của các
dân tộc cùng một xã hội. Vì thế cho nên không có một lầm lẫn nào to tát cho bằng
sự tin tưởng rằng trong một vài thế hệ hay một vài thế kỷ có thể thay đổi được
tất cả tư tưởng của một dân tộc.
Nói một cách khác nếu mỗi người Việt Nam đều đồng một ý
chí không muốn mình thuộc vào xã hội Đông Á nữa, thì chúng ta cũng không thể thực
hiện ý chí đó ngay được, vì bởi ý thức thuộc vào xã hội Đông Á đã ăn sâu vào
các tế bào của chúng ta và thoát khỏi tầm chủ động của lý trí chúng ta.
Ø Đó là trường
hợp tất cả chúng ta đều cùng một ý chí, huống hồ là nếu chỉ có một nhóm người
quyết tâm làm việc đó và nhứt quyết cưỡng bách mọi người phải theo họ, lại càng
là một trù tính không căn bản và không tương lai.
Lời bàn của soạn giả: Có lẽ tác giả muốn nói việc quyết tâm ép buộc của đảng Việt Cộng để
thay đổi tư duy là phá họai Văn Hóa và quốc hồn quốc tùy dân tộc.
Ngược lại, ông ta chủ trương phải khôi phục lại những giá trị cổ truyền
để kết hợp dân tộc, và đồng thời phải thức thời, phải cập nhật hóa với tinh thần
cầu tiến thì mới bảo vệ được độc lập mà ông cho là: Độc Lập thống nhất không
quan trọng bằng Phát Triển con người.
Nói rằng Độc Lập không quan
trọng bằng Phát Triển là không đúng, vì không có Tự Chủ thì làm sao phát triển
được? … Phải nói rằng: Tự Chủ (khi đó đồng nghiã với độc lập) là phương tiện cần
phải có thì mới phát triển được.
Nhưng trong bối cảnh lịch sử lúc đó không thể nói như vậy được, vì nói
ra thì bạn cũng như thù sẽ chê là cực đoan, bảo thủ nên ông chỉ chĩa mũi dùi
vào việc Cộng Sản Hóa Tư Duy là điều hoang-tưởng và mê-muội, nên ông viết để bạn
ủng hộ và thù nên xét lại việc làm của mình…. Người đọc nên thông cảm; lúc đó
muốn cho bài viết được phổ biến thì
phải “lách”
Còn một điều mà tác giả không biết là dân tộc Việt đã có một nền văn hóa
truyền thống lâu đời là: VĂN HÓA LẠC HỒNG và KHÍ PHÁCH RỒNG TIÊN (600BC) đã bị MÃ VIỆN (43BC), TRƯƠNG PHỤ(1400AD), phong
trào NÔM NA LÀ CHA MÁCH QUÉ của Gia Long (1802AD) nền giáo dục VỌNG NGOẠI VONG
NÔ của Thực Dân Pháp (1865-1945) và của Việt Cộng (1945-nay 2021) phá sạch rồi,
nay chúng ta cần phải khôi phục lại HỒN
VIỆT và TÂM VIỆT trong con người Việt
²
Nhiều phúc trình thí nghiệm khoa học đã xác nhận rằng
các cuộc tẩy não có thể cùng lắm là thay đổi thành kiến chúng ta được chớ không
di chuyển được bản chất của chúng ta.
Hơn thế nữa, nếu
bằng một phép nhiệm mầu gì chúng ta có thể cắt được nước Việt Nam tách ra khỏi
Châu Á và mang đặt nó cùng với cả dân tộc chúng ta vào một nơi khác của địa cầu
thì chúng ta cũng sẽ suy nghĩ và phản ứng như những người trong xã hội Đông
Á.
Trên đây chúng
ta đã có đề cập đến việc Tây phương hóa, là một điều khẩn yếu cho chúng ta. Nay
chúng ta vừa thấy rằng dầu có muốn đi nữa chúng ta cũng không thể thoát ra khỏi
khung cảnh hình thức và vô hình của xã hội Đông Á.
Như vậy việc Tây
phương hóa và việc thuộc vào xã hội Đông Á có mâu thuẫn nhau không? Muốn trả lời được câu hỏi này một cách tường
tận, ta cần biết trước tiên Tây phuơng hóa là như thế nào, nội dung của một phần
dưới đây.
TÂY PHƯƠNG HÓA:Khoa học thực dụng và khoa học nhân văn Việt tộc
Nay ta cứ nhận rằng
việc Tây phương hóa là việc thâu nhận các kỹ thuật, lối suy luận và nhiều tập
quán của Âu Mỹ, không làm cho chúng ta mất được bản chất của dân tộc. Như vậy
việc mâu thuẫn nêu trên sẽ là không có.
Một nhận xét
khác càng thuyết minh cho lởi nói quả quyết này. Các dân tộc ở xã hội Tây
phương đều sử dụng một kỹ thuật và tôn sùng một khoa học như nhau. Tất cả đều
có một lối suy luận lấy sự chính xác của lý trí làm nền tảng. Và tất cả đều sống
trong một khuôn khổ ngăn nắp và minh triết như nhau – sự sinh sống và ăn mặc đều
như nhau – thế mà họ vẫn khác nhau ở trong các sáng tác. Như vậy là bản chất dân tộc họ vẫn giữ.
Bản chất dân tộc
của chúng ta sẽ bộc lộ ra trong các sáng tạo của chúng ta, khi nào mà chúng ta
đã chủ động được các phương tiện và phương pháp sáng tạo của Tây phương.
Ø Và đây là mục đích chính của công cuộc Tây phương hóa
mà chúng ta đang theo đuổi.
Biết như thế rồi
chúng ta mới thấy rằng trong công cuộc Tây phương hóa chúng ta cần phải dốc hết
nỗ lực vào công cuộc ấy, không e dè, không rụt rè, không ngần ngại. Biết như thế
rồi chúng ta mới thấy tính cách vô ích của sự nơm nớp lo sợ mất quốc hồn và quốc
túy của một lớp người trước đây ngồi mà cãi nhau năm này qua tháng nọ xem phải
duy tân đến mức nào. Họ thật là những người ngồi nhà mà bàn việc lên tàu xuống
xe phải đứng ngồi làm sao.
Người xưa gọi là cập nhật hóa
bản sắc dân tộc cho ngang tầm thời đại, nó nằm trong danh từ VĂN LANG (Tự Trọng đẻ ra Tự Lực
, Tự Cường) và danh từ VIỆT
là tinh thần Cầu Tiến (vượt mọi khó khăn để thăng tiến bằng người)
Tinh thần Cầu Tiến cần tinh thần Phục Thiện (biết
lắng nghe và có tư duy độc lập).
Có tinh thần Cầu Tiến thì mớ đủ khả năng TỰ LỰC , TỰ CƯỜNG
Biết như thế rồi
chúng ta lại thấy tính cách không thực tế của một nhóm người chủ trương thay đổi
tư tưởng của một dân tộc bằng những phương pháp độc ác và tàn bạo áp dụng cho
vài thế hệ.
Sự họ thất bại là
lẽ dĩ nhiên (VIỆT CỘNG). Nhưng tai hại của họ để lại cho dân tộc sẽ vô cùng khủng khiép, như chúng
ta sẽ thấy sau này, không biết bao giờ mới gỡ hết được.
Lời bàn của soạn giả:
Nếu chúng ta phân tách 2 loại học vấn ra thì chúng ta sẽ nhìn thấy vấn đề
sáng tỏ hơn. Đó là môn học làm người (tức
kẻ sỹ) và môn khoa học thực dụng để kiếm ăn (tức là phát triển ngành Nông,
Công, Thương và Binh theo văn minh khoa học hiện tại, luôn luôn thăng tiến kỹ
thuật). Như vậy Tây phương hóa là theo học văn minh vật chất của Tây phương để
phát triển đất nước, nhưng vẫn giữ được bản sắc dân tộc mà tác giả gọi là giá
trị cổ truyền.
Hồ Quý Ly (1400AD) đã dự trù phát triển đất nước theo hướng cơ khí hóa
như Tây Phương (1650AD), nhưng thất bại vì thiếu phương pháp thực hành…. Ông ta là một khoa học gia đại tài,
nhưng lại là một nhà chánh trị non nên thất bại
²
Việt Nam thuộc vào khối các nước Á Châu vừa thoát khỏi
ách thống trị thực dân đế quốc.
Bắt đầu từ thế kỷ
thứ X (901-1000), các cường quốc trong xã hội Tây phương mới phôi thai.
Dưới sự thúc đẩy
của hoàn cảnh và những biến cố lịch sử phát sinh ra do sự tiếp cận với xã hội Hồi
Giáo, đang thời cường thịnh, các quốc gia mới đã nỗ lực tìm mọi lối thoát khỏi
vòng vây càng ngày càng siết chặt của các đội binh hùng mạnh của các nhà lãnh đạo
Ả Rập.
Từ ngày thoát
thai từ trong sự sụp đổ của văn minh Hy Lạp và La Mã, lần đầu tiên xã hội Tây
phương đụng phải một thử thách vô cùng quan trọng và quyết định sự mất còn cho
nền văn minh vừa chớm nở. Nhưng cùng trong dịp này xã hội Tây phương tỏ ra xứng
đáng với di sản lý trí thừa hưởng của văn minh Hy Lạp - La Mã và sinh lực dồi
dào mà giáo lý Gia Tô hun đúc trong nhiều thế kỷ.
Sức mạnh phi thường
của tín ngưỡng đã nuôi dưỡng và duy trì những nỗ lực cần thiết một cách liên tục
trong nhiều thế kỷ. Mặt khác sự chính xác về lý trí đã hướng dẫn hữu hiệu cái
khối sinh lực to tát trên vào vòng hữu ích và hiệu quả. Nhờ vậy mà xã hội Tây
phương chẳng những đã chiến thắng lần ấy, mà sau này còn vượt nhiều trở lực để
chiếm được ưu thế như chúng ta mục kích ngày nay.
Nhờ những yếu tố trên, người Tây phương đã phát minh
nhiều kỹ thuật tối tân, cải thiện không ngừng phát minh cũ, rèn luyện những khí giới lý trí ngày càng tinh vi để bảo
đảm cho những phát minh tương lai. Sinh lực dồi dào của tín ngưỡng đã
giúp cho họ áp dụng các phát minh trên đến một mức độ ngày càng lên cao, trong
một tầm rộng lớn càng ngày càng bành trướng.
Trong sự vùng
lên đó, xã hội Tây phương đã chẳng những bẻ gãy vòng vây của xã hội Hồi Giáo
đang dồn họ vào phía Tây của đại lục Âu Châu, lại còn chinh phục được thế giới
như chúng ta đều biết. Nguồn gốc của các
đế quốc Tây phương là do sự kiện trên đẻ ra.
Để thoát khỏi sự
bao vây của xã hội Hồi Giáo, người Tây phương đã chế ngự được các kỹ thuật vượt
biển và mang những khí giới mà một nền kỹ thuật tân tiến đã trang bị cho họ để
đi chinh phục các dân tộc kém hơn về kỹ thuật.
Trước tiên, Y
Pha Nho và Bồ Đào Nha mở đầu cuộc chinh phục. Sau đó Anh, Pháp, Hòa Lan, Bỉ đã
nối chân và thay thế hai cường quốc tiền phong khi hai nước này đã mệt mỏi và
suy nhược. Lần lượt các quốc gia trên thế giới không phải thuộc vào xã hội Tây
phương đều bị tấn công, chiến bại, chiếm đóng và chinh phục.
Tùy hoàn cảnh và
tùy mãnh độ cuộc kháng chiến, các dân tộc bị chinh phục hoặc bị tiêu diệt và đất
đai bị biến thành đất đai của người chinh phục như ở Nam và Bắc Mỹ, Úc châu,
Tân Tây Lan, Nam Phi, hoặc biến làm thuộc quốc như Thái Lan, các nước Cận Đông
hay bán thuộc địa như Trung Hoa, hay thuộc địa như Việt Nam. Và hậu quả lưu lại
cho các dân tộc bị chinh phục cũng tùy theo hoàn cảnh riêng mà nhiều hay ít tai
hại.
Ngày nay vấn đề không thành cho những dân tộc đã bị
tiêu diệt. Các nước đã bị làm bán thuộc địa hoặc thuộc địa, khi cởi được ách rồi
còn phải lãnh chịu những hậu quả tuy có khác nhau tùy theo hoàn cảnh địa phương
nhưng đều giống nhau vì bị chi phối bởi những sự kiện lịch sử chung. Các hậu quả
lại khác nhau, tùy theo chế độ đế quốc đã phải chịu đựng.
Hai kiểu đế quốc:
Trong thời kỳ cường
thịnh nhất của Đế quốc chủ nghĩa, các quốc gia không thuộc vào xã hội Tây
phương đều bị thống trị trực tiếp hay gián tiếp bởi hai loại Đế quốc:
1. Đế quốc kiểu người Anh.
2. Đế quốc kiểu người Pháp, Hòa Lan và Bỉ.
Chủ trương Đế quốc của người Anh rất rõ rệt. Họ chia
các lãnh thổ làm hai loại: Loại chiếm đóng di dân và loại chiếm đóng khai thác.
Đối với loại chiếm
đóng di dân thì họ dồn thiểu số người bản xứ vào một nơi và dần dần sự tranh sống
tự nhiên sẽ đào thải. Kẻ chinh phục chiếm lấy đất đai và lập thành những quốc
gia mới, như ở Bắc Mỹ và Úc châu. Nam Mỹ
tuy không thuộc người Anh nhưng lại thuộc vào một chủ trương tương tự (tức xâm lăng tiệm tiến như Tàu Tưởng đang
làm ở đảo Đài Loan)
Đối với loại chiếm đóng khai thác thì chính sách của
Anh lại hoàn toàn trái ngược.
Họ rút kinh nghiệm
sự chiến bại của họ ở Bắc Mỹ – lúc người Mỹ hiện nay đánh đuổi người Anh và
dành độc lập –, và cho rằng nếu họ không loại được người bản xứ thì sớm muộn gì
họ cũng phải có ngày trả lại độc lập cho dân bản xứ.
Quan niệm trên dẫn dắt đến một chính sách dài hạn. Vì
đoán trước có ngày họ phải ra đi nên, để lưu lại được cảm tình với dân bản xứ, họ đã thật tình đào tạo một lớp người có đủ
khả năng để sau này thay thế họ. Đây là một đặc điểm căn bản của chủ nghĩa
Đế quốc Anh đã được chứng minh là rất khôn ngoan và hiệu quả.
²
Đế quốc kiểu người Pháp, Hòa Lan và Bỉ ngược lại không
rõ rệt giữa hai thái độ trên.
Nếu nhiều điều
kiện hợp lại không cho phép họ chủ trương chiếm đóng di dân, thì đồng thời họ
cũng không nghĩ đến ngày phải trả độc lập lại cho dân bản xứ. Các sự kiện xảy
ra sau thế giới Đại Chiến thứ Hai trong các thuộc địa Anh và trong các thuộc địa
Pháp, Hòa-Lan và Bỉ, đều bắt nguồn từ sự khác nhau của hai chính sách nói trên.
Bởi vì không nghĩ đến ngày phải rời khỏi thuộc địa nên
người Pháp, Bỉ và Hòa-Lan không có đào tạo lớp người thay thế họ. Vì vậy cho
nên, khác với các cựu thuộc địa Anh, các cựu thuộc địa Pháp, Hòa Lan và Bỉ, sau
độc lập rồi, đều trải qua nhiều xáo trộn mãnh liệt, chỉ vì thiếu người có khả
năng để thay thế các người ngoại quốc để điều khiển guồng máy quốc gia. Trên
đây là một nhược điểm vô cùng quan trọng mà Việt Nam chúng ta phải mang chịu.
Hậu quả: Nếu sự chúng
ta thiếu người lãnh đạo ở trong lĩnh vực chính trị là do một nguyên nhân không
thể tránh được, phát sinh từ sự mâu thuẫn tự nhiên phải có giữa những người muốn
chinh phục một dân tộc và những người chống lại sự chinh phục đó, thì, trái lại,
sự thiếu người lãnh đạo ở mọi ngành chuyên môn và mọi cấp bậc trong guồng máy
quốc gia lại là hậu quả của một chính sách Đế quốc riêng biệt của người Pháp,
Hòa-Lan và Bỉ.
Thi hành đúng theo chủ nghĩa Đế quốc của họ, chủ trương
của người Pháp là không bao giờ muốn, và cũng không bao giờ thực hiện, việc đào
tạo những người bản xứ có đủ khả năng để làm những công việc mà người Pháp đang
làm và để, trong tương lai, thay thế họ.
Thoảng như có những
người bản xứ, nhờ những nỗ lực riêng, mà thâu thập được một sự đào tạo lý thuyết
ngang hàng với các nhân viên cao cấp của họ, thì không bao giờ người Pháp lại
giúp cho những người này những hoàn cảnh thuận lợi để họ có thể thâu thập những
kinh nghiệm lãnh đạo cần thiết (Trường hợp học giả Phạm quỳnh và Nguyễn Văn
Vĩnh là một điển hình. Hoặc cầm chân, hoặc tiêu diệt).
Bởi vì những
kinh nghiệm lãnh đạo thực tế như vậy mới đào tạo được những người lãnh đạo xứng
danh, nên ngày nay khi chúng ta đã dành được độc lập rồi thì chúng ta không đủ
người để điều khiển guồng máy các quốc gia. Trong khi đó chúng ta chẳng những cần
người để cho guồng máy chạy đều, mà hơn nữa, vì những hoàn cảnh như chúng ta sẽ
thấy dưới đây là chúng ta rất cần người để cho máy chạy hết tốc độ.
Thiểu số người trước kia đã được người Pháp dùng làm cộng
sự viên trong nhiều năm, ngày nay với các kinh nghiệm đã thâu nhập được, không
thể thay thế người Pháp trong nhiệm vụ của những người này hay sao?
Không thể được,
vì, trừ ra một số hết sức ít,
với khả năng vượt hẳn mức thường, đã bẻ gẫy được vòng kìm hãm của người Pháp để
tự học hỏi thêm đến trình độ chế ngự được ngành hoạt động của mình, còn lại là những nguời mang nặng các
khuyết điểm dưới đây:
1.- Những kiến
thức và kinh nghiệm của họ đều rời rạc và vặt vãnh. Họ không có óc tổng hợp để
đặt những kinh nghiệm và kiến thức vụn vặt kia vào một hệ thống chung hầu nhận
thấy sự liên hệ giữa các kinh nghiệm, và tìm thấy các nguyên tắc chung chi phối
các truờng hợp đặc biệt mà họ thường gặp phải. Vì vậy mà hành động của họ chỉ
có hiệu quả trong các trách nhiệm sơ đẳng.
Vượt lên quá tầm một ít là sự thất bại đến ngay vì như câu tục ngữ thường
nói, họ không nhìn thấy rừng mà chỉ nhìn thấy tìm gốc cây “Phụ trách từng gốc
cây thì được, nhưng không phụ trách toàn thể khu rừng được”. Do đó những người
này không làm sao vượt khỏi phạm vi nhỏ hẹp trong đó lâu nay họ vẫn quen làm việc
để lên đến tầm quan trọng cần có khi sự việc không còn liên quan đến một lĩnh vực
nhỏ nữa mà đã liên quan đến vận mạng của một quốc gia.
Nếu giao cho họ những trách nhiệm quốc gia, đương nhiên
họ sẽ làm giảm giá trách nhiệm đó bằng cách đưa nó tuột xuống ngang hàng một
trách nhiệm khu vực nhỏ hẹp, tương xứng với quan niệm nhỏ hẹp đã ăn sâu vào cân
não của họ.
(Lời soạn giả: Vì lý do họ chỉ là người
thừa hành nên không có óc sáng tạo và Tư Duy Độc lập).
Với một lối nhìn như vậy và với sự bất lực quan niệm
các vấn đề một cách rộng lớn tương xứng với nhu cầu của hoàn cảnh, sự thất bại
của họ cũng đã cầm chắc. Đằng này ngoài khuyết điểm ấy họ còn mang nặng nhiều
điều hư hỏng khác. (Lời soạn giả: Óc
tự tôn đưa đến tinh thần tự kiêu không hợp tác với ai được. Đó là mẫu người mà
Thực Dân Pháp muốn đào tạo để khúm-núm với cấp trên và nạt-nộ cấp dưới)
2.- Người Pháp
đã chủ tâm đào luyện, cho những người họ dùng, những kiến thức và khả năng
tương xứng với công dụng mà họ đòi hỏi.
Ngoài ra, hoạt động và sinh sống nhiều năm trong không
khí và tập quán mà người Pháp cố tình tạo ra cho những người đã được họ đặt vào
một công dụng nhất định, những người này lần lần đã tự tạo một tâm lý vô trách nhiệm. Làm việc chỉ vì sợ hình phạt chớ không
phải vì tự thấy trách nhiệm phải làm cho được việc. Tâm lý kém trưởng thành của
người làm tay sai đó chính là người Pháp tạo ra.
Tình thế hỗn loạn trong xã hội của chúng ta do chính sự
chinh phục của họ gây nên, đã tạo ra cho lớp người được họ rèn luyện để làm
công cụ và sau này đương nhiên trở thành lớp người “nhân tài dỏm” trong xã hội
chúng ta.
Xưa kia, khuôn khổ Khổng Mạnh của chúng ta, tuy đã thất
bại trong nhiều lĩnh vực, nhưng ít ra cũng đã đào luyện được lớp người thấm nhuần
đạo người quân tử: Có tâm lý của nguời trưởng thành và tinh thần trách nhiệm của
người thọ lãnh sứ mạng.
Tất cả các truyền
thống tốt đẹp đó đã sụp đổ cùng một lúc với uy quyền chính trị của xã hội Việt
Nam. Thiết tưởng, nếu người Pháp có thái
độ “không chen vào”, thì nội sự chiến bại của xã hội Việt Nam trước một kẻ xâm
lăng có một nền văn minh hùng mạnh hơn cũng đủ mang đến sự sụp đổ của những giá
trị cổ truyền. Đàng này, chính họ với chủ nghĩa Đế quốc mà họ chủ trương, đã
thúc đẩy sự sụp đổ nói trên để phục vụ quyền lợi chính trị của họ.
Và tâm lý hiện tại của số người mà chúng ta sẽ đề cập đến
trên đây vừa là hậu quả đuơng nhiên của một hoàn cảnh lịch sử vừa là kết quả của
một chính sách vô cùng tai hại cho dân tộc. Trách nhiệm giao phó cho số người
này phải tương xứng với “Tâm lý người đi thuyền” của họ.
Xưa nay họ đã
quen lối không bao giờ chịu chú trọng đến hướng đi và số phận của con thuyền,
thì không thể nào phụ trách được việc lèo, lái và buồm, máy của con thuyền.
Trách nhiệm này phải giao cho số người đã tự tạo tâm lý thuyền trưởng, trong
khi chờ đợi chúng ta đào tạo lớp người mới có những đức tính mà nhiệm vụ đòi hỏi.
3.- Xưa kia, dưới
thời quân chủ chuyên chế, guồng máy quốc gia xây dựng trên chế độ quan trường
và chế độ này lại lấy cái học khoa cử làm nền tảng.
Xét trong lịch sử
của Việt Nam, cũng như của Trung Hoa, guồng máy quan trường đã qua nhiều thời kỳ
thịnh vượng và để lại nhiều thành tích xứng đáng. Sở dĩ được như thế là vì, chế độ quan trường,
tuy tự nó hàm chứa nhiều tệ đoan cố hữu, nhưng một khi nằm vào trong khuôn khổ
quân chủ chuyên chế thì đã bị sự chế ngự tự nhiên và tương phối của những bộ phận
khác trong cơ cấu quốc gia, nên các tệ đoan này đương nhiên bị hạn chế và không
bành trướng được, cũng như mỗi bánh xe trong một bộ máy đồng hồ đều được sự chế
ngự tương phối của các bánh xe chung quanh, nên tất cả đều chuyển động đồng thời
và điều hòa.
Nhưng tất cả
tình trạng mực thước đó đều mất nếu chúng ta tách rời một bánh xe ra
ngoài. Trường hợp của chế độ quan trường
của chúng ta cũng tương tự như vậy. Khi còn là một bộ phận của chế độ quân chủ
chuyên chế, những cái tệ đoan của quan trường không phát triển được nhờ quyền
hành rất rộng và hình phạt cấp thời của nhà vua.
Khi người Pháp đến,
chế độ quan trường được giữ lại, vì một sự tính toán khôn khéo, nhưng không còn
có những sự chế ngự tự nhiên như xưa nữa; nên các nhược điểm của quan trường
đương nhiên nẩy nở và sự tham nhũng, hà hiếp dân chúng đã lên đến mức độ tột
cùng.
Người Pháp không
có lý do gì mà tẩy trừ tình trạng đó, vì chủ trương của họ là để cho những người
họ dùng không được lòng dân chúng. Hơn nữa quan lại làm hại dân chúng không phải
là mối lo âu của chế độ thực dân.
Vì vậy cho nên,
tính cách quan liêu, phục tùng hèn hạ kẻ trên, và hà hiếp khinh miệt kẻ dưới là
nhược điểm không thể cởi bỏ được của lớp người tai mắt (có địa vị) trong thời kỳ
thực dân.
Trong khi đó, như chúng ta sẽ thấy sau
này, công cuộc phát triển dân tộc của chúng ta trong giai đoạn này, đòi hỏi ở
những người có trách nhiệm phải có đủ khả năng đến với dân, đi với dân huy động
được đại quần chúng, lâu nay bị mê man trong giấc ngủ yên thân, để đưa họ dấn
thân mạnh bạo và nhanh chóng vào con đường tiến bộ.
Sau này chúng ta
sẽ thấy rõ công cuộc phát triển dân tộc có nghĩa là thực hiện những mục tiêu
gì. Nay cần biết rằng, phát triển dân tộc là một công cuộc hết sức khích động
cho người tham dự nhưng lại đòi hỏi thật nhiều cố gắng liên tục và những hy
sinh lớn lao. Vì vậy mà đại quần chúng sẽ chóng mỏi mệt và chán ngán.
-----------------------------------------



0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil