T59 ngày 02/12/2021
LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
T59 ngày 02/12/2021
Ø
T59a : Vong
Nô/Gia Long xin làm Nô Lệ
Ø
T59b : Việt Lực
– Xây dựng lực lượng dân tộc
---------------------------
T59(a) – Vong Nô
Tình Nguyện
Facebook Văn Hóa Thuần Việt (02.12.2021)
soạn giả Hoàng Đức Phương
(tiếp theo kỳ trước)
ĐẾ CHẾ GIA LONG
Ân Nhân hay Tội Đồ của dân Việt ?
Lưu ý: Khi luận bàn về lịch sử thì chúng ta nên:
1)- Đặt quyền lợi của dân tộc là cứu cánh
(mục tiêu tối hậu
2)- Đất nước thuộc sở hữu của toàn dân chứ
không phải là tài xn của phe nhóm
3)- Đặt hạnh phúc của toàn dân lên hàng đầu,
do đó việc tiên quyết là Thống Nhất lòng dân để xây dựng Việt Lực bảo vệ nền tự
chủ chứ không phải thống nhất lãnh thổ để áp bức người dân, như Thực Dân Pháp
thống nhất Việt Miên Lào để bóc lột cả 3 dân tộc
Ø Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân (Bình Ngô Đại Cáo - Nguyễn Trãi)
4)- Việc bình công luận tội dành cho quan
tòa có khả năng kết tội hay ghi công để ngắm cho vui, cho hả giận; cho minh bạch;
vì người chết không thể đội mồ lên biện hộ cho mình được.
5)- Chúng ta chỉ cần phán đoán đúng sai,
phải trái theo cái nhìn cá nhân để làm vốn trong việc đưa ra đề án giải quyết vấn
nạn đương thời. Còn đúng hay sai là do thành quả sau khi áp dụng đề án đưa ra.
·
Ai
không đồng ý với phương thức làm vuệc này thì xin đề ra phương pháp làm việc
khác để mọi người đóng góp;
------------------------------------------
TINH THẦN VONG NÔ CỦA GIA LONG.
Bằng
chứng là: XIN TÀU PHONG VƯƠNG HIỆU và QUỐC HIỆU
RẰNG :
Sứ giả sang kể tội phạm thượng của tay coi trời bằng vung nên dám cả gan
đánh quân Thiên Triều, và tự phong chức Đế Hiệu Quang Trung và tự ý bỏ lệ cống
phẩm như nhà Lê.
Vì thất lễ như vậy nên đã bị trời quật chết, và Nhà VUA của hạ thần đã
giành lại giang sơn nên nay đem cống phẩm sang trình bày biến cố và kính biếu
Thiên Triều để xin phong vương với :
- Niên hiệu
GIA LONG, với ý nghĩa là vua của hạ thần khởi binh từ Gia Định và
thành công ở Thăng Long
- Quốc Hiệu
là NAM VIỆT (với ngụ ý là nước của dân Bách Việt dưới thời Triệu Đà
từ phía nam con sông Dương Tử tới đèo Hải Vân với ý nghĩa là : Phía Nam
con sông Dương Tử là đất của dân BÁCH VIỆT).
Ø Nay, rập đầu kính xin Thiên Triều chấp nhận
(đoạn văn này
trích ở cuốn lịch sử Ngoại Giao Việt Nam)
--------------------------------------
THÀNH QUẢ KHẤU TẤU :
Càn Long đồng ý
ban cho niên hiệu là GIA LONG, nhưng về Quốc Hiệu thì ông ban cho danh xưng VIỆT NAM ;
có nghĩa là người Việt ở phương Nam thì Trẫm ban cho Chư Hầu, còn người Việt ở
phương Bắc thì Trẫm quản trị lấy.
Vì khi trước Hoàng Đế Càn Long có hứa gả Công Chúa cho Hoàng Đế Quang Trung
để đem văn hóa Trung Thổ giảng dạy cho dân Việt theo lời yêu câu của Hoàng Đế
nước Đại Nam, đồng thời cho Quảng Đông làm của hồi môn ; nhưng Hoàng Đế
Quang Trung đột quỵ nên chuyện này bỏ đi….
(đoạn văn này
trích ở cuốn lịch sử Ngoại Giao Việt Nam)
Đi sâu vào vấn đề
thì Hoàng Đế Quang Trung muốn dân Bách Việt thoát vòng nô lệ nhà Thanh nên Càn
Long mới dùng tình nghĩa để bảo vệ thuộc địa. Nên nhớ nhà THANH không phải là
người TÀU. Khi trước là dân Du Mục (gốc nông nghiệp), sau đó truy đuổi bởi dân
Du Mục từ IRAN di qua (1.500BC) nên chạy xuống phía nam chung sống vói dân nông
nghiệp ở đó (tục gọi là con cháu Đế Nghi) và thành lập nhà Thương, sau đổi
thành nhà Ân (1.300BC) với luật lệ chung sống hòa bình nên quốc gia phát triển,
dân chúng yên vui trong cuộ sống bình đắng sác tộc và hội nhập văn hóa
Đến năm 1.046BC
thì bị nhà CHU truy kích và tận diệt với phong trào KHỬ TỊCH (tức tận diệt gốc
gác thổ dân nên họ phải chạy qua Mỹ là tổ tiên của dân da đỏ ngày hom nay).
-
Coi huấn thị của Hoàng Đế Quang Trung với Ngô Thì Nhiệm
trước khi xuất quân ở đèo Tam Điệp thì rõ
ö
GIA LONG XIN LÀM NÔ LỆ TÀU :
RẰNG :
Từ ngày lập quốc
cho đến thời nhà Tây Sơn (2.879BC-1802AD) thì nước ta vì yếu nên chấp nhận
vua Tàu phong VƯƠNG để bảo vệ nền độc lập; nhưng niên hiệu và quốc hiệu
vua ta tự chọn lấy cho hợp với đường lối chánh trị như : VĂN LANG, BÁCH VIỆT,
ÂU LẠC, NAM VIỆT, ĐẠI CỒ VIỆT, ĐẠI VIỆT, ĐẠI NAM hay ĐẠI NGU … Còn niên hiệu
thì cũng vậy.
Ø Xin Vương Hiệu và Quốc Hiệu chứng tỏ nước
ta là một tỉnh tự trị của nước TÀU. Chứng tỏ tinh thần khiếp nhược ngoại bang
Hiểu thâm ý của sứ giả muốn xin lại Quảng Đông như đã hứa nên
Hoàng Đế CÀN LONG chấp nhận cho niên hiệu
Gia Long (ngụ ý là tiểu nhân đắc chí tiếu hi-hi ; chỉ biết hận thù chứ
không biết dùng nhân nghĩa để xây dựng xã hội hài hòa cho dân được nhờ).
Còn Quốc Hiệu thì ông phế cho chữ VIỆT NAM ; có nghĩa là dân
Bách Việt ở phương nam TRẪM cho TỰ TRỊ, còn dân Bách Việt ở phương Bắc (U Việt,
Âu Việt, Lạc Việt, Mân Việt, Ngô Việt và Bách Việt) thuộc quyền cai trị của TRẪM
Qua việc xin phong Quốc Hiệu và Vương Hiệu thì ta đã thấy Gia Long
hạ thấp mình tới đâu rồi ; vì ông ta đã chun vào thòng lọng của Tây Phương
nên đeo thêm cái thòng lọng của Bắc Kinh với hy vọng thoát hiểm với chánh sách
ĐU DÂY.
Chánh sách ĐU Dây là 1 cổ 2 tròng nó hoàn toàn khác với chánh sách
TRUNG LẬP để hưởng lợi của các phe muốn mình giúp đỡ.
------------------------------
NHẮC LẠI NGUỒN GỐC NƯỚC BÁCH VIỆT
3.400BC:Nước
biển rút xuống bằng mực nước ngày hôm nay, dân cư nông nghiệp hồi hương theo
song về để cày cấy
Con cháu Đế Nghi theo triền sông Hoàng Hà, nhưng vào năm 1.046BC bọn
nhà Chu là dân Du Mục gốc Du Mục từ IRAN di qua đánh giết con cháu Đế Nghi, nhà
Hạ, nhà Thương và nhà Ân. Hóm người này chạy qua Mỹ tỵ nạn diệt chủng, là tổ
tiên người da đỏ ngày nay.
Khi nước dâng thì dân nông nghiệp di vào dãy núi Hy Mã Lạp Sơn, vì
có đất canh tác nên học tiếp tục nghề nông.
Một
nhóm di lên phía Bắc chỉ có cánh đồng cỏ (thảo nguyên , STEPPES) nên chuyển
sang chăn nuôi và trở thành dân Du Mục gốc Nông Nghiệp. Nhóm này chung sống hòa
bình với con cháu đế Nghi và có danh xưng là nhà Hạ (1.700BC– 1.500BC), nhà
Thương (1.500BC-1.300BC), sau đến nhà Z-n thì 2 bên mới hiểu nhau qua bút đàm
và lập r quố gia chung sống hòa bình.
·
Trong
khi đó, phía nam sông Dương Tử là con cháu Lộc Tục đã lập thành 3 nước đánh
nhau tư 2.879BC là: Nước Ngô, cương vực giữa 2 con sông Dương Tử (chảy ra Thượng
Hải) và Tây Giang (chảy ra Hương cảng –Hong Kong), nước Việt (Văn Lang) từ sông
Tây Giang đến đèo Hải Vân
Hai nước Ngô và
Việt đánh nhau hoài, đợi đến #600BC Lãng Vưng vùng Lạc Việt (Quảng Đông) tên là
Câu Tiễn giết Ngô Phù Sai rồi sát nhập 2 nước Ngô Việt làm một với danh xưng BÁCH
VIỆT thì hận thù mới được giải tỏa.
Vào khoảng 280BC
thì Nhâm Ngao và Thục Phán phá thế liên kết này thành 3 vùng tự trị. Sau đó Thục
Phản giết vua Hùng thứ 18 để thành nước Âu Lạc. Cuối cùng Triệu Đà (kế thừa
Nhâm Ngao) giết Thục Phán để thống nhất đất nước và lòng dân nên đổi Quốc Hiệu
thành NAM VIỆT (coi sách BẠCH HÓA chuyện Rồng Tiên thì rõ khúc lịch sử này) –
trích trong cuốn lịch sử Ngoại Giao với nước TÀU.
-------------BẢN ĐỒ HỒI CƯ SAU ĐẠI HỒNG THỦY 3.400BC
Dân nông nghiệp theo ven
sông để canh tác : Sông Hoàng Hà, sông Dương Tử, sông Tây Giang, sông Hồng
Hà, sông MÃ và sống Cửu Long
Dân Sở, Ngô, Việt, Chàm và Khmer đều là sắc
dân nông nghiệp.
Ngô Sở Việt lập quố vào
năm 2.879BC
Dân Chàm chánh thứ lập quốcvào
192AD, nhưng trước đó cư dân ở Quy Nhơn, Qung Nam và Quảng Ngãi dã thành lập
bing đội đ-« giữ vùng ven biên chống Mã Viện ổ quân vào đánh chiêÝn khu
Lâm Ấp (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên vào næm 40BC
T59(b): Xây dựng Việt
Lực
Facebook Văn Hóa Thuần Việt (02.12.202
Tài liệu Học Thuyết Nhân Vị (Ngô Đình Nhu)
Bàn về THUẬT LÃNH ĐẠO
NGUỒN : Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chính đề VN –
TÙNG CHÂU PHỔ BIẾN
Can
Lao Nhan Vi / Ngo Dinh Nhu
Vạn sự khởi đầu nan:
Nếu
những người có trách nhiệm không
thương mến nhân dân và không xem nhân dân là trọng, thì không làm sao mà nhân
dân bằng lòng chịu đựng mệt mỏi và hy sinh để cùng tiến bước với người dẫn đạo.
Những
biện pháp độc tài và cưỡng bách nếu có áp dụng được thì những hiệu quả nhất thời không thể bồi đắp được
những hậu quả tai hại lâu dài vừa
cho người áp dụng vừa cho người phải chịu đựng.
Sau này chúng ta sẽ phân biệt sự mị dân với sự hướng dẫn
dân vào một kỷ luật chung, điều kiện thiết yếu để nắm thắng lợi trong công cuộc
phát triển.
Vì vậy
mà nếu người có trách nhiệm không huy động
được dân chúng, thì sự thất bại nắm chắc trong tay.
Và cố nhiên những
người huy động được dân chúng không phải là những người hà hiếp và khinh miệt họ
cũng không phải là những người nịnh bợ và sợ sệt họ.
Tóm lại cho đoạn này chúng ta thấy rằng,
chính sách Đế quốc kiểu Pháp, Hòa Lan và Bỉ đã lưu lại cho các dân tộc bị trị một
hậu quả rất là tai hại:
Sau khi
độc lập rồi, sự thiếu người lãnh đạo trong các ngành là một trở lực vô cùng to
tát cho công cuộc phát triển dân tộc.
Nhưng
đó không phải là hậu quả duy nhất. Xem lại lịch sử của các công cuộc chinh phục
của Tây phương, chúng ta nhận thấy rằng khi bị tấn công, các dân tộc đều ý thức
ngay tình thế nghiêm trọng và sự cần thiết phải vận dụng lực lượng quốc gia để
đương đầu với một thử thách quyết định sự sống còn của tập thể. Bản năng sinh tồn
đã đánh thức ngay khả năng tự vệ đối với một vật ngoại lai toan xâm nhập vào nội
bộ cơ thể.
Tuy có nhiều loại phản ứng khác nhau, nhưng nếu ý thức nguy cơ và sự phản ứng tự
vệ đều có như nhau; thì trái lại tính chất của sự phản ứng, cường độ của sự phản
ứng, và hậu quả của sự phản ứng khác nhau đều tùy theo hoàn cảnh lịch sử,
tùy
theo khả năng của người lãnh đạo
trong các lúc quyết liệt ấy, tùy theo tinh thần của dân chúng lúc bị tấn công,
tùy theo phương tiện vận dụng được và tùy theo trình độ dân trí của dân tộc lúc
bị tấn công.
Cố
nhiên là sự nghiệp và hành động của một dân tộc, mặc dầu do một số người quyết
định trong một thời gian nhất định, nhưng cũng do nhiều hoàn cảnh và yếu tố chi
phối.
Nhưng
xét theo kết quả của sự phản ứng của từng dân tộc, chúng ta có thể chia các nước
đã phải đón chịu sự tấn công ghê gớm của Tây phương ra làm bốn loại.
Loại 1 .- Trước hết có những dân tộc như dân tộc Nhật Bổn, phản
ứng có hiệu quả, chặn đứng được sự tấn công, bảo vệ được nền độc lập, và nắm được
cơ hội để tự cường lên đến mức ngang hàng với các cường quốc Âu Mỹ.
Loại 2 .- Kế đó là những dân tộc như dân tộc Trung Hoa, phản ứng
không có hiệu quả, chiến bại trước sự tấn công, nhưng vì hoàn cảnh chính trị
lúc bấy giờ trong trường hợp của Trung Hoa và Thái Lan thì đúng là sự mâu thuẫn
giữa các cường quốc chinh phục cho nên nền độc lập tuy bị sứt mẻ, nhưng chủ quyền
vẫn được bảo tồn. Tuy nhiên, nước đó
cũng bị đặt vào tình trạng bán thuộc địa, do đó không tự cường nổi mà phải kéo
dài tình trạng thấp kém để chờ cơ hội mới.
Loại 3.- Sau đó có những
dân tộc như dân tộc Việt Nam và Nam Dương phản ứng không hiệu quả, chiến bại
trước sự tấn công, độc lập bị mất, chủ quyền bị sụp đổ, nước nhà bị biến thành
thuộc địa, thống trị bởi ngoại quốc.
Việc
lỡ cơ hội đối với chúng ta chẳng những có nghĩa là kéo dài tình trạng thấp kém
lại còn mang ách nô lệ vào thân. Muốn nắm bắt cơ hội mới, trước tiên chúng ta cần
phải tranh giành độc lập.
Loại 4 .- Sau hết có những dân tộc như các bộ lạc Bắc Mỹ, Trung Mỹ và Nam Mỹ, phản ứng không hiệu quả, chiến bại
trước sự tấn công, độc lập bị mất, chủ quyền bị sụp đổ, nước nhà bị thôn tính
và dân tộc bị đồng hóa.
Đối
với các dân tộc sau này, vấn đề không còn nữa và trong lịch sử họ chỉ còn để lại
cái vết mỏng manh của một sự đi qua, đôi khi đánh dấu bằng những phế tích của
vài đền đài.
Ø Nếu ngày nay, chúng ta tự mãn lấy làm may mắn rằng: Số
phận ác nghiệt trên không phải là số phận của chúng ta, thì cũng đừng quên rằng:
Nhân loại ngày nay còn xa lắm mới tiến được đến mức để
cho số phận ác nghiệt trên không phải là số phận của
những dân tộc nhỏ bé như dân tộc của chúng ta.
Lời soạn giả:
Vậy dân Việt phải làm gì để thoát hiểm họa
tiêu vong?
Nếu không phải là xây dựng lại con người hợp với văn
minh điện toán? Do đó mới có chương
trình Nhân văn Việt Tộc để mọi người tham gia, và ai cũng có chỗ đứng tương
xứng với mình cả.
Trong
trình độ tiến hóa của nhân loại ngày nay, sự một dân tộc nhỏ như chúng ta tránh
được hay không số phận khốn khổ ấy là hoàn
toàn tùy thuộc ở sự nỗ lực tranh đấu của chúng ta để tự cứu lấy mình. Và
chính điểm này sẽ đè nặng lên sự lựa chọn
đường lối của chúng ta sau này.
²
Phản ứng của Nhật Bản:
Nước Nhật đã phản
ứng như thế nào để đạt những kết quả mà chúng ta mục kích ngày nay?
Trước hết dân tộc
Nhật có được cái vận may là trong thời kỳ mà vận mạng của quốc gia Nhật, như của
các quốc gia khác trong xã hội Đông Á (như chỉ mành treo chuông việc mất còn chỉ
trong ly tấc), đã may mắn có được có một lớp người lãnh đạo cực kỳ sáng suốt.
Họ nhận thấy
ngay con đường sáng của dân tộc. Những người này, trong một giai đoạn quyết liệt
đã cởi bỏ được cho quốc gia mình tính tự phụ cổ truyền, và có đủ can đảm nhìn
các biến cố với con mắt thiết thực.
Nhờ vậy nên,
trái với các quốc gia đồng thuyền khác, cứ khư khư quấn trùm đầu và quanh mình
một cái tự ái dỏm và mù quáng trong lớp áo kiêu căng; Quốc Gia Nhật Bản đã ý thức
được ba điều tối quan trọng:
1.- Lực lượng xâm lăng hơn hẳn lực lượng kháng chiến
quốc gia về kỹ thuật tổ chức và kỹ thuật võ trang.
2.- Muốn chống lại nổi lực lượng xâm lăng và lâm thời
thắng họ, chỉ có cách duy nhất là chế ngự được kỹ thuật tinh xảo của địch thủ.
3.- Mâu thuẫn nội bộ giữa các cường quốc trong mặt trận
xâm lăng của Tây phương là cơ hội duy nhất để bảo vệ nền độc lập và phát triển
dân tộc.
Óc sáng suốt can
đảm và phi thường của những nhà lãnh đạo Nhật Bản lúc ấy đã cấp thời tìm ra
(ngay khi dân tộc gặp phải nguy cơ trên lần đầu tiên) những biện pháp ứng phó
duy nhất có hiệu quả mà như chúng ta đã thấy ở trên. Trong khi đó thì các nhà
lãnh đạo Nga phải đợi đến vài thế kỷ sau mới tìm ra được và áp dụng phương pháp
này để chiến đấu với các cường quốc Tây Âu.
Học kỹ thuật của
địch thủ để thắng địch thủ, chế ngự kỹ thuật của địch thủ để thắng địch thủ. Các sự kiện trên đây là nguồn gốc của cuộc
cách mạng duy tân của Nhật thời Minh Trị.
Những kỹ thuật của
Tây phương trong mọi lĩnh vực được phân tích học hỏi và áp dụng triệt để. Nhu cầu
cấp thời đã đặt ưu tiên cho lĩnh vực quân sự và chính trị. Lề lối lãnh đạo cổ
truyền theo chế độ quân chủ chuyên chế của xã hội Đông Á đã nhường chỗ cho lý
thuyết chính trị của Tây phương.
Quân đội tập hợp
và võ trang theo thời xưa đã biến thành một quân lực hùng hậu tổ chức võ trang
theo Tây phương. Sau đó các phương pháp
sản xuất kinh tế được duy tân.
Chuyên viên Tây
phương tấp nập, vì quyền lợi cá nhân quyến rũ và nhất là vì mâu thuẫn chính trị
giữa các cường quốc chinh phục nên đã thi nhau đi tìm nơi đầu tư trí tuệ. Nhờ
sáng suốt các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã nắm ngay được cơ hội. Một trăm năm sau một
cơ hội tương tự (ta gọi là thiên thời) mới trở lại lần thứ nhì cho các dân tộc
bị chinh phục như dân tộc Việt Nam (đó là đệ nhị thế chiến, 1939-1945)
Và nhờ biết nắm
bắt được cơ hội ngay lần đó nên họ đã thành công trong công việc đưa dân tộc Nhật
lên hàng tiến bộ như chúng ta thấy ngày nay.
Và cố nhiên là những dân tộc nào lỡ cơ hội thứ nhắt, như trên đã trình
bày, đều còn nằm vào tình trạng như chúng ta ngày nay.
Và cơ hội thứ
nhì sau Thế Giới Đại Chiến lần thứ hai, một trăm năm sau như chúng ta sẽ thấy dưới đây. Và vấn đề hiện tại cho
chúng ta là liệu lần này có nắm lấy được cơ hội không?
Nước Nhật đã
thành công trong công cuộc Tây phương hóa để chống lại người Tây phương. Độc lập
vẫn còn, chủ quyền vẫn nguyên, người Nhật cũng như người Nga đã hoàn toàn chủ động
công cuộc Tây phương hóa của họ. Vì vậy cho nên, không lúc nào có sự gián đoạn
trong việc diễn tiến lịch sử của họ. Điều này tối quan trọng như chúng ta sẽ thấy
dưới đây.
Nói một cách đại
khái là: Một nền văn minh là một toàn bộ gồm những giá trị làm tiêu chuẩn trong
các lĩnh vực của đời sống: kỹ thuật, chính trị, văn hóa, xã hội và nghệ thuật.
Trong cái toàn bộ
đó, các giá trị quân bình lẫn nhau tạo ra một
trạng thái điều hòa. Nếu trạng thái điều hòa động tiến thì nền văn minh
đang hồi phát triển. Nếu trạng thái điều hòa tỉnh chỉ, nền văn minh đến lúc suy
đồi.
Mất
một yếu tố quân bình, hay bị một phần tử ngoại lai xâm nhập, trạng thái điều
hòa sẽ mất và nền văn minh liên hệ sẽ bị đặt vào một tình trạng báo động nguy hiểm. Nếu những phần tử của xã hội liên hệ
không ý thức và phản ứng kịp thời, và mất chủ động con thuyền chung thì nền văn minh sẽ sụp đổ và tan rã, các giá
trị tiêu chuẩn đều bị phá sản. Trái lại nếu những phần tử của xã hội liên hệ ý
thức kịp thời nguy cơ đưa đến và phản ứng hiệu quả, vẫn nắm được chủ động con
thuyền, thì sẽ chế ngự được các cuộc xáo động và đưa nền văn minh đến một trạng
thái điều hòa mới.
Tất cả các dân tộc
như dân tộc Nhật, khi bị sự tấn công của Tây phương, phản ứng hiệu quả bằng
cách chế ngự kỹ thuật Tây phương để làm khí giới chống lại Tây phương, đã thành
công trong công cuộc bảo vệ độc lập và phát triển dân tộc.
Nhưng kỹ thuật
Tây phương lại là một vật ngoại lai được nhập cảng vào trạng thái điều hòa của
nền văn minh Nhật. Và vì vậy cho nên sự thâu nhận kỹ thuật Tây phương làm mất
trạng thái điều hòa nói trên và gây cho xã hội Nhật nhiều chấn động đe dọa các
giá trị tiêu chuẩn cổ truyền.
Nhưng giữa hai thái độ:
-
Một là bảo vệ sự tồn tại của dân tộc với cái giá phải
trả là chịu đựng những chấn động do một vật ngoại lai gây nên.
-
Hai là bảo vệ sự thuần túy của trạng thái điều hòa của
nền văn minh cũ, việc lựa chọn không thành vấn đề.
Bởi vì những người
muốn bảo vệ sự thuần túy của trạng thái điều hòa cũ chắc chắn là sẽ không có
phương tiện và khả năng để làm việc đó; và như vậy chỉ dẫn dắt dân tộc đến chỗ
nô lệ và cùng khốn như dân tộc Việt Nam mà thôi.
Trí sáng suốt của
các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã dạy họ phải chọn thái độ thứ nhất. Tuy nhiên mặc
dù họ thành công trên một phương diện, phương diện phát triển, nhưng họ phải
đương đầu với các chấn động do một vật ngoại lai là kỹ thuật Tây phương đã mang
đến cho xã hội Nhật.
Chúng ta càng
quan niệm rõ rệt hơn sự phá hoại của các chấn động trên nếu chúng ta ý thức rằng
kỹ thuật Tây phương không thể tách rời ra khỏi toàn bộ nền văn minh Tây phương.
Kỹ thuật Tây phương là một bộ phận của toàn bộ trên. Nếu thâu nhận kỹ thuật Tây
phương rồi, thì sớm muộn gì cũng phải thâu nhận lối suy luận của Tây phương để
chế ngự và phát triển kỹ thuật kia. Mà thâu nhận lối suy luận của Tây phương
thì dần dà thâu nhận lối sống của Tây phương, vân vân…
Nghĩa là, tưởng
thâu nhận xong kỹ thuật Tây phương để chống Tây Phương là xong mọi việc , đó là
một lỗi lầm lớn. Bởi vì kỹ thuật Tây Phương mở cửa, nhưng sau kỹ thuật lần hồi
các phần tử của toàn bộ văn minh Tây phương sẽ lần lần do cửa đã mở xâm nhập.
Và sự thật thì chính là tất cả văn minh Tây phương chớ không riêng gì kỹ thuật
Tây phương đã gây cuộc chấn động trong trạng thái điều hòa của các xã hội đã mở
cửa đón kỹ thuật Tây phương để tìm đường sống.
Như vậy dù chúng
ta có mở cửa hay không mở cửa để đón kỹ thuật Tây phương vào, thì sớm muộn gì
văn minh Tây phương cũng sẽ vào nội bộ ta mà gây cuộc chấn động. Chỉ có khác một
điều là, nếu chúng ta không mở cửa thì chúng ta sẽ chết ngay dưới sự tấn công
khốc liệt của các lực lượng Tây phương, và chúng ta không còn chủ động được con
thuyền của chúng ta nữa, như trường hợp Việt Nam.
Nếu chúng ta mở
cửa thì ít ra, mặc dầu tất cả sóng gió nhưng chúng ta vẫn chủ động con thuyền của
chúng ta để có thể đưa nó được đến một trạng thái điều hòa mới. Đó là trường hợp
của Nhật Bản, trong khi và sau khi duy tân xã hội Nhật trải qua nhiều cuộc chấn
động dữ dội mà ảnh hưởng ngày nay vẫn còn.
Nếp sống mới nằm
chồng lên nếp sống cũ, văn minh cũ đã hết tiến, nhưng trạng thái điều hòa của
văn minh mới vẫn chưa ổn định. Nhưng mặc dấu tất cả khuyết điểm đó, mặc dầu tất
cả các cuộc chấn động phát sinh từ cuộc chiến đấu giữa hai nền văn minh, xã hội
Nhật không bao giờ bị gián đoạn trong sự lãnh đạo và lúc nào dân tộc Nhật cũng
chủ động con thuyền của họ. Chỉ một điều kiện này cũng đủ để bảo đảm cho tương
lai.
Lời soạn giả:
Bụt nhà và bụt người ai thiêng hơn ai?
Trường hợp Nhật Bản là họ biết phát huy tinh thần Cầu Tiến để giữ vững nền tự chủ, và tinh thần Tự Trọng để khỏi mất gốc thì mới kết hợp toàn dân được; đúng y
chang Học Thuyết Rồng Tiên đã dạy
con cháu Lạc Long và Âu Cơ. Thiết tưởng chúng ta nên cùng nhau phát huy học
thuyết Rồng Tiên Khai Quốc đển thế hệ trẻ biết đường thoát hiểm. Xin co bài số
06 : Rồng Tiên Khai Quốc trong Link www.nhanvanviettoc.blogspot.com




0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil