T60- Cá tính Gia Long
T60(a) Cá tính Gia Long
Facebook Văn Hóa Thuần Việt (09.12.2021)
soạn giả : Hoàng Đức Phương
CÁ TÍNH NGUYỄN ÁNH, tức Gia Long sau này
THÂN THẾ :
Nguyễn Phúc Ánh là
con chúa NGUYỄN (tự xưng chứ vua Lê không phong chức Chúa cho dòng nhà Nguyễn
Phúc)
Ông ta không có
tên trong danh sách kế thừa gồm 18 người, như vậy ông ta là thường dân.
Năm 13 tuởi bị quân Tây Sơn lùng bắt nên ông chạy trốn, nhưng được người
Tàu nhà Minh ở miền Nam che chở vì họ chịu ân sủng của các Chúa Nguyễn.
Khi lang bang thì
các bản văn vẫn lấy niêu hiệu nhà Lê cho đến khi ông dứt nhà Tạy Sơn thì ông
cũng vứt nhà Lê vào sọt rác.
Do đó ông coi dân Bắc là ngoại chủng vì họ vọng nhà LÊ.
TƯ TƯỞNG :
Ông là con người
thất học nhưng hận thù dai dẳng và quyết tâm giành lại giang sơn với tư tưởng ĐẤT
CỦA CHÚA, LÚA CỦA TRỜI.
Giang sơn là tư hữu
tài sản của dòng họ nhà Nguyễn nên ông coi
dân như kẻ ăn nhờ ở đậu. Quân Tây Sơn là kẻ cướp giang sơn của ông nên ông
muốn cho ngoại bang hay không là quyền của ông.
Nền
giáo dục phá nước hại dân đã được tổ tiên của ông dạy dỗ từ thời NGUYỄN HOÀNG ly khai dạy như vậy nên nó
đã ăn sâu vào não trạng của ông rồi, không thể chữa được. Đây là hậu quả cỉa nền
giáo dục lạc hướng dưới thời vua Lê Thánh Tôn (1460) với quan niệm « ĐẤT CỦA
CHÚA, LÚA CỦA TRỜI » mà chúng ta phải quyết tâm tẩy rửa não trạng nô dịch :
Xóa bỏ tư tưởng phục vụ cho một nhóm người chứ không phải để phục vụ toàn thể
dân tộc
Coi công thần Đào Duy Từ xây chiến lũy Đồng Hới để chặn
quân Trịng nên mới có Triều Nguyễn mà con cháu của ông ta có được cái gì
đâu ? Đúng là vong ân những người đã giúp mình lâp nên nghiệp ĐẾ.
HÀNH ĐỘNG :
Vì tư tưởng vong
ơn người đã giúp mình (tức dân tộc) cộng với quyết tâm trả thù và sự khôn ngoan trong hận thù, nên ông đã
đi nhầm bước : VỘI GIẬN MẤT KHÔN
rưóc voi về dày mả tổ làm dân tộc lầm than và con cháu của ông ta cũng đi tù mọt
gông khi kẻ giúp ông nó đã sửa soạn xong
kế hoạch cướp nước của ông ;
Đúng là HẾT KHÔN DỒN ĐẾN DẠI
Ø Đây là
một điểm mà thế hệ chúng ta nên cân nhắc là : CÓ NÊN NHỜ NGOẠI BANG LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ VIỆT CỘNG rồi dâng nước cho ân
nhân với 4 tốt và 16 chữ vàng không ?
Vì ngoại bang có
khỏe, có khôn thì nó mới giúp mình, sau đó nó sẽ thôn tính mình luôn.
Lúc đầu nó trói
mình bằng những giao ước bất lợi vì nó chưa lên chương trình xâm lược. Sau thời
gia hoàn chỉnh kế sách thì nó thọp cổ mình như lời răn dạy của tiền nhân trong
chuyện Trọng Thủy và Mỵ Châu ; và gần đây là 16 chữ vàng và 4 tốt cùng một
loạt văn kiện bán nước cho Tàu từ Hồ Chí Minh vào năm 1947-1948.
Nay thời cơ tới
thì nó ngang nhiên làm chủ nhân ông trên đất Việt, nhưng bối cảnh lịch sử thế
giới ngày h(ôm nay đã khác, nếu toàn dân quyết tâm đứng lên lôi cổ Việt Cộng xuống
thì chúng ta có thể gỡ nước thế cờ bí này được.
BỐI CẢNH LỊCH SỬ THỜI TRƯƠNG PHÚC LOAN :
RẰNG :
1.
Hai
con buôn chánh trị là Nguyễn Kim (bố vợ) và con rể là Trịnh Kiểm hè nhau vào mới
chống được với nhà Mạc, núp sau khẩu hiệu DIỆT
MẠC PHÙ LÊ ăn khách là do nền Giáo Dục sai nhầm (Đất của Chúa, Lúa của Trời)
của vua LÊ THÁNH TÔN (1460AD), để con cháu của ông chấp nhận thân phận làm vua
bù nhìn để hưởng lộc. Và để bề tôi lũng đoạn hại nước hại dân… Nó khác hẳn với
cái tiên Triều họ coi nhẹ ngôi vua và sẵn sàng ra đi nếu không còn đủ khả năng
để lo việc nước như vua TRẦN PHẾ ĐẾ biết Hồ Quý Ly thoán nghịch, khi quân lính
xin cho lệch diệt HỒ tặc thì ông viết 2 chữ HẠ GIÁP (có nghĩa là buông áo giáp
xuống).
2.
Hay
ông Lý Long Tường dòng dõi nhà Lý, là Thủy Sư Đô Đốc mà âm thầm kéo chiến thuyền
sang tỵ nạn bên Nam Hàn để mặc Trần Thủ Độ sang đoạt quyền hành. Chỉ vì nến
giáo dục dạy là đất nước của toàn dân : Dân vạn đại, vua quan nhất thời với
tinh thần dân chủ phân quyền.
3. Khi thành công thì Nguyễm Kim bị tướng nhà MẠC trá hàng rồi giết chết nên binh quyền vào tay Trịnh Kiểm.
Vì thế nên ông con là NGUYỄN HOÀNG xin vào
trấn thủ miền trong và ra mặt ly khai, bất phục chúa Trịnh nên Trịnh Kiểm không
dám giết vua để lập nên Triều Đại nhà Trịnh ; do đó đất nước chia đôi lòng
dân thù nghịch để phục vụ cho 2 dòng học. Lúc đó Nguyễn Hoàng kiểm soát từ đèo
Ngang (sông Gianh) vào đến Bình Thuận là đất nhà Lê lấy đất của dân Chàm vào
năm 1471 dưới thời HỒNG ĐỨC (niên hệu của vua Lê Thánh Tôn, khi trước thì niên
hiệu là Thuận Thiên -1460-1471, vì ông lên làm vua là do Triều Thần năn nỉ)
4.
Khi
Nguyễn Hoàng qua đời thì có dặn các con là phải
gìn giữ di sản của bố để lại,
vì đây là di sản của dòng họ Nguyễn
Phúc.Ông Nguyễn Hoàng chỉ quản trị được khoảng 7% dân Việt, còn lại là dân CHÀM đã sát nhập vào dân Việt dưới thười
vua Lê Thánh Tôn (1471).
Ø
Dân CHIÊM (CHĂM) là một chủng tộc của nước
CHÀM (CHAMPA)
5.
CHÚA SÃI lên thay thế chăm lo việc nước, phát triển kinh tế, mở
mang giao thông, xây thành đắp lũy để chống quân Trịnh. Nhờ ông Đào Duy Từ vẽ
chiến lũy Đồng Hới nên quân Nguyễn mới cố thủ và dfân Việt chịu tang thương
trong trên 170 năm 2 bên sát hại nhau không thương tiếc để có người đàng Trong
và đàng Ngoài thù hận nhau ngút trời. Để có khả năng phòng vệ thì Chúa Sãi bán
đất cho Tàu và Nhật, mỗi người một đặc khu tự trị theo luật của họ, ngược lại
ho xây cho cảng Phố Hiến (tức Hội An) .
Hai
đặc khu này đã được nhà Tây Sơn thu hồi, giống như thời Cộng Hòa Tổng Thống Ngô
Đình Diệm đã lấy lại 2 đặc khu Saigon và Chợ Lớn trong tay người Tàu.
6.
Các
chúa kế nghiệp, tiếp tục vun bồi mảnh đất đã có và lùa dân CHÀM ở Hoa Anh (Phú
Yên và Khánh Hòa) dân Chiêm Thành (Ninh Thuận và Bình Thuận) vào khai phá mảnh
đất bồi miền nam. Lúc đó thiếu nước ngọt và bị nạn thủy quái và muỗi tấn công
giết hại nên họ trốn vào vùng Nam Bàn (Tây Nguyên) và oán giận nhà Nguyễn nên họ
theo Tây Sơn để lập chiến khu đánh sập Chúa
Nguyễn.. Do đó Nguyễn Ánh trù dập họ , rồi Minh Mạng tiêu diệt luôn nên
họ oán lây sang dân Việt cũng là nạn nhân của Nhà Nguyễn Gia Long
7.
May mắn
là lúc đó bên Tàu nhà Thanh chiếm Hoa Lục nên tàn quân nhà Minh xin chú Nguyễn
cho phép định cư để khai phá đất bồi miền Nam, bắt đầu từ năm 1656 ; Vì thế
cho nên họ mang ơng nhà các Chúa Nguyễn và bao che cho Nguyễn Ánh thoát chết
nhiều lần khi bị quân Tây Sơn lùng bắt. Nơi họ canh tác được gọi là khu MINH
HƯƠNG (Minh Hương là vùng nhà Minh ở, Minh là nguời Ngô ở Thiều Châu)
-------------------------------------------
Xin giới thiệu với quý vị 3
đường dẫn sau đây, và kính mời các vị hiền tài tiếp tay cho chương trình này được
phong phú.
http://nhanvanviettoc.blogspot.com
là nơi lưu trữ tài liệu để soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com
là nơi lưu trữ các bài đã soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm)
từ Tiểu Học đến Trung Học.
Nơi lưu trữ 3 kinh nhật tụng
1.
Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18 tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)
SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ (Đủ Bộ)
https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ
(Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k
SÁCH
VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph
ØKênh Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ
là nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu trữ
vô máy.
¾
T60(b): Luận về Lãnh Đạo
Facebook Văn Hóa Thuần Việt (09.12.2021)
Tái liệu : Học Thuyết Nhân Vị (Ngô Đình Nhu)
KHÓ KHĂN CỦA CÔNG VIỆC LÃNH ĐẠO
(tiếp theo kỳ trước)
NGUỒN : Bách khoa toàn thư
mở Wikipedia
Chính đề VN – TÙNG
CHÂU PHỔ BIẾN
Can Lao Nhan Vi /
Ngo Dinh Nhu
QUY LUẬT TỨC NƯỚC VỠ BỜ
Nếu những người có
trách nhiệm (Nhà Nước,Triều Đình hay chánh quiyền)
không thương mến
nhân dân và không xem nhân dân là trọng,
thì không làm sao mà nhân dân bằng lòng chịu đựng mệt mỏi và hy sinh để cùng tiến
bước với người dẫn đạo, vì sức chịu đựng có hạn nên CÙNG SINH BIẾN.
Những biện pháp độc
tài và cưỡng bách nếu có áp dụng được
thì những hiệu quả nhất thời không thể
nào bù đắp được những hậu quả tai hại lâu dài vừa cho người LÃNH ĐẠO cũng
như cho người CHỊU SỰ LÃNH ĐẠO.
Nghĩa là sự cưỡng bức lao động không công của Việt Cộng cho dù có giải quyết được một vài vấn nạn nhất thời, thì cũng không thể nào bù đắp được những thiệt hại to lớn và lâu dài do chúng để lại…
Chúng ta nên phân biệt : Sự khác biệt giữa mị dân để vượt qua những khó
khăn nhất thời với hướng dẫn người
dân vào một kỷ luật chung để
phát triển con người và đất nước trong thế đứng vững chắc
Kỳ trước chúng ta
đã bàn về việc phản ứng của dân bị trị trước sự xâm lăng bằng cơ khí của dân
Tây Phương là điều tất yếu phải có khi họ
bị dồn vào chân tường.
Nhưng mỗi dân tộc
có hoàn cảnh và sức đề kháng khác nhau nên cách phản ứng của mỗi nước khác nhau
về vân đề bảo vệ Độc Lập và Phát Triển Cơ Khí hóa đất nước.
Vì thế nên chúng ta phân tích việc đã qua để rút kinh nghiệm cho việc thoát vòng nô lệ hiện nay của chúng ta.
NƯỚC NHẬT:
Chúng ta học được
gì ở họ?
Chúng ta đã bàn đến
nước NHẬT họ có phản ứng khôn ngoan và kịp thời để giữ vững nền Độc Lập và phát
triển bằng các nước Văn Minh cơ khí là do toàn dân có tinh thần TỰ TRỌNG và CẦU TIẾN cao độ cùng
với tinh thần hy sinh cho quyền lợi sống còn của đất nước. Biết nhìn nhận cái
thiếu sót và sai lầm của mình để vươn lên bằng người.
Sở dĩ họ thành
công là vì họ theo đúng
ü KỸ THUẬT BẢO VỆ TỰ CHỦ
mà ông cha chúng
ta đã căn dặn qua THÔNG ĐIỆP RỒNG TIÊN (#600BC) và HOA VĂN 14 tia trên mặt trống
đồng Đông Sơn (1.800BC).
Tổ tiên chúng ta
đã áp dụng và đã thành công; nhưng bọn
VIỆT NÔ đã dựa vào thế lực ngoại bang đem vể hủy diệt sức sống của dân Việt
nên mới ra nông nỗi này.
Ø Nô có
nghĩa là nô lệ tư tưởng NGOẠI BANG đem về tiêu diệt VĂN HÓA THUẦN VIỆT
Nay đã biết nguyên
nhân của tinh thần băng hoại, LẠC HỒN
dân Việt thì chúng ta phải mau mau: Phục Hồi Dân Khí và Khai Phóng Dân Trí theo sự chỉ dẫn của
Kỹ Thuật Bảo Vệ Tự Chủ là NGƯỜI VIỆT PHẢI KẾT HỢP thành bó đũa để tự cứu lấy
mình, trả món mất hồn dân Việt do bọ Việt Nô gây ra.
Sau đây là triết
lý thoát vòng nô lệ bằng sức mạnh TÂM LINH, nay chúng ta gọi là CHẤT XÁM mà dân
Việt có thừa bộ óc thong minh và sang tạo.
Muốn bảo vệ được sự
TỰ CHỦ thì phải có VIỆT LỰC để giải
quyết 3 cái khó khăn sau đây thì tự nhiên sẽ có tự chủ để vươn lên bằng người :
1) Nội Tại (kết hợp dân tộc;
danh từ Đồng Bào).
2) Ngoại Lai, triết lý Ngoại
Giao để them bạn bớt thù (Việt Triết)
3) Phát Triển (tinh thần CẦU TIẾN). Muốn phat triển thỉ phải biết
Canh Tân Tư Tưởng và Canh Tân đất nước sao cho ngang bằng người.
Muốn có Việt Lực thì phải xây dựng 3 môn học
sau đây:
·
VIỆT
GIÁO: Giáo lý học làm nguời Việt với tinh thần Tự Lực, Tự Cường, Tự Trọng, Cầu
Tiến và Phục Thiện. Căn bản là Nền Văn Hóa Thuần Việt.
·
VIỆT ĐẠO
: Con đường đi của toàn dân Việt để canh tân đất nước cho bằng người. Căn
bản là tinh thần Đồng Bào : Kết hợp với nhau bằng Tâm, cư xử với nhau bằng Đức,
Bình Đẳng tột cùng, than thường tột độ
·
VIỆT
TRIẾT : Triết lý của người Việt tìm ra, không dựa dẫm vào ngoại
bang, không nhờ ngoại bang dắt đường chỉ lối như bọn VIỆT NÔ. Triết là môn học
về sự vận hành của vạn vật theo quy luật thiên nhiên như: Triết lý sống làm người
cao thượng với khí phách Rồng Tiên, Triết lý Chánh Trị để giải quyết khó khăn
ngoại lai, Triết lý Kinh Tế để
làm cho dân giàu nước mạnh……
Ta đã thấy là:
a) Thời đại
nào theo đúng Kỹ Thuật Bảo Vệ Tự Chủ
thì thời đó hưng thịnh phú cường vì có nhiều Hiền Tài giúp nước nên Tâm Việt và
Hồn Việt được vun trồng.
b) Thời đại
suy thoái y như rằng bọn Việt Nô đem tư
tưởng Ngoại Bang về phá hủy bản sắc dân Việt như:
·
Gia Long với phong trào Nôm Na là Cha Mách
Qué để xây dựng tinh thần Vọng Ngoại Vong Nô.
·
Thực
dân Pháp với nền Giáo Dục Ngu Dân để dễ trị nên tạo ra bọn sỹ
phu Phi Cao Đẳng bất thành phu phụ, ưa phỉnh, lấy bằng cấp để định giá trị phiến
diện của con người. Đất nước khan hiếm Hiền Tài.
·
Việt Cộng với phong trào
·
TAM VÔ,
Ø GIAI CẤP ĐẤU TRANH (người
Việt giết hại lẫn nhau)
Ø TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO ĐÀO TẬN GỐC TRỐC TẬN RỄ (tiêu
diệt người tài)
với nền giáo dục VÔ LUÂN nên có xã hội băng đảng
Sau đây là thành
quả của nền giáo dục hướng theo kỹ thuật bảo vệ tự chủ hay không ; tức Việt Học
và Việt Nô.
Kỹ Thuật bảo vệ Tự
Chủ có từ thời Hùng Vương, mặc dù chúng ta đã đọc được tư tưởng người Văn Lang
qua di vật hay Huyền Thoại nhưng chúng ta bỏ qua để cho dễ nhớ:
-
Thời Lý Thường Kiệt bình Chàm phạt Tống
theo tinh thần Rồng Tiên.
-
Thời nhà Trần phát huy Việt Học bằng Tam
Giáo Đồng Nguyên
-
Thời nhà Hồ đi lạc hướng nên thất bại
-
Thời Kháng Chiến Lam Sơn phát huy tối đa nền Việt Học nên thành công
-
Thời Vua Lê Thánh Tông (1460) đi lạc hướng nên thành công đoản kỳ và để di hại
cho tới ngày hôm nay.
-
Thời
nhà Mạc đi lạc hướng nên thất bại
-
Thời Trịnh Nguyễn không theo Việt Học nên đất nước không những không phát triển
mà tư duy người dân bị suy thoái.
-
Thời Tây Sơn phục hồi Việt Học, đi đúng đường với chương trình Sùng Chính
Viện và người dân có niềm tự hào chánh đáng với chương trình thu hồi vùng đất
Bách Việt của thời Hùng Vương (#600BC) để lại
-
Thời Gia Long, phá hủy Việt Học với phong
trào Nôm Na là cha Mách Qué để có lý
do đu giây giữi Pháp và Tàu. Rút cục bị Pháp và Tàu thông đống với nhau để tiêu
diệt dân Việt bằng chánh sách giáo dục NGU DÂN nên chúng ta mới có thảm trạng
này.
-
Thời Việt Nô CộngSản (1945 đến nay) với
tinh thần Vọng Ngoại Vong Nô đễ đập
phá hết bản sắc dân tộc để xây dựng nền GIÁO DỤC VÔ LUÂN, hủy diệt tinh thần ĐỒNG
BÀO đùm bọc nhau với chủ nghĩa TAM VÔ cùng phong trào hủy diệt sức sống của dân
Việt như GIAI CẤP ĐẤU TRANH (ngưì Việt giết ngưòi Việt) và Trí Phú Địa Hào đào
tận gốc trốc tận rễ để tiêu diện toàng thể thành phần ưu tú của đất nước.
-
Thời đệ
Nhất Cộng Hòa đi đúng đường nên mới có Ấp Chiến Lược và Học Thuyết Cần Lao
Nhân Vị, nhưng không hợp với đường lối chánh trị của NGA và Mỹ nên lãnh bị thảm
sát và chương trình canh tân con người và đất nướcbị xóa bỏ.
- Thời đệ Nhị Cộng Hòa, chủ quyền bị mất nên con thuyền định mệnh không lái nê trôi bồng bềnh theo sự tranh hùng của 2 siêu cường
KỸ THUẬT BẢO VỆ TỰ
CHỦ
Thiết kế: Nhân Văn Việt Tộc - ngày 15/08/2015 - hiệu chính 17.3.21

·
Đây
là lộ trình giáo dục phải theo thì toàn dân mới có đủ khả năng bảo vệ sự tự chủ
của mình được.
·
Việt
Lực được suy ra từ lời căn dặn của cha LẠC LONG.
·
Sơ đồ
này là chuyển ý từ thông điệp Rồng Tiên khai quốc: 100 trứng, 100 con. Rồng
Tiên khai quốc là học thuyết căn bản của khoa nhân văn Việt tộc.
·
Chuyện
Rồng Tiên chuyển ý từ HOA VĂN 14 tia trên mặt trống đồng Đông Sơn
Ø
Chuyện
Rồng Tiên được dựng lên do nhu cầu chánh trị mà 2 ông Phạm Lãi, Văn Chủng đã lồng
trận đánh ‘diệt Ngô Đại Cáo’dưới dạng Huyền Thoại ở thời điểm chưa có chữ viết
(#600BC), để đem thông điệp cứu nước và giữ nước cho hậu thế noi theo.
NHẮC
LẠI Ý NGHĨA CỦA NGÔN TỪ
Rằng: Tiếng nói dùng để diễn tả tư tưởng; vậy thì, qua ngôn từ chúng ta
hiểu được tâm tư người xưa.
Nước Văn Lang được thành lập bời 15 Bộ Lạc (tức 15 vùng an lạc. Bộ
Lạc là tiếng Việt, Tiều Bang là tiếng Tàu sau này mới có).
Lúc đó chưa có tên nên mỗi Bộ Lạc phải tự dặt cho mình một danh
xưng, trong đó có chữ VIỆT.
Văn Lang là tên nước, có nghĩa là nước của những
người HÀO HOA, PHONG NHÃ ; PHÓNG KHOÁNG, HÀO HIỆP ; LỊCH SỰ, BẶT THIỆP. Ngụ ý có tinh thần TỰ TRỌNG, biết
sống cho mình và cho người. Tinh thần tự Trợng đẻ ra tinh thần Tự Lực Tự Cường
không vác bị đi ăn xin như bọn Việt Nô Cộng Sản ngày nay; nên chúng không phải
là người Việt Nòi mà là người Việt Mất Gốc. Coichương trình
Giáo Dục của chúng thì biết.
Việt là tên Liên Bang của người có tinh thần Cầu
Tiến thì mới đủ khả năng để Tự Lực và Tự Cường
Việt có nghĩa là cố
gắng vượt mọi khó khăn về vật chất cũng như tinh thần để vươn lên bằng người
theo đà văn minh của nhân loại
Đồng Bào là danh từ của ông Phạm Lãi Văn Chủng đẻ
ra trong chuyện Rồng Tiên Khai Quốc để nói lên tinh thần đùm bọc nhau như an
hem ruột thịt, bình đẳng tột cùng, than thương tột độ… Nói lên tinh thần Dân Tộc
Bách Việt biết kết hợp với nhau thành bó đũa.
Câu chuyện Rồng
Tiên được dựng lên vào khoảng 600BC là lúc Lãng Vương vùng Lạc Việt (Quảng
Đông) giết vua Ngô là Phù Sai rồi HỘI NHẬP dân NGÔ và dân VIỆT thành dân BÁCH
VIỆT nên mới có nước BÁCH VIỆT rồi cải danh thành nước NAM VIỆT cho phù hợp với
bối cảnh lịch sự dưới thời TRIÊU ĐÀ (người Bách Việt gốc Ngô ở vùnh Chiết Giang
ngày hôm nay).
NAM VIỆT (tiếng Việt)
là phía nam song DƯƠNG TỬ là đất của ngươi BÁCH VIỆT….. khác với chữ VIỆT NAM củ
Càn Long ban cho Gia Long quốc hiệu này. Việt Nam (tiếng Việt) là người Việt ở
phương Nam thì Ta cho độc lập; còn người Việt ở phương Bắc thuộc quyền cai trị
của TA. Nên nhớ Càn Long không phải
là người TÀU. Ông ta là RỢ KIM đi vào cai trị dân TÀU (ở phía Bắc sông
Dương Tử) và một phần dân Bách Việt ở phía Nam sông Dương Tử.
Danh từ TÀU là Triệu Đà đặt cho bọn BẠO CHÚA LÃ HẬU
vào năm 182BC để đối kháng với danh tử TRUNG HOA của y thị đặt ra để đi xâm
lăng vào năm 183BC. TÀU là bọn ngố đi gây chiến trong khi mình chưa đủ sức. Vợ
thằng NGỐ là con LÒA, tức là XẨM (hát xẩm, xâm-xẩm tối)
Sự khác biệt giữa chử TÀU và chữ TẦU:
Đừng lộn chữ TÀU để
chỉ người phương Bắc có từ năm 182BC và chữ TẦU là phương tiện chuyên chở chạy
bằng cơ khi chỉ có vào năm 1802AD mà thôi.
Phương tiện chuyên
chơ thô sơ thì gọi là xe chạy trên bộ và thuyền chạy trên nước
------------------------------------
Nay chúng ta bàn đến
phản ứng của các nước khác trước sự xâm lăng của dân Tây Dương để rút kinh nghiệm:
Nên nhớ rằng năm
1960 người ta chưa phân biệt được sự khác biệt giữa:
·
Đấu tranh Cách Mạng (lật đổ chế độ) và Đấu
tranh chánh trị (xây dựng đất nưóc)
Nên người ta cứ
nghĩ rằng tổ chức nào thành công trong đấu tranh Cách Mạng là đương nhiên có
quyền lãnh đạo Chánh Trị.
Vì thế nên nhà Vua
mới tuyển chọn 3 loại Sỹ Phu để giúp mình lo cho dân cho nước với nhiệm vụ : VIỆC
NHÂN NGHĨA CỐT Ở YÊN DÂN (bình Ngô đại cáo).
Ba loại sỹ phu đó
là: Trung Thần, Can Thần và Nịnh Thần.
Nay Việt Cộng chỉ
có 2 loại Trung Thần và Nịnh Thấn nên nước tàn lụi là thế.
Còn Can Thần thì
chúng gọi là PHẢN ĐỘNG và bắt tù tùy tiện theo luật rừng : Mạnh được yếu thua, hay luật biển: Cá lớn nuốt cá bé
Nhưng, cách tổ chức
xã hội ngày hôm nay khác hẳn là: Người ta quan niệm người dân làm chủ đất nước
nên:
·
Tổ Chức Đấu Tranh Cách Mạng là làm việc vì
Nghĩa. Sau khi thành công thì phải trưng cầu dân ý để rút lui và trả lại quyền dân tộc tự quyết, để người dân
bàu lên Quốc Hội Lập Hiến.
·
Sau khi Hiến Pháp được chung quyết bởi
toàn dân thì lúc đó mới ra tranh cử; mà không kể công trong việc đấu tranh Cách
Mạng.
Vì loại Cán Bộ Đấu
Tranh Cách Mạng (đập phá) hoàn toàn
khác với các Cán Bộ Đấu Tranh Chánh Trị (xây
đựng).
Nước người ta phát triển là vì người dân biết canh tân não trạng để đòi
quyền làm người theo sự vận hành của thiên nhiên.
Cái nhìn của nhóm Triết Gia Ngô Đình Nhu:
Phản ứng Trung Hoa và Thái Lan:
Nay nếu chúng ta
so sánh trường hợp của Trung Hoa và Thái Lan với trường hợp Nhật Bản, các ý tưởng
trên đây càng được xác nhận. Trung Hoa
và Thái Lan cũng bị sự tấn công của Tây phương như Nhật Bản. Nhưng các nhà lãnh
đạo lại lựa chọn thái độ thứ hai, như đã nói trên kia, nghĩa là bảo vệ trạng
thái điều hòa của nền văn minh cũ.
Chỉ nhờ mâu thuẫn
chính trị giữa các cường quốc nên hai quốc gia trên, sau khi chiến bại, không bị
chinh phục, và biến làm thuộc địa nhu Việt Nam. Tuy nhiên, chủ quyền đã sút mẻ,
họ không còn hoàn toàn chủ động con thuyền, không chủ động được công cuộc phát
triển. Chính vì ý thức dùng kỹ thuật Tây phương để chống Tây phương và lâm thời
thắng Tây phương chưa chín mùi trong não người lãnh đạo, nên cơ hội phát triển
đã bỏ lỡ.
Các mâu thuẫn
chính trị giữa các cường quốc Tây phương một khi đã ngăn cản được sự chinh phục
thật sự lãnh thổ của họ, không được lợi dụng để phát triển dân tộc như ở Nhật. Vì vậy mà dân tộc Trung Hoa và dân tộc Thái
Lan vẫn nằm trong tình trạng chậm tiến, cho đến ngày cơ hội thứ hai đưa đến,
như ta đã thấy trên kia.
Ngày nay Trung Hoa
đã nắm được cơ hội thứ hai và đang mạnh bạo phát triển, Tây phương hóa theo kiểu
Cộng Sản. Nhưng cho đến ngày giờ này chưa có triệu chứng gì cho chúng ta thấy rằng
Thái Lan đã nắm được cơ hội.
Trở lại
thời gian một trăm năm giữa hai cơ hội dân tộc Trung Hoa và Thái Lan vẫn ở
trong tình trạng bi đát của những nước bị biến thành bán thuộc địa. Công cuộc
Tây phương hóa, trong thời kỳ đó, hai quốc gia trên không được tự ý mình đặt
thành một công cuộc quốc gia, nhưng họ vẫn không tránh được, vì không làm sao
kháng cự nổi trước sự tấn công mãnh liệt của kỹ thuật Tây phương. Chỉ khác với trường hợp Nhật Bản ở chỗ là
công cuộc Tây phương hóa không được hướng dẫn và không được chủ động.
Những cuộc duy tân
hỗn loạn càng mang đến những chấn động kinh khủng trong xã hội, mà lại không có
một cố gắng nào để chủ động con thuyền hầu đưa nó đến một trạng thái điều hòa mới.
Tất cả những xáo trộn trong xã hội Trung Hoa và Thái Lan trong thời kỳ trên đều
phát sinh từ các sự kiện trên đây. Duy chỉ có một sự kiện còn ít nhiều khả năng
thuyên giảm tính cách trầm trọng của tình trạng trên, là chủ quyền trong hai quốc
gia trên không hoàn toàn mất nên xã hội của họ không bị tan rã và không hề bị
gián đoạn trong sự lãnh đạo.
Vấn đề lãnh đạo quốc
gia vẫn được chuyền tay nhau từ thế hệ trước sang thế hệ sau.
Phản ứng của Việt Nam:
Đối với Việt Nam sự
kiện chót này lại cũng không có nữa.
Vì vậy mà tình trạng
của Việt Nam trong thời kỳ qua và ngay bây giờ còn trầm trọng hơn tình trạng của
Trung Hoa và của Thái Lan nhiều.
Sau cuộc chiến bại,
nước Việt Nam bị chiếm làm thuộc địa.
Chủ quyền bị mất hẳn,
việc lèo lái con thuyền của chúng ta không còn ở trong tay của chúng ta nữa.
Và sự kiện ấy đã xảy
ra, vì, trong một giai đoạn quyết liệt của lịch sử dân tộc, chúng ta đã gặp phải:
Một lớp người lãnh đạo thiếu sáng suốt và thiếu thiết thực, kiêu
căng và không thức thời, không chịu
phóng tầm mắt mà nhìn vào vấn đề thiết thực của dân tộc, tự giam hãm trí óc
trong những quan niệm chật hẹp về quyền bính và triều đại.
Những khuyết điểm
đó đã dẫn dắt đến sự lỡ cơ hội phát triển cho dân tộc lần thứ nhất. Hơn thế nữa,
việc lỡ cơ hội đối với chúng ta khốc hại bội phần hơn là đối với Trung Hoa và
Thái Lan.
Trong một trăm năm lệ thuộc, xã hội của chúng ta tan rã và công cuộc
lãnh đạo quốc gia đã bị đứt đoạn.
Dầu nhà Nguyễn có công khai thác đất đai rộng lớn gấp mấy lần phần đất
mà Nguyễn Triều lúc nào cũng lấy làm tự hào đã góp phần vào di sản quốc gia,
thì họ cũng không bù đắp được lỗi
lầm về lãnh đạo trong một giai đoạn quyết liệt của dân tộc như chúng ta đã thấy
trên đây.
Sau này các sử gia
của chúng ta làm việc theo kỹ thuật khoa
học, tất nhiên sẽ tìm thấy những chi tiết và nhận thấy rõ hơn:
Trường hợp không tha thứ được của nhà Nguyễn
khi phạm vào những lỗi lầm to tát lưu lại hậu quả tàn khốc cho dân tộc.
Việc tai hại thứ
nhất cho chúng ta ở chỗ là chính lúc nền văn minh của chúng ta phải đương đầu với
những cuộc chấn động do những phần tử ngoại lai gây nên trong xã hội chúng ta,
lại là lúc mà chúng ta không còn chủ động vận mạng của chúng ta được nữa.
Xã hội Nhật Bản
khi gặp phải hoàn cảnh đó, đã may mắn được đặt dưới sự lãnh đạo của một lớp người
vừa cực kỳ sáng suốt, vừa đủ chủ quyền và thừa phương tiện để nắm vững con thuyền
quốc gia. Thế mà, xã hội Nhật vẫn bị xáo trộn đến tận nền tảng và phải bỏ trạng
thái điều hòa của văn minh để tìm một trạng thái điều hòa mới, như chúng ta đã
biết.
Trái lại, dân tộc
chúng ta, trong cơn bão tố lại không người lèo lái. Lớp người lãnh đạo trước đã
biến mất trong cơn chiến bại. Các lớp người kế tiếp bị kẻ chinh phục tiêu diệt.
Trong khi đó, theo
chân người chiến thắng, văn minh mới ồ ạt
đưa đến gây ra một cuộc duy tân hỗn độn, không lề lối không mục đích.
Những giá trị tiêu
chuẩn cổ truyền cùng với sự chiến bại của dân tộc, bị phá sản và khinh miệt.
Trong khi đó những
giá trị tiêu chuẩn mới chưa có, xã hội không
có giá trị tiêu chuẩn như con thuyền trôi dạt, không phương hướng và không
sinh lực.
Tình trạng này là
nguyên nhân duy nhất cho tất cả các quái tượng đã hiện ra trong suốt thời gian
gần một trăm năm mà chúng ta, khi nhìn thấy, phải vừa đau đớn vừa tủi nhục. Xã
hội chia làm hai khối: một bên cố gắng bảo vệ lấy các giá trị cổ truyền đã chết
thành thây ma, một bên duy tân nhưng không biết duy tân để làm gì, và cũng
không biết duy tân theo hướng nào, chỉ bắt chước cử chỉ như khỉ và lời nói như
sáo. Hai bên tân, cựu khinh miệt nhau, thật là một hiện tượng rõ rệt của một xã
hội đang tan rã.
Tình trạng càng trở
nên bi thảm khi chính phủ “mới” với sự ủng hộ của kẻ xâm lăng đã thắng phái
“cũ”.
Các giá trị cũ,
tuy đã chết như cây khô vì không người vun tưới, nhưng đó lại là những tiêu chuẩn giá trị thật, có thời đã đào tạo được những
thế hệ người gồm nhiều đức tính cao cả.
Với sự sụp đổ của
những giá trị đó, tiết tháo và tính khí của người xưa cũng mất luôn.
Lớp người “mới”, lại
không biết duy tân để làm gì ngoài sự hưởng thụ vật chất, không có sáng tạo,
không có những biểu lộ chứng minh cho sinh lực của một xã hội.
Có lẽ chưa bao giờ dân tộc chúng ta đã xuống
đến thấp như vậy và chưa bao giờ chúng ta đã đến gần chỗ diệt vong như vậy.
Ngược lại,
chính vì đã vượt qua được những bước tuyệt vọng như vậy, mà chúng ta lại càng
tin tưởng vào sinh khí của dân tộc, tức:
PHỤC HỒI DÂN KHÍ là điều cần phải làm ngay càng sớm càng tốt.
Hậu quả tai hại nhất
mà thời kỳ Tây thuộc đã để lại cho chúng
ta là sự tan rã của xã hội Việt Nam và sự gián đoạn trong việc lãnh đạo quốc
gia.
Cũng như chủ nghĩa
đế quốc kiểu Pháp đã để lại cho chúng ta một hậu quả tai hại không kém:
Lớp người tai mắt trong xã hội thời Pháp
không thể dùng vào các nhiệm vụ lãnh đạo được.
Giống như ngày hôm nay, chúng ta không thể
dùng đảng viên Việt Cộng vào vai trò lãnh đạo được
So sánh như trên đây, trường hợp của Nhật và Trung Hoa với trường hợp của
chúng ta, chúng ta mới ý thức sung mãn tính cách vô cùng trầm trọng của tình trạng
nguy ngập mà xã hội chúng ta đang lâm vào.
Tất cả ba dân tộc
đều ở trong xã hội Đông Á, cùng một văn minh, cùng một giá trị truyền thống, đã
cùng, trong một lúc, gặp phải một nguy cơ chung. Nhưng dân tộc Nhật đã phản ứng
kịp thời, chiến thắng, bảo tồn độc lập, giữ nguyên chủ quyền, nắm được ngay cơ
hội thứ nhất để phát triển dân tộc. Sự lãnh đạo quốc gia không bị gián đoạn,
công cuộc duy tân được hướng dẫn và các giá trị tiêu chuẩn truyền thống không bị
phá sản.
Nhờ vậy nên xã hội
Nhật vẫn tiến liên tục, chế ngự được các cuộc chấn động do những giá trị ngoại
lai gây nên sau khi xâm nhập vào trạng thái điều hòa của nền văn minh cũ. Xã hội
Nhật chỉ có bị bắt buộc phải bỏ trạng thái điều hòa cũ để tìm một trạng thái điều
hòa mới (tức tinh thần CẦU TIẾN đó)
Dân tộc Trung Hoa :
Họ không phản ứng
kịp thời, chiến bại độc lập được bảo tồn không phải nhờ ở nỗ lực chủ động mà nhờ
ở ngoại cảnh. Chủ quyền bị sứt mẻ, nên mặc dầu sự lãnh đạo quốc gia không bị
gián đoạn, công cuộc duy tân không được hướng dẫn, các giá trị truyền thống bị
phá sản, nắm không được cơ hội thứ nhất để phát triển dân tộc. Vì vậy cho nên,
không chế ngự được các cuộc chấn động do những giá trị ngoại lai gây nên sau
khi xâm nhập vào trạng thái điều hòa của nền văn minh cũ.
Xã hội Trung Hoa
tuy không tiến triển liên tục, nhưng nhờ chủ quyền không mất nên không bị tan
rã. Ngày nay, Trung Hoa đã nắm được cơ hội thứ hai và đang dốc hết nỗ lực của
dân tộc để thực hiện công cuộc phát triển và duy tân mà nước Nhật đã làm xong.
Và cố nhiên Trung Hoa cũng sẽ bỏ trạng thái điều hòa cũ để tìm một trạng thái
điều hòa mới. Nhưng công cuộc ấy sẽ thực hiện từ một xã hội không bị tan rã và
với một sự lãnh đạo không hề bị gián đoạn.
Muốn rõ nghĩa thì
phải định nghĩa lại: Thế nào là dân tộc TRUNG HOA?
Nhà Thanh (RỢ KIM)
có phải là chủng tộc TRUNG HOA không?
Dân tộc
Việt Nam không phản ứng kịp thời, chiến bại, độc lập bị mất, nước nhà biến
thành thuộc địa, chủ quyền hoàn toàn mất, chẳng những không nắm được cơ hội thứ
nhất để phát triển dân tộc, lại hoàn toàn bất lực đối với một công cuộc duy tân
bắt buộc, không hướng dẫn và hỗn độn.
Ø Các giá
trị truyền thống bị phá sản.
Hoàn toàn bất lực
trước các cuộc chấn động do những giá trị ngoại lai gây nên sau khi xâm nhập
vào trạng thái điều hòa của nền văn minh cũ. Vì không gặp trở lực nên các cuộc
chấn động mặc tình hoành hành phá hoại xã hội đến tan rã. Sự hoàn toàn mất chủ
quyền lại gây sự gián đoạn trong việc lãnh đạo quốc gia. Ngày nay chưa có gì bảo
đảm là chúng ta đã nắm được cơ hội thứ hai để thực hiện công cuộc phát triển
dân tộc.
Giả sử chúng ta có
nắm được thì công cuộc phát triển và duy
tân sẽ thực hiện từ một xã hội đã tan rã và với một sự lãnh đạo quốc
gia đã bị gián đoạn để khởi sự từ đầu như khi chưa có kinh nghiệm….
Đó là
những khó khăn lớn lao mà chúng ta, toàn dân bắt buộc phải vượt qua, còn không
cố gắng thì chết .. Cái phao duy nhất là NỀN
VĂN HÓA THUẦN VIỆT
Hai hoàn cảnh này
là hai điều kiện vô cùng nghiêm khắc đối với chúng ta, nếu chúng ta nắm được cơ
hội thứ hai. Và thế nào là nắm bắt được và thế nào là không nắm được cơ hội,
chúng ta sẽ trả lời rõ ràng các câu hỏi đó sau này. Giờ đây chúng ta tìm hiểu
vì sao mà hai hoàn cảnh trên là hai điều kiện vô cùng nghiêm khắc đối với chúng
ta khi chúng ta bắt tay vào công cuộc phát triển dân tộc và công cuộc Tây
phương hóa.
Lãnh đạo quốc gia gián đoạn:
Như thế nào là một
sự lãnh đạo quốc gia bị gián đoạn? Trong một tình trạng bình thường chủ quyền của
quốc gia chuyền tay một cách êm thắm từ lớp người lãnh đạo này sang lớp người
lãnh đạo sau.
Sự liên tục trong
sự lãnh đạo nằm ở chỗ:
Các
bí mật lãnh đạo và các bí mật quốc gia được mật truyền cho nhau.
Đời sống
của người ngắn ngủi sánh với đời sống của quốc gia, sự liên tục lãnh đạo thực
hiện được nhờ ở sự mật truyền nói trên và nhờ ở các văn khố và ở chỗ có người
biết sử dụng văn khố.
Thuật Lãnh Đạo:
Ngoài ra thuật lãnh đạo được truyền cho nhau nguyên vẹn từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Với thời gian, các bí mật chồng chất, các văn khố lưu trữ, sự
trau dồi thuật lãnh đạo càng ngày càng tinh vi, và kinh nghiệm lãnh đạo súc
tích là một di sản quý báu không thể lường được cho một dân tộc.
Sức mạnh của nước
Anh hay nước Mỹ mà chúng ta mục kích ngày nay bắt nguồn trước hết từ chỗ hai quốc
gia này đã thực hiện được việc liên tục lãnh đạo quốc gia trong gần 200 năm.
Một nhà lãnh đạo
Anh, ngày nay bước lên nắm chính quyền, là tức khắc sau lưng mình đã có 400 năm
kinh nghiệm và văn khố làm hậu thuẫn. Đó là một di sản quí báu không có gì thay
thế được và tạo cho họ một sức mạnh phi thường.
Với các
hậu thuẫn đó, họ có thể hiểu biết và giải quyết những việc ngoài khả năng của
những người, dầu tài ba đến đâu, nhưng thiếu hậu thuẫn của dĩ vãng.
Mỗi biến cố xảy ra
bất cứ nơi nào trên thế giới đều có thể đối chiếu với một biến cố tương tự đã xảy
ra trước đây và đã được ghi chép vào văn khố của họ.
Nhờ vậy mà họ biết rõ bí mật lãnh đạo của
hầu hết các nước khác hơn là chính người lãnh đạo của những nước đó.
Trên phuơng diện
này thì:
Nước Pháp, nước Đức
hay cả nước Nga cũng không sánh được với nước Anh.
Vì nước Pháp, nước
Đức và nước Nga chưa thực hiện được sự liên tục lãnh đạo như nước Anh. Vì vậy
chúng ta không lấy làm lạ khi biết rằng ngày nay chính là:
Chánh sách ngoại giao của Anh, Mỹ lãnh đạo thế giới ngày nay.
Trên phương diện
này, và với thời gian qua, cách mạng năm 1789 của Pháp (Trận Đống Đa cũng vào
năm 1789) , mang đến nhiều cuộc xáo trộn trong xã hội Pháp, là một biến cố có hại
nhiều hơn có lợi cho quốc gia Pháp.
Việc lãnh đạo quốc
gia bị một gián đoạn sâu rộng và đến ngày nay việc chuyển quyền trong sự lãnh đạo
quốc gia một cách liên tục, nước Pháp vẫn chưa giải quyết được một cách ổn thỏa.
Những biến cố không hay cho nước Pháp cho đến ngày nay, từ cách mạng 1789, đều
là hậu quả của những sự kiện trên.
Và trong việc chạy
đua chiếm thuộc địa giữa các cường quốc Âu Châu trong các thế kỷ vừa qua, sở dĩ
Anh thắng thế cũng nhờ ở hậu thuẫn vô biên của gần 400 năm liên tục trong việc
lãnh đạo quốc gia.
Dân tộc Đức, trên
mọi lãnh vực của đời sống, đã tỏ ra có nhiều đức tính, mà các dân tộc khác
không bì kịp, và đã góp vào văn minh của nhân loại những sáng tạo cao cả.
Nhưng sở dĩ ngày
nay vẫn còn điêu đứng cũng chỉ vì không giải quyết được vấn đề chuyển quyền
và lãnh đạo liên tục quốc gia.
Nước
Nga sau cuộc cách mạng 1917 đã thành công trong cuộc phát triển dân tộc và duy
tân xã hội.
Nhưng họ phải trả
bằng một giá rất đắt và phải sau hơn ba mươi năm, mới chế ngự được các chấn động
do sự gián đoạn về lãnh đạo gây nên.
Mặc dầu như vậy,
ngày nay nhược điểm của Nga Sô vẫn còn ở chỗ bộ máy chính quyền của Cộng Sản vẫn
chưa giải quyết được vấn đề chuyển quyền và vấn đề lãnh đạo liên tục quốc
gia.
Với thời gian qua,
các cuộc cách mạng bạo động trong lịch sử đều là những cái hại, dù là có cần
thiết đi nữa, vẫn là những cái hại cho quốc gia và dân tộc.
Nếu cân nhắc hai
bên, một bên là cuộc cách mạng bạo động
để thanh toán các tệ đoan trước mắt của xã hội và một bên là sự bảo đảm cho sự lãnh đạo liên tục quốc gia, thì lịch
sử trả lời rằng:
Sự lãnh đạo liên tục
quốc gia quan hệ hơn, vì nó là một quan điểm dài hạn, còn cách mạng bạo động là
một quan điểm ngắn hạn.
Mà lịch sử lại là
một quan điểm dài hạn so sánh với đời sống cá nhân là một quan điểm ngắn hạn.
Một dân tộc càng trưởng thành quan điểm (tức biết nhược
điêm để CANH TÂN TƯ TƯỞNG) càng dài hạn, và quan điểm càng dài hạn (tức biết
NHÌN XA TRÔNG RỘNG) thì dân tộc đó càng có cơ hội và phương tiện để trưởng
thành thành công).
Hơn nữa những cái
tệ đoan có thể thanh toán bằng nhiều lối, ngoài lối cách mạng bạo động.
Sự lãnh đạo quốc gia liên tục:
Như trên đã trình
bày, sự lãnh đạo quốc gia được liên tục khi nào các điều kiện dưới đây được thỏa
mãn:
1.- Sự chuyển quyền được bình thường từ lớp người trước cho tới lớp người
sau.
2.- Các bí mật quốc gia được truyền lại.
3.- Thuật lãnh đạo được truyền lại và được cải thiện càng ngày càng tinh
vi.
4.- Các kinh nghiệm của dĩ vãng được xếp vào văn khố, được truyền lại và
có người biết xử dụng văn khố.
TAI HẠI CỦA CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI:
Cứ theo
các điều kiện trên đây, một chế độ độc tài hay quân chủ chuyên chế hoàn toàn bất
lực trong việc bảo đảm một sự lãnh đạo quốc gia liên tục.
Vì cái mầm bạo động
lúc nào cũng được tạo ra và bị đàn áp bởi các chế độ trên. Nhưng càng đàn áp lại
càng nuôi dưỡng đúng theo luật tự nhiên của lịch sử và cuối cùng bạo động sẽ
bùng nổ và mang lại sự gián đoạn trong vấn đề lãnh đạo quốc gia.
Nhận xét trên đây sẽ ảnh hưởng nặng trên sự lựa chọn đường lối của chúng
ta sau này.
Nếu việc lãnh đạo
quốc gia được liên tục nhờ ở sự thỏa mãn các điều kiện trên đây, thì dĩ nhiên,
sự thiếu một hay nhiều điều kiện trên đây sẽ đem đến sự gián đoạn trong việc
lãnh đạo. Và tùy theo điều kiện thiếu nhiều hay ít, sự gián đoạn ấy sẽ dung nạp
được hay trầm trọng.
---------------------------------
Lời soạn giả:
GIẢI QUYẾT CÁC LẤN CẤN
Đối với nhóm Việt
Nô Cộng Sản, nô lệ tư tưởng Cộng Sản nên chúng chủ trương tiêu diệt sức sống của
dân Việt với chủ nghĩa TAM VÔ, thì chúng ta nên Bất Bạo Động để duy trì sự lãnh
đạo liên tục Quốc Gia hay Bạo Động để tạo ra sự gián đoạn lãnh đạo, bắt đầu lại
từ con số không?
Chúng ta phải định
cho rõ thì mới biết đường hành động, không do dự.
Năm 1960 Việt Nô Cộng
Sản chưa hiện nguyên hình nên nhóm TRIẾT GIA NGÔ ĐÌNH NHU đã nghĩ rằng Việt Nô
Cộng Sản là người Việt, vì thế nên mới có sự đóng góp này; vì năm nay 2021
chúng ta đã có thêm dữ liệu về quyết tâm của bọn Việt Nô này.
·
Vậy thì chúng ta nên phân biệt cho rõ cho
rõ chỗ đứng của bọn Việt Nô Cộng Sản là: NỘI
THÙ hay NGOẠI XÂM để còn biết đường lựa chọn thế đánh
A. Đứng về phương diện Văn Hóa và Tư Tưởng thì là
kẻ NGOẠI XÂM vô cùng nguy hiểm nên phải
tận diệt.
RẰNG:
XÂM LĂNG TƯ TƯỞNG là xâm
lăng toàn diện; vì Tư Tưởng lãnh đạo Hành Động.
·
Chúng đã dùng BẠO LỰC để bắt dân ta phải có tư tưởng hận thù và chia rẽ để tiêu
diệt Văn Hóa Lạc Hồng, khí phách RỒNG TIÊN và tinh thần Đồng Bào biết thương
yêu và đùm bọc nhau.
·
Chúng dạy con trẻ phải biết cách gây ra Hận Thù (giả tạo), rồi nuôi Hận Thù (giả tạo) để còn có lý cớ Đấu Tranh
·
Chúng quyết xóa hết bản sắc dân Việt bằng
các phong trào:
Ø Giai Cấp
Đấu Tranh (người Việt giết người Việt)
Ø Trí Phú
Địa Hào đào tận gốc trốc tận rễ (để tiêu diệt toàn thể thành phần ưu tú của đất
nước
Ø Nghĩa vụ
QuốcTế, sinh Bắc Tử Nam để xâm lăng miền Nam mà chúng đã chia phần cho Thực Dân
Pháp qua hiệp địng Genève (20.7.1954), để tiến tới ĐẠI ĐỒNG THẾ GIỚI cho TÀU
lãnh đạo bằng chủ nghĩa TAM VÔ (vô gia đình, vô Tổ Quốc và vô Tôn Giáo
B. Đứng về
phương diện DÂN TỘC:
-
Dưới
con mắt Quốc Tế thì bọn Việt Nô Cộng Sản là người Việt.
-
Dưới
con mắt người Việt thì chúng là người Việt Nô, mất gốc nên
đem Văn Hóa CỘNG SẢN về để dung bạo lực tiêu diệt Nền Văn Hóa Thuần Việt dùn để
kết hợp dân tộc theo tinh thần ĐỒNG
BÀO biết thương yêu và đùm bọc nhau.
Thật vậy, lịch sử
đã chứng minh là người Việt là người phải có Tâm Việt và Hồn Việt. Người Việt
được định nghĩa theo Văn Hóa do nguyên quán xác định, chứ không định nghĩa theo
dân Tây Phương.
Người Việt là người
có tinh thần Đồng Bào, biết sống cho mình , sống cho người và sống cho xã-hội với
CHÂM NGÔN:
Ø Uống nước
nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây (tìm hiểu gốc gác của mình)
Ø Ăn cây
vườn nào thì rào vườn đó.
Ø Không
phải cứ sống trong nước Việt mới là nguời Việt; do đó người Việt là người phải
thấm nhuần Văn Hóa Thuần Việt để còn đóng góp cho xã-hội tiếp cư nếp sống hài
hòa của Văn Hóa Việt như: Bán anh em xa,
mua láng giềng gần
Không phải cứ nói
tiếng Việt, mang màu da vàng và dòng máu Việt là đương nhiên trở thành người Việt
đâu.
Nay bọn Việt Nô Cộng
Sản không có Tâm Việt và cũng chẳng có Hồn Việt, vậy thì chúng đâu có phải là
người Việt?
¾
KẾT LUẬN
Dân Việt coi bọn
Việt Nô Cộng Sản là NGOẠI CHỦNG đi XÂM LĂNG TƯ TƯỞNG và tàn phá đất nước chúng
ta; nên chúng ta buộc phải dùng BẠO LỰC khi cần tới với phương châm: GIẶC ĐẾN
NHÀ ĐÀN BÀ PHẢI ĐÁNH
Đối với Quốc Tế:
Vì cần sự hỗ trợ của họ nên phải nòi theo ý của họ là chúng tôi chủ trương BẤT
BẠO ĐỘNG để đòi lại QUYỀN LÀM NGƯỜI (nhân quyền) của dân tôi.
Nhưng khi Bạo Động
thì nói rằng: RẤT TIẾC phải dung bin pháp này là dân tôi bị bọn Việt Nô dồn vào
chân tường, đằng nào cũng chết nên chúng tôi buộc phải tìm cái chết trong danh
dự hơn là chết tủi nhục trong âm thầm.
---------------------------------------------
(tiếp theo cái
nhìn của nhóm Triết Gia Ngô Đình Nhu)
Chúng ta có thể phân biệt ba trình độ gián đoạn:
Nhẹ, Trần trọng và Khủng khiếp:
Nhẹ nhất:
Trình độ gián đoạn
nhẹ nhất xảy ra khi sự chuyển quyền từ lớp người trước cho lớp nguời sau không
được bình thường, các bí mật quốc gia trong giai đoạn ngắn trước đó sẽ mất. Tuy
nhiên văn khố hãy còn và thuật lãnh đạo không đến nỗi mất hẳn. Các cuộc đảo
chánh ở Nam Mỹ rất là điển hình cho trình độ này.
Trầm trọng:
Trình độ gián đoạn
trầm trọng xảy ra khi sự chuyển quyền từ lớp người trước cho lớp người sau, chẳng
những không được bình thường, mà lại còn diễn ra trong những hoàn cảnh bạo động
kinh khủng.
Các bí mật quốc
gia mất hết, văn khố bị thiêu hủy, người sử dụng văn khố không còn.
Thuật lãnh đạo và
kinh nghiệm của dĩ vãng được thay thế bằng sự hăng hái của dân chúng và sáng kiến
cá nhân.
Di sản của dĩ vãng
không còn nữa, vì sự điên rồ của người đời làm cho họ tin rằng họ cần san bằng
tất cả dĩ vãng để xây dựng tương lai (điều
mà Việt Cộng đang làm nè)
Cách mạng năm 1789
của Pháp là một ví dụ cụ thể nhất cho trường hợp này. Biết như vậy rồi chúng ta
không lấy làm lạ tại sao cho đến ngày nay người Pháp vẫn chưa giải quyết được một
cách ổn thỏa vấn đề lãnh đạo liên tục cho quốc gia của họ.
Cũng trên phuơng
diện này, sự chính quyền Việt Minh, vô tình hay cố ý, không bảo vệ được phần
văn khố của triều Nguyễn mà người Pháp còn để lại, để cho dân chúng Huế đốt phá
một phần quan trọng của di sản kinh nghiệm của chúng ta, là một lỗi rất lớn, không có gì tha thứ được đối với quốc gia và dân tộc.
Tuy nhiên, dù vô tình hay cố ý việc đó đã xảy ra chứng minh cho sự kiện chính vì chúng ta đã mất truyền thống lãnh đạo, cho nên những người có trách nhiệm trong chính phủ Việt Minh lúc bấy giờ ở Huế không ý thức được tính cách quan trọng về việc cần thiết phải bảo quản văn khố mà Quốc Gia rất cần.
Càng mất truyền thống lãnh đạo lại càng phá huỷ những di sản khả dĩ bảo vệ sự lãnh đạo quốc gia. Tục ngữ thường nói “nghèo lại càng nghèo” – cái khó nó bó cái khôn là vậy.
Khủng khiếp:
Trình độ gián đoạn
khủng khiếp xảy ra khi sự chuyển quyền không thực hiện được giữa lớp người trước
và lớp người sau.
Bí mật lãnh đạo và
bí mật quốc gia đều mất. Thuật lãnh đạo
không truyền lại được. Di sản dĩ vãng không người thừa nhận, văn khố thất lạc
và bị cướp bóc.
Đó là trường hợp của
các nước bị chinh phục, mất chủ quyền. Và đó là trường hợp của Việt Nam chúng
ta trong thời kỳ Pháp thuộc. Lớp người lãnh đạo trước của chúng ta đã mất, lớp
người lãnh đạo sau của chúng ta không có. Di sản dĩ vãng tiêu tan.
Tình trạng của
chúng ta thật là khủng khiếp nếu chúng ta tuởng tượng rằng, trước mặt một nhà
lãnh đạo Anh tựa lưng vững chãi trên di sản dày 400 năm, sẵn sàng ứng phó với mọi
biến cố, nhà lãnh đạo của chúng ta đứng lên, cô độc, sau lưng không có lấy được
một tờ di sản làm hậu thuẫn.
Hoàn cảnh trong đó chúng ta phải chiến đấu để thực hiện cuộc phát triển
dân tộc, nghiêm khắc là vậy đó. Ý nghĩa của chữ “chậm tiến” là vậy đó.
²
Điều kiện của một sự lãnh đạo liên tục:
Vì vậy cho nên dốc
hết nỗ lực của toàn dân vào công cuộc chung cũng chưa chắc đã là đủ. Nhưng đó
là việc chúng ta sẽ bàn tới sau này.
Giờ đây
để hết tâm trí chúng ta vào một điều tối quan trọng là đường lối của chúng ta
sau này sẽ được lựa chọn như thế nào để khả dĩ bảo đảm cho sự lãnh đạo liên tục
quốc gia và tiết kiệm được người lãnh đạo mà chúng ta vô cùng khan hiếm sau thời
kỳ Pháp thuộc?
Điều này như trên đã nói chắc chắn một
chính thể độc tài không làm được.
Một sự kiện khác
chứng minh cho tính cách thiết yếu của sự lãnh đạo liên tục quốc gia, là tình
trạng của các nước Nam Mỹ. Ở các nước này, những sự gián đoạn trong việc lãnh đạo
tuy với hình thức nhẹ nhưng xảy ra luôn vì những cuộc đảo chánh liền liền. Nhiều
gián đoạn nhỏ liên tiếp trở thành những gián đoạn lớn, cho nên các nước Nam Mỹ
trải qua nhiều thế hệ vẫn là chậm tiến.
Một mặt khác, ví dụ
trên đây lại chứng minh cho một sự kiện khác: Muốn chặn sự phát triển của một
dân tộc thì không có biện pháp nào hiệu quả bằng biện pháp gây ra nhiều gián đoạn
trong việc lãnh đạo quốc gia của dân tộc ấy.
Đây là
một thủ đoạn thường dùng của các cường quốc Tây Âu trước đây khi mang kỹ thuật
Tây phương đi chinh phục thế giới. Sự gián đoạn trong vấn đề lãnh đạo làm cho
quốc gia suy nhược theo một thể thức cơ biến như thế nào chúng ta đã rõ.
Những nếu sự gián
đoạn diễn ra trong những hoàn cảnh bạo động gây sự giết chóc giữa nhiều phe
phái, thì lại còn gây nhiều thảm hại to tát cho quốc gia trên một lĩnh vực
khác.
Trở về ví dụ của
nước Anh một lần nữa, chúng ta sẽ ý thức rõ ràng sự thảm hại vừa nói trên.
Ở nước Anh việc
lãnh đạo quốc gia liên tục đã được giải quyết hoàn bị. Khi cần thay đổi một nhà
lãnh đạo, tức khắc bộ máy hiến pháp vận chuyển, và một người lãnh đạo khác lên
thay thế, người lãnh đạo trước buông việc, về tịnh dưỡng và suy nghiệm các hành
vi đã qua của mình.
Những người lãnh đạo
xứng danh bao giờ cũng hành động theo một triết lý chính trị mà họ đã nghiền ngẫm
lâu ngày, trước khi mang ra thực hành.
Nếu khi đụng chạm
với thực tế, những tư tuởng đang hướng dẫn hành động của họ đã tỏ ra sai lạc,
hay vì hoàn cảnh bên ngoài đã biến đổi nên không còn phù hợp với những tư tưởng
ấy nữa thì cần phải có một sự thay đổi ngay.
Ø Nhưng thay đổi như thế nào? ....
Ø Người lãnh đạo phải thay đổi tư tưởng, hay
là phải thay đổi người lãnh đạo?
Kinh nghiệm chỉ rằng
không bao giờ người lãnh đạo thay đổi tư
tưởng trong lúc đang ở trong không khí hành động, bởi một lẽ rất dễ hiểu là
họ phải mất nhiều thì giờ nghiền ngẫm mới đi đến triết lý chính trị mà họ chủ trương.
Nay nếu nó không
phù hợp với hoàn cảnh, họ phải có đủ thời giờ để một là xét vì sao triết lý ấy
không phù hợp và hai để tìm triết lý khác thay thế vào. Điều mà họ không thể
làm được nếu họ vẫn bị hành động lôi cuốn.
Vì vậy cho nên:
Yêu cầu một người lãnh đạo thay đổi tư tưởng của họ đang khi hành động
là một việc không bao giờ thực hiện được.
ØTrường
hợp Việt Cộng nè!
Giả sử mà họ có
thay đổi được thì, việc lãnh đạo lại sẽ gặp một nguy cơ lớn hơn nữa. Bởi vì
thay đổi hấp tấp và không suy nghiệm như vậy, người lãnh đạo sẽ không còn là chính họ nữa.
Và đương nhiên hiệu
quả trong hành động của họ sẽ kém bội phần. Như vậy, chỉ còn cách là phải thay
đổi người lãnh đạo.
Thoát khỏi không
khí náo nhiệt và thúc dục của hành động, người lãnh đạo bị thay đổi sẽ suy nghiệm
hành động đã qua, rút kinh nghiệm cho bản thân và viết thành sách những kinh
nghiệm ấy để làm giàu thêm cho di sản dĩ vãng của quốc gia.
Hơn thế nữa, người
lãnh đạo bị thay đổi lại có ngày giờ nghiền ngẫm một triết lý chính trị khác
hợp với tình thế hơn, và nếu có cơ hội cho họ trở ra hoạt động, thì quốc
gia lại có một người lãnh đạo kinh nghiệm hơn gấp mấy lần người lãnh đạo đã bị
thay đổi trước đây.
Nay, nếu thay vì một
sự chuyển quyền bình thường, nhiều bạo động lại diễn ra làm thiệt mạng những
người lãnh đạo trước, chúng ta sẽ mất:
Ngoài những bí mật lãnh đạo mà chúng ta đã nói ở
trên, chúng còn mất thêm các kinh nghiệm
lãnh đạo có thể làm cho di sản dĩ vãng chúng ta thêm phong phú và Hiền Tài của đất nước nữa; vì người
lãnh đạo mà quốc gia lúc nào cũng khan hiếm.
[
Xin giới thiệu với quý vị 3
đường dẫn sau đây, và kính mời các vị hiền tài tiếp tay cho chương trình này được
phong phú.
http://nhanvanviettoc.blogspot.com
là nơi lưu trữ tài liệu để soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com
là nơi lưu trữ các bài đã soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm)
từ Tiểu Học đến Trung Học.
Nơi lưu trữ 3 kinh nhật tụng
1. Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18 tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)
SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ (Đủ Bộ)
https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ
(Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k
SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph
ØKênh Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ
là nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu trữ
vô máy.
--------------------------------------------



0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil