dimanche 14 juillet 2024

T61–Chiêu Thống Tái Thế

T61(a) –Chiêu Thống Tái Thế

Facebook Văn Hóa Thuần Việt (16.12.2021)

soạn giả : Hoàng Đức Phương

 

1802 : LÊ CHIÊU THỐNG TÁI THẾ !!!

 

VIỆC LÀM CỦA NGUYỄN PHÚC ÁNH (lúc bôn ba)

ĐỊA LÝ :

Tình hình quản trị vùng đất đàng trong từ đèo Ngang – sông Gianh, tức Bố Chánh Quảng Bình ngày hôm nay đến Bình Thuận thuộc dòng họ Nguyễn Phúc , tự phong cho mình chức CHÚA với bổn phận khôi phục nhà Lê nên công văn lấy niên hiệu vua Lê. Gia Long khi lập nghiệp vẫn lấy niên hiệu vua Lê Cảnh Hưng, sau chuyển sang Lê Chiêu Thống, mặc dù ông này đã chết.

Ấy thế mà khi thống nhất đất nước lại truy lùng và tận diệt dư đảng phù LÊ chống Nguyễn

Còn nhà Tây Sơn khởi nghĩa lấy niên hiệu của họ là THÁI ĐỨC rồi đến QUANG TRUNG

 

Nên nhớ lúc đó đồng bằng Nam Việt do sông Cữu Long bồi đắp chưa ở được vì nạn thủy quái (Cá Sấu, rắn rết, muỗi mòng ….) và không có nước ngọt nên Bình Thuận là bờ biển như vùng Cà Mâu, Đồng Tháp ngày hôm nay.

Bình Thuận thuộc đất của nước CHÀM (Champa) và đã hội nhập vào nước Đại Việt dưới thời vua Lê Thánh Tôn (1471). Tây Nguyên thuộc nước CHÀM, gọi là vùng NAM BÀM cũng hội nhập với nước Đại Việt luôn với thể chế : BÌNH ĐẲNG SẮC TỘC và HỘI NHẬP VĂN HÓA – Hai dân tộc Chàm và Đại Việt sống hài hòa với nhau. Nước Đại Việt được thành lập vào năm 2.879BC, nước Chàm được thànhlập vào năm 192AD, biên giới là đèo Ải Vân, Gia long đổi thành đèo Hải Vân.

Đèo là đi giao thông trên sườn núi. Ải là hiểm địa, đường hẹp nối 2 vùng đất rộng (người Pháp gọi là cái cổ, Le COL). Vân là MÂY và HẢI là biển nằm trong đất. Còn DƯƠNG là biển bao quanh đất.

 

QUỐC HIỆU :

Quốc hiệu Xiêm La ;  tức nước Thái Lan ngày hôn nay.

Lúc đó nước này có Quốc Hiệu là Siam (Xiêm La). Đến năm 1942 về phe với Nhật thì đổi tên là THAILAND, có nghĩa là chỗ nào người Thái ở thì nơi đó là đất của họ, ý muốn sát nhập nước Lào và vùng Thượng Du Bắc Việt.

Nay ta dùng chữ Xiêm La thì ít người biết.

ª

CẦU VIỆN NGOẠI BANG (Lê Chiêu Thống tái thế !)

 

PHÂN TÍCH TỪNG GIAI ĐOẠN :

Giai đoạn 1 : Cầu Viện nước Xiêm La :

-        Trong giao ước có nói là Nguyễn Ánh tiên phong đi dẫn đường đánh chiếm vùng đồng bằng con sông Cửu Long . Lúc đó là đất bồi vừa mới khai phá tạm ổn định vào khoảng 1665-70 với 6 tỉnh là : Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên (miền Tây); Biên Hòa, Gia Định và Định Tường.

-        Nếu thắng quân Tây Sơn thì :

a)     Phần Đồng Bằng con sông CỬU LONG GIANG thuộc đất của Xiêm La. Tức là miền Nam Việt Nam (lục tỉnh) và miền Nam đất Khmer thuộc đất Thái Lan. Vì lúc đó miền Nam dất Khmer vô chủ vì dân số Khmer quá ít và không ai muốn mạo hiểm để khai thái đất bồi.

b)     Phần đất từ Bình Thuận lên đến đèo NGANG (sông Gianh, thuộc Quảng Bình là đất của Nguyễn Ánh (mượn đầu heo nấu cháo)

c)     Phần đất Nam Bàn (Tây Nguyên ngày hôm nay) thuộc anh em Tây Sơn

d)     Phần đất đàng NGOÀI (từ sông Gianh trở lên ) thuộc Vua Lê, Chúa Trịnh

-        Còn thua thì xù.

 

Kết quả trận chiến :

Đồn trú là quân địa phương giữ đất do tướng Trương Văn Đa chỉ huy. Quân ít thế cô nên tử thủ đợi viện binh của Nguyễn Huệ.

Nghĩa binh Tây Sơn xuất phát từ Tây Nguyên (tức vùng Nam Bàn lúc đó), 85% là người CHÀM kéo đoàn thuyền chiến vào Quân Cảng Gia Định vào lúc 7 giờ tối để ếm binh. Sau đó đi thăm chiến địa và bày trận thế.

 

Gài quân địch vào tử địa :

Nửa đêm kéo binh thuyền chở đại pháo, đến dàn trận phục binh giữa khúc sông Rạch Gầm và Soài Mút vào khoảng 3 giờ sáng thì ếm quân và sẵn sàng tác chiến.

5 giờ sáng thì Trương Văn Đa cho chiến thuyền nhẹ ra khiêu chiến như mọi lần. Binh thuyền Xiêm La kéo toàn bộ lực lượng ra truy kích ; Nguyễn Ánh dẫn đường nên thoát chết vì nằm ngoài vòng phục binh.

Khi toàn thể chủ lực quân Xiêm tiến vào ổ phục kích thì đại pháo 2 bên bờ đồng loạt bắn nát toàn bộ chiến thuyền Xiêm La, Nguyễn Ánh đi đầu nên ở ngoài vòng vây và y dong thuyền chạy trốn. Trên bờ thì có kỵ binh truy kích.

 

Khoảng 10 giờ sáng thì tàn cuộc.

Quân Xiêm chết như rạ dưới sống, tên nào thoát hiểm lên bờ thì bị kỵ binh truy kích nên sống sót không đáng kể. Toán bộ binh đi sau tiếp chiến thấy vậy cũng bỏ chạy luôn về đất Thái bằng đôi chân của mình.

Ø  Sau trận này thì Nhà Tây Sơn đã thu hồi toàn bộ đất đai về nước Đại Việt là do chiến công của người CHÀM ở vùng Nam Bàn. Lúc này thì họ đã là dân Việt gốc Chàm từ năm 1471 dưới triều vua Lê Thánh Tông rồi

ö


T61(b) Luân về Lãnh Đạo

Facebook Văn Hóa Thuần Việt (16.12.2021)

Tài liệu : Học Thuyết Nhân Vị (Ngô Đình Nhu)

 

LUẬN VỀ LÃNH ĐẠO

 

RẰNG: 

1.- Không bao giờ thay đổi được tư tưởng của người lãnh đạo trong lúc họ đang hành động. 

2.- Người lãnh đạo dù tài ba đến đâu cũng có lúc cần phải được thay đổi, vì tư tưởng không phải lúc nào cũng phù hợp với thực tế, vì môi trưòng luôn luôn thay đổi theo hát trển khoa học. 

3.- Sự lãnh đạo quốc gia liên tục một khi được bảo đảm thì di sản dĩ vãng của quốc gia càng thêm phong phú, tức kinh nghiệm được tích lũy từ người nọ truyền qua người kia; và quốc gia càng giàu người lãnh đạo.

·        Di sản quốc gia càng thêm phong phú và quốc gia càng giàu người lãnh đạo thì việc lãnh đạo quốc gia liên tục lại càng thêm bảo đảm.

Ø  NƯỚC CHẢY CHỖ CHŨNG 

4.- Ngược lại, sự lãnh đạo quốc gia liên tục không thực hiện được, thì di sản dĩ vãng của quốc gia càng ngày càng suy vi và quốc gia càng ngày càng nghèo người lãnh đạo. Và di sản dĩ vãng càng suy vi và quốc gia càng nghèo người lãnh đạo thì việc lãnh đạo quốc gia liên tục lại càng khó thực hiện được.

Ø  XE XUỐNG DỐC ĐỨT THẮNG

 

Vì những lý do trên, nên một chế độ độc tài, mà bản chất là dựa, trước hết, trên nguyên tắc không thay đổi người lãnh đạo, không thể phù hợp với thực tế. Vì thực tế thay đổi nhưng não trạng người ĐỘC TÀI lại ù-lỳ, nên thay đổi là mất quyền

 

Vì không phù hợp với thực tế nên không thực hiện được sự lãnh đạo quốc gia liên tục.

Và chúng ta đã thấy sự tai hại cho quốc gia như thế nào nếu sự lãnh đạo liên tục không thực hiện được.

Ø  Nhận xét này sẽ ảnh hưởng nặng rất quan trọng trên sự lựa chọn đường lối của chúng ta sau này. 

Sau khi đã giải thích vì sao sự lãnh đạo quốc gia bị gián đoạn là một điều kiện nghiêm khắc cho chúng ta,

Chúng ta còn phải giải thích vì sao mà sự kiện xã hội chúng ta đã tan rã lại là một điều kiện nghiêm khắc khác. 

 

Xã hội bị tan rã:

Như thế nào là một xã hội bị tan rã?

Như trong một phần trên chúng ta đã nói, một xã hội bình thường, có một nền văn minh đã tiến bộ, đều có một toàn bộ giá trị tiêu chuẩn làm mực thước cho hoạt động của xã hội trong mọi lĩnh vực.

Những giá trị tiêu chuẩn (ta gọi là giá trị TRUYỀN THỐNG) không nhất thiết ảnh hưởng theo một chiều, nhưng tất cả, với thời gian, quân bình lẫn nhau và lập thành một trạng thái điều hòa cho toàn bộ.

Nếu trạng thái điều hòa là một thế thăng bằng động tiến (phải chuyển động để giữ thế thăng bằng) thì nền văn minh của xã hội đó đang thời phát triển.

Nếu trạng thái điều hòa là một thế thăng bằng tĩnh thì là lúc nền văn minh của xã hội đó đang đương lúc ngưng trệ (không phát triển hay phát triển chậm)

 

Nhưng trong trường hợp nào (động hay tĩnh) thì xã hội đó cũng sống trong một trạng thái điều hòa và tất cả phần tử trong xã hội đều tin tưởng tuyệt đối vào những giá trị tiêu chuẩn trên, và mọi người trong xã hội đều cố gắng hành động phù hợp với các tiêu chuẩn trên.

Và, vì mọi người đều tin tưởng vào các tiêu chuẩn trên, nên bất cứ hành động nào phù hợp với các tiêu chuẩn trên đều tìm được ở trong tâm hay trí của mỗi người một sự rung động ăn nhịp theo.

Ø  Do đó các giá trị tiêu chuẩn (truyền thống) là những tín hiệu tập hợp các phần tử trong xã hội (tức chất liệu kết hợp toàn dân nó nằm trong nếp sống và cách suy nghĩ theo cùng một hướng).

Ø  Đối với dân ta giá trị tiêu chuẩn để kết hợp với nhau thành bó đũa là NỀN VĂN HÓA THUẦN VIỆT.

 

Ví dụ trong xã hội Việt Nam xưa kia, quan niệm quân tử là một giá trị tiêu chuẩn. Trung, hiếu là những giá trị tiêu chuẩn. Khi nói lên những danh từ quân tử, trung, hiếu, thì mọi người nghe đều đồng ý với người nói. Tức là có sự cộng hưởng trong TÂM TRÍ mọi người 

 

Trong một xã hội, những giá trị tiêu chuẩn không phải là bất di bất dịch, nhưng bao giờ cũng có. Và các giá trị tiêu chuẩn, tùy theo sự tiến hóa của xã hội cũng sinh ra, phát triển, trưởng thành, già cỗi và chết đi như một sinh vật.

Tuy nhiên, lúc nào các giá trị tiêu chuẩn (truyền thống) cũng hợp thành một trạng thái điều hòa, có khả năng duy trì và nuôi dưỡng sức kết hợp các phần tử trong xã hội thành một cộng đồng. 

Vì thế nên: Xã hội sẽ tan rã khi nào tất cả hay phần lớn các giá trị tiêu chuẩn (truyền thống tốt đẹp) đều phá sản mà không được thay thế (tức văn hóa suy đồi, suy tư lạc điệu).

 

Trường hợp này rất rõ rệt trong xã hội Việt Nam sau khi thời kỳ Pháp thuộc.

Như chúng ta đã thấy rõ trong một đoạn phân tách trên kia, sau khi chiến bại, chủ quyền bị mất, trách nhiệm lèo lái con thuyền Việt Nam sang tay người ngoại quốc nên dân tộc Việt Nam hoàn toàn mất chủ động đối với chính vận mạng của mình.

Trong khi đó văn minh của chúng ta bị sự tấn công của văn minh Tây phương, nghĩa là các giá trị tiêu chuẩn (truyền thống tốt đẹp) của chúng ta bị các giá trị tiêu chuẩn của Tây phương đả phá.

 

Và chúng ta đã thấy vì nguyên nhân nào mà xã hội chúng ta không chống trả nổi.

Trước làn sóng ồ ạt của văn minh Tây phương các giá trị tiêu chuẩn của chúng ta khô héo và chết dần, và không được thay thế.

 

Ngày nay những danh từ quân tử, trung quân, hiếu tử không còn làm rung động được bao nhiêu người. Và chúng ta không còn những tín hiệu để tập hợp những phần tử trong xã hội nữa.

Mà không tập hợp được tức là thiếu Đoàn Kết vì các phần tử sống rời rạc, không còn hưởng ứng nhịp nhàng theo một giá trị tiêu chuẩn nào nữa (tức là mất gốc). Và như thế là xã hội tan rã. 

 

TRI TÂN:

Trong tương lai, khi Việt Cộng ra đi thì chúng ta cũng gặp sự cố tương tự nhưng nguy hiểm hơn nhiều vậy chúng ta phải tìm cách chống đỡ.

Các nền Văn Hóa Việt Lai sẽ ồ ạt tràn về để lấn át nền Văn Hóa Thuần Việt  mới được xây dựng để kết hợp toàn dân.. Vậy thì chúng ta chỉ có một cách là xin họ hãy NHẬP GIA TÙY TỤC, đừng phá hũy nền độc lập mới thu hồ như trường hợp Chánh Phủ Trần Trọng Kim bị Việt Cộng phá tanh banh vào ngày 19/8/1945

 

Giá trị tiêu chuẩn?  

Tức các yếu tố kết hợp mà ta gọi là TRUYỀN THỐNG

Các giá trị tiêu chuẩn cũ đã mất hết uy tín, nhưng những nguời tự xem mình là theo mới lại không biết phải hướng về những giá trị tiêu chuẩn nào? 

 

Thật ra, công cuộc theo mới duới thời Pháp thuộc không được hướng dẫn, nên rất là hỗn độn và không có mục đích. Vì thế những người theo mới không hề lên được đến trình độ tìm ra những giá trị tiêu chuẩn mới để theo. Họ chỉ bắt chước hình thức như lối ăn mặc và lối sống Tây phương.

Và chưa bao giờ có ai nghĩ đến việc cần thay thế những giá trị tiêu chuẩn đã chết bằng những giá trị tiêu chuẩn khác.

Tỷ dụ:

Quan niệm về chữ HIẾU dưới thời làm ăn cá thể (nông nghiệp) phải thay đổi theo nếp sống làm ăn tập thể (phân công).

Theo quan niệm cũ thì bố mẹ già ở cạnh con cái thì nó chỉ hợp với thời kỳ nông nghiệp. Nếu đem áp dụng vào thời kỳ kỹ nghệ thì thất nghiệp, ôm nhau để chết đói.

Vì làm việc theo tập thể nên phải đúng giờ như nhóm phi hành đoàn thiếu 1 người thì chuyến bay phải ngưng, và hang sập tiệm vì phải bồi thường thiệt hại cho khách hang vì sự chậm trễ làm xáo trộn công việc của họ. Do đó bị sa thải vì thiếu khả năng nghề nghiệp chẳng hạn

Ø  Đó là vấn đề mà chúng ta cần phải xét tỉ-mỉ sau này khi đặt đường lối cho chúng ta. 

²

Xã hội tan rã?

Giờ đây chúng ta thấy rằng xã hội chúng ta đã tan rã vì không còn tiêu chuẩn giá trị để kết hợp các phần tử lại với nhau (thiếu đoàn kết).

Đó là hoàn cảnh khắc nghiệt cần phải vượt qua. Vì sao một tình trạng như vậy lại là một hoàn cảnh khắc nghiệt cho chúng ta khi chúng ta bắt tay vào công cuộc phát triển dân tộc?

 

Vì lý do sau đây: 

Trước hết, chúng ta sẽ thấy sau này, công cuộc phát triển dân tộc là một công cuộc to tát mặc dầu đầy kích thích, nhưng đòi hỏi ở toàn dân nhiều nỗ lực liên tục chóng làm mệt mỏi mọi người và nhiều hy sinh nặng nề chóng làm cho mọi người chán nản và sau đó phẫn nộ, và oán ghét.

Nếu chúng ta không có một mãnh lực gì để thuyết phục toàn dân và huy động họ để cùng nhau mạnh bước trên đường tiến bộ, thì hy vọng thành công của chúng ta rất mong manh.

Nay xã hội chúng ta đã tan rã vì gần một thế kỷ mang ách nô lệ, tiếp theo là 25 năm băng hoại bởi tư tưởng Cộng Sản; thì chúng ta còn trong tay giá trị tiêu chuẩn nào để giúp cho chúng ta thâu phục được sự hưởng ứng của mọi người hầu thực hiện cuộc huy động thiết yếu cho công cuộc phát triển?

 

Lời soạn giả:

Phải chăng chỉ còn cái phao là: TÂM VIỆT, HỒN VIỆT và Nền Văn Hóa Thuần Việt cùng tình nghĩa Đồng Bào hợp thời để vươn lên?

 

Khi nước Nhật nắm cơ hội duy tân, xã hội Nhật còn nguyên vẹn, và các lãnh đạo Nhật đã dùng những giá trị tiêu chuẩn của nền văn minh xưa để huy động dân tộc họ thực hiện công cuộc phát triển. Các nhà lãnh đạo đã kêu gọi lòng ái quốc sâu xasự tôn thờ Thiên Hoàng của dân tộc Nhật.

Đó là hai giá trị tiêu chuẩn căn bản của xã hội Nhật có mãnh lực thúc đẩy mọi người đến sự hy sinh cuối cùng cho tập thể. Những khí giới sắc bén vô song đó đã được các nhà lãnh đạo Nhật sử dụng đúng mức để thực hiện công cuộc Tây phương hóa với kết quả mà chúng ta thấy ngày nay. 

 

Tiêu diệt Văn Hóa của kẻ chiến bại:

Người Mỹ sau khi chiến thắng và chiếm đóng nước Nhật đã áp dụng một chính sách vô cùng cứng rắn để làm suy giảm uy tín của Thiên Hoàng bằng mọi cách.

Lý do chính là vì họ tin rằng quân phiệt chủ nghĩa Nhật Bản đã khai thác giá trị tiêu chuẩn tôn sùng Thiên Hoàng của xã hội Nhật để làm sức mạnh cho họ. Như thế thì, đả phá giá trị tiêu chuẩn đó là đả phá quân phiệt chủ nghĩa đến tận gốc rễ.

Nhưng các nhà lãnh đạo Nhật sở dĩ vận dụng hết cái nỗ lực để cứu vãn uy tín của Thiên Hoàng cũng vì họ ý thức được rằng giá trị tiêu chuẩn căn bản của xã hội Nhật là sự tôn sùng Thiên Hoàng. 

 

Trường hợp của người Nhật lại giúp cho chúng ta nhận định được thêm rằng: 

1.- Sự lỡ cơ hội phát triển lần thứ nhất cho dân tộc Việt Nam của triều đình nhà Nguyễn chẳng những đưa dân tộc chúng ta vào vòng nô lệ với tất cả các sự thảm hại tàn khốc, lại còn làm cho chúng ta mất nhiều khí giời vô song để chúng ta có thể thực hiện được công cuộc phát triển dân tộc, khi đã dành lại được độc lập vì phong trào: Nôm Na là Cha Mách Qué của Gia Long, để hướng tới thinh thần Vọng Ngoại Vong Nô.

 

2.- Ngoài các lý do chính trị ngắn hạn và dài hạn, sở dĩ Trung Cộng, sau khi dành lại được toàn vẹn chủ quyền đã chọn chủ trương huy động quần chúng bằng chính sách độc tài, theo lối Cộng Sản để phát triển, cũng vì các nhà lãnh đạo Trung Cộng đã nhận thấy, mặc dầu xã hội của họ chưa đến giai đoạn tan rã như xã hội của chúng ta, nhưng sự phá sản của các giá trị tiêu chuẩn cũ của Trung Hoa đã làm mất những tín hiệu tập hợp của văn minh cũ còn có thể sử dụng được.

Sau này chúng ta sẽ phân tích tỉ-mỉ xem hoàn cảnh có nhiều yếu tố giống hoàn cảnh của chúng ta, có thể áp dụng cho chúng ta không? 

XÃ HỘI VIỆT NAM?

Trở lại vấn đề sự tan rã của xã hội Việt Nam, sự trình bày trên đây đã cho chúng ta thấy rõ như thế nào là một xã hội tan rã, và vì sao mà tình trạng đó lại là một hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt cho công cuộc phát triển dân tộc của chúng ta. 

Một hình ảnh: Nói một cách khác, trước khi người Pháp đến chinh phục chúng ta, và đưa văn minh của họ vào đàn áp văn minh của chúng ta, trên sân khấu Việt Nam, dân tộc chúng ta đã diễn một vở tuồng, tuy có nhiều lớp hay, dở không đều nhau, nhưng trong toàn bộ, toàn thể dân tộc đều ưa thích.

 

Người Pháp đến đây chiếm sân khấu mang một vở tuồng hoàn toàn mới lạ có nhiều đặc tính đầy hấp dẫn nên mặc dầu trong thâm ý đã sẵn thành kiến bài ngoại, nhưng lần lần một số dân chúng đã bị lôi cuốn. Tuy nhiên, sự ưa thích chỉ đối với các chi tiết sắc phục và dàn cảnh bên ngoài, chớ cái thâm thúy của cốt truyện bên trong vẫn chưa được thâu hiểu và thưởng thức.

 

Sự kiện lịch sử xoay dần, người Pháp dọn gánh ra đi trả sân khấu lại cho chúng ta (1955). Và một số người đinh ninh rằng lớp tuồng cũ của chúng ta sau thời gian gián đoạn sẽ được đem ra tiếp tục diễn lại, trong sự tiếp đón nồng nhiệt của khán giả. Nhưng họ kinh ngạc thấy rằng dân chúng không còn hoan nghinh nữa. Bởi vì lớp tuồng của người Pháp đưa đến, chẳng những đã chiếm sân khấu và lôi cuốn một số đông dân chúng, nhưng lại còn đả phá ngấm ngầm những giá trị căn bản của lớp tuồng cũ, cho nên ngày nay dân chúng không còn thấy sự thích hợp của những giá trị căn bản đó nữa.

Ø  Nhưng vở tuồng của người Pháp lẫn cả đào kép của họ dân chúng càng không ưa. Tuồng Pháp nhất định phải bỏ đi, tuồng cũ không tái diễn được, cố nhiên là chỉ còn có một cách là sắp đặt một vở tuồng mới. 

Ví dụ trên đây, cốt mượn một hình ảnh ở một phạm vi nhỏ hẹp, đế làm cho vấn đề dễ nhận xét. Trong thực tế vấn đề phức tạp hơn nhiều bởi vì, phạm vi chính trị, nghĩa là phạm vi quốc sự là nơi hoạt động của nhiều người (toàn dân), trong khi đó công việc sắp đặt trong một gánh hát, là công việc của một người (lãnh đạo). 

Ví dụ trên lại giúp cho chúng ta nhận thấy thêm rằng, lịch sử không bao giờ là một sự tái diễn không ngừng. Vậy thì quan điểm lịch sử là một sự tái diễn không ngừng, là quan điểm không thiết thực của những lối suy nghĩ lười biếng và nhát sợ.

Lười biếng bởi vì: Thay vì phải nát óc tìm hiểu các sự kiện phức tạp của đời sống, sự chấp nhận rằng trong hoàn cảnh nào đó và khi những điều kiện nào đó đã được thỏa mãn thì tự nhiên các sự kiện lịch sử tương tự sẽ xảy ra, có vẻ giải quyết một lần một và bằng một cách dễ dàng các sự phức tạp của lịch sử.

Nhát sợ vì nếu được soi xét tường tận và phân tích tỉ-mỉ các sự kiện lịch sử sẽ lọc ra hết tính cách phức tạp kinh khủng để làm cho nhiều trí óc phải khiếp sợ, vì không thể bao quát nổi.

Cho nên thái độ lo rằng lịch sử là một sự tái diễn không ngừng là một lối trốn tránh không dám nhìn sự thật.

Sự thật là, nếu có nhiều sự kiện lịch sử giống nhau xảy ra trong những thời gian khác nhau, nhưng không bao giờ hoàn cảnh chung quanh và các yếu tố đều giống nhau cả.

 

Lời bàn củasoạn giả:

Chúng ta gặp một trở ngại phải giải quyết là: Tinh thần Tự Kiêu Tự Mãn nửa vời do nền giáo dục thọt của Tây Phương và của Cộng Sản tạo ra để phỉ bang nền Văn Hóa Thuần Việt. Chỉ vì không hiểu giá trị kết hợp của Truyền Thông cũ được canh tân, nên lớp người này cho là LẠC HẬU nên quay ra Vọng Ngoại và ca tụng nền Văn Hóa Việt Lai và Đa Văn Hóa.

Tỷ dụ cách xưng hô độc đáo của dân Việt có quy luật và nguồn gốc đ‹ xây dựng tình Đồng Bào, chỉ vì tinh thần vọng ngoại nên họ đả kích để áp dụng cách xưng hô nham nhở như Đồng Chí Đồng Chuột với nhau hay you/me – Toi/moi tức Mày Tao chí Tớ….. là một cách xưng hô của những liên hệ than thiêt trong một chừng mực nào đó thôi. Con không thể gọi Bố Mẹ bằng Mày hay Đồng Chí Bố, Đồng Chí Con được. Đây là hành động phá hủy giá trị tiêu chuẩn

Chúng ta có giải thích về chất liệu kết hợp dân tộc là Nền Văn Hóa Thuần Việt Cập Nhập nền Văn Minh Hiện Đại thì cũng khó làm thay đổi não trạng của họ vì tinh thầnTự Kiêu Tự Mãn và thiếu tinh thần Phục Thiện nên họ bỏ ngoài tai và theo định kiến đã in sâu trong đầu rồi.

Văn minh vật chất thay đổi thì môi trường sinh sống thay đổi do đó dù sự kiện cũ có xảy ra thì cách phản ứng cũng khác nhau. Nay chúng ta sống trong kỷ nguyên Điện Toán nên cách suy nghĩ ở thời đại kỹ nghệ vừa qua trở nên lỗi thời. Do đó cùng một sự kiện cách phản ứng phải khác nhau.

Vì thế nên Học Thuyết Rồng Tiên (600BC) mới nói đến tinh thần CẦU TIẾN, đó là ý nghĩa của chữ Việt tên chủng tộc. Việt có nghĩa là phải VƯỢT qua mọi trở ngại để thăng tiến cùng người. Đứng là lùi, mà lùi (tụt hậu) là tiêu đời.

           F   Tổ tiên chúng ta quả có cái nhìn rất xa mà chúng ta không hiểu!

²

Đã như thế chắc chắn rằng không bao giờ một sự kiện lịch sử lại xảy ra hai lần. Sự thật là không bao giờ chúng ta có thể tắm hai lần trong một giòng sông, và lịch sử là một giòng sông.  Để chứng minh cho quan điểm trên đây chúng ta đã thấy rằng cơ hội phát triển dân tộc đến với chúng ta đã hai lần, nhưng lần sau hoàn toàn khác lần trước, khác vì hoàn cảnh bên ngoài khác và khác như chúng ta đã phân tích trên đây, vì hoàn cảnh nội bộ đã khác. Dưới đây chúng ta lại có dịp phân tích tỉ-mỉ hơn nữa về hai cơ hội phát triển dân tộc đó. 

 

Ngoài ba hậu quả tai hại nhất mà chúng ta đã kể ra trên đây và đã thử phân tích và tìm hiểu nguyên nhân: Không có người lãnh đạo, có sự gián đoạn trầm trọng trong việc lãnh đạo quốc gia, và xã hội chúng ta tan rã, thời kỳ thống trị của đế quốc còn để lại cho chúng ta nhiều hậu quả khác, tuy cũng ảnh hưởng trên đời sống của dân tộc nhưng, so sánh với ba loại mà chúng ta đã xem xét trên đây với nhiều chi tiết, có thể vào hàng thứ yếu. 

 

Sự bang giao và ranh giới giữa chúng ta và các nước láng giềng, trong đó, có cả các nước đã hay không cùng với chúng ta cùng chung lệ thuộc một đế quốc, là những hậu quả của thời kỳ thực dân có thể liệt vào loại này. Vấn đề chuyển ngữ trong đời sống của quốc gia là một hậu khác cũng nằm trong loại này.

 

Việt Nam đang cần phải Tây phương hóa để phát triển dân tộc. Vì sao Tây phương hóa? 

Kể từ thế kỷ thứ 15 (1401-1500), khi các nước Âu Châu chế ngự được kỹ thuật vượt biển, và bắt đầu cuộc xâm chiếm thế giới, tất cả các quốc gia không thuộc vào xã hội Tây phương, không trừ một nước nào, đều bị sự tấn công mãnh liệt của họ.

Hoàn cảnh mỗi quốc gia bị tấn công đều khác, nhưng chung quy tất cả các phản ứng đều có thể liệt vào hai loại.

 

Các cuộc chinh phục thường thường tuần tự diễn ra theo một bối cảnh không thay đổi. Trước hết, các chiến thuyền ngoại quốc đến yêu cầu được trao đổi thương mãi với người bản xứ. Một thời gian sau họ thương thuyết được đặt những thương quán thường trực tại các hải cảng họ thường lui tới và theo liền với các thương quán, những phong tục mới được đưa vào cùng với những người có nhiệm vụ thương mãi.  Nếu số người càng ngày càng đông thì chẳng bao lâu nhu cầu về tinh thần lại đòi hỏi sự có mặt của những nhà tu sĩ.  

 

Cho tới giai đoạn này các nhà cầm quyền bản xứ, dầu có ngạc nhiên và ít nhiều báo động đối với các kỹ thuật tiến bộ của người ngoại quốc, cũng chưa thấy cần phải có một thái độ đối phó. Nhưng từ giai đoạn này, mãnh lực của tín ngưỡng mà giáo lý Gia-Tô đã hun đúc cho người Tây phương trong mấy thế kỷ, bắt đầu làm cho các nhà cầm quyền bản xứ lo ngại. Họ lo ngại trật tự cổ truyền của dân tộc sẽ bị sự xâm nhập của một vật ngoại lai, bởi vì các tu sĩ Gia-Tô, tin tưởng nơi sứ mạng thiêng liêng của mình đối với nhân loại, nên lúc nào cũng tìm cách thi hành phận sự truyền giáo. 

    Ø   Hãy coi cách chống đõ của nhà Tây Sơn về việc chỉnh trang lại hàng ngũ Phật Giáo

 

Bản năng tự vệ:

Phản ứng tự nhiên của các nhà cầm quyền bản xứ, là bản năng tự vệ của một sinh vật đối với sự xâm nhập của một vật ngoại lai vào trong nội bộ cơ thể của mình.

Mà một tôn giáo mới là một vật ngoại lai vô cùng nguy hiểm cho trạng thái điều hòa của một xã hội. Bởi vậy cho nên, phản ứng của các nhà cầm quyền là bảo vệ trạng thái điều hòa của xã hội bằng cách đóng cửa không để cho vật ngoại lai xâm nhập.

Trong thực tế và trong lĩnh vực chính trị một thái độ như vậy có nghĩa là bài ngoại, và bế quan tỏa cảng không tiếp nhận những luồng gió ở ngoài đưa vào. Đó là thái độ tự nhiên và hợp với bản năng tự vệ của mọi sinh vật, và cũng là thái độ của hầu hết các dân tộc bị Tây phương tấn công khi nhận thức nguy cơ đe dọa xã hội mình.

Lịch sử đã chứng minh rằng: Một thái độ như vậy sẽ đắc thắng nếu đồng thời, kỹ thuật vật chất có đủ tiến bộ và lực lượng võ trang có đủ hùng hậu để làm hậu thuẫn.

Ø  Bằng không, thái độ đó sẽ là một tử lộ. 

 

Lời soạn giả:

NGOẠI TRỪ NHÀ TÂY SƠN mở cửa tự do cho Giáo Sỹ Tây Phương để tìm hiểu xã hội Tây phương mà biết đường Tây phương hóa. Đồng thời chỉng tranh lại cách tổ chức của Phật Giáo để đi kháng với Ki Tô giáo

------------------

Lý trí phản công:

Thái độ thứ hai là thái độ của một vài nước như Nga, Nhật và sau này là Thổ-Nhĩ-Kỳ. Thay vì đóng cửa lại để sống trong nhà và phủ nhận thực tế đang xảy ra ngoài ngõ mình, vì sợ vật ngoại lai xâm nhập vào và gây xáo trộn trong nội bộ, các nước trên đây đã có can đảm để nhìn nhận sự thật và đủ lý trí để trấn áp bản năng, phân tích thực tế và tìm được đường sống.

 

Một sự tình cờ lịch sử đã đặt vào nhiệm vụ lãnh đạo các quốc gia đó, những người sáng suốt khác thường khả dĩ dẫn dắt dân tộc họ lựa chọn tìm được sanh lộ trong một giai đoạn quyết định cực kỳ nguy hiểm.

-         Thái độ thứ nhất có tính cách phòng thủ và bản năng.

-         Thái độ thứ hai có tính cách lý trí và phản công.

 

Đứng trước nguy cơ, thái độ thứ nhất có nghĩa là thi hành một biện pháp dễ nhưng đưa đến thất bại, thái độ thứ hai là thi hành một biện pháp khó nhưng đưa đến sự thành công.

Trong thực tế, trong các quốc gia đã lựa chọn thái độ thứ nhất, các nhà lãnh đạo đã đóng cửa các hải cảng, đánh đuổi người ngoại quốc ra khỏi lãnh thổ, bài trừ tất cả các di tích của họ để lại. Nhưng những người này, chẳng bao lâu sẽ trở lại với những khí giới tân tiến hơn, và những lực lượng võ trang tổ chức hoàn bị hơn và sẽ chiến thắng dễ dàng những khí giới lạc hậu và những lực lượng vô tổ chức của người bản xứ. Và sau đó, tất cả những điều gì mà họ không chiếm được bằng lối thương thuyết thì họ lại chiếm được bằng võ lực.

Hơn nữa, sự giao hảo giữa hai quốc gia sẽ không còn và nhường chỗ lại cho sự kiện người chiến thắng thống trị kẻ chiến bại. Hậu quả dành cho các dân tộc lâm vào hoàn cảnh ấy như thế nào thì chúng ta đã rõ.

 

Nguyên nhân của sự thảm bại cho nhiều dân tộc chỉ ở chỗ bản năng tự vệ của họ quá mạnh lấn áp cả trí sáng suốt, nên các nhà lãnh đạo không nhận thức rằng kỹ thuật lạc hậu của mình kém xa kỹ thuật của địch, và kỹ thuật đã kém thế thì không làm thế nào hậu thuẫn cho bất cứ chủ trương chính trị nào được.

 

Trái lại, trong các quốc gia đã lựa chọn thái độ thứ hai, thì các nhà lãnh đạo đã nhận thấy nguy cơ do vật ngoại lai mang đến cho trạng thái điều hòa của xã hội mình. Tuy nhiên, đồng thời họ cũng đủ sáng suốt và óc thiết thực để nhận xét rằng kỹ thuật lạc hậu của nước mình không làm sao bảo đảm thắng lợi trong một cuộc chiến tranh. Và vì vậy mà phương pháp hay nhất để bảo vệ xã hội bị đe dọa bởi các sự vật ngoại lai lại chính là việc mở cửa để đón các luồng gió ngoại lai vào. Bởi vì chỉ có cách đó mới giúp cho họ chế ngự được những kỹ thuật của địch thủ, để chống lại địch thủ. 

 

Như chúng ta đã thấy, đằng nào chúng ta cũng không tránh được sự xâm nhập vào nội bộ xã hội chúng ta của các vật ngoại lai. Nhưng trong thái độ thứ nhất sự xâm nhập sẽ xảy ra bằng võ lực, ngoài ý muốn của chúng ta và chúng ta sẽ không chủ động được.

 

Trong thái độ thứ nhì, chúng ta tự ý để cho sự xâm nhập thực hiện và vì vậy nên chúng ta chủ động được sự xâm nhập đó. Và chính vì chúng ta chủ động được sự xâm nhập đó mà các giá trị ngoại lai thay vì phá vỡ được trạng thái điều hòa của xã hội chúng ta, chỉ có thể thay đổi được trạng thái đó mà thôi.

 

Trong khi đó một sự xâm nhập không thể kiểm soát được sẽ làm sụp đổ trạng thái điều hòa của xã hội. Và, trong một xã hội bình thường, việc thay đổi trạng thái điều hòa là một sự kiện thông thường, trái lại sự sụp đổ là một tai biến. 

 

Tóm lại: Đứng trước sự tấn công của Tây phương, con đường chết là con đường bế quan tỏa cảng ngăn cấm không cho văn minh Tây phương xâm nhập vào xã hội của nước bị tấn công; con đường sống lại là con đường mở cửa đón rước văn minh Tây phương để học chế ngự kỹ thuật của Tây phương mà chống lại Tây phương.

 

Nước Nga, sau nhiều thế kỷ chống lại sự tấn công của Tây phương, đã tìm thấy sự thật như trên, và nhiều lấn trong lịch sử nước Nga đã chiến thắng các cường quốc Tây phương sau khi đã Tây phương hóa kỹ thuật của mình.

Nhưng cũng nhiều lần bị Tây phương chiến thắng vì kỹ thuật của Tây phương tiến triển không ngừng trong khi người Nga không làm cho kỹ thuật đã lấy của Tây phương phát triển. Đây cũng là một điều vô cùng quan trọng trong việc Tây phương hóa mà chúng ta sẽ phân tích tỉ-mỉ sau này. 

 

Lời soạn giả: Có lẽ lý do là môi trường chánh trị kìm hãm phát triển nhân tài nên không thể thi đua văn minh với Tây Phương được. Coi đường lối chánh trị quân phiệt của Bắc Kinh và Hà Nội là một bằng chứng cụ thể của sự tụt hậu.

 

Những nhà lãnh đạo Nhật, trong giai đoạn nước Nhật bị Tây phương tấn công, đã nhận thấy được ngay những biện pháp cần thiết phải thi hành trong giờ phút quyết liệt cho dân tộc. Thành công của họ như chúng ta mục kích ngày nay là một xác nhận rõ rệt nhất về sự lựa chọn đúng hay không giữa hai thái độ.

 

Ngày nay, thái độ mà nước Nga và nước Nhật đã lựa chọn trước một sự tấn công của một nước tiến bộ hơn về kỹ thuật, đã được công nhận khắp nơi, và đã được nghiên cứu và đúc thành một giải pháp khoa học, khả dĩ áp dụng cho các nước khác trong hoàn cảnh đó. Công cuộc mà ngày nay Trung Hoa đang dốc hết cố gắng của toàn dân để thực hiện chỉ là một sự chấp nhận thái độ của Nga và Nhật đã chọn. Và các nước chậm tiến khác hiện nay cũng đang cố gắng đi vào con đường đó. 

 

Tuy nhiên, trước đây có nhiều người lãnh đạo chủ trương một thái độ vô cùng cực đoan. Sau khi chiến bại rồi, và nước nhà đã bị ngoại quốc thống trị, hay chủ quyền đã sứt mẻ, và vận mạng quốc gia không còn do mình chủ động được nữa, nhiều nhà lãnh đạo vẫn chủ trương bảo vệ cho đến kỳ cùng trạng thái điều hòa của xã hội cũ.

Đó là một công cuộc nhất định phải thất bại. Bởi vì các giá trị tiêu chuẩn của xã hội kết hợp thành một trạng thái điều hòa, cũng có một đời sống như sinh vật. Nghĩa là giá trị tiêu chuẩn cũng sinh nở, phát triển, trưởng thành, suy đồi và chết. Như vậy trong trường hợp chiến bại, các giá trị tiêu chuẩn cổ truyền sẽ chết lần, vì chủ quyền không phải người bản xứ trọn nắm, vận mạng quốc gia không phải họ chủ động, thì các giá trị tiêu chuẩn cổ truyền một mặt không ai vun tưới, một mặt bị các giá trị ngoại lai, đang chiến thắng, tấn công ồ ạt và đả phá uy tín. 

Như vậy, các sự kiện lịch sử, trong vòng năm thế kỷ sau này, đã chứng minh rằng khi một nền văn minh bị một nền văn minh khác, chế ngự được những kỹ thuật tinh xảo hơn, tấn công, thì con đường sống của nền văn minh bị tấn công, là mở cửa đón lấy các kỹ thuật của địch thủ. 

--------------------------------------------

 

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil