mardi 13 août 2024

T15(a) Vụ đói nam Ất Dậu (1945)

T15(a) Vụ đói nam Ất Dậu (1945)

Livestream/Facebook Nỗi Niềm Quê Hương

Ngày nói chuyện 15.01.2021

Diễn giả Hoàng Đức Phương, chứng nhân lịch sử

 

VỤ ĐÓI NĂM ẤT DẬU (1945)

Nguyên nhân, kế hoạch và sự thiệt hại

ö

NÔ LỆ NGƯỜI PHÁP

- Chánh sách của Pháp là Giáo Dục NGU DÂN và DIỆT CHỦNG – coi sách giáo khoa thời đó thì rõ (chương trình huấn luyện nhân tài vong nô, y chang Việt Cộng ngày hôm nay nè).

 

RẰNG :

Muốn coi dân trí ra sao thì chỉ việc sưu tầm bộ sách Giáo Khoa huấn luyện người tài giúp nước hay người tài vong nô thì rõ .

95% mù chữ, tiếng Việt thì bôi bác vì họ tuyển chọn người THÀY vừa dốt tiếng Việt, lịch sử Việt, Văn Hóa Thuần Việt lại vừa ngô ngọng tiếng Pháp nên trò trở thành người Việt lai căng, tự ti mặc cảm, chê bai tổ tông với châm ngôn NÔM NA LÀ CHA MÁCH QUÉ do Gia Long phát động ngay sau khi lên ngôi (1802).

 

Vì thế nên mới có tinh thần vọng ngoại, y chang như thế hệ Việt Nô Cộng Sản ngày hôm nay : Quyết tâm xóa bỏ nền Văn Hóa Thuần Việt để thay bằng Nền Văn Hóa Marx, Lénine và Mao Trạch Động và ca tụng chủ nghĩa Tam Vô (vô gia đình, vô Tổ Quốc và vô Tôn Giáo) để tiến tới ĐẠI ĐỒNG THẾ GIỚI do NGA TÀU lãnh đạo.

Đồng thời cổ xúy tiêu diệt dân Việt bằng Phong Trào Giai Cấp Đấu Tranh, người Việt giết người Việt và TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO ĐÀO TẬN GỐC TRỐC TẬN RỄ.

Chương trình tiểu học vào năm thứ năm (cours Moyen 2=Trung Bình cầp 2) thì chỉ có 1 giờ học tiếng Việt trong 25 giờ 1 tuần. Các môn khác Thày phải dạy bằng tiếng Pháp bồi giọng Việt, trò thì nghe chữ được chữ không.

Đến năm chót (cours Supérieur thì Thày nói toàn tiếng Pháp, không được quyền giảng bằng tiếng Việt nữa).

HẬU QUẢ :

Khi ra đời thì các em (nay cũng 90 tuổi rồi) tự cho mình là giỏi khi dùng tiếng Việt lai Tây mà không biết, vỉ thế nên tư tưởng bị đóng khung, nên phỉ báng cái đúng và tôn sùng cái sai.

Ø  Thế hệ hiện tại đang mắc phải cái lỗi lầm này đây.

Một vài tỷ dụ điển hình : Ông Thày dạy tiếng Việt qua tiếng Pháp gà mờ nên dịch chữ MONOSYLLABE ra ĐỘC ÂM (UNISYLLABE) nên ta hiểu sai ngôn từ của tổ tiên vì thế nên không đọc được thông điệp người xưa ký thác trong Chuyện Huyền Thoại.

TỰ VỊ là vị trí của một tiếng trong toàn bộ tiếng Việt. Tự Vị là nói ý nghĩa của một chữ theo quy luật ang dùng thì lại lẫn với TỰ ĐIỂN là điển tích của ch đó từ ngày khai sinh cho đến nay, ý nghĩa thau đi ra sao.

Tỷ dụ :Chữ TẠO HÓA SINH RA, theo TỰ VỊ ý nghĩa ngày hôm là có một đấnh vô hình tạo ra. Đó là giải nghĩa theo SUY DIỄN của các TRIẾT GIA khi bí không giải thích được.

Như là TỰ ĐIỂN thì giải thích là danh từ này phát xuất từ 10.000BC lúc đó còn ăn lông ở lỗ thì ý nghĩa như sau : TẠO là sinh ra và HÓA là biến đổi. Do đó Tạo Hóa Sinh Ra là do sự thay đổi trạng thái chứ chẳng có ai sinh ra cả.

Từ chữ TẠO HÓA mới sinh ra chữ LÝ DỊCH, rồi biến thành KINH DỊCH.

1)     KINH DỊCH mới đẻ ra TỬ VI ;

2)     Tử Vi cần Bói (bốt) và Tán (đoán)

3)     Bói Toán mới đẻ ra tục XIN XÂM và từ từ biến thành MÊ TÍN rồi CUỒNG TÍN vì không tin vào khả năng của mình nữa ; nhưng lại muốn biết tương lai đi về đâu ?

Nói ra để mọi người tự kiểm chứng sự hiểu biết của mình mà tìm đường trau dồi kiến thức.

Tuy có những tên TOÀN QUYỀN làm việc theo chỉ thị của BỘ THUỘC ĐỊA nhưng cũng có những người có lương tâm không muốn tiêu diệt Văn Hóa và Văn Minh của dân ìệt nên đã tự ý phá luật để khai phóng dân trí thì bị ngay bọn TÀI PHIỆT ngăn cản, giống như bọn quan lại Việt Nô Cộng Sản ngày nay muốn tháo cũi cho dân thì bị đốt lò ngay lập thức mà mọi người có thể tự quan sát vào tự sửa soạn để chớp thời cơ như vụ đói năm Át Dậu. Do đ người dân phi tự lo lấy mọi việc để chớp thời cơ, giành quyền TỰ QUYẾT định lấy tương lai của dân tộc. Đừng trông chờ vào kẻ THỐNG TRỊ

Điển hình là dưới thời Toàn quyền Albert Sarraut, ông ta đề xướng chuơng trình huấn luyện sỹ quan cho dân Việt, thì lập tức bọn tài phiệt De Monpaysage đả kích kiệt liệt chương trình này trên tờ La Cloche frélée (tiếng chuông rè) với lý luận như sau để chửi Albert SARRAUT là tên PHẢN QUỐC, với lập luận tóm lược như sau :

·        Nhiệm vụ của người lính là bảo vệ độc lập của đất nước. Nay huấn luyện chúng để chúng đuổi chúng ta ra ngoài biển hay sao ?

·        Nếu không thì chúng là những thằng lính hèn đi phục vụ chúng ta để được hãnh diện mặc nhung phục. Tôi không muốn có những thằng lính hèn hạ trong QUÂN ĐỘI của nước ĐẠI PHÁP

Vì thế nên chương trình này bị dẹp, và dân ta tiếp tục kiếp sống nô lệ mà hậu quả là vụ đói năm Ất Dậu (từ tháng 11/1944 đến tháng 05/1945) làm tiêu hao nhân mạng và tiềm năng dân tộc.

Do đó bọn Việt Nô Cộng Sản mới đứng lên CƯỚP CHÁNH QUYỀN trong tay Chánh Phủ Trần Trọng Kim vào ngày 02/9/1945 trong im lặng, không kèn không trống, khng có lễ Nhậm Chức hay Tế Cáo trời đất DẸP LOẠN AN DA6N như Hoàng ĐẾ Quang Trung.

Sở dĩ bọn Việt Nô Cộng Sản cướp chánh quyền dễ dàng như vậy là vi sự thờ-ơ của quần chúng do sự mệt-mỏi sau cái đói và sự u-mê do chương trình giáo dục của Thực Dân Pháp tạo ra.

 

Vì thế nên mới có bài tường trình này để thức tỉnh toàn dân hãy tự lo lấy việc nước của mình, đừng ỷ lại vào bất cứ ai mả hãy tự : CHẤN DÂN KHÍ và KHAI DÂN TRÍ, sau đó mới Hậu Dân Sinh tức đời sống (Phan chu Trinh).

ö

SỰ HIỆN DIỆN CỦA LÍNH NHẬT

MỘT CỔ 2 TRÒNG :

Trên thực tế thì người Pháp cai trị, nhưng sự thực họ làm theo lệnh người Nhật ; vì người Nhật chưa đủ khả năng để trực tiếp cai trị.

 

SƠ LƯỢC DIỄN BIẾN THỜI CUỘC

1.      Một Cổ hai tròng (11/11/1942-16/8/1945)

2.      Vụ đói năm Ất dậu : Nguyên nhân và kế sách giết dân vô tội

3.      Đổi chủ (09.03.1945) ; Chánh Phủ Trần Trọng Kim ra đời

4.      Thâu hồi ĐỘC LẬP trời cho mà không biết giữ (16/08/1945)

5.      LOẠN TẶC lên ngôi (02/9/1945) phá hủy độc lập non yểu của dân tộc

õ

TÓM LƯỢC VÀI HÀNG

1/- MỘT CỔ 2 TRÒNG (11/1942 - 16/8/1945)

RẰNG :

Đệ nhị thế chiến bùng nổ vào năm 1939 do phe TRỤC (liên hoành) gồm ĐỨC , Ý và NHẬT gây chiến. Phe chống lại bên Âu Châu gồm Mỹ, Gia Nã Đại, Anh và Pháp thành lập liên minh gọi là Đồng Minh (hợp tung) đánh Đức ở phía Tây và Liên Bang Sô Viết do NGA cầm đầu đánh Đức ở phía Đông, 2 phe liên kết tấn công Đức cùng một lúc. Đức thua vào năm 1945. Nga chiếm phía Đông và Đồng Minh chiếm phía Tây.

Hai phe liên minh đánh Đức, nhưng sau đó lại quay lại đánh nhau trong chiến tranh lạnh , chạy đua vũ khí mà nơi thử vũ khí mới là nước Việt Nam do Hồ Chí Minh đem tới bằng 6 văn kiện bán nước.

 

Không có Hồ Chí Minh thì không có chiến tranh thử vũ khí từ 02/09/1945 đến ngày 30/04/1975 trên nước Việt. Cuộc chiến này là hậu quả của nền Giáo Dục nô lệ của Thực Dân Pháp và hậu quả cũa vụ đói năm Ất Dậu (từ cuối tháng 10.1944 đến đầu tháng 5/1945).

Vì thế nên chúng ta mới tìm hiểu : Tại sao bọn thống trị lại bao vây dạ dày bằng chế độ TEM PHIẾU và Hộ Khẩu để biết đường chống đỡ. Bọn Việt Nô Cộng Sản cũng áp dụng đúng chính sách này ; nhưng khôn hơn nên dân ta khổ hơn và khó thoát ra hơn là thời nô lệ Ngoại Bang.

 

Ý-Đại-Lợi bỏ cuộc nên chỉ còn đánh NHẬT ở Á Châu do MỸ đánh một mình vì các đồng minh không tham gia vì, đường thủy bất tiện, không nguy hiểm cho họ và hơn nữa là kiệt sức rồi.

 

Tình hình chiến sự khu vực Á Châu và Âu Châu cho chúng ta thấy nguyên nhân nào mà Nhật lại muốn trấn áp dân Việt bằng nạn đói để sai khiến cho dễ. Y chang như Mỹ bỏ rơi miền Nam cho Nga và Tàu đánh nhau.

Vì thế nên thế hệ hiện tại phải rút kinh nghiệm để thoát hiểm. Phải nhìn toàn cảng chứ không thể nhìn cục bộ trong lũy tre làng. Vì dân ta bị các cường quốc thế giới chi phối ; muốn thoát ra chỉ còn cách KHAI PHÓNG DÂN TRÍ vá chấn chỉnh lại DÂN SINH để đừng có cuộc chiến ngu xuẩn người Việt giết hại lẫn nhau bằng PHONG TRÀO GIAI CẤP ĐẤU TRANH vửa qua mà dư âm nỗi ngày mỗi trầm trọng dò do tâm trí u tối do chánh sách nhồi sọ của bọn Việt Nô Cộng Sản

 

2/- VỤ ĐÓI NĂM ẤT DẬU (1945)

 

Nguyên nhân và kế sách giết dân vô tội

Như đã nói ở trên về tình hình thế chiến thứ 2, người Pháp thuộc phe bại trận nên cho tinh tức tình báo cho Mỹ để oang tạc lình Nhật trên nước Việt, máy bay Mỹ cất cách từ Hàng Không Mẫu Hạm ở biển Nam Hải, lúc này người Mỹ đã chiếm được Phi Luật Tân và kiểm soát được vủng biển NAM HẢI, không quân và thủy quân của Nhật không còn đủ sức bảo vệ không gian vùng biển NAM HẢI nửa nên gồng mình lãnh đạn.

Người Nhật thì không đủ sức cai trị nước ta một cách trực tiếp.

Dân Bắc lợi dụng tình thế rối ren nên lập đảng và các khu vực kháng chiến. Lúc này đảng phái mọi lên như nấm. Do đó Nhật cũng như Pháp tìm cách kiểm soát dạ dàn và lên kế hoạch như sau :

1.      Vụ mùa năm 1943 (tháng 5/1943) đang tốt, lúa đang lên đòng đòng thì qua huyện (nay là Quận Trưởng) sức xuống phải nhổ đi lấy ruộng trồng đay. Mục đích là bao nhiêu lúa dự trữ trong dân gian đổ ra ăn, thiếu thì gạo trắng trong Nam chở ra tiếp tế. Gạo trắng trông thì đẹp như không có cám nên ăn cơm với muối thì thiếu dinh dưỡng nên bị phù. Gọi xay bằng máy nên quay nhanh thì cám tách r ; quá nhanh thì hột gọi vỡ đôi thành TẤM. Người miền Bắc lúc đó không biết, thấy gạo càng trắng thì cáng ham.

Thiệt hại thì chánh quyền bồi thường thoả đáng coi như thu mua với giá hời. Mục đích là đổ lúa gioấng ra mà ăn, gạo trong nam tải ra thì Nhật và Pháp phối hợp kiểm soát. Còn tiền thì họ in ra nên không sợ thiếu.

Đó là chánh sách TEM PHIẾU để kiểm soát thực phẩm, bảo không nghe thì chết đói… Nay cúng ta phải tranh đấu để có ĐỘC LẬP KINH TẾ là đi-éu phải làm. Có độc lập kinh tế thì mới có độc lập chánh trị

 

2.      Trồng đay xong thì họ lại thuê tước đay thành sợi. Lúc này phải ngâm đay trong ao.

Chất đắng của đay thoát ra làm chết cá. Và họ trả công đàng hoàng. Lúc này thì hồ ao gì đều chết vì chất đắng của đay thải ra mà dân ta không biết.

Đồng thời ruộng nương đề bị chất đắng của đay làm thành đất vô dụng.

3.      Năm sau 1944 mất mùa vì đất đắng, bao nhiêu lúa dự trữ đem ra bán để cứu đói. Gạo trong Nam có tải ra nhỏ giọt, khi cần thì ngưng.

Mỏ than Hòn Gay không được khai thác, nhân công thất nghiệmnên không lập đảng được.

Trong khi đó thì nhà máy Nhiệt Điện trong Nam cần than thì vì lúa thặng dư nên dùng than than đốt lò. Thế là dân ta rơi vào tử địa ;

4.      Cuối tháng 10/1944 lác đác đã có người chết vì đói, chết rộ vài tháng 02/1945 đến giáp hạt đầu tháng 05/1945. Chết đủ cách và đủ kiểu. Người giàu cũng chết vì nhiều lý do lãng xẹt như lúa thừa đem cứu đói, chỉ để dành đợi ngay mùa. Nhưng than ôi đáy cót còn toàn chấu vì chuột ăn hế rồi. Có người đợi bắp ra trái thì bị trộm lẻn vào ăn khi bắp còn nong.

5.      Chết dữ đến độ không có người chôn.Xác chết trở thành phan bón ruộng nên vừa mới cắt rơm, chi kịp cắt dạ thì lúa đâm bông thư nhì chĩ vỉ được bón bằng xác người.

Dân quê ra tỉnh xin ăn, sau một đêm gục ra chết, thành phố phải thuê người đi lượm xác, đem 2 cái tai về để nhận tiền công. Người phu đi lượm xác thở ra lỗ t   ai ; ngày hôm sau đến lượt họ gục trên đường phố. Cảnh tượng thật thương tâm.

Những người không lết lên thành phố được thì chết gục đó đây trên bờ ruộng, không người chôn cất. Trẻ em chết còn da thịt trên bờ ruộng thì sáng hôm sau mất miếng đùi để bán ngoài chợ là thịt heo.

Với tình Đồng Bào ngưới dân chỉ còn cách bảo nhau mỗi ngày húp một tô cháo loãng để cầm hơi cho đến ngày mùa, để dành gạo cứu đói.

Lúa gạo thì giá tăng vòn vọt, một ngày 3 giá. Có tiền cũng không mua đuợc

6.      Trong khi đói với được gì thì ăn đó do đó bệnh tật tràn lan không thuốc chữa trị. Vụ mùa ới thiếu thợ gặt. Gặt xong về ăn một bữa no nê rồi về chầu Tổ vì bội thực do ruột nhịn đói lâu ngày nên năng xuất sút giảm vì ruột mỏng do lâu ngày khôn làm việc ;

 

Đó là nói sơ lược về thảm trạng đói do kẻ thống trị gây ra bằng chánh sách kiểm soát dạ dày, NÔ LỆ KINH TẾ, và chế dộ TEM PHIẾU.

Sự thực còn đau sót và thê thảm hơn nhiều mà chứng nhân không đủ can đảm để diễn tả hết nỗi bạc phước của dân ta do nền học vấn sai lầm từ thời vua Lê Thánh Tông (1460AD). Nay hớ đòi ĐỘC LẬP KINH TẾ vì có thực mới vực được đạo. Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì tự đào huyệt chôn mình

 

     HẬU QUẢ:

Trong có mấy tháng trời chết hơn triệu người do đó chánh phủ Trần Trọng Kim thiếu người Cộng tác khi Nhật trao trả độc lập cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

Tại sao Nhật không tao trả miền Nam luôn một thể ? Không được, vì đó lá đất của nước PHÁP, chứ không phải đất bị Bảo Hộ. Trong đầu chúng ta thì Việt Nam là một, nhưng trong thực Tế Việt Nam lúc đó chỉ có Bắc Kỳ và Trung Kỳ, nguy hiểm hơn nữa là lại chia vùng theo quy chế đặc biết… Giống như nước ta ngày hôm nay, dưới sự THỐNG TRỊ của bọn Việt Nô Cộng Sản nó chia ra nhiều giai cấp để kìm kẹp cho dễ. trong lãnh thổ lại có nhiều ĐẶC KHU KINH TẾ và ĐẶC KHU CHÁNH TRỊ nên mới có bảng nói rõ là : CẤM NGƯỜI VIỆT NAM VÀO NƠI ĐÂY .

Ø  Không biết đoàn kết để giữ nước, mất chủ quyền thì khổ như vậy đó

 

 

3/- NGÀY ĐỔI CHỦ : 09.03.1945

Chánh Phủ ĐỘC LẬP Trần Trọng Kim ra đời 07/4/1945

Tối ngày 09/3/1945 Nhật bắtPháp nhốt tù, đến sáng hôm sau thì Đông Dương (Việt, Miên, Là) đổi chủ.

Sáng ngày 10/3/1945 Nhật trao trả Bắc Kỳ và Trung Kỳ cho Hoàng Đế Bảo Đại.Nhật quản trị Nam Kỳ lúc đó là đất của nước Pháp do vua Tự Đức dâng hiển để nhờ Pháp bảo vệ ngai váng cho nhà Nguyễn

Ngày 11/03/1945 : Hoàng Đế Bảo Đại lên diễn đàn Quốc Tế đọc tuyên ngôn độc lập.

-----------------------------

Tuyên ngôn độc lập của Hoàng Đế Bảo Đại

Đây là một bản văn tương đối ngắn so với những bản văn cùng loại, nhằm ba mục tiêu chính yếu là hủy bỏ một hòa ước Triều Đình Huế đã ký với nước Pháp, tuyên bố Việt Nam độc lập,đứng vào khối Đại Đông Á trong chương trình phát triển chung, đồng thời bày tỏ sự tin tưởng vào lòng  thành của nước Nhật với nguyên văn như sau:

 “ Cứ tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi  Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này điều ước bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập.                                                       .
“ Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vương chung. Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên”  

Bản Tuyên Bố được đề ngày 11 tháng Ba năm 1945 tức ngày 27 tháng Giêng năm Bảo Đại thứ 20 được Bảo Đại ký tên với sáu thượng thư phó thự. Sáu vị thương thư gồm có:

Phạm Quỳnh, bộ Lại, Hồ Đắc Khải, bộ Hộ, Ưng Úy, bộ Lễ, Bùi Bằng Đoàn, bộ Hình, Trần Thanh Đạt, bộ Học, và Trương Như Định, bộ Công. Theo Bảo Đại đây là lần đầu tiên trong lịch sử một văn kiện được ký bởi nhà vua và tất cả các nhân vật quan trọng nhất trong triều đình.

Nguồn: Wikipedia, Sử Gia Phạm Cao Duơng

²

Ngày 07/4/1945 Chánh Phủ Trần Trọng Kim ra đời:

·        Quốc hiệu Việt Nam (trước đó ta không có tên nước vì do nguời Pháp bảo hộ nên mình chỉ là một phần lãnh thổ của nước Pháp, theo quy chế chánh trị riêng)

·        Quốc Kỳ là cở Quẻ Ly với ý nghĩa xí phần; Nước Nam của người Việt Nam.)

Trước đó vì không có nước nên không có Quốc Kỳ. Cờ Long Ting là Đế Kỳ của nhà Nguyễn vẫn dung song saong với Quốc Kỳ là cờ Quẻ Ly. rất nhiều người không hiểu rõ Quốc Kỳ, Đế Kỳ và Đảng Kỳ nên cho tuốt luớt là Quốc Kỳ.

Do đó nên cãi nhau om-xóm như: Quẻ Ly là Quốc Kỳ, Long Tinh là Đế Kỳ, cờ đỏ sao váng là Đảng Kỳ của đảng Việt Cộng, một chi nhánh của Cộng Đảng Quốc Tế.

Quốc Kỳ là quan niệm bang giao Quốc Tế của Tây Phương khi đổ thể chế LÃNH CHÚA sang Quốc Gia có từ thế kỷ thừ 14.

 

Ngay khi lập nước vào năm 2.879BC, thì 3 nước NGÔ, SỞ và VIỆT đều lấy màu của Nền Cờ để nói rỏ ai làm chủ mảnh đất này.

·        Người Ngô thì nói Thiên Tử: Con trời sai xuống để khai phóng cho muôn dân;  nên họ lấy màu đỏ của lửa mặt trời làm nền cờ.

·        Người Việt nói Dân Tộc có trườc, Đất Nước có sau nên quan niệm đất nước là của dân tộc. Dân làm chủ nên lấy sắc thái của dân Việt làm nền cờ.

Lúc đó người Việt lấy lụa tơ tầm là cppé hiệu nên chọn luôn màu vàng làl sắc thái dân tộc nên gọi là DÂN TỘC KỲ còn cho tới ngáy hôm nay.

Lục có từ 8.000BC phát xuất từ Thượng Hải. Lúc đó người ta lấy xương cá làm kim, lấy vỏ sò làm dao và lấy mo cau làm go

·        Nước Sở thì chưa biết vì thiếu tài liệu để suy đoán

Do dó, chúng ta phải thận trọng màu vàng của nền Quốc Kỳ để nói lên tính cách chủ nhân ông của đất nước.

Ø  Nền Vàng của lụa tơ tầm là SẮC THÁI CỦA DÂN VIỆT có từ ngày lập nước Văn Lang (2.879BC), do đ& NỀN VÀNG ngụ ý là DÂN VIỆT làm chủ nước Việt. Đó là ý nghĩa của cờ Quẻ Ly (nước Nam của người Việt Nam).

Theo Bát quái (phát xuất từ LÝ DỊCH của dân Việt vào 10.000BC), thì chữ Ly là lửa ở phương Nam.

·        Cờ Quẻ Ly là cờ của nước ở phương Nam (Bắc Hán Nam Việt , lấy sông Dương Tử làm ranh giới dưới thời Triệu Đà (207BC) với Quốc Hiệu là nước NAM VIỆT, tức phía Nam sông Dương Tử là đất của người Bách Việt dưới thời Câu Tiễn (#600BC) đã được ký thác trong chuyện Rồng Tiên mà chúng tôi đã bạch hóa trong đợt đầu : Phục Hồi Dân Khí.

 

Ø  Với quan niệm của tiền nhân thì cờ Nến Đỏ với ngôi Sao Vàng là cở Đảng Kỳ của Đảng Việt Cộng, một chi nhánh của Đảng Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản chứ không phải là Quốc Kỳ. Vì;

1.      Nó không đáp ứng được những điều kiện để trở thành Quốc Kỳ.

2.      Nó là lá cờ mất nước, mất nước thì làm gì có Quốc Kỳ; như thời Pháp thuộc

3.      Nếu cho nó là Quốc Kỳ thì phải giải thích ý nghĩa như sau: Nước Việt thuộc quyền sở hữu của đảng ĐỆ TAM QUỐC TẾ CỘNG SẢN (nền đỏ của máu quân thù) do chi nhánh đảng Việt Cộng quản lý bằng bàn tay 5 ngón bóp cổ nạn nhân và dung liềm cắt tiết để lấy máu nhuộm cờ. Rõ rang người Việt không làm chủ nước Việt thì làm sao có Quốc Kỳ đây?

 

Chánh phủ độc lậpTrần Trọng Kim ra đời đúng lúc Quốc Tang bối rối nên thiêu nhân sự làm việc. Thành phần Chánh Phủ toàn là người Việt. Chỉ đạo tối cao là Hoàng Đế Bảo Đại nên không thể nói là nô lệ ngoại bang được.

 

4/- THÂU HỒI ĐỘC LẬP TRỜI CHO 16/8/1945

·        Ngày 06/8/45 Nhật ăn một quả bom Nguyên Tử ở Hiroshima

·        Ngày 09/8/45 Nhật ăn them một bom Nguyên Tử ở Nagasaki

·        Chiều ngày11/8/45 Nhật Hoàng lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện

·        Ngày 15/8/1945 Phái đoàn Nhật Hoàng đích than lên chiến hạm Mỹ để ký giấy đầu hàng trước phe đồng minh làm chứng

·        Tối ngày 15/8/1945 Nhật Hoàng hạ lệnh án bin bất động và trao trả độc lập cho dân ở nơi đóng quân

·        Sáng ngày 16/8/45 Tư lệnh quân Nhật ở Việt Nam đế Hoàng Cung trao trả nốt Nam Kỳ cho Hoàng Đế Bảo Đại.

 

Như vậy là nước ta đảo có ĐỘC LẬP và TOÀN VẸN LÃNH THỔ kể từ ngày 16.8.1945, bây giờ chỉ việc lo bảo vệ sự tự chủ.

Chúng ta dốt chánh trị đã đành, vì bị bịt mắt bưng tai, nhưng người MỸ hớ hênh nên ta lãnh đủ hậu quả cho đến ngày hôm nay vẫn chưa thoát ra.

Không những dân ta bị hậu quả do sự sang suốt của Liên Bang Sô Viết dưới thời STALINE mà dân Mỹ cũng khốn đốn trong việc thi đua vĩ khí.

Cái nhầm của người Mỹ là chấp nhận ĐẦU HÀNG VÔ ĐIỀU KIỆN mà không kèm theo một câu có lợi cho mình là:

Ø  Người NHẬT có bổn phận phải bảo vệ an ninh và trật tự nơi mình đóng quân cho đến lúc trao vũ khí và chuyển giao quyền lực cho phe chiến thắng. Như vậy thì không những ta thâu hồi độc lập và người Mỹ không bị tiêu hao sinh lực trong cuộc chiến Việt Nam.

Ø  Giá lúc đó bên ta có một thuyết khách đến góp ý thì tránh được cuộc chiến 1945-1975.

Ø  Đây là kinh nghiệm cho thế hệ hôm nay dùng 3 tấc lưỡi tránh đưọc binh đao

 

Thất bại trong việc CHỚP THÒI CƠ lúc đó, một phần vì thiếu nhân sự do vụ đói gây ra, phần khác vì thiếu kinh nghiệm chánh trị nên Hoàng Đế Bảo Đại ra chiếu HIỆU TRIỆU QUỐC DÂN;  nhưng bị cố vấn NGA lên kế hoạch phá đám và sai chân tay là Hồ Chí Minh thi hành.

 

Thực chất thì Hồ Chí Minh cũng dốt như các sỹ phu thời đó, y cũng nghèo kiến thức như chúng ta cùng một lò NÔ LỆ mà ra.

Hãy nghe nhữ lời phát biểu của hắn với phóng viên báo chí hay lời dương dương  tự đắc trên báo CỨU QUỐC như :ảng ta đã CƯỚP chánh quyền trong tay CHÁNH PHỦ Trần Trọng Kim thì rõ.

Hoặc trong bài đảng ca có những câu khát máu quân thù như:... Cờ pha máu chiến thắng vang hồn nước....; Thề phanh thây uống máu quân thù .... đưòng vinh quang xây xác quân thù.........

Mà quân thù lại chính chính là đồng bào ruột thịt của hắn, mà hắn lại nói tuột  quyết tâm của hắn là đấu tranh giai cấp: TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO đào tận gốc trốc tận rễ.. và còn vô vàn cái ngu khác nói lên dã tâm tiêu diệt sức sống của dân Việt

õ

HIỆU TRIỆU QUỐC DÂN

chiếu số 105 ra ngày 17/8/1945

Phát sóng trên Radio Huế lúc 10 giờ sáng

Việt Nam Hoàng Đế ban chiếu số 105:

" Cuộc chiến tranh thế giới đã kết liễu, lịch sử nước Việt Nam tiến tới một thời kỳ nghiêm trọng vô cùng.

Đối với dân tộc Nhật Bản, trẫm có nhiệm vụ tuyên bố rằng: dân tộc ta có đủ tư cách tự trị và nhất quyết huy động tất cả lực lượng, tinh thần và vật chất của toàn quốc để giữ vững nền độc lập cho nước nhà.

Trước tình thế quốc tế hiện thời, Trẫm muốn mau có một Nội Các mới.

Trẫm thiết tha hiệu triệu những nhà ái quốc hữu danh và ẩn danh đã nỗ lực chiến đấu cho quyền lợi dân chúng và nền độc lập nước nhà mau mau ra giúp Trẫm để đối phó với thời cuộc.

Muốn củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền lợi của dân tộc, Trẫm sẵn sàng hy sinh tất cả các phương tiện. Trẫm để hạnh phúc của dân Việt lên trên ngai vàng của Trẫm.

Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn là làm vua một nước nô-lệ. Trẫm chắc rằng toàn thể quốc dân cùng một lòng hy sinh như Trẫm.

Trong cuộc chiến đấu mà ta cần phải đương đầu với một cuộc tái hồi ngoại thuộc, toàn thể dân tộc Việt Nam chắc chắn ở sự đắc thắng của công lý và nhân đạo và tin rằng chỉ có một nước Việt Nam độc lập mới có thể cộng tác một cách hiệu quả với tất cả các nước để gây dựng một nền hòa bình vững chắc ở hoàn-cầu"

 

Khâm thử:

Phụng ngự ký: Bảo Đại

Ban chiếu tại Thuận Hóa ngày mồng 10 tháng 7 năm Bảo Đại thứ 20 (17/8/45)

------------------

 

5/- LOẠN TẶC LÊN NGÔI 02/9/1945

Ngày 16/08/1945 Hoàng Đế Bảo Đại thu hồi độc lập và toàn vẹn lãnh thổ

Ngày 17/8/1945 : Hoàng Đế Bảo Đại kêu gọi hiền tài bị Việt Cộng phá đám và gay loạn.

Ngày 15/8/1945 Hoàng Đế Bảo Đại ThoáiVị, trả lại quyền TỰ QUYẾT cho DÂN TỘC, Chánh Phủ Trần Trọng Kim coi về xử lý thường vụ và tổ chức bàu Quốc Hội Lập Hiến để người dân PHÚC QUYẾT rồi dựa vào đó mà bảo vệ tự chủ.

Ngày 02/9/1945 Hồ Chí Minh phá hủy độc lập non yểu của dân tộc bằng cách tổ chức dùng lưu manh để cướp chánh quyền nên ông ta không làm lễ nhậm chức và cũng chẳng dám nói tiểu sử và tên cúng cơm nên nay thành ma đói quây phá khắp nơi.

Ø  Bàn thờ Tổ Quốc là do bọn Việt Nô ộng Sản đặt ra.

Theo quan niệm của dân Việt thì chúng ta chỉ thờ những người đã khuất.

TỔ QUỐC là đất nước của tổ tên để lại trong đó có dất đai để sinh sống, có giá trị tâm linh để theo học thành người Việt tốt, biết sống cho mình và sống cho người. Khi tuyên thệ thì tuyên thệ trước anh linh anh hùng liệt nữa và HỐN THIÊNG SÔNG NÚI là hương linh vị vô danh đã chết cho dân tộc sống chứng giám lễ TRAO QUYÊN

Theo Việt Cộng dự trù nhố nhăng thì lúc đó ông Bải Đại làm lễ trao quyền rồi y tuyên thệ trước Hồn Thiêng Sông Núi và Anh Hùng Liệt Nữ. Đây là một sự lưu manh chánh trị.

Thứ nhất là : Ông Bảo Đại không có cái quyền này ngay khi ông còn tại chức, huống chi nay đã thoái vị rồi, hết quyền lãnh đạo thì lấy đâu mà trao cho hắn ?

Thứ nhì là :Hồ Chí Mnh cứ ra rả sỉ vả Bảo Đại là vua bù nhìn thì trao cái quyền chi đây ? Rút cục ông Bảo Đại thoái thác, nên hắn phải nói khác đi là làm lmễ Tuyên Ngôn ĐỘC LẬP trước bàn thờ tổ quốc thay cho DIỄN ĐÀN QUỐC TẾ.

·        Vì thế nên y phải điễn dài để câu giờ :Nói dài, nói dai và nói dở.

 

Đây không phải là LỄ NHẬM CHỨC nên trên diễn đàn không có ông Bảo Đại, không có thành phần Chánh Phủ Trần Trọng Kim, không có đại diện Đảng Phái và các Hội Đoàn, không có NHÂN SỸ và cung chẳng có lấy một ên cò mồi lên chúc tụnhghay các thiếu nữ lên tặng hoa để chúc mừng Tân Chánh Phủ.

Chúng ta có thể kiểm chứng trên hình ảnh diễn đàn ; lúc đó vắng tanh mà Việt Cộng  đã phổ biến để ca tụng ngày loạn tặc cướp quyền

Ngoài ra Tuyên Ngôn Đ-(c Lập thì Hoàng Đế Bảo Đãi đã phát sóng ttên diễn đàn Quốc Tế vào ngày 11/3 trước đó 4 tháng rưỡi rồi.

¾

Những điều cần ghi nhớ để tránh ngộ nhận

·          Ngày 17/8/1945 là ngày thứ Sáu, công chức làm việc.

·          Hôm trước (16/8/1945) người Nhật trao trả nốt Nam Kỳ cho Hoàng Đế Bảo Đại, án binh bất động nên Triều đình bơ vơ.

·          Hoàng Đế Bảo Đại ra lệnh cho công chức nghỉ việc để cùng đồng bào tập trung nghe lời Hiệu Triệu phát sóng từ Huế lúc 10 giờ sáng bằng Radio, đại đa số người dân không có đài.

·          Việt Cộng phá đám ở Hà Nội và gọi đó là ngày Công Chức Biểu Tình đòi độc lập đã có rồi. Mà công chức không có công đoàn, chẳng có âm thanh thì làm sao tổ chức được.

·          Ngày 25/8/1945 Hoàng Đế bị Việt Cộng ép đọc chiếu thoái vị, trả lại quyền cho nhân dân. Đất nước VÔ CHỦ

·          Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận đại diện cho Ủy Ban Cứu Quốc thành lập ở Hanoi vào tối ngày 19/8/1945; vào cung ngày 24/8/45 để cùng Hoàng Đế soạn thảo bản văn thoái vị.

Hai ông này chỉ là nhân chứng chứ không đủ tư cách để làm lễ trao quyền. Vì vậy nên Việt Cộng mới lúng túng vì: Đảng Việt Minh không ai biết cả. Lúc đó Hồ Chí Minh là một tên vô danh và cương lãnh chánh trị cũng chưa có nốt.

·          Cổ động cho ngày 02/9/1945 thì: Báo Cứu Quốc, số 1 ra ngày 19/8/45; cơ quan ngôn luận của Mặt Trận Việt Minh (Mặt Trận: Tổ chức Cách Mạng,  Đảng: Tổ chức lãnh đạo chánh trị) kêu gọi người dân tham dự buổi lễ trao quyền: TUYÊN THỆ độc lập trước Bàn Thờ TỔ QUỐC (bàn thờ Tổ Quốc là do Việt Cộng đẻ ra) với tiến trình: Bảo Đại trao ấn tín và ủy quền cho ai đó thay ông để lãnh đạo đất nước. Nhưng thất bại, vì Cố vấn Vĩnh Thụy (Bảo Đại) từ chối khéo.

·          Thế bí đường cùng nên Việt Cộng phải đưa Chủ Tịch Hồ Chí Minh ra trình diện chánh phủ không ai bàu cả, tự tuyên bố là Chủ Tịch của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chứ không phải là nước Việt Nam của chúng ta. Ông ta không đủ tư cách để đọc bản văn tuyên ngôn nhân quyền và nói đó là bản tuyên ngôn độc lập. Hơn nữa chỉ có Tuyên Thệ mới đọc trước bàn thờ Hồn Thiêng Sông Núi chứng giám cho lời thề độc địa của mình như: Phản bội thì chết chùm cả dòng họ….

------------------------------------------

 

PHẦN ĐỌC THÊM

Bài lượm trên mạng

Ký ức về nạn đói Ất Dậu: Còn hơn một thảm họa kép

 

NHIÊN ANH01/09/2020 20:09 GMT+7

TTCT - Nạn đói năm 1945 còn hơn cả một thảm họa kép giáng xuống một nửa đất nước Việt Nam khi đấy...

1. Sử liệu chính thống về nạn đói năm 1945 ghi nhận đầy đủ nhất có thể những sự kiện, nhân chứng, số liệu của thảm họa khủng khiếp năm Ất Dậu có lẽ là công trình nghiên cứu của nhà sử học, giáo sư Văn Tạo (nguyên viện trưởng Viện Sử học Việt Nam) và giáo sư Furuta Motoo (Trường đại học Tokyo) cùng các cộng sự người Nhật: Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích lịch sử. Công trình nghiên cứu - khảo sát thực địa ở 23 điểm thuộc 21 tỉnh, thành phố từ Quảng Trị trở ra Bắc từ năm 1992-1995, được công bố vào đầu những năm 2000.

Ngoài những số liệu điều tra thực địa, công trình này còn trích dẫn những tư liệu báo chí đương thời và những luận cứ của người Nhật khác - hậu duệ của những người được chỉ đích danh là thủ phạm chính gây ra tai họa khủng khiếp nhất thế kỷ 20 cho đất nước Việt Nam.

Nạn đói năm 1945 còn hơn cả một thảm họa kép giáng xuống một nửa đất nước Việt Nam khi đấy. Người Nhật áp đặt chính sách thu gom hầu hết thóc lúa dự trữ của nông dân miền Bắc để phục vụ cho nhu cầu quân sự của họ tại Đông Nam Á. Khoảng xấp xỉ 1 triệu tấn một năm - tương đương 1/3 sản lượng lương thực của toàn miền Bắc lúc đấy. 

Thóc lúa có đầy trong các kho đụn của quân đội Nhật, trong khi không nhà dân nào ở miền Bắc được phép dự trữ quá 1 tấn gạo, và tư nhân không được chuyên chở qua tỉnh khác quá 50kg.

Vụ mùa 1944-1945, các tỉnh Đồng bằng sông Hồng mất mùa, lũ lụt, vỡ đê ở Nghệ - Tĩnh. Diện tích trồng lúa bị thu hẹp vì chính sách cưỡng bức trồng đay và cây công nghiệp của người Nhật. Dịch rầy hoành hành ở các tỉnh Nam Định, Thái Bình, thêm nạn dịch tả lây lan ở Bắc Giang, Bắc Ninh… cùng sự chậm chạp và bất lực của chính quyền đương thời trong việc điều chuyển lương thực cứu đói từ Nam ra Bắc, hệ thống giao thông tê liệt vì hỏa lực của phe Đồng Minh - ngăn quân Nhật vận chuyển quân nhu. 

Tất cả những thiên tai, địch họa, ôn dịch… ập đến cùng lúc đã làm cho nguồn dự trữ sinh tồn của người nông dân miền Bắc vốn đã suy kiệt dần khi chịu cảnh một cổ hai tròng từ năm 1941, chạm đến giới hạn cuối cùng.

Nạn đói bùng phát, cuối năm 1944, trên quy mô 32 tỉnh miền Bắc (từ Quảng Trị trở ra). Riêng ở Thái Bình, Nam Định, số người chết đói đã xấp xỉ 500.000 người, tức khoảng 25% dân số, trong đó riêng điểm Tây Lương (tỉnh Thái Bình) tỉ lệ chết đói trên tổng số dân số là 66,66% (tức 2/3). 

Chết vì không còn lúa gạo để ăn, chết trên đường đi xin, chết vì bục dạ dày do ăn cám trộn mùn cưa, chết khi vừa cầm được nắm cơm cứu tế, chết hàng loạt, và chết cả vì bội thực vì được ăn no sau quá nhiều ngày lay lắt vì đói. Hàng triệu người chết trong cảnh da bọc xương, không có cả manh chiếu lẫn một hố đất để chôn riêng. Không có một cơ hội nào để giữ gìn phẩm giá.

Nhưng kể cả như thế, lịch sử vẫn không ghi nhận một cuộc cướp bóc nào của người dân sắp chết đói đối với tài sản, thóc gạo của những nhà khá giả cả ở nông thôn hay thành thị. Nghĩa là trong hoàn cảnh bi thảm nhất, người nông dân Việt Nam vẫn giữ được lòng tự trọng của mình. 

Và qua nhiều chứng nhân nay vẫn còn sống, ta biết tới rất nhiều câu chuyện cảm động về tình nhân quần ở vùng Nghệ - Tĩnh, khi những làng người Việt kéo nhau qua bên kia biên giới Việt Lào xin ăn, những làng người Lào ở tỉnh Khăm Muộn sau khi đã chia sẻ hết lương thực của mình cho đoàn người đói khổ kia thì cả hai làng lại cùng dắt díu nhau đi tìm đến một ngôi làng khác để nương tựa.

Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, không có thời khắc nào có thể so sánh với 6 tháng kinh hoàng từ cuối năm 1944 đến giữa năm 1945. Gần 2 triệu người chết. Con số thống kê đối chiếu để thấy sự khủng khiếp của nạn đói năm 1945: số hi sinh, thương vong của miền Bắc trong chiến tranh Việt Nam từ 1955-1975 cũng khoảng 2 triệu. Tức là số người thiệt mạng vì thiếu cái ăn - trong vòng 6 tháng đó tương đương số người ngã xuống do đạn bom - chinh chiến suốt 20 năm. 

Nó để lại cho cả miền Bắc một di chứng nặng nề. Nhiều gia đình, dòng họ bị suy kiệt, một thế hệ trẻ em không thể trưởng thành, những giá trị văn hóa vô hình và hữu hình bị tàn phá, và cả những ảnh hưởng lâu dài khó thể thay đổi về tâm lý phải có được một thửa ruộng riêng - điều mà giáo sư Futura Motoo đúc kết sau khi xử lý kết quả điều tra về nạn đói: "Có thể nói một cách chính xác rằng, có hơn một mẫu tư điền là đã như có một hệ thống an toàn trong suốt thời gian xảy ra nạn đói"!

 

2. Kiếp nạn lớn nhất của dân tộc năm 1945 được tái hiện trong nhiều bộ phim kinh điển của điện ảnh Việt Nam như: Sao tháng Tám (sản xuất năm 1976), Chị Dậu (1980), Làng Vũ Đại ngày ấy (1982)… với xu hướng chủ đạo là tố cáo tội ác của đế quốc Nhật, thực dân Pháp và tầng lớp địa chủ cường hào ác bá ở nông thôn miền Bắc. 

Tất cả đều phản ánh một phần sự thật và đem lại cảm giác căm thù những kẻ đã gây ra thảm họa tầm mức quốc gia, và lý giải một phần động lực đấu tranh của người nông dân miền Bắc trong Cách mạng Tháng Tám.

Nhưng như thế là không đủ. Sự thật gần 2 triệu người chết đói - dù con số đấy có chưa thật sự chính xác, và vì với bất cứ lý do gì thì, khi được phơi bày ra cho hậu thế, trước hết thảm cảnh bi thương và con số kinh hoàng đấy phải đem đến một cảm giác đau đớn, xót thương, đem lại sự thấu cảm, sẻ chia và nhu cầu tự vấn… những giá trị nhân bản mà xã hội và trường học đang cố gắng hướng đến và mang lại cho những người trẻ.

Một sự thật khác đang hiện hữu, là sau những tác phẩm ấy, cùng những bức hình ám ảnh nổi tiếng của nhiếp ảnh gia Võ An Ninh về nạn đói này, chúng ta rất ít thấy những sự kiện, những tác phẩm nghệ thuật, tổ hợp tạo hình… hay cả những nghi lễ thực hành thường xuyên trong các cộng đồng làng xã hướng đến sự tưởng nhớ hàng triệu nạn nhân năm ấy. 

Bia tưởng nhớ và mồ chôn tập thể nạn nhân nạn đói ở nghĩa trang Hợp Thiện (nay trên phố Kim Ngưu, Hà Nội), bài điếu tế của cụ Vũ Khiêu, và cứ mỗi mười năm mới ghi nhận được một đại lễ cầu siêu do nhà chùa tổ chức cho những nạn nhân năm đói... là những gì ít ỏi chúng ta đang có để tưởng nhớ về sự kiện khủng khiếp này trong chừng ấy năm. 

Ở các tỉnh mà nạn đói diễn ra dữ dội nhất như Thanh Hóa, Thái Bình, Nam Định, dấu tích của thảm họa này giờ chỉ còn là một vài khu vực với tên gọi chung chung như Mả Đói, Gò Lâu, Mả Ma, dốc Âm Hồn... 

Những ý tưởng manh nha về một biểu tượng về nạn đói năm Ất Dậu ở Thái Bình, Nam Định… được khơi lên từ lâu, được hứa sẽ làm từ nhiều năm trước, đến nay vẫn chưa có hi vọng gì trở thành hiện thực.

 

"Nhắc lại nạn đói không phải khơi gợi nỗi đau quá khứ mà để người sống ứng xử nhân văn, tử tế với đồng bào đã chết".

(GS Văn Tạo, nguyên viện trưởng Viện Sử học, VnExpress 16-1-2015).

Một quá khứ đau thương cần được lưu giữ trong ký ức và thực tế, bằng nhiều cách khác nhau, hơn là bị lãng quên. Chúng ta không đòi hỏi có được những công trình lớn như khu tưởng niệm người Do Thái ở Berlin, hay khu tưởng niệm hòa bình Hiroshima, nhưng chúng ta cũng không thể tự nhủ rằng quá khứ đau buồn và là trang đen tối nhất trong lịch sử hiện đại của dân tộc cần phải được lãng quên. 

Người Nhật, những thế hệ sinh trước năm 1970 khi đến Việt Nam, đa số đều biết khi được nhắc đến sự kiện bi thảm này và thường nói lời xin lỗi với người Việt đối diện, trong khi người Nhật thế hệ trẻ hơn, ít người biết, cũng có thể vì đến cả người Việt trẻ cũng không mấy ai còn nhớ.

Lòng trắc ẩn, tình yêu thương vẫn mạnh hơn sự căm thù. Hàng triệu đồng bào nằm xuống vì đói năm Ất Dậu là những người đã lãnh nhận tai ương khủng khiếp của dân tộc, để cho những người còn sống có động lực và lựa chọn con đường đi tiếp. 

Khi những căm hờn đã lắng xuống sau chừng ấy biến thiên dâu bể thì sự thấu cảm, cùng lòng xót thương sâu sắc để người chết được tưởng nhớ, được tôn trọng phải được duy trì, như bản chất hướng thiện tự nhiên của con người ở bất cứ nơi đâu trên thế giới này.

Một ngày thắp hương chung cho đồng bào nạn nhân của năm đói Ất Dậu, việc có nhiều hơn những tác phẩm nghệ thuật, những không gian nghe nhìn có tính biểu đạt và gợi nhớ sâu sắc, tinh tế về thời khắc bi thảm của dân tộc để mỗi cá nhân khi đứng trước không gian đấy có thể cảm nhận sự đau thương mất mát, có thể tự vấn lương tâm, có thể hiểu được một phần lịch sử của đất nước có những trang đen tối như thế nào… là rất cần thiết. 

Đó vừa là cách tưởng nhớ nhân văn những người đã nằm xuống, cũng là cách để thể hiện phẩm giá cho người còn sống, phẩm giá của dân tộc.

Nguồn gốc chữ BA TÀU

Quân Đội Thuộc Địa Pháp đầu hàng người Nhật sau 1 trận đánh ở Lạng Sơn vào tháng 11/1942 để thực hành Đại Gia Đình Á Châu.

Vì vậy nên mới có danh từ BA TÀU. Vì người Việt xếp hạng anh em trong Đại Gia Đình Á Châu như sau :

1)     Anh CẢ VIỆT

2)     Anh HAI NHẬT

3)     Anh BA TÀU

HẾT

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil