mardi 13 août 2024

T14 - nguồn gốc Cờ Vàng và Cờ Đỏ

T14 - nguồn gốc Cờ Vàng và Cờ Đỏ ngày 08.01.2021

Livestream trên Facebook Nỗi Niềm Quê Hương

soạn giả: Hoàng Đức Phương


KHÁI  NIỆM  TỔNG  QUÁT

Theo cuốn sách EDEN IN THE EAST (Thiên đàng phương Đông) của giáo sư Stephen Oppenheimer xuất bản năm 2.003 thì: Khi nước biển Thái Bình Dương rút xuống bằng mực nước ngày nay vào năm 3.400BC thì dân nông nghiệp tránh nạn lụt chạy lên Hy Mã Lạp Sơn, nay trởở về quê cũ theo triền sông ra biển để cày cấy. Đó là con sông Hoàng Hà (con cháu "Đế Nghi") con cháu "Lộc Tục" theo con sông Dương Tử, Tây Giang, Hồng Hà.

Sau 500 năm an cư lạc nghiệp, dân số gia tăng so với diện tích đất đai sinh sống thì con cháu Lộc Tục lập nước để đánh nhau vào năm 2.879BC.

Lúc đó di chuyển khó khăn nên biên giới thiên nhiên là song sâu, biển cả, rừng núi khó đi, nhất là đường đèo (ven sường núi) hay ải (nơi thắt lại) là nơi đóng chốt. Do dó cương vực các nước được phân chia rõ ràng.

 

Vùng đất phì nhiêu bao giờ cũng ở ven biển là nơi có cửa sông đem theo đất phù sa nên mùa mang phát triển. Đó là vùng được bao bọc bởi con song Dương Tử Giang (chày ra Thượng Hải) và con sông Tây Giang (chảy ra Hongkong). Phía tây là con song HOÀI và dãy núi HOÀI (nơi Hạng Võ tự tử). Đây là cương vực nước NGÔ

 

Phía nam con sông Tây Giang đến đèo Ải Vân (Gia Long đổi thành Hải Vân vào năm 1802), phía tây đến con sông Cửu Long Giang là lãnh địa của Liên Bang Việt gồm 15 tiểu bang (tức Bộ Lạc). Vùng đất này nghèo vì toàn là đồi núi, đất canh tác rất hiếm – lúc này chưa có vùng đồng bằng con song Hồng Hà chảy qua Thăng Long (lúc đó chưa có, khi đang bồi thì gọi là Đại La, giống đất bồi miền Nam nhà Trần gọi là đất Phù Nam), vì thế nên phải thành lập Liên Bang.

 

Phía tây con sông HOÀI và dảy núi HOÀI đến tận Tây Tạng là lãnh vực của nước Sở, được gọi là TỨ XUYÊN (vùng có 4 con sông lớn chảy qua là: Hoàng Hà, Dương Tử, Hồng Hà và Cửu Long (Mékong), thủ đô là Trùng Khánh.

 

Từ những yếu tố thiên nhiên này thì chúng ta suy ra là:

Ø  Gây chiến là nước Ngô với học thuyết Thiên Tử ở vùng Chiết Giang, Thiều Châu và Hồ Nam) khiêu chiến vào năm 2.879BC. Thuyết Thiên Tử quan niệm Đất của Chúa, lúa của trời, coi dân là nô lệ và lấy sức mạnh bắp thịt làm chánh. Do đó họ lấy lá cờ NỀN ĐỎ làm Đế Kỳ, đó là màu đỏ của lửa mặt trời. Còn màu đỏ của lá cờ Cộng Sản là màu đỏ của máu kẻ thù chống lại cường quyền. Nay ta gọi đó là chế độ BẠO CHÚA.

Ø  Phía tây là nước SỞ, vùng Tứ Xuyên, lập quốc để tự vệ chống lại sự bành trướng của nước Ngô với học thuyết Vô Vi; muốn an nhàn thì phải chống quân Ngô bảo vệ tự chủ.

Ø  Phía nam là liên bang Việt với quốc hiệu Văn Lang gồm 15 tiểu bang gọi là 15  bộ lạc (tức 15 vùng an lạc), lấy học thuyết Rồng Tiên để tự vệ. Đó là thủy tổ nước ta. Dân Văn Lang lấy màu của lụa tơ tầm làm sắc thái dân Việt, vì thế nên cờ của dân tộc mang Nền Vàng với ý nghĩa là Nước Nam của toàn dân Nam.

Ở thời đó con người đã biết dệt lụa bằng tay, nhưng rất công phu; lúc đó chưa có máy dệt lụa vì chưa có đồ mộc. Một sợi tơ có khả năng treo nổi 100 grammes, một cái kén dài khoảng 1,3km. Lấy xương cá làm kim, lấy mo cau làm go để dệt lụa nên khổ chỉ có 30 cm thôi.

 

Cách dệt lụa thời cổ sơ: Để cho tầm làm xong cái kén rồi thảy kén vào nước sôi thì sợi tơ không dính vào nhau nữa. Lấy cọng rơm cho kén dính vào rồi rũ ra lấy đầu mối, cuốn tất cả mẻ kén đó vào một khúc cây tròn, sau đó lấy ngược ra để dệt lụa. Lấy 2 bàn chân làm trục xoay của cây cuốn tơ. Muốn dày thì để dăm sợi tơ vào làm một và cứ thế dệt từng đoạn lụa một.

 

Vì quan niệm có dân giữ đất thì mới có nước nên bà Trưng mới phất ngọn cờ vàng đánh giặc Tàu là đánh để cứu nước chứ không phải đánh để tạo uy quyền cho mình.

Sau này, vào khoảng thế kỷ thứ 14, bên Tây Phương có nhu cầu dẹp chế độ Lãnh Chúa để kết hợp thành Quốc Gia nên họ cần có Quốc Kỳ. Quốc kỳ là biểu tượng của sự thay đổi thể chế nên không có NỀN như bên Đông Phương. Tuy thay đổi thể chế nhưng não trạng vẫn trọng nam khinh nữ; phải đợi mãi đến cuối thế kỷ thứ 20 phụ nữ mới có quyền đi bàu và tham gia vào ban lãnh đạo chánh trị.

 

Vào thời Gia Long (1802) người Tây Phương đem ý niệm Quốc Kỳ sang Việt Nam. Trước đó dân Việt chỉ có Dân Tộc Kỳ (cờ NỀN vàng tuyền) và Đế Kỳ (hay Vương kỳ) là cờ nhà Vua. Sau đó là hiệu kỳ biểu tượng của chức tước lớn, còn chức tước bé thì gọi là Xí.

Ngoài những cờ xí ra, tổ chức xã hội còn có cờ Tế Lễ của đình chùa hay cờ Kinh Dịch nữa ....

&

 

Xét  rằng :

w Việt-cộng đã kiên-trì và liên-tục quyết-tâm triệt hạ lá cờ Vàng của dân tộc từ tháng Septembre 1945 đến nay mà vẫn chưa thôi. Cường độ tăng giảm tùy lúc, tùy thời. Riêng năm 1998 sự đánh phá này có phần đột-ngột với những chiêu đòn mới lạ, với những thế đánh liên hoàn hăng say chưa bao giờ thấy. Nhưng năm nay 2018 thì cờ đỏ sao vàng đã yếu thế rõ ràng.

w Để phản đòn, cộng đồng người Việt Hải Ngoại năm nay (1998) đã tổ-chức một cách liên hoàn Vinh Danh 50 năm lá cờ quẻ Càn  để nói lên tinh-thần bất-khuất trước bạo lực của người Quốc Gia, và nêu cao chánh nghĩa dân tộc đã được thế-hệ đàn anh ký-thác trong biểu-tượng này.

Ø  Năm nay (2018) các hội đoàn ở Paris đang sửa soạn vinh danh 70 cờ Vàng để đánh sập cờ đỏ sao vàng.

 

w Tại sao Việt-cộng lại hoảng sợ trước lá cờ chiến bại mà chúng vẫn lớn tiếng vu-vạ là đại-diện cho nhóm người làm tay sai cho ngoại bang vì danh-vọng cá-nhân như vậy???.

Câu trả lời xin dành cho toàn thể con dân đất Việt. Chỉ biết chúng càng hoảng sợ bao nhiêu thì chúng ta lại càng phải đề cao cảnh-giác và vinh danh chính-nghĩa dân tộc bấy nhiêu.

Hy vọng sự đóng góp nhỏ-nhoi này có thể giúp ích được phần nào cho thế-hệ trẻ đang cần biết sự thật về khúc lịch sử này để có thể tự giải-quyết vấn nạn của thế-hệ mình. Bằng không thì chúng có thể sẽ kết tội cha anh của chúng là ươn-hèn, buông xuôi, ỷ-lại, vọng-ngoại cầu-an nên chúng mới gánh chịu cảnh lưu vong này.

Thực vậy, nếu chúng ta không nói, không viết và không phổ-biến rộng rãi những cái oan-ức của thế-hệ chúng ta thì chắc-chắn là thế-hệ con cháu chúng ta chỉ biết lịch-sử vừa qua, dưới ngòi bút lấp-liếm của Việt-cộng, vừa ăn cướp, vừa la làng.

 

Có biết rõ khúc lịch-sử bi hùng này thì mới biết ngưỡng mộ tinh-thần  bất khuất, vững tay  chèo của thế-hệ trước được. Dù sao đi chăng nữa thì sức người có hạn; dân ta tuy cam phận làm kẻ bại trận trước sức tấn công ồ-ạt bằng võ-lực của siêu cường Liên Sô nhưng không có nghĩa là ta không có chánh-nghĩa hay ta đã khoanh tay chấp-nhận nô-lệ để kẻ thù của dân tộc tự-do tung hoành như chỗ không người.

                                   Dẫu cường nhược có lúc khác nhau

Song hào kiệt thời nào cũng có          (Bính Ngô Đại Cáo)

 

Tích tiểu thành đại, góp gió thành bão; mong rằng các cây viết khác sẽ tiếp tay làm  cho các tài-liệu loại này thêm phong-phú để con em chúng ta có đầy đủ dữ kiện đặng có thể giái-quyết một cách hữu-hiệu các vấn nạn của chúng. Đừng để kẻ thù dân tộc tự-do khoa môi múa mỏ, một mình múa gậy vườn hoang nữa.

-------------------------------------------

 

CỜ  VÀNG  BA  GẠCH  ĐỎ (quẻ CÀN)

Cờ vàng 3 gạch đỏ có húy danh là cờ Quẻ Càn. Cờ này là hồi sinh của cờ Quẻ Ly. Hai lá cờ này đều là cờ dân tộc cả; chẳng có cái nào là cờ của thể-chế, của cá nhân như Việt-cộng vu-khống là cờ 3 que sỏ lá, cờ Phế Đế Bảo Đại đâu. Đây là một điều khẳng-định, ai nghĩ sai thì nên tự điều-chỉnh lấy để đừng lẫn Chính Nghĩa Dân Tộc với hành-động loạn-tặc, thoán nghịch của tay sai ngoại bang.

·        Cờ Quẻ Ly (Hoàng Địa Hồng Ly, tức chữ Ly màu Đỏ của lửa trên nền Vàng tơ tầm của dân Việt, nói lên bối cảnh lịch sử của đất nước ta ở thời điểm 1945 cùng kế-sách giải-quyết vấn nạn của dân tộc. Chữ LY: gạch âm nằm giữa 2 gạch dương.

Ø  Cờ Quẻ Càn (Hoàng Địa Hồng Càn) nói lên bối cảnh lịch sử ở thời điểm 1947-1948 và kế-hoạch giải-quyết vấn nạn bằng 3 giai-đoạn.     Chữ Càn là gạch Dương (___), còn gạch Âm (--) là gạch đứt làm hai ở chính giữa. Ba gạch đều Dương cả thì gọi là Quẻ Thuần Càn tượng trưng cho Trời; thuộc phương Tây (coi trong bát quái).

Người đẻ ra cờ Quẻ Ly là cụ Trần Trọng Kim, rất giỏi về khoa Dịch học là nguồn gốc màu Vàng của dân Việt. Dịch học là học về sự biến đổi của vạn vật.

Lá cờ của nước Triều Tiên (Corée) là cờ toàn Dịch, âm và dương kết với nhau. Còn cờ Quẻ Ly là cờ Bát Quái chứ không phải chỉ có mình nước Việt mới có cờ Dịch học đâu.

Ø  Đây là mấu-chốt của vấn-đề mà dân Việt phải biết để còn biết đường bảo vệ Chánh Nghĩa dân tộc. Vậy nói rõ về lá cờ này không phải là điều vô-ích.

 

Mở rộng kiến thức

Kinh Dịch là khoa học Đông Phương nói về sự biến hóa của vạn vật (Kinh là nguyên lý thiên nhiên, không bao giờ sai cả; khác với chữ Kinh là lớn, là nhiều). Kinh dịch bắt nguồn từ Lý Dịch của dân nông nghiệp vào khoảng 10.000BC khi người ta đã tính được mùa gieo mạ trồng lúa theo vị trí của ngôi sao nào đó trên bàu trời vào nửa đêm vào khoảng 11.000BC. Lúc đó là lúc xuất hiện triết gia với thắc mắc đầu tiên là vạn vật từ đâu mà ra ?

Câu trả lời trực giác là cho sự biến hóa trạng thái mà ra với chữ TẠO HÓA (tạo ra bằng sự thay đổi trạng thái. Câu trả lời tuy đúng nhưng chưa thuyết phục nên người ta đi sâu vào vấn đề bằng khoa LÝ DỊCH ; tức lý lẽ của sự thay đổi vạn vật (DỊCH = THAY ĐỔI TRẠNG THÁI). Vì thuộc về triết học nên bị bế tắc, về sau vào khoảng 500BC khi Khổng Khâu (tức Khổng Tử) đưa ra thuyết Thiên Mệnh mới giải lý tường tận Lý Dịch để biện minh cho thuyết Thiên Mệnh nên gòi là Soán Truyện (Soán là chiếm đoạt chuyện nguyên thủy để bổ sung cho hòan chỉnh) nên gọi là KINH DỊCH.. Nó sai ở chỗ là nhị nguyên : Có và Không chứ khônh có trung dung như từ sáng sang tối thì phải qua rất nhiều giai đoạn trung gian xâm-xẩm. Tỷ dụ trong Kinh Dịch chỉ nói đẻ con thì hoặc Gái hoặc Trai chứ không có Ái Nam Ái Nữ (hay đồng tính luyến ái. Ở đây chúng ta không đi sâu vào Lý Dịch hay Kinh Dịch mà chỉ nói vài nét đại cương để biết quy trình biến đổi tư duy mà thôi.

 

Còn tại sao dân Việt lại chọn màu Vàng của lụa tơ tầm làm sắc thái của dân mình thì đây là cả một Triết-lý về cuộc sống của loài người trên trái đất, và đã được viết thành văn-bản ký-thác trong câu chuyện  Rồng Tiên khai quốc có ít nhất là từ 600 năm trước Công Nguyên chứ không phải là mới có đây đâu.

Vì vậy nếu đi sâu vào 2 vấn đề này thì cần phải có thời gian thẩm thấu; vì nói là Trết Học lúc khởi thủy nên dễ bị rơi vào mê hồn trận; còn khi hiểu rồi thì sẽ thấy thích-thú, vì có thể đem các Nguyên Lý này để giải-quyết các vấn nạn đương thời một cách hữu-hiệu.

Do đó, chúng tôi chỉ xin nói đến những điểm liên can tới lá cờ Quẻ Ly và Quẻ Càn mà thôi. Ai muốn biết thêm xin tự nghiên-cứu lấy, sau đó sẽ thấy đó là một việc đáng làm vì ta đã hấp-thụ được gia tài Tâm Linh của Tổ Tiên để lại và có thể áp-dụng để giải-quyết những bế-tắc tư-tưởng đặng có cuộc sống thoải-mái và hài-hòa với người xung quanh ta.

ÐÑÐÑ

 

Nguồn gốc Kinh Dịnh đi từ Lý Dịch mà ra. Chúng ta không bàn đến đúng hay sai mà chỉ nói rõ tư tưởng của người xưa qua Dịch Học ở thời đó. Dịch là thay đổi, gồm có Bất Dịch, Giao Dịch và Biến Dịch.

 

11.000BC dân nông nghiệp (thủy tổ của chúng ta) biết cách ngắm sao tính lịch để định mùa trồng trọt. Do đó con người tưởng rằng vị trí các ngôi sao trên trời quyết định mọi việc trên trái đất nên 1 ngàn năm sau con người mới có Triết Gia, ông này đẻ ra Lý Dịch; tức lý lẽ của sự thay đổi vạn vật. Vì là ký hiệu truyền đạt tư tưởng nên họ lấy gạch ngang (__) là Trời (thuộc về Dương) và gạch đứt (--) là Âm thuộc về Đất.

Trời và Đất hợp lại với nhau thì sinh ra cuộc sống nên gọi là Tam Tài (tức quẻ Đơn). Tất cả có 8 quẻ gọi là Bát Quái. Từ đây các thế hệ kế tiếp mới giải thích thêm nhưng chưa ra đâu vào đâu cả; vì thiếu quẻ Kép gồm 2 quẻ đơn chồng lên nhau thành 6 hào, tức 6 nấc thành 1 quẻ kép.

 

Về sau, vào khoảng 500BC, về cuối đời đi bán tư tưởng kiếm ăn, ông Khổng Khâu mới đẻ ra thuyết Thiên Mệnh nên cần phải giải thích thuyết Lý Dịch sao cho xuôi tai, lúc đó là một khoa huyền bí không ai lý giải được. Riêng ông, vì có tài nên lý giải tận tường và gọi là Soán Truyện; soán là chiếm đoạt, soán truyện là lấy truyện của người trước lý giải thêm cho trọn vẹn nên biến thành Kinh Dịch. Kinh là lúc nào cũng đúng, còn Lý là theo lý lẽ của tôi thì như vậy như đã nói ở trên.

Thuyết Thiên Mệnh nó kéo theo thuyết Tử Vì và khoa Bói Toán rồi đi đến khoa xin Xâm. Ông Khổng Khâu chỉ nói có thế thôi và có nói rằng Hậu Sinh Khả Úy. Ông ta không tự đề cao thành Thánh nên khi chết đi thì mồ yên mả đẹp.

 

Không ngờ Thuyết Thiên Mệnh làm khổ ông ta. Về sau, Lưu Bang khi lên ngôi Hoàng Đế với miếu hiệu là "Hán Cao Tổ" chứ không phải Lưu Thái Tổ hay Hán Thái Tổ (vào 203BC) vì nhu cầu chánh trị nên cần Thuyết Thiên Mệnh nên tôn ông lên làm Thánh, do đó phải bịa ra những điều mà ông Khổng Khâu không có. Lý do là:

Sau khi ông cùng Hạng Võ tiêu diệt nhà Tần vào năm 208BC; vì lưu manh nên ông Lưu Bang phản phé Hạng Võ và xưng Đế vào năm 203BC đã chót có hành động vô văn hóa là: Bắt các đại thần nhà Tần ném mũ xuống đất rồi nhảy lên mình ngựa vạch cu ra đái nên các sỹ phu cho là kẻ ngu si thất học. Do đó ông vội đào mả ông Khổng Khâu lên và tôn làm Thánh để bắt dân phục tùng mình: Ta tuy vô văn hóa đấy, nhưng trời đã định ta lên ngôi Thiên Tử nên đó là chánh danh. Thời đó chữ Tử là một chức danh cao quý nên người ta gọi là ông Khổng Tử - Khổng là họ và Khâu là tên.

Ông Lưu Bang thuộc sắc dân Du-mục từ Trung Đông (IRAN) di tới, còn chúng ta thuộc sắc dân nông-nghiệp sống tại chỗ. Lúc đầu là nhà Hạ xin tá túc, sau đó nhà Thương xin chung sống hòa bình. Nhưng nhà Chu từ chỗ tá túc lấn chiếm thành chiếm đoạt và sau đó tiêu diệt dân nông nghiệp mà trong học thuyết Rồng Tiên gọi là con cháu Đế Nghi.

Ø  Đây là quy luật của tạo hóa mà chúng ta phải coi chừng đừng để bọn Tàu đến Tá Túc, xây dựng cơ ngơi rồi sau đó chiếm đoạt toàn thể đất đai và tiêu diệt con cháu chúng ta thuộc dòng Lộc Tục, như nhà Chu tiêu diệt con cháu Đế Nghi.

 

  GIẢI  MÀU  CỜ

Giải tỏa ngộ nhận :

Bộ là vùng và Lạc là an vui. Trong Bộ Lạc có Lạc Vương (Lãnh Vương) Lạc Hầu (Quan Văn) và Lạc Tướng (Quan Võ). Việt Vương Câu Tiễn là Lãnh Vương vùng Lạc Việt, Phạm Lãi là Lạc Tướng và Văn Chủng là Lạc Hầu. Vì muốn hạ nhục nòi Việt nên Thực Dân Pháp chuyển nghĩa chữ Bộ Lạc thành TRIBU mà nó đã hằn sâu trong tim óc chúng ta nên chúng ta mới nguyền rủa và phỉ báng tổ tông là Phét Lác !! Trong khi đó chúng ta có danh từ TÙ để chỉ TRIBU, người Pháp lờ đi và coi như không có. Chef de Tribu là Tù Trưởng, chúng ta cũng có luôn. Trong khi đó thì ngôn từ Việt Ngữ không có chữ Bộ Lạc Trưởng. Vì coi thường ngôn từ nên chúng ta rơi vào mê hồn trận nên tôi xin nhắc lại kẻo mọi người quên tiếng Việt

 

Dân Tộc Kỳ:

Hình vuông nền Vàng, màu Vàng của lụa tơ tầm là "sắc thái dân Việt"

Hình vuông là theo quan niệm về vũ tttrụ thời đó : Trời tròn đất vuông, trời che đất chở, mặt trời quay quanh trái đất.

 

Xuất xứ của nền vàng :

Nền vàng là lấy lụa tơ tầm làm cờ.

Lụa tơ tầm là loại vải đầu tiên mà con người biết lấy tơ tầm để đan thành vải. Lúc đó chưa biết kéo sợi nên dùng sợi thiên nhiên là tơ tầm (có khoảng 3.50BC).

Nơi phát xuất ra cách đan (nay ta gọi là dệt) tơ tầm thành vải là ở Thượng Hải (nước Ngô thời đó). Sau được phát triển mạnh ở Tây An (tức Tràng An dưới thời nhà Hán) cùng lúc với đường Tơ Lụa tải hàng qua Trung Á (Trung Đông) để xuất cảng.

Có người bảo là màu vàng của cánh đồng lúa chín, nhưng tôi nghĩ là không phải. Vì như vậy là ở thời kỳ con người đã có kỹ nghệ dệt vải (đồ mộc khoảng 400BC) và kỹ thuật nhuộm màu (văn minh khá cao) mà mãi sau này mới có (đồ thép non, khoảng 500BC)

 

Trên lý thuyết thì cờ vàng có từ ngày lập nước Văn Lang (2.879BC), có thể vì công việc bề bộn nên về sau mới có. Nhưng trễ lắm là 600 năm trước Công-Nguyên, bắt nguồn từ chuyện Rồng Tiên Khai Quốc. 

 

Đây là bài Bình Ngô Đại Cáo bằng bia miệng của 2 ông Phạm Lãi và Văn Chủng dưới thời Việt Vương Câu Tiễn, tức Lãnh Vương vùng Lạc Việt của nước Văn Lang. Lạc Việt là vùng đất Quảng Đông ngày hôm nay, khi xưa là 1 tiểu bang (Bộ Lạc) trong 15 tiểu bang của nước Văn Lang.

Dân tộc kỳ là lá cờ hình Vuông làm bằng lụa tơ tầm; ý nói nước Việt của toàn dân Việt chứ không phải của Triều-đình lãnh đạo.

Màu vàng của tơ tầm tượng-trưng cho các đức tính của người Văn Lang.

 

Hình vuông tượng-trưng cho lãnh-thổ (trời tròn đất vuông). Vậy thì nước Văn Lang đã theo thể-chế Dân Chủ Phân Quyền, xã thôn tự-trị ngay từ ngày khai quốc: 15 vùng (Bộ) An Lạc đã kết-hợp với nhau bằng Tâm và cư-xử với nhau bằng Đức. Nay ta gọi là Tình Người (nhân bản) và Dân Chủ Đích Thực. Hình ảnh này đã đuợc ký thác trên hoa văn trn mặt trống đồng Ngọc Lũ.

 

Người Việt quan niệm có dân mới có nước, còn người Tàu quan niệm có nước do Chúa dựng ra thì mới có di dân đến ở. Đó là 2 quan niệm khác nhau nên mới đẻ ra 2 thể chế: Dân Chủ Phân QuyềnQuân Chủ Chuyên Chế.

Ý nghĩa này đã được cụ Trần Trọng Kim ký-thác trong lá cờ Quẻ Ly. Còn cờ Đỏ (màu đỏ của mặt trời) của Tàu đã nói lên uy-quyền của triều-đình lãnh đạo (Thiên Tử); đây là thể-chế Quân Chủ Chuyên Chế, đất của Chúa lúa của Trời.

 

Ý niệm này rất quý là vì đó là chế độ Dân Chủ Phân Quyền của thời Văn Lang mà con cháu phải biết. Vì thế nên sau này có chọn Quốc Kỳ thì bắt buộc phải dùng NỀN VÀNG; trên đó ghi thêm biểu tượng của thời đại. Còn bỏ Nền Vàng là mất gốc, quên nguồn

²

CỜ QUẺ LY

Quốc kỳ đầu tiên của nước Việt là cờ Quẻ LY.

Quốc kỳ là quy ước của dân Tây Phương nói lên sự hiện diện của nước mình trong Cộng Đồng các nước ở Âu Châu. Trước đó dân ta không có Quốc Kỳ mà chỉ có Dân Tộc Kỳ mà thôi. Đó là lá cờ màu Vàng; cờ Vàng mà chúng ta ai ai cũng vẫn nhắc tới, nhưng ít người chú-ý đến ý-nghĩa cúa nó. Sở dĩ Dân Tộc Kỳ là vì: Dân Việt lấy dân làm gốc như đã nói ở trên. Có dân tộc thì phải có lãnh thổ, phải có Triều-đình lãnh đạo để Quản-trị đất nước và mưu-cầu hạnh-phúc cho toàn dân. Còn dân không có thì làm gì có triều-đình, có lãnh-thổ.

 

Cờ Quẻ Ly được xuất hiện vào tháng AVRIL 1945. Lúc này nước Ta mới được Nhật Giải-phóng chứ chưa có Độc Lập, và cũng là lúc bắt đầu thành lập lực-lượng võ trang:

Thanh Niên Tiền Phong

Do đó, lá cờ Quẻ LY đã nói lên nguyện vọng của dân Việt một cách rất yếu-ớt là: 

Nước Nam của người Việt Nam (Việt Nam to the Vietnamese)

 

Kế sách giải-quyết vấn nạn thì hoàn toàn trông vào lực-lượng võ-trang Thanh Niên Tiền Phong do Nhật trang bị và huấn luyện. Thực vậy, bài Quốc Ca (Tiếng gọi Thanh Niên) đã mở đầu bằng câu:                     

Này Thanh Niên ơi! Quốc Gia đến ngày Giải-phóng.

Còn cờ Quẻ Ly thì như đã nói ở trên, chữ LY thuộc cung Hỏa ở phương nam nên bắt buộc phải mang màu đỏ của lửa thì mới có nghĩa là biểu-tượng Nước Nam. Còn nền Vàng là dân tộc Việt làm chủ trên mảnh đất đó. Đáng lý thì phải là hình vuông (trời tròn đất vuông) thì mới tượng-trưng cho lãnh thổ; bây giờ hòa nhập với thế-giới nên phải theo quy-ước quốc-tế là hình chữ nhật (tỷ-lệ là 2/3). Sự giải-thích này đã được báo Đông Pháp hồi đó phổ biến; chứ không phải là sự suy-diễn của người viết.

 

Ở thời điểm này nước ta theo thể-chế Quân Chủ Chuyên Chế, lãnh-tụ tối cao là Hoàng Đế Bảo Đại. Hoàng Đế đã ký sắc-lệnh để làm Quốc-kỳ và Quốc-ca thì 2 biểu-tượng này đã nói lên Chính Nghĩa Dân Tộc một cách Tuyệt Đối không ai có thể phủ-nhận được, dù có ngoan-cố siêu-đẳng như Việt-cộng cũng chưa xóa nổi. Bằng cớ là chúng đã cố công trong suốt 70 năm qua mà đâu đã làm nổi, càng phá thì cờ Vàng càng tung bay để chứng tỏ sự bất-khuất trước bạo-lực của dân Việt. Nhất là năm 1998 khắp nơi đã tổ-chức Đại Lễ để ăn mừng 50 năm lá cờ Quẻ Càn, và nay (2018) lại tổ chức vinh danh 70 năm cờ vàng. Mất nước không có nghĩa là mất chính nghĩa, hay đã chấp-nhận cuộc sống nô-lệ.

 

Cờ Quẻ Ly đã bị Việt-cộng bức-tử vào tháng Septembre 1945 để thay bằng đảng-kỳ cờ đỏ sao vàng. Ý chúng muốn nói là Đảng Việt-cộng, chi-nhánh của Cộng-đảng Quốc-tế đẻ ra dân Việt. Đây đúng là hành-động loạn-tặc, khó mà xóa được trên những trang sử sau này. Màu đỏ của lá cờ này là màu đỏ của máu người đâm chém nhau trên chiến-trường. Thật vậy, chủ-thuyết Cộng-sản chủ-trương cướp quyền bằng bạo-lực và quan-niệm rằng máu giai cấp đổ càng nhiều bao-nhiêu thì thành công càng có giá-trị bấy nhiêu. Nói khác đi là chúng lấy máu của đồng chủng để nhuộm cớ Đảng Việt Cộng cho thêm thắm; đúng là quỷ uống máu người!

²

 

CỜ QUẺ CÀN

Muốn rõ xin coi phần đọc thêm ở cuối bài vì đây là Chánh Trị Quốc Tế

mà chúng ta là nạn nhân của vụ Nga Mỹ thử vũ khí trên đất Việt

 

Ngày 06.3.1946:

Hồ Chí Minh ký Tạm Ước Sơ bộ với Saintenay lúc 3 giờ sáng ở Hanoi, công nhận chủ quyền của Pháp ở Việt Nam (tái hồi thuộc địa), ngược lại Bộ Thuộc Địa Pháp (chứ không phải Bộ Ngoại Giao đâu) công nhận Hồ Chí Minh là một chánh phủ có quân đội và tài chánh riêng (một hình thức khu tự trị).

Ø  Mục đích Mỹ giúp Pháp tái hồi thuộc địa để lật đổ Hồ Chí Minh là tay sai của NGA phỗng tay rên của Mỹ. Bằng cớ là Pháp xin Mỹ đến tước khó giới quân Nhật nhưng Mỹ không cho; Nga phỗng tay trên bằng tay sai Hồ Chí Minh nên dân ta lâm nạn

Ø  Nhưng Hồ Chí Minh tháu cáy công nhận tái hồi thuộc địa để câu giờ, chờ Mao chiến thắng ỏ Hoa Lục dén để giải cứu cho đảng Việt Cộng.

·        Rút cục dân tộc Việt lãnh đủ hậu quả

 

Người Mỹ hứa sẽ giúp phe Quốc Gia khôi phục nến độc lập với điều kiện ông Bảo Đãi đứng ra bảo lãnh. Vì thế nên chúng ta mới có Quốc Gia Việt Nam đưọc Quốc Tế bang giao vào ngày 08/3/1949 và Quốc Trưởng Bảo Đại được quyền cấp sổ Thông Hành (Hộ Chiếu) mà Hồ Chí Minh không có cái quyền này. Vì Hồ Chí Minh khônh có thủ đô cố định để nước ngoài gửi phái đoàn Đại Sứ đến sinh hoạt

 

Lúc đó ông Bảo Đại bị Hồ Chí Minh cầm tù với chức Cố Vấn Chánh Trị.

Phe Quốc Gia hải tìmcácj đánh tháo ông qua Hương Cảng để lên kế hoạch nhờ Mỹ giúp để đó lại quyền Tự Chỉ và Thống Nhất đất nước.

 

Bước đầu đòi lại vùng tây Nguyên làm Hoàng Triều Cương Thổ vào trung tuần tháng 7, vì thế nên mới có NGỰ LÂM QUÂN.

 

Bước thứ nhì là thành lập Chánh Phủ Lâm Thời Quốc Gia Việt Nam vào ngày 01.10.1947.

Thánh 12/47 thì chọn Quốc Kỳ và Quốc Ca để làm biểu tuọng cho Quốc Gia Việt Nam

Lá cờ này đã được xuất hiện dưới thời Chánh Phủ Lâm Thời Quốc Gia Việt Nam do tướng Nguyễn Văn Xuân lãnh đạo, và ông Trần Văn Hữu làm Phó Thủ-tướng vào năm 1947. Xuất-xứ của chánh-phủ này có từ cuối năm 1945 và thay tên đổi họ nhiều lần sẽ được nói ở dưới để làm sáng tỏ chánh nghĩa của lá cờ này. Nhưng phải đợi mãi đến ngày 02/6/48 mới có sắc-lệnh ban-hành để thành Quốc-kỳ của Quốc-gia Việt Nam, cầm đầu bởi Quốc-trưởng Bảo Đại.

 

** 05/6/48:

Lúc này cơ cấu tổ vhức đã tạm ổn nên phái đoàn chánh phủ đi phó hội ở trên chiến hạm của Pháp neo ở vinh Hạ Long để ra tuyên cáo chung.

 

** 08/3/1949:

Đích thần quốc Trưởng Bảo Đại ký với Tổng Thống Pháp ở điện Elysée một bản vằn thu hồi Độc Lập và toàn vẹn, lãnh thổ, người Pha²p đóng quân ở Việt Nam với tư cách là lính của khối Liên Hiệp Pháp do Bảo Đại trả  mọi khoảng phí tổn vì  Quốc Gia Việt Nam cần một thời gia để huấn luyện Quân Đội thay thế.

 

CHÚ Ý KẺO BỊ VIỆT CỘNG ĐÁNH LỪA

·        Do đó lính Pháp đóng ở Việt Nam là lính Lính Hiệp Pháp đánh thuê cho Quốc Gia Việt Nam từ ngày 08.3.1949 đến trung tiần tháng 7/1955 là lúc Quân Đội Quốc Gia Việt Naù dủ sức bảo vệ an ninh cho đất nước.

·        Còn lính Pháp được Hồ Chí Minh mời vô vào ngày 06/3/1946 là lính Thực Dân Pháp, chúng thu thuế cho đến ngày 08.3.1949 thì biến thành lính đánh thuê

----------------------------------------------

Lúc này Quốc-gia Việt Nam mới được Quốc-tế công-nhận là một nước có chủ-quyền, có đất có dân, có Kinh-đô và có Độc-lập.

Đại diện cho nước là Quốc Trưởng Bảo Đại (chứ không phải là VUA Bảo Đại), có chánh-phủ để lo mọi việc.

 

Lúc đầu là Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân, sau đó vì nhu cầu chính-trị Tướng Xuân từ-chức để ông Phó Thủ Tướng Trần Văn Hữu lên thay. Đây là những người vì nước đấu-tranh chứ không phải là tay sai của Thực-dân Pháp như Vẹm vu khống đâu.

 

Dân Bắc có câu châm ngôn là nói dối như Vẹm (VM-Việt Minh), sau này ông Thiệu có câu để đời là: Đừng nghe những gì Việt-cộng nói, hãy nhìn những gì Việt-cộng làm.

 

Ø  Chánh-phủ lúc đó có vạch ra đường lối chánh-trị 3 bước để đòi quyền tự-chủ cho dân tộc mang tên là:       

ö

 

GIẢI PHÁP BẢO ĐẠI : Cứu Tinh Dân Tộc.

Ø  Giải-pháp này chủ-trương Toàn Dân Kháng Chiến, Toàn Diện Đấu-tranh trong tiến-trình 3 BƯỚC. Chủ-trương lấy sức mạnh dân tộc làm căn bản, lấy đoàn-kết dân tộc làm vũ -khí (chánh-nghĩa), lấy Chánh-trị làm chính và quân-sự làm phụ. Xác-quyết Việt-cộng là phản loạn.

Đường lối này đã được ký-thác trong biểu-tượng lá cờ Quẻ Càn và lời ca trong bài Quốc-ca. Mở đầu bằng câu:

Này Công Dân ơi! đứng lên Đáp Lời Sông Núi.

 

Ø  Chữ Cứu Tinh đã nói lên thảm-trạng dân tộc trong hiểm-họa tiêu vong. Mà cứu-tinh là giải-pháp mang tên Bảo Đại, chứ không phải ông Bảo Đại là vị cứu tinh. Tức dân Việt không tôn thờ cá nhân. Điểm này đã được tổ tiên chúng ta ký-thác trong lá Cờ Vàng đã nói ở trên. Việt-cộng cay-cú vì đã thất-bại trước giải-pháp này (sẽ nói rõ ở dưới) nên đã bóp méo là Phế Đế Bảo Đại theo Tây và đem hình nộm của Ngài ra đấm đá sỉ-vả. Thêm vào đó còn tìm mọi cách để triệt hạ lá cờ Quẻ Càn của dân tộc một cách kiên-trì nữa.

ö

 

GIẢI PHÁP BA BƯỚC NHƯ SAU

(dựa vào vị thế chiến lược toàn cầu nên phải

giành lại chủ quyền qua 3 giai đoạn)

   1/- Giành lại chủ-quyền Chính-trị và Ngoại-giao trên Chính Trường Quốc Tế. Cờ Quẻ Càn đã tung bay trên khắp các kỳ-đài thế-giới. Trong khi đó cộng-đồng thế-giới không ai biết cờ đỏ sao vàng là gì cả. Bước này đã thành công mỹ-mãn dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại.

   2/- Lấy hậu-thuẫn Quốc-tế xây dựng quân đội với 175.000 tay sung. Thay thế quân Liên Hiệp Pháp để bảo vệ chủ-quyền trên vùng đất Pháp kiểm-soát. Bước này đã thành công mỹ-mãn dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, không tốn 1 viên đạn, 1 giọt máu.

   3/- Chỉnh-trang hàng ngũ, dùng chính-trị để thâu hồi chủ-quyền trên mảnh đất Việt-cộng  kiểm soát bằng cách tách dân ra khỏi loạn tặc (mở đường cho họ tìm về vùng đất Tự Do) rồi mới dùng sức mạnh quân sự sau. Bước này, vì vụng xử nên thế-hệ đàn anh đã để Mỹ lừa. Rút cục cờ loạn tặc thay thế cờ dân tộc trên kỳ-đài Quốc Tế. thế mới cay!!

 

Ý nghĩa lá cờ Quẻ Càn đã được báo Tia Sáng ở Hà Nội dưới thời Tổng Trấn Nghiêm Xuân Thiện giải-thích như sau, chứ không phải là sự suy-diễn của người viết:

 

A/- ĐỨNG TRÊN BỐI CẢNH LỊCH SỬ LÚC ĐÓ thì nước ta đã bị phân chia từ 300 năm qua. Từ thời Trịnh Nguyễn phân-tranh. Nhà Nguyễn Gia Long (1802) tuy cai-trị toàn thể lãnh-thổ nhưng lại chia làm 3 vùng Bắc Trung Nam với 3 đạo luật khác nhau. Thực-dân Pháp đến cai-trị lại cố-tình làm cho sự ly-tán này thêm trầm-trọng, kẻ Bắc người Nam thù nghịch với nhau. Vì thế nên Hòa Đồng dân tộc và Thống-nhất lãnh-thổ là điều tiên quyết.

 

3 gạch đỏ trên nền Vàng tượng trưng cho dân 3 miền cùng chung sống trên mảnh đất Việt mà người Việt làm chủ (tự-lực, tự-cường, tự-trọng và cầu-tiến). Tức Toàn Dân Kháng Chiến, Toàn Diện đấu-tranh cho sự tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ bắng chính sức mạnh của dân tộc (tâm trí cũng như sức lực).

 

B/- ĐỨNG TÊN DỊCH HỌC thì quẻ Thuần Càn tượng-trưng cho Trời. Hành-động hợp với trời, thuận với đất thì sẽ hanh-thông.

Nay Việt-cộng đem Văn Hóa Mác Lê để phá-hủy gia đình, băng hoại xã hội thì đảng Việt-cộng tất sẽ tiêu vong (nguyền rủa).

 

 C/- ĐỨNG TRÊN TƯ THẾ CHÁNH TRỊ thì lúc đó tuy có chủ quyền, có độc lập, có lãnh thổ nhưng mới chỉ có trên giấy tờ. Còn trong thực tế thì Việt-cộng và Thực-dân đang xâu xé nước Việt, nếu thay đổi quốc kỳ là vô hình chung quay về thời Trịnh Nguyễn phân tranh và công nhận sự chính thống của Việt-cộng. Lấy lại cờ quẻ Ly thì không hợp thời nữa, vì giai đoạn giải phóng đã qua. Nay là giai đoạn giành độc lập. Vậy lấy biến thể của cờ quẻ Ly là hợp lý hơn cả. Quẻ Ly và quẻ Càn cùng nằm trong Bát Quái, quẻ nọ là biến thể của quẻ kia nói lên sự biến hóa của vạn vật nhưng cùng một gốc mà ra. Do đó cờ Quẻ Càn nói lên ý nghĩa: 

 

Ø  Toàn dân đoàn kết để đòi lại Tự-chủ và toàn vẹn lãnh thổ đã bị Việt-cộng cướp trong tay chánh phủ Trần Trọng Kim (dương cao ngọn cờ chánh-nghĩa dân tộc).

Ø  Vậy thì lá cờ Quẻ Càn không những nói lên Nguời dân Việt làm chủ nước Việt nước Nam của nguòi Việt Nam) mà còn nói lên tinh thần kếp hợp để bảo vệ ĐỘP LẬP và TỰ DO cho đất nưóc.

Ø  Nay ta gọi lá cờ vàng 3 sọc đỏ là lá cờ biểu tượng cho TỰ DO thì cũng không sai

------------------------------------------

 

Tình hình Quốc Tế vào năm 1947:

Lúc đó vì tình hình chính trị quốc tế bắt buộc nên Pháp phải ký hiệp định vịnh Hạ Long để trả chủ quyền cho ta, nhưng cay lắm nên tìm cách hãm hại.

Việt-cộng lăm le hớt tay trên cũng không xong (sẽ nói rõ ở dưới) nên sự phổ biến Giải-pháp Bảo Đại, Cứu Tinh Dân tộc cùng ý nghĩa quốc-kỳ Quốc-ca gặp rất nhiều trở ngại. Những người trong vùng Việt-cộng không biết đã đành, những người trong vùng Pháp kiểm soát cũng ít người biết tới. Ai cũng muốn từ bỏ Việt-cộng để về Tề sống với Chánh phủ Quốc gia cho có tình người. Đó là tâm trạng dân Bắc lúc đó. Còn Trung và Nam thế nào thì không rõ.

Vì thế nên Việt-cộng hoảng vía, chúng đã tổ chức đại quy mô những buổi dân chúng đấm đá hình nộm ông Bảo Đại và bôi nhọ lá cờ quẻ Càn. Còn cờ Quẻ Ly thì chúng không nhắc tới vì chúng ta không ai nhắc tới nên nó lờ đi luôn.

Lợi dụng sự yếu kém truyền thông của dân tộc, bộ máy TUYÊN TRUYỀN xảo-quyệt của chúng (được khối Cộng thế giới hỗ trợ) không những đã thành công trong việc lấp liếm hành động thoán nghịch (mà ta vô tình gọi là cướp công kháng chiến) mà còn thành công trong việc làm nhụt nhuệ-khí của nhiều người đứng dưới lá cờ này nữa. Tác dụng này còn di hại cho tới ngày hôm nay. Bằng cớ là những đứa con "côi" không biết mình từ đâu mà ra, nên đã lớn tiếng đòi xóa bỏ lá cờ Vàng của dân tộc có từ ngàn xưa để vô tình nối dáo cho giặc.

 

Việt-cộng đã liên tục đánh phá không ngừng lá cờ Vàng này (quẻ Càn cũng như quẻ Ly) từ lúc mới ra đời cho tới ngày hôm nay. Đương nhiên là có lý do. Nay chúng tôi xin trình bày lý do thì chúng ta sẽ thấy ngay tại sao Việt-cộng lại hoảng vía trước biểu-tượng này.  Chúng ta chỉ biết đây là biểu-tượng Chánh Nghĩa dân tộc mà chưa biết rõ chánh Nghĩa ở chỗ nào nên đôi khi bị chao đảo.

²

 

KẺ  GIAN    TẬT  GIẬT  MÌNH

   * 09/3/45:

Bắt dầu từ 8 giờ tối quân Nhật đồng loạt kiểm soát ra vô thành phố.

9 giờ đêm bắt đầu lung bắt người Pháp nhốt tù.

Ø  Nửa (24 giờ) đêm thì Pháp bị Nhật hất cẳng hoàn toàn.

 

*10.3.45:

Nhật trao trả độc lập cho Hoàng Đế Bảo Đại Bắc Kỳ và Trung Kỳ , còn Nam Kỳ là đất của nuớc Pháp vì Tư Đức đã biếu cho Pháp để cầu hòa

 

**Đầu tháng 4/1945:

Hoàng Đế chỉ định cho Nội Các Trần Trọng Kim thành lập Chánh Phủ mà Thủ Tướng là ông Trần Trọng Kim nen gọi là Chánh Phủ Trần Trọng Kim.

Lúc này Hoàng Đế Bảo Đại xóa bỏ Triều Đình Quân Chủ Chuyên Chế của Gia Long để chuyển sang Quân Chủ Lập Hiến. Tức nhà vua đưa ra Hiến Pháp và giám sat việc Chánh Phủ Dân Bàu có tôn trọng Hiến Pháp hay không.

 

**Avril 1945:

Cụ Trần Trọng Kim trình diện chánh phủ và mọi người bắt tay ngay vào việc.

Nên nhớ là lúc đó không ai biết sự nguy hiểm của Cộng Sản nên trong nội các chấp nhận đảng viên Viêt Cộng như BS Phạm Ngọc Thạch chẳng hạn

 

Sau đó Hoàng Đế Bảo Đại, Lãnh Tụ tối cao ban hành sắc lệnh để đưa lá cờ quẻ Ly làm Quốc Kỳ của nước Việt Nam và bài tiếng gọi Thanh Niên làm Quốc Ca.

 

Lúc đó nước ta theo chế độ Quân-chủ Lập Hiến

Lúc đó chào cờ Quẻ LY là niềm vinh dự cho dân Việt; vì trước đó phải chào cờ Tây (mẫu quốc Phú-Lang-Sa). Còn cờ Long Tinh (1 sọc đỏ nằm ngang trên nền vàng, 3 phần đều nhau) là Đế Kỳ của triều đình nhà Nguyễn, nó sinh và cết đi cùng lúc với triều đình này.

 

 

    * 15/8/45:

Nhật ký văn kiện đầu hàng Mỹ vô điều kiện. Tối hôm đó thì Nhật Hoàng ra lệnh cho quân sỹ các nơi trả độc lập cho dân địa phương, án binh bất động đợi ngày hồi hương.

 

*16.8.1945:

Nhật trao trả nốt cho ta Nam-kỳ.

Lúc này nước ta hoàn toàn độc lập. Chỉ còn việc đoàn kết dân tộc để bảo vệ sự độc lập này bằng chánh-trị mà thôi.

 

Quân trang, quân cụ, súng đạn và nhu yếu phẩm không thiếu; vì quân Nhật gọi lực lượng Thanh Niên Tiền Phong để chuyển giao mọi thứ; thay vì phải nộp tất cả cho kẻ thù là Mỹ đến tước khí giới.

Dịp may hiếm có, nhưng Việt-cộng đã lợi dụng tình-hình nhá nhem này để đưa dân ta đến thảm-trạng ngày hôm nay. Lúc đó chúng làm việc dưới sự chỉ đạo của Nga-Sô. Anh em Việt Quốc và dân ta thua Nga về Chính-trị là lẽ đương nhiên rồi. Mới từ nô-lệ đi ra, làm sao địch nổi siêu cường Sô-Viết?

 

    * 17/8/45:

Đây là ngày thứ Sáu, công chức đi làm và lúc đó chưa có tổ chức công đoàn, Khâm Sai Đại Thần Bắc Kỳ là ông Phan Kế Toại (khả năng là Thư Ký cho phủ Toàn Quyền Pháp, học lực chưa tới Tú Tài) cho công chức ở Hà Nội nghỉ việc và ra lệnh tập họp Công Chức và toàn dân trước nhà Hát Lớn (khu Ba Đình ngày nay) để nghe thông điệp nhà Vua (qua làn song Radio phát thanh từ Huế) nói về tình hình thế giới và đất nước cùng đường hướng chánh trị của Triều Đình.

 

Nên nhớ là:

Radio là xa xỉ phẩm chỉ nhà giàu mới có. Và lúc đó người Nhật bảo vệ an ninh nên cấm tụ họp và bắt các đảng phái nhốt tù nên không có Công Đoàn nào ráo trọi. Mà người dân cũng chưa quen tổ chức Công Đoàn để đối kháng với chánh quyền trong ôn hòa....lúc đó chỉ có hoạt động ngầm của các hội kín mà thôi.

------------------------------

 

Quan Khâm Sai Phan Kế Toại và cận thẩn chưa kịp ra thì Phạm Duy đã lên cướp Micro hát bài Tiến Quân Ca của Việt Minh, phá hoại cuộc tập họp này và hẹn gặp lại nhau ngày 19 tại địa điểm này để chúng còn có thì giờ tổ chức cái gọi là cướp chánh quyền.

 

Vì độc quyền thông tin nên Việt Minh gọi cuộc tụ tập này là: Biểu Tình do Công Đoàn Công Chức tổ chức để đòi Độc Lập....mà độc lập cùng toàn vẹn lãnh thổ thì Nhật đã trao trả vào ngày 16 vừa qua thì đòi cái chi đây?

Cứ thẳng thắn mà nói thì đây là một cuộc gây rối trị an để đục nước thả câu ăn cướp chánh quyền.

 

    * 19/8/45 (Hà Nội)

Hà Nội có cuộc biểu tình cưỡng bách, không lấy chi làm rầm rộ cho lắm. Bắt đầu từ 9 giờ sáng ở nhà hát Tây (khu Ba Đình), dân chúng đang đi đường bị Cán bộ Việt-cộng lùa vô nên lỡ hết mọi việc làm ăn của mình. Sau đó đám người cứ đi vòng-vòng mà không biết mình đang làm cái gì đây? Độc lập có rồi, thống nhất lãnh thổ cũng có rồi. Oán hận Bảo Đại cũng không. Vì thế nên đám người này cứ tìm cách chuồn dần, cuối cùng tự-động rã đám vào lúc 5 giờ chiều. (coi ảnh đính kèm)

Ấy thế mà ngay tối hôm đó cũng đẻ ra được Ủy Ban Cứu Quốc mà không ai biết nhân sự cùng mục tiêu và đường lối đấu tranh. Nên nhớ rằng Thủ Đô nước Việt lúc đó là Huế, Hà Nội chỉ là một thành phố bình thường như mọi thành phố khác mà thôi.

 

   * 21/8/45 (HÀ ĐÔNG):

Bản cũ soạn lại ở Hà Đông (cách Hà Nội 11 cây số về phía Nam) nhưng bị ông đội Dương (thuộc Quốc Dân Đảng) trá hàng rồi hạ lệnh nổ sung giết lũ cán bộ Vẹm đi. Biểu tình giải tán trong trật tự. Sau đó lan xuống Nam Định (#75 Km phía Nam), rồi Ninh Bình (93 Km phiá Nam), rút cục cán bộ Vẹm bị bắt ráo trọi. Nhưng Hoàng Đế Bảo Đại không hề hay biết chi cả.

 

   * 21/8/45 (HUẾ):

Buổi chiều có vị Đại Tá Nhật xin yết kiến Hoàng Đế để thông báo biến động ở ngoài Bắc và xin phép được dẹp loạn, bảo vệ nhà vua theo sự yêu cầu của Mỹ.

Nhưng Hoàng Đế khước từ vì không muốn lính ngoại quốc đàn áp Cách Mạng

 

Trong Nội Các có Việt-cộng nằm vùng là Bác Sỹ Phạm Ngọc Thạch.

Được tin này thì chúng tổ-chức ngay kế-hoạch để cướp quyền.

 

17 giờ tan sở, mọi người ra về thì chúng bắt cóc trọn ổ để nhà vua trơ-trọi một mình. Sau đó  chúng đưa bức điện tín giả của Ủy Ban Cứu Quốc từ Hà Nội gửi đến để yêu cầu Ngài thoái vị một cách vu-vơ. Ngài đọi hôm sau sẽ thong báo cho nội các quyết định

Hôm sau, 22.9.1945, toàn thể Nội-các không một ai đến làm việc cả. Lợi dụng sự cô-đơn này, cò mồi xúi Ngài rời Cung đi lánh nạn.

 

* 23/8/45 (HUẾ):

Không ai tới sở làm cả, khoảng 18 giờ chiều, Hoàng Đế đánh điện cho Ủy Ban Cứu Quốc vô để tham dự buỏi lễ thoái vị,

Sáng sớm hôm sau (24/8) Trần-huy-Liệu và Cù-huy-Cận lật-đật vô Cung để làm chứng nhân cho việc Thoái Vị của HOÀNG Đ, và trả quyền TỰ QUYẾT cho dân tộc.

 

        * 25.8.45 (Thành Trì Nhà Vua)

Đúng 12 giờ trưa ở Ngọ Môn Hoàng Đế long trọng đọc chiếu thoái vị trước công chúng và 2 tên từ Hanoi vô là trần Huy Liệu (góc Việt Quốc) và Cù Huy Cận (gốc Cộng sản) tham dự với tư cách cá nhân; vì lúc đó Nhật đóng quân nên các đảng phái đều giấu tên cấp chỉ huy của họ; chỉ có mấy tên cắc ké xuất đầu lộ diện.

Cái Chánh Phủ tự xưng là “CÁCH MẠNG” của Hồ Chí Minh mãi đến ngày 02/9/45 mới ló dạng một cách mập mờ, úp-úp mở-mở.

 

Hoàng Đế tuyên bố trả lại quyền TỰ QUYẾT cho dân tộc qua việc toàn dân CHUNG QUYẾT bản HIẾN PHÁP được soạn thảo bởi Quốc Hội Lập Hiến.do chính ngưòi dân chọn các Nghị Sỹ đại diện cho mình soạn thảo.

 

Ø  Toàn dân chung quyết hiến pháp và bàu chánh quyền lo việc nước dựa theo Hiến Pháp đã được người dân CHUNG QUYẾT thì mới có giá trị.

Ø  Quốc Hội LẬP HIẾN phải do chánh phủ Trần Trọng Kim triệu tập.

 

    * 02/9/45:

Lợi dụng tình hình giao thời, Hồ Chí Minh phá đám, gây loạn để thừa cơ CƯỚP CHÁNH QUYỀN TRONG TAY NHÂN DÂN đang chờ bỏ phiếu thành lập Quốc Hội Lập Hiến.

 

Hồ Chí Minh (lúc đó là người vô danh) nhảy tóc lên diễn đàn ở Hà Nội để đọc Tuyên Ngôn Độc Lập với tư cách Chủ Tịch của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Đây là cương vị tự ông phong cho ông. Có người cho đây là hành động Chó Nhảy Bàn Độc (tức bàn thờ ông bà, ông vải), vì ông không có tư cách nào để đọc Tuyên Ngôn thay cho toàn dân cả.

 

Chúng ta có thể tra cứu trên GOOGLE về ngày 02/9/1945:

-         Hồ Chí Minh không làm lễ nhậm chức.

-         Hồ Chí Minh giấu nhẹm tiểu sử và tên cúng cơm.

-         Hồ Chí Minh độc diễn trên diễn đán, các yếu nhân chánh phủ Trần Trọng Kim không ai tham dự.

Vắng bóng ông Bảo Đại, vắng bong đại diện đảng phái và hội đoàn cùng các chí sỹ và sỹ phu ... đến một tên cò mồi lên ca tụng cĩng không có luôn.

 

NHẬN XÉT

Thật vậy, đứng trên Pháp lý thì đây là hành động lưu-manh, lợi dụng lòng tin của người để làm loạn.

Từ ngày 24/8 tới ngày 2/9 vẻn-vẹn có 9 ngày đất nước vô chủ, nay tự dưng xuất hiện chánh phủ không bàu bán chi cả nên chẳng đại diện cho ai ráo-trọi. Đó là Ngụy Triều. Chả thấy trưng cầu dân ý, tự nhiên đẻ ra thể chế Dân Chủ Cộng Hòa và thay đổi Quốc Hiệu mà không ai cho phép cả. Đây đúng là thể chế Nô-dịch. Từ xưa đến nay chưa ai dám làm trắng trợn như thế cả.

 

Lời bàn :

Ở thời điểm đó các đảng phái đều hoạt động trong bí mật. Người ta chỉ nghe nói Mặt Trận Việt Minh chứ người ta chưa biết lãnh tụ là ai cả, đường lối đấu tranh cũng không rõ. Chỉ biết đây là tụ điểm (thiệt hay giả cũng chẳng hay) của một số đảng phái chống ngoại xâm, đòi độc lập dưới biểu tượng cờ đỏ sao vàng.

 

Hồ Chí Minh là ai thì cũng chưa biết. Đột nhiên nhảy ra diễn đàn Quốc Nội tự xưng là Chánh Phủ để đọc Tuyên Ngôn Độc Lập mà Thượng Thư Phạm Quỳnh đã tuyên bố trên diễn đàn Quốc Tế vào ngày 11/4/45 trước đó 5 tháng.

Bản văn ông đọc là bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền chứ không phải Tuyên Ngôn Độc Lập như đảng của ông nói.

 

Trước khi tổ chức lễ hội ngày 02/9/45 thì báo Cứu Quốc cơ quan ngôn luận của mặt trận Việt Minh nói là Chánh Phủ (còn dấu tên) làm lễ Tuyên Thệ (nhậm chức) trước bàn thờ Tổ Quốc.

Sau ngày lễ thì báo Cứu Quốc đổi giọng thành Lễ Tuyên Ngôn Độc Lập trước bàn thờ Tổ Quốc. Chúng ta thấy những điều phi lý, danh bất chính thì ngôn khôn thuận như sau:

Ø  Tuyên ngôn độc lập thì đã chánh thức công bố từ 5 tháng trước đó.

Ø  Bản ông đọc là Tuyên Ngôn Nhân Quyền mà ông không có tư cách gì để đọc cả. Vì lúc đó thì ông chỉ là một tên vô danh tiểu tốt, chẳng ai biết mặt và tên của ông. Ngay chính danh xưng Hồ Chí Minh cũng không phải là tên thật của ông....con cái nhà ai, tiểu sử ra sao cũng chẳng ai biết đến cả; kể cả các đảng viên cao cấp Việt Cộng cũng không trả lời được Hồ Chí Minh là ai?.

Ø  Tuyên Ngôn Nhân Quyền, hay Tuyên Ngôn Độc Lập thì phải đọc trên diễn đàn Quốc Tế chứ không phải đọc trước bàn thờ Tổ Quốc. Mà người đọc phải là chánh phủ đại diện cho toàn dân mới có giá trị quốc tế. Trước bàn thờ Tổ Quốc chỉ có thể làm lễ Tuyên Thệ mà thôi.

Ø  Trước đó thì gọi là làm lễ Tuyên Thệ (nhậm chức) trước bàn thờ Tổ Quốc, sau lại lái thành lễ Tuyên Ngôn Độc Lập trước bàn thờ Tổ Quốc...Có cái gì mâu thuẫn phải tìm cho ra.

 

Từ đó suy ra:

Ông định làm lễ Nhậm Chức do Hoàng Đế Bảo Đại trao quyền cho có chánh danh, sau đó ông mới đọc những lời tuyên thệ trước bàn thờ Tổ Quốc cho danh chánh ngôn thuận, dưới lá Quốc Kỳ Quẻ Ly.

Không dè chân tay của ông nhanh nhảu đoảng đã ép Hoàng Đế thoái vị vào ngày 25/8, tức trước đó 7 ngày nên Hoàng Đế khước từ rằng: Ngài đã thoái vị 7 ngày trước nên không còn gì để trao cho ông cả. Cái này chứng tỏ khả năng non nớt của đảng viên Việt Cộng, làm cái điều chưa nên làm để sau này lúng túng.

 

Vì đã đâm lao thì phải theo lao, do đó ông đọc ngay bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền rồi thổi phình lên là bản Tuyên Ngôn Độc Lập mà ta chẳng thấy ông hủy bỏ những hiệp ước nhượng địa và bảo hộ của nước Đại Pháp...... hiệp ước bảo hộ còn đó thì làm sao mà độc lập được? Mà chúng ta cũng chẳng thấy ông nói đến đường lối của chánh phủ của ông một cách rõ rằng. Đúng là...BỊP!   Đại Bịp!!!

 

Ø  Cuối tháng Septembre 1945, thì có sắc lệnh của ông Hồ-chí-Minh ban hành thay đổi Quốc-kỳ và Quốc-ca. Lấy cờ đỏ sao vàng thay cho cờ Quẻ Ly, và lấy bài đảng-ca của đảng Việt-cộng thay cho bài tiếng gọi Thanh Niên. Đồng thời ông cũng ký luôn sắc lệnh giải tán đảng Đại Việt Quốc Dân Đảng do lãnh tụ Trương Tử Anh lãnh đạo cùng với Nguyễn Sĩ Dinh, Nguyễn Tiến Hỷ, Phạm Cảnh Hoàn, Đặng Vũ Trứ, Nguyễn Tôn Hoàn, Tạ Thành Châm, Phan Bá Trọng, Vũ Văn Hải, Nguyễn Văn Viễn, Giáo Lai và Đội Tiếp (những sắc lệnh này được đăng trong công báo tháng 10 năm 1945). Độc Lập và Tự Chủ bị khai tử từ đây.....!!!!

Ø  Khi xuất hiện trước công chúng thì ông Hoàng Đế Bảo Đại hay Tổng Thống Ngô Đình Diệm đều trang phục bằng bộ Quốc Phục áo dài khăn đóng; còn Hồ Chí Minh thì kết tội sắc phục đó là Triều Đình áo gấm nên hãnh diện với bộ Đại Cán Công Sản Quốc Tế.

Tức là ông Hồ-chí-Minh tranh đấu cho sự tồn vong của đảng Cộng Sản Quốc Tế và sẵn sàng hy sinh sức sống của dân Việt nếu cần.

ü  Ông càng khôn thì dân Việt càng khốn đốn!

-----------------------------

    * 06/3/46:

Lúc 3 giờ sáng Hồ Chí Minh  ký Tạm-ước Sơ-bộ (đã tạm-ước lại còn móc thêm sơ-bộ, vậy có bao nhiêu phần trăm giá trị?) chấp nhận cho Pháp đóng quân trên đất Việt, và được quyền nổ súng khi thấy cần.

Trong bản văn này họ Hồ công nhận chủ quyền của Pháp ở Nam-kỳ (Cochinchine); trong khi 7 tháng trước đó Hoàng Đề Bảo Đại đã trao cho ông ta trọn vẹn lãnh thổ, trong đó có Nam-kỳ. Đây là nguồn gốc để có Chánh-phủ Nam-kỳ tự-trị do Thủ Tướng Nguyễn Văn Thinh lãnh-đạo; sau này biến thành Chánh-phủ Quốc-gia Việt Nam (1948). Tự-trị ở đây là đòi tách khỏi nước Pháp chứ không phải tách khỏi nước Việt như Việt-cộng vu-khống. Vẹm bán nước cho Tây có văn-tự hẳn hoi, người dân đòi quyền tự-trị và chống kẻ bán nước thì bị chụp mũ là ly-khai, mất gốc, quên nguồn.

  

 Lợi dụng sự có mặt của quân đội Pháp, Việt-cộng không những đã phá đê Bắc Ninh gây lụt để diệt căn cứ của Việt-quốc, sát hại dân lành, mà chính Võ Nguyên Giáp còn đích thân đến gặp Đại-tá Crépin để yêu cầu Pháp nã đại bác vào chỗ đóng quân của Việt-quốc nữa. Crépin đã hoan-hỉ và tán-đồng. Ngoài ra còn phá đê giết dân ở Bắc Ninh để làm ngập lụt các căn cứ Việt Quốc ở đó.

Sau đó dàn dựng ra vụ Ôn Như Hầu, Cầu Chiêm Sơn và nhiều vụ khác để diệt tận gốc Việt Quốc Quân. Việt Quốc là sự kết-hợp của 3 đảng có uy-tín lúc đó là: Đại Việt Quốc Dân Đảng của Trương Tử Anh thành lập năm 1939 tại Hà Nội, Đại Việt Dân Chính Đảng của Nguyễn Tường Tam thành lập năm 1940 và Việt Nam Quốc Dân Đảng của do Nguyễn Thái Học thành lập năm 1927. Ba đảng này đã tự nguyện kết hợp với nhau trên tinh thần tương kính, vì nước đấu tranh để thành một tổ chức chính-trị mang tên Quốc Dân Đảng, lấy bài Việt Nam Minh Châu của Hùng Lân làm đảng-ca và  cờ sao trắng làm đảng-kỳ; khi thì nền xanh, lúc thì nền vàng hay nửa vàng nửa đỏ.

     

Lúc này, vào tháng Septembre 1946 (phái đoàn Hồ Chí Minh dang lang thang bên Pháp để ký giấy bán nước) , ở khắp ngang cùng ngõ hẻm Hà Nội người dân thấy nhiều bích-chương cảnh cáo Hồ Chí Minh, đại loại như:

                                            Xưa kia thân Pháp Việt-gian,

                                            Bây giờ thân Pháp hoàn-toàn Việt-minh.

                                            Mồ Quỳnh cỏ mọc còn xanh,

                                            Hỏi ai bán nước, ấy anh Hồ già!

Ông Phạm Quỳnh, trước đó làm Thượng Thư (Bộ Trưởng) của Triều-đình Huế (dưới thời Pháp thuộc), sau ngày 09/3/1945 thì Hoàng Đế Bảo Đại bãi nhiệm để thay bằng Nội Các Trần Trọng Kim. Ông chỉ là người thừa-hành lệnh của Hoàng Đế Bảo Đại. Nên nhớ ông Phạm Quỳnh là học giả chứ không phải chánh trị gia

Ấy thế mà cuối tháng Septembre 1945 ông Hồ Chí Minh đã lén-lút hạ lệnh cho công-an bắt và thủ-tiêu rất nhiều người Quốc-gia (như ông Ngô Đình Khôi, anh ông Ngô Đình Diệm .....), trong đó có ông Phạm Quỳnh là người đã được toàn đân biết đến tên. Sau đó bị Việt-quốc chất vấn và hạch tội trên báo-chí thì tờ báo Cứu Quốc (cơ-quan Ngôn-luận của đảng Việt-minh) nói té-tát là ông Phạm Quỳnh và đồng bọn đã có nợ máu với Nhân Dân vì thân với Pháp. Mồ ông Phạm Quỳnh mới chôn chưa đầy 6 tháng vì tội thân Pháp do chính ông Hồ Chí Minh luận tội. Ấy thế mà ngày 06/3/46 chính ông Hồ cấu-kết với Thực Dân Pháp để truy-nã và tiêu-diệt Việt-quốc thì tự ca-tụng là ái-quốc thương nòi sót giống.

 

    * 14/9/46:

Vì là Tạm Ước nên họ Hồ phải qua FONTAINEBLEAU (nước Pháp) để hội đàm với ông MOUTET, bộ-trưởng bộ thuộc-địa chứ không phải là bộ Ngoại-giao đâu.

 

Tức đã công nhận Việt Nam là đất thuộc về nước Pháp rồi; nay sang để thỉnh-nguyện đôi lời. 2 giờ sáng ngày 14/9/46 ông Hồ lẻn đến dinh ông MOUTET để xin ký hiệp-định ngay trên đầu giường ngủ của ông này. Khi ra về ông Hồ còn nói với một câu "Tôi đã ký bản án tử hình cho dân Việt" (Đoạn văn này được trích trong báo Pháp ở thư viện Paris).

 

    * 19/12/46:

Chiến tranh Pháp và Việt-cộng bùng nổ trên đất Việt. Phe gây chiến là Việt Cộng dưới lệnh của Võ Nguyên Giáp cho phá hủy nhà máy điện ở Hà Nội để làm hiệu lệnh nổ sung vào đúng 12 giờ đêm..

 

Lúc này thì Việt-quốc đã bị tiêu-diệt hoàn-toàn, chỉ còn Thực-dân và Cộng-sản xâu xé nước Việt. Nhưng trong thực tế thì đây là cuộc chiến ủy-nhiệm của Nga và Mỹ trong việc giành-giựt chư-hầu. Sau này biến thành nơi thử vũ-khí cho hai siêu-cường.

²

Phong  Ba  Bất  Động  Thiết  Tâm  Can

Dũng Khí của tuổi trẻ thời đó, đứng lên đáp lời sông núi

 

Đến năm 1947 thì tình hình thế-giới căng thẳng giữa Nga và Mỹ. Thế chiến thứ 3 có thể bùng nổ ngay trên lãnh thổ Nga Mỹ. Vì năm 1945 Mỹ đã để Cộng-đảng Nga-Sô phỗng tay trên ở Đông Dương (Việt, Miên và Lào) nên phải giúp Pháp trở lại tái chiếm thuộc-địa đặng còn có dịp tìm hiểu người và đất trước khi đặt chân vô. Vì thế nên việc trao-trả Đông Dương cho Mỹ là điều không thể tránh được. Biết rõ thế cờ quốc-tế này (do Nga cung cấp) Hồ Chí Minh đã tạo cơ-hội giúp Pháp ở lại bằng cách tình-nguyện làm tôi nước Pháp.

     * 16/7/47:

Hồ Chí Minh đã lên đài phát thanh "Tiếng Nói Việt Nam" long-trọng tuyên bố tình-nguyện trở lại với nước Pháp và chỉ xin được làm vùng tự-trị mà thôi.

     * 19/7/47:

Cải-tổ Chánh-phủ, cho 16 người có xu-hướng Quốc-gia giữ các bộ không quan-trọng. Ký sắc lệnh cải danh Vệ Quốc Quân thành Quân Đội Quốc Gia Việt Nam để nhập-nhằng (chứ không phải là Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đâu).

 

      * Août 1947:

Léon Blum (Cộng-đảng Pháp) chính thức đứng trung gian để dàn xếp.

ö

 

*** Phản ứng của thế hệ trẻ lúc đó (phe ta):

Nhận thấy tình hình quốc-tế thay đổi, những người Quốc-gia trong cũng như ngoài nước yêu-cầu ông Bảo Đại trở lại vị-thế lãnh-đạo tối cao để anh em còn có chỗ nương tựa.

 

      * 18/9/47:

Cựu Hoàng Bảo Đại chính thức lên tiếng trên báo chí:

- Từ bỏ ngai vàng, xóa bỏ chế-độ Quân Chủ (Việt-cộng xuyên-tạc điểm này).

- Sẵn-sàng trở lại vị-thế Lãnh-tụ tối cao để cùng toàn dân đòi lại chủ quyền.

Đáp ứng lời tuyên bố này đồng bào Nam-kỳ đã xuống đường biểu tình rầm-rộ để hoan-nghênh sự trở lại của ông Bảo Đại (coi ảnh đính kèm).

 

       * 29/9/47:

Để hưởng ứng lời tuyên bố này, bằng hành-động cụ thể vì nước đấu-tranh, ông Lê Văn Hoạch từ-chức Thủ Tướng Chánh Phủ Nam-kỳ Tự Trị. Chánh-phủ này được thành-lập ngay sau khi Hồ Chí Minh bắt tay với Pháp để cắt cổ dân Việt. Họ Hồ đã công-nhận Nam-kỳ là đất của Pháp, vậy tự-trị ở đây là tách ra khỏi nước Pháp chứ không phải là tách ra khỏi nước Việt đâu.

Hành-động từ-chức của Thủ Tướng Lê Văn Hoạch đã nói lên điểm này. Nhưng Thực-dân và Cộng-sản tìm cách bóp méo, xuyên-tạc nói rằng Nam-kỳ không thích Bắc-kỳ... vân vân..... .

Ở ngoài Bắc 18 làng Bùi-chu Phát-diệm đã tự lập thành-trì chống Việt-cộng ngay từ ngày 19.8.45 cho tới lúc di-cư vô Nam (tháng 7 năm 1954). Vì nhỏ và yếu nên chưa lập được Chánh-phủ Tự-trị để chống lại hành-động bán nước buôn dân của Việt-cộng, do đó ít người biết đến, và đôi khi còn hiểu nhầm nữa.

 

      * 01/10/47:

Tướng Nguyễn Văn Xuân lên thay-thế và cải danh thành:

CHÁNH PHỦ LÂM THỜI QUỐC GIA VIỆT NAM

 

Bổ nhiệm ông Trần Văn Hữu làm Phó Thủ-tướng. Lúc này Quốc-gia như rắn không đầu, chưa có Quốc-trưởng nên mới có chữ Lâm-thời. Danh từ Quốc-gia bắt đầu xuất hiện từ đây.

 

Sau sự trắc-nghiệm này ông Bảo Đại mới chính-thức tuyên-bố:

a)-   Lấy lại quyền lãnh-đạo quốc-dân đã bị Hồ Chí Minh cuớp trắng sau khi Ngài thoá vị

c)-    Xóa bỏ thể-chế Quân-chủ.

d)-    Thành lập thể-chế Dân Chủ với Quốc-trưởng, để ngáng cẳng không cho Hồ Chí Minh cái quyền thành lập Quốc Hội.

 

      * 02/6/48:

Chánh-phủ Lâm Thời Quốc Gia Việt Nam ký sắc lệnh để chánh thức hóa Quốc-kỳ và Quốc-ca cùng Giải-pháp Bảo Đại để làm kim chỉ Nam cho công cuộc giành độc-lập. Quốc-kỳ là lá cờ Quẻ Càn (hồi sinh của lá cờ Quẻ Ly), Quốc-ca là bài Tiếng gọi Công Dân (biến-thể của bài tiếng gọi Thanh Niên 1945).

 


Lá cờ Quẻ Càn nói lên ý nghĩa

ü  Kết hợp lòng người Bác Trung và Nam  đoàn kết

ü  Bảo vệ Độc Lập, Tự Do và toàn vẹn lãnh thổ.

         Đó là nhu cầu cần thiết ở thời điểm đó

 

       * 05/6/48:

Lẽ dĩ-nhiên là có sự hậu thuẫn ngầm của Mỹ, là vì nhu cầu của Mỹ muốn chặn làn sóng đỏ ở biên giới Việt Trung, ta khai thác mâu thuẫn giữa Mỹ và Pháp để xây dựng một quốc gia độc lập và toàn vẹn lãnh thổ.

Cuộc đời không ngon lành đâu, có đi có lại mới toại long nhau.

.

Chánh Phủ Lâm Thời Quốc Gia Việt Nam ký với Đại diện của Chánh-phủ Pháp THÔNG CÁO CHUNG ký trên chiến hạm của Pháp thả neo ở vịnh Hạ Long. Ta chưa có đất, chưa có dân nên phải ký trên chiến hạm của người; nhưng không sao miễn thành công là được. Hiệp-định này nói:

 

1)- Nước Pháp long-trọng công-nhận nước Việt Nam Thống-nhất (Bắc, Trung, Nam) Độc-lập hoàn-toàn nhưng nằm trong Liên Hiệp Pháp (tức kinh-tế lệ thuộc đồng Quan của Pháp).

2)- Nước Pháp công-nhận ông Bảo Đại là Quốc-trưởng hợp pháp và duy-nhất của Quốc-gia Việt Nam, có đầy đủ tư thế để thương thảo với Pháp trên mọi vấn đề.

 

*** Đây là một sự thất-bại chua cay của Việt-cộng trên chính-trường Quốc-tế. Cờ Quẻ Càn tung bay trên khắp các kỳ-đài Quốc-tế; trong khi đó không ai biết cờ đỏ sao vàng là gì cả.

 

Tiếp theo ngay sau đó là:

-  Cải danh Chánh Phủ Lâm Thời thành Chánh-phủ Quốc-gia Việt Nam.

- Cải-tổ Chánh-phủ. Tướng Nguyễn Văn Xuân từ-chức, ông Trần Văn Hữu lên nắm chức-vụ Thủ-tướng dưới quyền chỉ đạo của Quốc-trưởng Bảo Đại.

Lúc này ngôi nhà Việt Nam mới chính-thức có nóc là do công sức của thế hệ trẻ đương thời.

Phải có Thiết Tâm Can mới vững tay chèo như thế. Ấy thế mà Việt-cộng vu-vạ là Tay Sai của Thực Dân Pháp. Trong khi chúng ký văn tự bán đất cho Tây thì tự ca-tụng là ái-quốc. Thiết nghĩ điểm này cần phải cho thế-hệ hậu sinh biết rõ.

 

* 08.3.49:

Quốc Trưởng Bảo Đại ký với Tổng Thống Phảp bản văn thu hồi Độc Lập và toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời thuê lính trong khối Liên Hiệp Pháp bao vệ an ninh trong khi thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam với 175.000 tay sung.

Ø  Lúc này lính Liên Hiệp Pháp đóng ờ Việt Nam là lính đánh thuê; vì Bo Đại thu thuế.

Ø  Trước đó là lính Thực Dân Pháp do Hồ Chí Minh mời tới bằng Tạm Ước Sơ Bộn06/03/1946, và ngưi Pháp thu thuế trên toàn cõi, ngưi Pháp đặt luật mà dân Việt phải theo cho đến ngày 09.3.1949 mới theo Luật Bảo Đại.

 

      * 15/7/51:

Quốc-trưởng ký sắc-lệnh Tổng Động Viên Nhân lực và Tài Lực để bước sang giai-đoạn thứ 2 là thay-thế quân Pháp để tự mình bảo vệ lấy chủ quyền trên đất Việt. Trước đó chánh-phủ lâm-thời đã có quân nhưng dưới dạng dân-vệ hay địa phương quân, ngoài ra còn các lực-lượng võ-trang tự phát ở khắp nơi như lực-lượng Bùi-chu Phát-diệm. Nay kết-hợp lại thành một lực-lượng võ trang mang tên:

Quân Đội Quốc Gia Việt Nam

 

Hành động này không cho phép chúng ta được nói rằng thế-hệ đàn anh không có tinh-thần kết-hợp để bào-chữa cho hành-động buông xuôi của mình.

 

Lẽ dĩ-nhiên là PARIS không muốn, vì đoàn quân này sẽ tống cổ chúng ra khỏi nước Việt. Vì chẳng đặng đừng nên phải nhận tiền của Mỹ để huấn luyện đoàn quân này. Kinh-phí chi cho huấn-luyện thì Pháp lấy 50% để bù đắp cho kinh-tế lỗ-lã ở Paris. 50% còn lại dùng để chi-phí cho huấn-luyện viên.

 

Do đó Pháp đặt điều kiện là:

1)     Quốc Trưởng Bảo Đại phải đóng đại bản doanh ở Paris.

2)     Tướng Tá o Pháp bổ nhiệm.

 

Quốc Trưởng đồng ý nhưng sẽ tạo thời cơ  đế phản phé, vặt hết chân tay của Pháp, tạo điều kiện cho Thử Tướng NGÔ Đính Diệm đảo chánh để trả lại quyền TỰ QUYẾt cho dân tộc vào ngày 23/10/1955

 

Đến 20/11/1953 thì quân số lên tới 70.000 tay súng, đủ sức thay thế quân-đội Pháp, đánh gục Việt-minh (Việt-cộng).

Nếu Tàu kéo qua thì gọi Mỹ nhào vô. Đó là chương-trình đã được Mỹ đồng ý, do đó Quốc Trưởng Bảo Đại yêu cầu Pháp ra đi, nhưng Pháp không chịu nên Mỹ xúi Pháp đánh Điện Biên rồi móc cẳng cho thua.

 

ö

 

Hậu trường chánh trị:

                                                                                  

·        Pháp trả đũa bằng Hiệp Định Genève, Pháp chiếm miền Nam và Tàu Mao chiếm miền Bắc.

·        Bảo Đại trả đũa lại bằng cách vặt hết chân tay của Pháp để Thủ Tướng Ngô Đình Diệm làm một cuộc đảo chánh và Ngài tự nguyện rút chân ra khỏi chánh trường vào ngày 23/10/1955

 

    * 20/11/53:

Phe Quốc Gia yêu cầu Mỹ ép Pháp rút quân, nhưng Pháp không chịu nên xúi Mỹ dụ Pháp đánh Điện Biên, chiếm đóng lòng chảo để dụ địch đóng quân trên núi rồi thả bom dây chấm dứt chiến tranh.

 

Nhưng khi đụng trận thì Mỹ từ chối không thả bom dây để Pháp phải rút quân, và quân đội Quốc Gia Việt Nam thay thế vì đã có 70.000 tay súng và 3 năm kinh nghiệm chiến trường, đủ sức tự bảo vệ an ninh quốc phòng.

Nếu Tàu Mao vượt tuyến thì kêu gọi phe đồng minh vào tiếp chiến

 

Lúc đó, quân số điều-động trong chiến trận này là 5% (năm phần trăm) trong tổng số quân Liên Hệp Pháp đóng ở Việt Nam.

Sở-dĩ Điện Biện quan-trọng là vì mất Điện Biên thì mất luôn đường tiếp-vận, quân Việt-cộng trong Trung và Nam sẽ tan hàng rã đám vì đói.

Đồng bằng Bắc Việt thì nằm trong tay Quân-đội Quốc-gia và Quân-đội Pháp. Trung và Nam thì chánh quyền Quốc-gia đã tạm ổn-định. Theo kế-hoạch thì Mỹ lo vấn-đề tiếp vận, và chỉ can-thiệp bằng không lực khi quân Tàu kéo qua mà Pháp chống không nổi. Quân số của Pháp chỉ có 14.000 người. Chết trận 4.000 người, bị bắt 10.000 người. Khi được thả theo hiệp-định GENEVE (Septembre 1954) chỉ còn có 3.000 người thôi.

Điện biên kết thúc vào ngày 07/5/1954 đến đầu tháng 9/1954 chỉ còm 3.000 tù bnh.

Ø  Như vậy là trong vòng chưa đầy 4 tháng, Việt Cộng đã thủ tiên 7.000 tù binh Pháp

 

    * THÁNG 03 NĂM 1954:

Mỹ kiếm cớ bỏ rơi và yêu cầu Pháp rút quân khỏi Việt Nam, trao lại cho Quân-đội Quốc-gia Việt Nam tất cả các căn-cứ của mình. Nếu Tàu kéo qua thì Quốc-trưởng kêu gọi thế-giới tiếp cứu, lúc đó Mỹ sẽ nhào vô. Nhưng Pháp không chịu.

Bất-hạnh thay, Hội-nghị Quốc-tế nhóm họp ở Genève vào ngày 26 Avril 1954 để giải quyết vấn-đề Bá-Linh và Đại-hàn (Bàn Môn Điếm) là 2 nơi căng thẳng có thể đưa đến chiến-tranh nguyên-tử. Pháp đòi đưa vấn-đề Việt Nam vào chương-trình nghị-nhị sự, Mỹ không chịu. Trong khi đó Phạm Văn Đồng biến thành Tàu, theo phái đoàn Bắc Kinh đi phó hội để nghe ngóng.

 

Trước hội nghị Genève là hội nghị ở BERLIN nhưng thất bại nên các cường quốc hẹn tái nhóm ở Genève để thảo luận lại các vấn đề nóng bỏng. Ở hội nghị Berlin thì Pháp có đòi đưa chiến tranh Việt Nam vào chương trình nghị sự nhưng bị bác nên Pháp đưa lại vào hội nghị Genève cũng bị bác luôn...Vì Điện Biên thất thủ nên Mỹ bắt buộc phải chấp nhận, và đưa vào ngày đầu của chương trình nghị sự là do sức ép của chánh phủ Anh Quốc là ông Churchill.

 

     * 07/5/54:

Điện Biện thất-thủ, tướng DE CASTRIE đầu hàng. Lúc này Anh, Nga và Tàu ép Mỹ phải để Việt Nam vào chương-trình nghị-sự. Mỹ phải đồng ý. Quốc-trưởng Bảo Đại từ chối không phó hội với lý-do: Không ngồi chung với loạn-tặc Việt-cộng. Hơn nữa Pháp đã công nhận Bảo Đại là đại-diện duy-nhất và chánh-thức của Quốc-gia (ETAT) Việt Nam.

Pháp chơi xấu, đe-dọa không đi thì Pháp thay mặt ký một mình. Cực chẳng đã, ông Nguyễn Quốc Định được chỉ định làm trưởng phái-đoàn để bảo-quyền lợi có thể bảo-vệ được ở chính-trường Quốc-tế.

Ø  08/5/54: Thổng-thống Pháp là ông BIDAULT, với tư cách trung gian, đưa đề-nghị giải-quyết tranh-chấp.

Ø  10/5/54: Phạm Văn Đồng (Việt-cộng), với tư cách kháng-chiến (phản-loạn thì đúng hơn) đưa đề nghị chặt đôi nước Việt, mỗi anh một nửa.   

Ø  12/5/54: Ông Nguyễn Quốc Định lên diễn đàn tố-cáo tội ác và manh tâm làm nô-lệ cho khối Cộng của Hồ Chí Minh và đảng Việt-cộng để gây loạn cho cả thế-giới. Ông cực-lực chống đối manh tâm chia cắt đất nước, dù là tạm thời hay bất cứ dưới hình thức nào. Ông cương quyết bảo-vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ-quyền của dân Việt trên nước Việt.

 

Trong lúc này thì ông Võ Thành Minh (người Huế, sau này bị Việt Cộng giết trong Tết Mậu Thân 1968) cắm lều ở ngoài hội-trường để thổi kèn đám ma trong suốt thời gian phó hội. Dân chúng đến hỏi thì ông trả lời là Thế-giới đang mần thịt dân Việt nên ông đến để đưa đám.

Nên nhớ là trong suốt thời gian nô-lệ Thực-dân Pháp thì dân ta bị cầm tù trong nước. Xuất ngoại (dù là đi du-lịch) phải có vây có cánh mới đi được. Hành-động lẻ-loi và cô-đơn của ông Võ Thành Minh cũng đáng để chúng ta kính phục như hành động của chiến-sĩ Lý Tống hay chiến-sĩ Trần Mạnh Quỳnh vậy.

 

·        07/7/54: Để đối phó với tình-hình, Quốc-trưởng Bảo Đại trao toàn quyền về hành-chánh cũng như quân sự cho Thủ Tướng Ngô Đình Điệm để khi có dịp thì trưng cầu dân ý chuyển sang chế-độ dân chủ. Có thế thì mới đủ sức chống-chọi với tình thế.

·        20/7/54: Hiệp-định ra đời với sự đồng thuận của Hồ Chí Minh và Thực Dân Pháp dưới sự làm chứng của các nước phó hội. Hiệp-định quyết-định chặt đôi nước Việt, lấy sông bến-hải làm lằn ranh. Việt-cộng Quản-trị miền Bắc; Quân Pháp Quản-trị miền Nam (danh từ dùng trong hiệp định là tạm thời quản-trị chứ không phải cai-trị).

 

Những phe không ký vào hiệp định Quốc Tế Genève 20.7.1954

1.      Quốc-gia Việt Nam dưới quyền Quốc Trưởng Bảo Đại, không ký vào bản văn này.

2.      Mỹ cũng không ký, nhưng tuyên bố là không làm cản-trở việc thi-hành hiệp-định này.

Hôm sau ra thông cáo chung vể tổng tuyển cứ theo Dân Tộc Tự Quyết với điều kiện An Ninh và Trật Tự được vãn hồi ở cả 2 miền. Nhưng lạ thay là chẳng ai ký vào bản văn này cả. Nói khơi khơi như vậy để Việt Cộng dễ lắt léo.

 

Nhưng trong thực tế thì:

MIỀN NAM;

ü  Mặc dù miền Nam có Việt Cộng nằm vùng phá hoại, ám sát và thủ tiêu các hương chức một cách thường xuyên, nhưng miền Nam đã có tổ chức Tưng Cầu Dân Ý về việc thay đổi thể chế vào ngày 23/10/2955.

ü  Một năm sau, 23/10/1956, Hiến Pháp được toàn dân chung quyết với 2 quyết định là: Ly khai tàn diện với miền BẮC và thành lập Nền CỘNG HÒA cho miền Nam... Đây là Dân Tộc Tự Quyết đấy.

MIỀN BẮC;

Trong khi đó thì miền Bắc Bắc an ninh và trật tự chưa được vãn hồi, ngăn song cấm chợ bủa vây tứ phía với những vụ đàn áp Nhân Văn, Giai Phẩm, Quỳnh Lưu Ba Làng ......  Như vậy thì làm sao có thể tổ chức tự do đầu phiếu đươc?

 

BỎ CHẠY CỘNG SẢN:Bỏ phiếu bằng chân

Sau đó là một triệu người Bắc di cư vô Nam để nói lên tinh-thần quyết tâm diệt Cộng của mình. Trong lúc đó ông Hoàng Cơ Bình và ông Trần Trung Dung tổ-chức lực-lượng Bảo-vệ Thủ Đô Hà Nội, lẽ dĩ-nhiên là có chương trình chống Vẹm khi Pháp rút đi. Nhưng không thành nên phải rút vô Nam.

 

    *** Hoạt-động tự phát của đồng-bào di cư trong Nam trong đó có tổ-chức Công-giáo, tổ chức Sinh-viên và học-sinh di-cư. Trước hết là bày tỏ sự căm-phẫn của mình. Biểu-tình đập phá những nhà nào nghe đài Việt-cộng, hay không đứng dậy chào cờ trước khi coi hát-bóng (cinéma) trong rạp. Nạn-nhân phần lớn là người Tàu Chợ Lớn. Tối tối anh em sinh viên đi phát truyền đơn tố Cộng. Đến hôtel Majestic, Galliéni hay các nơi chứa chấp cán-bộ Việt-cộng (theo hiệp-định) để giết trả thù. Nói chung là chưa có một hành-động rõ-rệt nào để ủng-hộ ông Diệm hay một lãnh-tụ nào cả, chỉ biết tức giận thì đập phá, đánh cả lính Tây nữa.

²

 

     ** 29/4/55:

Ngày trọng đại thay đổi toàn diện tình hình. Thủ-tướng Ngô Đình Diệm triệu tập hội-nghị Diên Hồng trong Dinh để lấy quyết định về công-văn triệu hồi của Quốc-trưởng Bảo Đại.

Thành phần Sinh-viên và Học-sinh cũng được mời tham dự để lấy ý kiến. Bên ngoài thì đang ác chiến với Bình Xuyên nên hội-nghị được triệu tập rất sớm. Đại diện sinh-viên di-cư có mặt để nghe hơn là nói, mà có biết gì đâu mà nói.

Lúc khai hội thì ông Diệm nói lý do về việc triệu tập hội-nghị này. Sau đó, để hội nghị có thể thảo-luận với tính-cách vô tư của cuộc trưng cầu dân ý, các "nghị viên" đề-nghị ông Diệm nên vắng mặt. Ông Diệm rút lui.

 

Phiên họp ghi danh đầy đủ tất cả những người tham dự, bầu ra ban chủ tịch để đièu hành phiên họp và thành lập ra Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng .

 

Khi bắt đầu thảo-luận thì Luật-sư Hoàng Cơ Thụy đề-nghị nên thảo-luận về tính cách Quốc-Trưởng của ông Bảo Đại trước rồi hãy nói đến công-văn triệu-hồi sau. Kết-quả hoàn-toàn ngoài dự tính của mọi người mà anh em sinh viên lại cứ nghĩ rằng đây là sự dàn dựng của ông Diệm để thoán-nghịch.

    Lúc đầu còn từ-tốn, sau đó là loạn. Ảnh Bảo Đại bị kéo xuống và liệng ra vườn với những câu hò-hét căm-thù, đả-đảo, truất-phế, mặt lợn.... Ông Diệm hoảng vía nhưng không dám cản.

Đến chiều cũng ra được quyết định, nhưng chưa thành văn-bản. Các ông nghị giải-tán và hẹn nhau sáng hôm sau (30/4/55) sẽ tuyên bố trước công chúng ở tòa Đô-chánh. Riêng anh em sinh viên thì ngủ lại trong dinh vì cư-xá (Minh Mạng) đang trong vùng pháo kích của cả 2 bên.

 

    ** 30/4/55:

Khoảng 10 giờ sáng, trước tòa Đô-chính của Thủ-đô Saigon, Hội-đồng Nhân Dân Cách-mạng (mới thành lập hôm qua, và sau đó giải tán) long-trọng đọc Quyết Định (chứ không phải yêu sách) trước đồng bào, đủ mọi thành phần, tề tựu đông đủ để nghe biến động lịch sử.  

      

Hội-đồng Nhân Dân Cách-mạng quyết-định:

- Truất-phế Bảo Đại (vì không xứng đáng làm Quốc Trưởng).

- Giải-tán Chánh-phủ Ngô Đình Diệm do Bảo Đại thành lập.

- Ủy-thác Chí Sĩ Ngô Đình Diệm đứng ra thành lập Chánh-phủ để lãnh đạo quốc dân, chứ không phải là trưng cầu dân ý và cũng không thấy nói quyền hạn tới đâu.

     

Sau đó phái đoàn kéo nhau vào dinh ông Diệm để thông-báo quyết-định này (khoảng giữa trưa). Khi vào thì đụng ngay Tướng Vỹ (tổng tư lệnh Ngự Lâm Quân đóng ở Đà Lạt là đất của nhà vua: Hoàng Triều Cương Thổ). Ông Nhị Lang (phe tướng Trịnh Minh Thế) rút ngay súng ra định bắn vì nghĩ là Tướng Vỹ vào dinh để đòi quyền lãnh-đạo theo công-văn của Bảo Đại. Thực hư ra sao thì không rõ, chỉ thấy ông Diệm lật đật chạy đến ôm ông Vỹ và xin mọi người đừng nóng. Cuối cùng mọi việc đều được ông Diệm dàn xếp yên lành. Tướng Vỹ ra về thong-thả.

 

   ** Không ngờ nhờ quyết-định này cộng với tinh-thần bất khuất của lính cũng như của dân, người Mỹ quyết-định ủng hộ ông Diệm hết mình chứ không còn do dự như trước nữa. Vì vậy nên Pháp phải rút quân ra khỏi Việt Nam. Sau đó là tiến-trình ổn-định chính-trị để có thể trưng cầu dân ý về việc thay đổi thể-chế. Năm 1956 Nền Cộng Hòa ra đời với chức vụ Tổng Thống và Phó Tổng Thống (liên danh 2 người) và Quốc-hội dân bầu.

 

Lúc này Quốc-kỳ và Quốc-ca đã được đem ra thảo-luận sôi-nổi trong Quốc-hội. Người thì đòi đổi, người thì bảo không. Ai cũng có lý cả. Cuối cùng Quốc-hội biểu-quyết:

Ø  Giữ nguyên Quốc-kỳ và Quốc-ca không đổi một lời ca nào cả.

 

       Lý Do:

1)- Quốc-kỳ mang gốc cờ Vàng của dân tộc đã có từ  ngàn xưa.

2)- Hiện nay ta mới đại diện cho có nửa dân số, hơn nữa ta coi Việt-cộng là loạn tặc, nếu thay đổi là vô hình chung công nhận sự chính thống của chúng và quay về thời Trịnh Nguyễn phân tranh.

 

Ø  Kế đến là nền Đệ Nhị Cộng Hòa, Quốc hội cũng quyết định y chang.

²

 

** 30/4/75:

Trước sức xâm lược của Cộng-đảng thế-giới, chúng ta đành phải chấp nhận thân phận của kẻ bại trận; nhưng không phải vì vậy mà dân Việt mất chánh-nghĩa và chấp nhận nô-lệ.

 

Khi vào SAIGON, bọn Cộng con vì ngu dốt nên đã xỉ-nhục và xâm phạm đến lá cờ Vàng của dân tộc. Thậm-chí có tên còn ngu-xuẩn đến độ hãnh-diện đem lá cờ Vàng dân tộc (quẻ Càn) để may quần lót nữa. Đó là hành-động nhục mạ ngay chính cha ông của chúng. Chỉ có những kẻ mất hồn dân tộc mới có hành-động xúc-phạm đến tổ tiên của chính mình như vậy.

Ngày nay, trong hoàn cảnh lưu-vong, chúng ta không có quyền gì để đòi thay đổi biểu-tượng đã có, nhất là biểu-tượng này lại là chất liệu để kết-hợp các lực-lượng dân tộc đấu tranh cho mục tiêu:

         ***   Đòi lại tất cả những gì dân tộc của chúng ta đã mất.

      

Chỉ có những kẻ mất hồn dân tộc mới đi chối bỏ cội-nguồn của mình. Từ bỏ biểu-tượng này là tự biến mình thành những đứa con côi.                                        

                                                               

Ghi chú quan trọng:

Tháng Tư (AVRIL) 1955, Pháp tổ-chức đảo-chánh để hất cẳng ông Diệm.

Bình Xuyên nổ súng. Quân-đội Quốc-gia được điều-động về SAIGON, quân của tướng Trịnh Minh Thế từ Tây Ninh kéo về tiếp ứng để diệt Bình Xuyên tay sai của Thực Dân Pháp.

Quân Đội Quốc Gia Việt Nam (thành lập ngày 15/7/51) bao vây lính Pháp ờ thủ đô Saigon, và sẵn-sàng gây sự để lấy lý do nổ súng tự vệ rồi tràn vào đánh trại.

Tính-hình rất căng-thẳng. Lính Pháp được lệnh cấm trại 100%, Quân Đội Quốc Gia Việt Nam làm chủ chiến trường.

Ở Paris, Pháp bắt Quốc-trưởng Bảo Đại triệu ông Diệm về CANNES để báo cáo tình-hình và lãnh chỉ-thị.

Ở Saigon, tinh-thần chống ngoại xâm của quân cũng như dân lên rất cao, nhưng tổ-chức vẫn còn rời-rạc và chưa có chương-trình đại quy-mô; và chưa có lãnh tụ tối cao.

 

Lực lượng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, một phần vì tức Hiệp Định Genève đã không cho họ thi hành nhiệm vụ bảo vệ đất nước, phần thứ nhì là lòng căm phẫn thực dân Pháp uy hiếp dân mình nên khi được trang bị vũ khí thì hành động tự phát: Đuổi Pháp ra khỏi nước Việt với bất cứ giá nào.

Ø  Không có lực luợng này thì chắc chắn Bình xuyên đã lên cầm quyến dưới sự chỉ đạo của PARIS.....Dân Việt trở lại nô lệ người Pháp!

 

Như vậy chúng ta có thể nói được rằng:

Độc lập thu hồi trong tay người Pháp là nhờ những yếu tố sau đây tự động phối hợp nhịp nhàng với nhau mà không có người chỉ đạo. Người ta gọi đó là LÒNG DÂN:

1.      Sự khôn khéo và mềm dẻo của anh em ông Diệm, lúc đó là Thủ Tướng chưa đầy 1 năm; nhất là chưa có hậu thuẫn của đảng phái hay một tổ chức nào, kể cả Quân Đội và Cảnh Sát (lúc đó Bình Xuyên nắm hết Cảnh Sát ở Saigon)

2.      Quân Đội Quốc Gia Việt Nam vì căm phẫn Pháp đã ký hiệp định Genève để phá đám nên quyết tâm đuổi Pháp ra khỏi nước Việt.

3.      Sự ủng hộ hết mình của tướng Trịnh Minh Thế (Cao Đài)

4.      Lòng phẫn nộ cao độ của đồng bào di cư: Biểu lộ rõ ràng một cách công khai về sự ủng hộ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

5.      Lãnh tụ Sinh Viên di cư lúc đó là Luật Sư Trần Thanh Hiệp, hiện ở Paris, ông đã phát biểu rất nhiều lần về biến cố này và cũng chính ông đã có mặt trong dinh Thủ Tướng ngày 29/4/1955 để cùng thảo luận với các tổ chức khác về công văn triệu hồi thủ tướng Ngô Đình Diệm về Paris của Bảo Đại

 

Nói rằng người Pháp tự nhiên trao quyền độc lập cho Bảo Đại là sai.

Nói rằng thâu hồi độc lập không mất một viên đạn, một giọt máu là không đúng: Tướng Trịnh Minh Thế chết trong khi thị sát mặt trận bị đối phương bắn sẻ là người đã hy sinh để có nến Đệ Nhất Cộng Hòa, nay chúng ta phải phục hồi nhân phẩm và danh dự cho ông. Còn những quân nhân hy sinh trong khi tiêu diệt Bình Xuyên cũng không ai nhắc tới họ và vợ con của họ cả...Chúng ta không thể quên ơn họ như vậy được

 

Nói rằng đây là công lao của anh em ông Diệm thì cũng chẳng đúng. Ông là lãnh tụ lúc đó, ông rất có công trong việc phối hợp đấu tranh. Thực vậy, nêu không có lực lượng võ tranh Quân Đội Quốc Gia Việt Nam do Quốc Trưởng Bảo Đại thành lập và tinh thần diệt Cộng của đồng bào di cư cùng Tướng Trịnh Minh Thế thì khó mà ông Diệm có thể đương đầu được với Bình Xuyên.

 

Còn một người mà chúng ta quên là Quốc Trưởng Bảo Đại, ngoài việc thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam thì ông còn một cái công rất lớn là: Sau khi rời khỏi dinh Thủ Tướng thì tướng Vỹ xin Bảo Đại cho phép lấy Ngự Lâm Quân ở Đà Lạt về chiếm Dinh Thủ Tướng và truất phế Ngô Đình Diệm bằng bạo lực. Ông Bảo Đại không những đã không phê chuẩn mà lại còn triệu tập tướng Vỹ qua Pháp để hội kiến. Khi tướng Vỹ qua rồi thì Ngài ra lệnh giải tán Binh Đoàn Ngự Lâm Quân...không biết số phận của họ ra sao, có lẽ được biên chế vào Quân Đội Quốc Gia Việt Nam trong âm thầm. Hơn nữa cuối năm 1954 ông đã lột lon của tướng Nguyễn Văn Hinh vì này này đòi lật đổ Thủ Tớng Ngô Đình Diệm. Cũng nên nhớ cha đẻ ra lá cờ Vàng 3 sọc Đỏ là Quốc Trưởng Bảo Đại, mà lá cờ này là di sản duy nhất còn lại sau 30/4/75 đã làm biểu tượng kết hợp nhau.Chúng ta vinh danh cờ Vàng mà quên ông Bảo Đại là điều khiếm khuyết.

 

Tóm lại: Một khi đã mất chủ quyền vào tay bạo chúa thì toàn dân phải sáng suốt lắm thì mới đòi lại được chủ quyền, còn đả phá nhau một cách vô ý thức thì khó mà thành công, ngoài việc đấu võ miệng.

--------------------------------------------


Phần trau dồi kiến thức:



Sáu Mươi Bảy Năm Nhìn Lại (1945-2012), Từ Bảo Đại đến Hồ Chí Minh: HAI BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

Phạm Cao Dương, TS
August 30, 20120 Bình Luận

Trong lich sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết hay chỉ được học bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết hay không được học bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn. Bài này nhằm bổ khuyết cho tình trạng thiếu sót đó, đồng thời phân tích nội dung và ý nghĩa của từng bản.




TUYÊN NGÔN CỦA HOÀNG ĐẾ BẢO ĐẠI

 

Hoàn cảnh được công bố

Bản tuyên ngôn độc Lập của Hoàng Đế Bảo Đại được công bố ngày 11 tháng 3 năm 1945, hai ngày sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và sau một thời gian dài hơn bốn năm, từ tháng 9 năm 1940, sau khi quân Nhật vào phần đất này của Đông Nam Á, gần năm tháng trước khi Nhật Bản đầu hàng và Thế Chiến Thứ Hai kết thúc.

Trong thời gian này Việt Nam bị sống dưới sự cai trị của cả người Pháp, từ sau khi Hòa Ước 1884 được ký kết, lẫn người Nhật, từ ngày 22 tháng 9 năm 1940, với một hậu quả khủng khiếp là Trận Đói Tháng Ba Năm Ất Dậu. Hoàn cảnh này đã làm cho không chỉ riêng những người Cộng Sản, vốn chủ trương đánh đổ chế độ quân chủ để cướp hay giành chính quyền (chữ của chính người Cộng Sản) để từ đó thực thi cách mạng vô sản mà luôn cả những người không những không có cảm tình với chế độ quân chủ đương thời mà còn chủ trương lật đổ chế độ này để thay thế bằng một chế độ dân chủ, không nhìn nhận giá trị đích thực của của bản tuyên ngôn này.

Lý do là vì Bảo Đại luôn luôn bị coi như một ông vua bù nhìn, trước kia trong tay người Pháp và lúc đó trong tay người Nhật. Theo họ trước kia người Pháp bảo sao, ông làm vậy và sau đảo chính 9 tháng 3 năm 1945, người Nhật bảo ông tuyên bố độc lập thì ông tuyên bố độc lập, thế thôi. Người ta hiểu hay được học đơn giản như vậy. Nền độc lập mà Bảo Đại tuyên bố theo họ chỉ là do người Nhật ban cho và bản tuyên ngôn của ông chẳng có một giá trị gì trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của người Việt.

Thực chất của nó chỉ là “sự tuyên bố công khai việc thay thầy đổi chủ của triều đình Bảo Đại”[1] không hơn không kém. Nhiều người lại viện lý do là nền độc lập này chưa hoàn toàn. Sự thực không đơn giản như vậy. Người Nhật có lý do làm đảo chính lật đổ người Pháp và Bảo Đại có lý do phải chấp nhận yêu cầu của người Nhật tuyên bố Việt Nam độc lập. Lý do của Bảo Đại đã được ông giải thích khi tiếp kiến Trần Trọng Kim và cố gắng thuyết phục ông này chấp nhận làm thủ tướng đầu tiên của chính phủ Việt Nam độc lập. Nguyên văn câu nói của Bảo Đại được Trần Trọng Kim kể lại như sau:

“Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên Bộ thượng thư đã tuyên hủy hiệp ước ấy. Trẫm phải dứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó mọi việc.”[2]

Người ta cần phải nhớ là hơn mười năm trước đó, sau khi du học từ Pháp về tới Huế được hai ngày, ngày tháng 10 tháng 9 năm 1932, Bảo Đại đã ra Dụ số 1 tuyên bố chấp chính và khẳng định chế độ quân chủ của Nam Triều hủy bỏ Quy Ước 6 tháng 11 năm 1925 do Hội Đồng Phụ Chính, đứng đầu là Tôn Thất Hân, ký với Toàn Quyền Đông Dương thời ông còn nhỏ tuổi và đang du học bên Pháp, tước bỏ hầu hết các quyền hành còn lại của nhà vua trừ các quyền có tính cách nghi lễ, ân xá, sắc phong, tế lễ…kèm theo nhiều dụ khác nhằm thực hiện những cải cách qui mô trong nền hành chánh của chính phủ Nam Triều, nhưng đã bị người Pháp ngăn cản và bị thất bại.

Đảo chính 9 tháng 3 năm 1945 và lời yêu cầu tuyên bố độc lập của người Nhật dù gì đi chăng nữa cũng là điều vị hoàng đế còn trẻ tuổi từ lâu mong đợi. Ngoài ra theo nhận định và giải thích nhằm thúc đẩy Trần Trong Kim chịu khó lập chính phủ mới. Ông nói :

“Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.”[3]

Hai tiếng “cơ hội” Bảo Đại dùng ở đây cho ta thấy từ lâu ông đã mong có dịp này. Đồng thời ông cũng hiểu rằng nền độc lập mà ông tuyên cáo “chưa phải độc lập hẳn”.” Chưa hết, tuyên bố rồi ông còn nói tới nhu cầu “phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập” và nhất là để tránh không cho người Nhật “lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta”, một sự e ngại chỉ có những người có kiến thức về lịch sử và chính trị học mói biết được. Ngoài ra những tiếng “rất có hại cho nước ta” cũng cho người ta thấy đối tương của hành động tuyên cáo độc lập của ông không phải là ngôi vua mà là đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam, đất nước của ông và thần dân của ông. Cái nhìn và quan điểm này cũng như sự hiểu biết của ông về tình hình thế giới và thế tất bại của người Nhật về sau đã được ông nói rõ trong hồi ký của ông. Riêng đối với người Nhật, ông đã không tin tưởng ở họ cũng như chiêu bài Đại Đông Á của họ. Nói cách khác Bảo Đại ở vị thế phải chấp nhận nhập cuộc dù ông hiểu rõ sự phức tạp của vấn đề. Phần khác như ông cũng nói tới trong hồi ký của ông: Độc lập là ước mơ của tất cả mọi người Việt Nam thời đó.

Nội dung bản Tuyên ngôn

Đây là một bản văn tương đối ngắn so với những bản văn cùng loại, nhằm ba mục tiêu chính yếu là hủy bỏ một hòa ước Triều Đình Huế trước kia đã ký với nước Pháp, tuyên bố Việt Nam độc lập, đứng vào khối Đại Đông Á trong chương trình phát triển chung, đồng thời bày tỏ sự tin tưởng vào “lòng thành” của nước Nhật với nguyên văn như sau:

“Cứ tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi  Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này điều ước bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập.

“Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vương chung.

“Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên.[4]

Bản Tuyên Ngôn được đề ngày 11 tháng Ba năm 1945 tức ngày 27 tháng Giêng năm Bảo Đại thứ 20 được Bảo Đại ký tên với sáu thượng thư phó thự. Sáu vị thương thư gồm có: Phạm Quỳnh, bộ Lại, Hồ Đắc Khải, bộ Hộ, Ưng Úy, bộ Lễ, Bùi Bằng Đoàn, bộ Hình, Trần Thanh Đạt, bộ Học, và Trương Như Định, bộ Công. Theo Bảo Đại đây là lần đầu tiên trong lịch sử một văn kiện được ký bởi nhà vua và tất cả các nhân vật quan trọng nhất trong triều đình.[5]

Đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập này của Bảo Đại, người ta cần chú ý tới những chi tiết sau đây:

Thứ nhất: Bản tuyên ngôn được mở đầu bằng quyết định hủy bỏ một điều ước đã được ký kết trước đó mà vì tình hình biến chuyển, một trong hai phía đã không tôn trọng những gì mình đã ký kết hay không thực thi được những gì mình đã ký kết trong một sinh hoạt quốc tế. Điều ước bị hủy bỏ ở đây là Hòa Ước Giáp Thân được ký kết giữa Triều Đình Huế và người Pháp ngày 6 tháng 6 năm 1884, đặc biệt hai điều khoản của hòa ước này  là điều khoản thứ nhất, theo đó Việt Nam công nhận và chấp nhận Quyền Bảo Hộ của nước Pháp và điều khoản thứ mười lăm, theo đó nước Pháp cam kết bảo đảm sự toàn vẹn  lãnh thổ của các xứ do vua Việt Nam cai trị và bảo vệ nhà vua chống lại những sự xâm nhập từ bên ngoài và những cuộc  nổi loạn từ bên trong…[6] 

Sự hủy bỏ này phải được hiểu là do người Pháp bất lực không bảo vệ được Việt Nam trước sự bành trướng của quân đội Nhật và cuối cùng là chính người Pháp đã bị người Nhật lật đổ trong cuộc Đảo Chính ngày 9 tháng 3 năm 1945. Sự hủy bỏ này cũng có tính cách đơn phương từ phía Bảo Đại với tư cách là người kế vị chính thống của Triều Đình Nhà Nguyễn căn cứ vào những gì đã xảy ra vào thời điểm này.

Điểm  cần được lưu ý ở đây là từ ngữ hòa ước trong văn kiện này được dùng theo số ít, trong tiếng Việt, không có chữ “các” hay “những” đi kèm và trong tiếng Pháp không có chữ “s” theo sau.  Điều này có nghĩa là bản tuyên cáo chỉ hủy bỏ hòa ước bảo hộ tức Hòa Ước Giáp Thân 1884 mà thôi thay vì hủy bỏ tất cả các hòa ước đã được ký kết trước đó. Đó là các Hòa Ước Nhâm Tuất 1862 và Hòa Ước Giáp Tuất 1874 liên hệ tới xứ Nam Kỳ theo đó xứ này đã bị nhường đứt cho người Pháp và trở thành thuộc địa của họ, không còn thuộc quyền cai trị của Vua và Triều Đình Huế nữa. Vấn đề thâu hồi xứ Nam Kỳ do đó chưa được giải quyết ngay nhưng đã trở thành mối bận tâm và một phần hành quan trọng của chính Bảo Đại ngay từ buổi nhà vua tiếp kiến Đại Sứ Nhật Yokoyama và của Chính Phủ Trần Trọng Kim trong gần suốt thời gian chính phủ này tồn tại. Xứ Nam Kỳ chỉ được người Nhật trao trả trong những ngày cuối của chính phủ này và chỉ chính thức trở về với lãnh thổ quốc gia Việt Nam ngót năm năm sau, vào giữa tháng 6 năm 1949, và do Bảo Đại với tư cách Quốc Trưởng tiếp nhận từ  tay người Pháp. Đây cũng là một sự kiện ít người biết đến. Hai chữ “độc lập” đã được sử dụng (nước Việt Nam khôi phục quyền độc lập) và nhà vua đã dùng danh từ tuyên ngôn độc lập (proclamation d’indépendance) khi nói tới văn kiện này trong hồi ký của ông.[7]

Thứ hai: ”Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập….giúp cho cuộc thịnh vượng chung.” Câu này xác định phương thức hoạt động nhằm thực hiện tư cách độc lập (tự phát triển như một quốc gia độc lập không phụ thuộc vào nước ngoài cho xứng đáng một quốc gia độc lập) và thế đứng của Việt Nam trên trường quốc tế (tự coi mình là một phần tử Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vượng chung). Nên để tới khẩu hiệu Châu Á của Người Á do người Nhật đưa ra trong thời gian này, một khẩu hiệu hàm chứa sự độc lập của các nước Á Châu lúc đó còn là thuộc địa của các đế quốc Âu Châu. Đây cũng là một cách nói trước một cách khéo léo để ngăn chặn trước sự can thiệp vào nội tình Việt Nam của người Nhật.

Thứ ba: “Chính phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc…”. Câu này nhằm buộc chặt lời hứa của người Nhật bằng cách nhấn mạnh vào sự trung thành với những gì họ đã nói, với quan niệm trung thành như một truyền thống chung của các dân tộc Á Đông.

Thứ tư: “”quyết chí hợp tác với nước Nhật đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên.” Mục đích như trên là mục đích gì? Phải hiểu mục đích này bao gồm hai phần là “tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập” và “giúp cho cuộc thịnh vương chung” như là một phần tử của khối Đại Đông Á chứ không phải cho Đế Quốc Nhật Bản hay rõ hơn nữa là cho riêng nước Nhật.”

Nói cách khác, đây là một bản văn tuy ngắn ngủi, cô đọng nhưng rất quan trọng vì nó vừa mang tính cách pháp lý, có liên hệ tới nhiều văn kiện ngoại giao khác đã được  hình thành trước đó, vừa biểu lộ chủ trương của một quốc gia được trao trả độc lập trong một hoàn cảnh không nhận không được, vô cùng tế nhị và phức tạp vào lúc  tình hình thế giới biến chuyển quá nhanh và hoàn toàn bất lợi cho quân đội và quốc gia đảm nhận sự trao trả nền độc lập này. Mỗi điều nói ra, mỗi chữ được viết đều đòi hỏi người soạn thảo phải vô cùng thận trong và ước tính kỹ càng.

Ai là tác giả của bản tuyên ngôn này?

Người được nói đến nhiều nhất là Phạm Quỳnh, lúc đó đang giữ chức thượng thư bộ lại. Điều này có nhiều phần đúng nếu người ta để ý tới khả năng nghị luận và viết văn, viết báo kèm theo sự hiểu biết và kinh nghiệm của một học giả, một người làm báo, và sau đó là một ngự tiền văn phòng tổng lý của nhà vua cũng như thượng thư bộ lại trước đó. Nó cũng được Phạm Khắc Hòe, đương thời là ngự tiền văn phòng tổng lý của Bảo Đại, trong hồi ký của ông này xác nhận.[8] Ngoài ra ta không còn một tài liệu nào khác nói về sự kiện này.

²



BẢN TUYÊN NGÔN CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA HỒ CHÍ MINH

Hoàn cảnh được công bố

Bản tuyên ngôn này đã được Hồ Chí Minh một mình soạn thảo, một mình đứng tên và đọc tại Quảng Trường Ba Đình ở Hà Nội vào buổi chiều ngày 2 tháng Chín năm 1945, ngót năm tháng sau bản tuyên ngôn của Bảo Đại, hơn hai tuần lễ sau khi Nhật Bản đầu hàng, mười ba ngày sau khi Việt Minh cướp được chính quyền ở Hà Nội và hai ngày sau khi Bảo Đại chính thức thoái vị. Vì được công bố sau bản tuyên ngôn của Bảo Đại, sau khi người Nhật đã đầu hàng cũng như chế độ bảo hộ của người Pháp đã bị người Nhật lật đổ trước đó, bản tuyên ngôn này đã bị nhiều người cho là thừa, không cần thiết, chưa kể tới sự kiện là chính phủ mới do Hồ Chí Minh thành lập là kế vị chính phủ Nam Triều do Bảo Đại thoái vị nhường cho dựa theo chiếu thoái vị của Bảo Đại. Chiếu này đã được Hồ Chí Minh và chính phủ mới của ông chấp nhận.

Chính Phủ Lâm Thời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong những điều kiện này đương nhiên kế tục những gì Bảo Đại và chính phủ Trần Trọng Kim đã làm trước đó, trong đó có Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 11 tháng 3 năm 1945. Lập luận như vậy là hoàn toàn hợp lý đứng trên phương diện công pháp quốc tế.  Một lập luận đơn giản và hoàn toàn dễ hiểu. Câu hỏi được đặt ra là Hồ Chí Minh, và những cộng sự viên của ông, khi đưa ra bản tuyên ngôn của mình có biết là trước đó Bảo Đại đã làm công việc này rồi hay không? và biết như vậy tại sao ông lại còn làm lại việc đó một lần nữa? Cho câu hỏi thứ nhất, câu trả lời là chắc chắn có; Hồ Chí Minh chắn phải biết là Bảo Đại trước đó đã tuyên cáo hủy bỏ hòa ước bảo hộ 1884 rồi. Nhưng ông vẫn làm lại công việc này vì ông có nhu cầu phải làm. Những nhu cầu đó là những nhu cầu gì?

Thứ nhất là vì từ lâu  toàn dân ai nấy đếu khao khát được thấy nước nhà độc lập, đúng như Bảo Đại đã viết trong hồi ký của ông, độc lập là ước mơ của mọi người dân Việt [9], cũng như nó được phản ảnh ở khắp nước ngay trước và sau ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Nói tới độc lập vào lúc đó là gõ đúng tần số của bất cứ một người dân Việt Nam nào từ đó đem lại công lao và thanh thế cho người chính thức công bố ra điều đó.

Thứ hai là cho tới ngày 2 tháng 9 năm 1945, cái tên Hồ Chí Minh hoàn toàn xa lạ ở trong nước cũng như ở ngoài nước.

Võ Nguyên Giáp, một trong những cộng sự viên thân cận nhất của Hồ Chí Minh trong thời gian này, đã viết trong hồi ký của mình rằng: 

Ba tiếng HỒ CHÍ MINH không bao lâu đã vang đi khắp thế giới với những truyền thuyết mà người ta thường dành cho các bậc vĩ nhân. Nhưng vào ngày hôm ấy, cái tên mới của Bác vẫn còn mới lạ với nhiều đồng bào. Số người biết Bác chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc khi đó không nhiều." [10] 

Ngay vua Bảo Đại ngày 23 tháng 8 năm 1945, khi nhận được điện tín của của các ông Nguyễn Xiển, Nguyên Văn Huyên, Ngụy Như Kon-Tum và Hồ Hữu Tường nhân danh Ủy Ban Nhân Dân Cách mạng, yêu cầu nhà vua thoái vị nhường quyền lãnh đạo quốc gia cho Chính Phủ Nhân Dân Cách mạng với chủ tịch là “Cụ Hồ Chí Minh” đã không biết Hồ Chí Minh là ai.

Còn Phạm Khắc Hòe, người được Việt Minh gài vào cạnh nhà vua cũng không biết nốt, phải chạy đi hỏi Tôn Quang Phiệt, một đảng viên Cộng Sản, rồi Đào Duy Anh; nhưng Tôn Quang Phiệt đi vắng và Đào Duy Anh lục  lọi, truy tìm các tài liệu, sách vở ông có nhưng cũng không ra tên này.

Cuối cùng Vũ Văn Hiền, ở Bắc về mới xác nhận Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc.[11] 

Tuyên bố Việt Nam độc lập đối với Hồ Chi Minh vào thời điểm này do đó là cách tự giới thiệu mình tốt nhất và hữu hiệu nhất vói toàn thể đồng bào và để được nhìn và được chấp nhận như là lãnh tụ đầu tiên đã mang lại được độc lập cho tổ quốc và cho toàn dân Việt Nam, một nhu cầu tối cần thiết, dầu rằng nền độc lập này hoàn toàn không phải do ông hay do Mặt Trận Việt Minh tạo ra mà là do những biến cố khác của lịch sử, trong đó quan trọng nhất là Đảo Chính 9 tháng Ba năm 1945; trong đó người Nhật đã loại bỏ người Pháp, kèm theo là bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoàng Đế Bảo Đại nói trên, và cuối cùng là sự bại trận sau này của người Nhật. Chúng ta cũng cần để ý là đối với đa số người Việt Nam thời đó, ngày 2 tháng 9 là Ngày Độc Lập, đúng như Nguyễn Hữu Đang, người được Hồ Chí Minh chỉ định tổ chức ngày này,  gọi qua các văn thư chính thức ông đã gửi cho các cơ quan liên hệ, trong đó có thư gửi cho Thị Trưởng Hà Nội [12] và theo bìa in bản tuyên ngôn của bản đầu tiên năm 1945, do Chủ Tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Hồ Chí Minh đọc trong Ngày Độc Lập”[13]. 

Nhưng đối với Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 còn có một ý nghĩa quan trọng hơn nữa.  Đó là “ngày khép lại cuộc Cách mạng tháng Tám, và khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa”, theo lời ông nói với Nguyễn Hữu Đang: “Chú phải nhớ…[14] 

Tại sao vậy? Tại vì Hồ Chí Minh phải làm chuyện này trước khi quân Đồng Minh kéo vô Việt Nam, đặc biệt là thủ đô Hà Nội, nhằm đặt họ trước một sự đã rồi, không thể đảo ngược đươc.. Sự kiện vua Bảo Đại thoái vị được nhắc tới và câu:

 “Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp” là nhằm vào mục tiêu này.

 

Một lý do khác cũng được người ta nhắc tới là cho mãi đến ngày 2 tháng 9 năm 1945 nền độc lập của nước Việt Nam mới thực sự là hoàn toàn. Lý do này tuy nhiên cũng còn cần phải được xét lại vì nó không hoàn toàn đơn giản ở thời điểm này và các thời điểm sau đó. Những lý do liên hệ tới nhu cầu của cá nhân Hồ Chí Minh và  Đảng Cộng Sản đương thời vẫn là chính.

Nội dung bản Tuyên Ngôn

Bản Tuyên Ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh, vì được phổ biến rộng rãi và hầu như được coi là duy nhất gắn liền với ngày 2 tháng 9, ngày Quốc Khánh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa rồi Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nên đã được nhiều người đọc, phân tích và tìm hiểu. Trong phần này người viết chỉ nêu lên những gì ít được mọi người nhắc hay để ý đến mà thôi.

Trong khi Tuyên Cáo của Bảo Đại đơn giản chỉ là một bản văn thuần túy pháp lý nhằm hủy bỏ hòa ước bảo hộ mà triều đình Huế đã ký trước đó căn cứ vào sự bất lực của người Pháp, vì người Pháp đã không giữ được cam kết ghi trong điều khoản thứ nhất và điều khoản thứ mười lăm của hòa ước này, mà ít nhằm tới một quần chúng hay quốc tế, thì bản Tuyên Ngôn của Hồ Chí Minh nhằm vào toàn thể người Việt qua lời mở đầu 

Hỡi đồng bào cả nước…”.

Tuy nhiên ở những đoạn cuối tác giả lại nhắm vào các nước  Đồng Minh. Điều này phải tinh ý người ta mới nhận ra được.

Về tư cách, Bảo Đại  nhân danh Hoàng Đế Việt Nam, người đứng đầu của một quốc gia độc lập đã tồn tại từ trước khi người Pháp xâm lăng và là người kế thừa chính thống của các vua Nhà Nguyễn, thì Hồ Chí Minh đã nhân danh “Lâm Thời Chính Phủ của nước Việt Nam mới.”

Mới là vì đến ngày đó chính phủ này mới chính thức được ra mắt trước quốc dân. Lời văn do đó phản ảnh hai tư cách của hai bản chất con người khác nhau:

Một người là hoàng đế kế thừa chính thống của một triều đại đã trị vì một quốc gia từ hơn một trăm năm trước dù cho là chỉ còn hư vị. Người kia là lãnh tụ của một phong trào cách mạng vừa chủ trương chống Pháp, vừa chủ trương chống Nhật và lật đổ chế độ quân chủ để giành chính quyền.

Văn phong trong bản tuyên ngôn của Bảo Đại là văn phong bình thường của người cầm quyền cao nhất nước; còn văn phong của Hồ Chí Minh mang tính cách kêu gọi và ở một mức độ nào đó có tính cách bình dân, kể lể dài dòng và nhất là xách động.

Mở đầu cho bản tuyên ngôn, Hồ Chí Minh đã trích dẫn  một số câu trong phần đầu của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của người Mỹ và một câu trong Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp. Sự trích dẫn này, vào lúc mà sự hiểu biết của quần chúng Việt Nam còn thấp kém, đặc biệt là về lịch sử Hoa Kỳ và thế giới, chắc chắn không nhằm vào quần chúng người Việt mà nhằm vào người Mỹ và người Pháp.

Lý do là Hồ Chí Minh như là một đảng viên Cộng Sản Quốc Tế chắc chắn đã hiểu hơn ai hết là người Mỹ vào thời điểm này đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong chính tình ở Á Châu, trong đó có Việt Nam. Được nguời Mỹ công nhận là coi như làm chủ được chính quyền. Hiểu được như vậy, ngay từ khi còn ở chiến khu Hồ Chí Minh khi tiếp xúc với người Mỹ đã yêu cầu họ cung cấp cho ông một bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ, đồng thời nói về lịch sử nước Mỹ như là một cách để chinh phục cảm tình của họ. Đó chính là lý do tại sao ngày 29 tháng 8 năm 1945, hai (4 chứ không phải 2) ngày trước khi Hồ Chí Minh tuyên đọc Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của ông, lúc 10 giờ 30 sáng, ông đã cho xe tới chở Đại Úy Archemedes L. A. Patti, trưởng nhóm tình báo OSS mới tới Hà Nội không lâu, đến gặp ông. Mục đích của cuộc gặp mặt theo Hồ Chí Minh không phải là để bàn về chuyện người Tàu mà là để nói về những gì ông đã làm vài ngày trước đó (buổi họp ngày 27 về Chính Phủ Lâm Thời) và ít ngày sau đó (ngày 2 tháng 9 đã được chọn là Ngày Độc Lập, Hồ Chí Minh sẽ tuyên bố Việt Nam độc lập và giới thiệu thành phần chính phủ lâm thời) với Patti như là người đầu tiên được biết.

Quan trọng hơn hết Hồ Chí Minh đã cho Patti coi bản nháp của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của ông bằng tiếng Việt với những sửa chữa chằng chịt mà Pattti không đọc được và chỉ hiểu sơ sơ qua lời một thông ngôn.[15]  Vì chỉ nhằm mục tiêu lôi cuốn sự chú ý và cảm tình của người Mỹ, Hồ Chí Minh đã không đi xa hơn nữa và rất có thể ông cũng không hiểu rõ hơn hay cố tình không hiểu sự khác biệt trong quá trình giành độc lập của mười ba thuộc địa của người Mỹ vào cuối thế kỷ XVIII và của nước Việt Nam thời năm 1945.

Vì vậy ông đã áp dụng quan điểm của người Mỹ về quyền bình đẳng, quyền được sống tự do và mưu cầu hạnh phúc của mọi-người-như-là-những-cá-nhân-riêng-lẻ vào trường hợp chung của cả nước Việt Nam như một-quốc-gia-đòi-quyền-độc-lập, một cách gượng ép hay ít ra là suy luận theo quan điểm chủ quan của mình bằng lối loại suy với dụng ý riêng. Cũng vậy với những gì ông trích dẫn từ bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp.

Phần kế tiếp, Hồ Chí Minh lên án người Pháp và người Nhật, đồng thời ông kể công cho Việt Minh: “Trước ngày mồng 9 tháng 3, đã bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật…”, sau đó “đã  giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu nhiều người Pháp ra khỏi nhà  giam Nhật và  bảo vệ  tính mạng và tài sản cho họ” và kết luận rằng “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt-nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”. 

Điều như người viết đã nói ở trên là không đúng sự thật. Sự thật là Chính Phủ Bảo Đại – Trần Trọng Kim đã lấy lại được toàn thể nước Việt Nam từ Bắc chí Nam, bao gồm luôn cả xứ Nam Ký từ trong tay người Nhật, trước khi người Nhật đầu hàng và Việt Minh đã cướp chính quyền từ trong tay của chính phủ Bảo Đại -Trần Trọng Kim trong những ngày 17 và 19 tháng 8 năm 1945 sau đó, sau khi Nhật đã đầu hàng, nói cách khác sau ngày 15 tháng 8 năm 1945.

Lý do là vì Việt Minh “Việt Minh chủ trương khác”, nói theo Phan Anh, Bộ Trưởng Thanh Niên trong Chính Phủ Trần Trọng Kim và sau này là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng trong Chính Phủ Liên Hiệp của Hồ Chí Minh[16]. Trong những đoạn này Hồ Chí Minh đã dùng các từ ngữ ta hay “dân ta” hay “đất nước ta”, nhưng mục đích không nhằm vào người Việt Nam mà vào người Pháp. Ông đã kể công với người Pháp dự trù cho việc họ trở lại sau này.

Phần cuối cùng của bản văn, từ “Bởi thế cho nên…” cho đến hết, lời văn cho người ta thấy Hồ Chí Minh không hướng về người Việt mà về cả thế giới. Trong phần này ông xưng là “chúng tôi, Lâm thời Chính phủ, đại biểu cho toàn dân Việt -nam “ để tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, kêu gọi các nước Đồng Minh công nhận quyền độc lập của dân Việt-nam…

Phần này Hồ Chí Minh thay vì nói về quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của mọi – người – như – những – cá – nhân do Tạo Hóa ban cho, những quyền phải hiểu là tự nhiên ai cũng có, đã nói về quyền  hưởng tự do và độc lập của cả nước. Đây là một lập luận có tính cách cưỡng ép, hoàn toàn không đúng với tinh thần của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Người Mỹ và nhất là của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách mạng Pháp mà danh xưng của nó đã nói lên một cách rõ ràng: Nhân Quyền và Dân Quyền, không thể hiểu sai được. Độc lập của một dân tộc không phải luôn luôn đồng nghĩa với tự do, dân quyền và nhân quyền của mỗi một cá nhân người dân như những thành phần của dân tộc ấy.

Không những thế, thay vì coi những quyền này là do Tạo Hóa ban cho, Hồ Chí Minh lại lý luận là vì dân tộc Việt Nam là “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc ấy phải được độc lập!”. Lý luận như vậy người ta phải hiểu, theo Hồ Chí Minh, rằng những dân tộc không gan góc chống lại những thế lực đè nén, áp bức mình và không gan góc đứng về phe Đồng Minh, chống phát-xít là không đáng được tự do, độc lập. Cũng vậy, với các quyền độc lập, tự do và mưu cầu hạnh phúc của con người do Thượng Đết ban cho như là những cá nhân trong xã hội. Chính vì vậy Luật Sư Trần thanh Hiệp, khi được Đài Á Châu Tự Do phỏng vấn ngày 2 tháng 9 năm 2007, đã có lý khi ông gọi bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh này là “một bản tuyên ngôn phi nhân quyền”[17] dù cho là nó đã được chính tác giả của nó trích và soạn thảo theo tinh thần của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của người Mỹ và bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền  của người Pháp.

Nhưng dù nói thế này hay thế khác sự kiện này đã phản ảnh chủ trương giai đoạn, khôn phải là mục tiêu cuối cùng của những người Cộng Sản Việt Nam mà Hồ Chí Minh ở đây là một trường hợp điển hình.

Về thời gian soạn thảo, nhiều người cho rằng Hồ Chí Minh chỉ có ít ngày sau khi ông từ chiến khu của Việt Minh về Hà Nội, trong khi ông còn phải bận rộn với nhiều vấn đề cấp bách khác.  Điều này không đúng vì trước đó từ lâu, như đã nói ở trên, khi tiếp xúc với một sĩ quan người Mỹ, ông nhờ người này kiếm cho ông một bản Tuyên Ngôn Độc Lập của người Mỹ rồi.[18] 

Nói cách khác, Hồ Chí Minh đã nghĩ tới và đã thai nghén bản tuyên ngôn của ông từ lâu chứ không phải chỉ ít ngày trước ngày 2 tháng 9 năm 1945. Do đó những gì ông nói tới, những từ ngữ ông dùng đều được cân nhắc kỹ càng và đều có dụng ý riêng với những mục tiêu riêng mà chỉ sau này phải phân tích kỹ, đối chiếu kỹ và có thể sau này khi mọi việc liên hệ đã xảy ra rồi, người ta mới có thể hiểu được.

Điều đáng tiếc là khi thực thi những gì ông đã trích dẫn và đề cao trong bản tuyên ngôn của ông, Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông và sau này những người nối nghiệp ông trong Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ thực thi những gì ông đã suy rộng ra theo lối suy luận loại suy (độc lập của dân tộc) mà làm ngược lại những gì đích thực về nhân quyền và quyền tự do mưu cầu hạnh phúc của từng cá nhân con người, theo đúng nguyên bản của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của người Mỹ và bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của ngưòi Pháp. Nói cách khác, Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông trong đó có Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, cũng như hậu duệ của các ông, thay vì đi theo con đường tự do, dân chủ của các nhà lãnh đạo của cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ, trong đó có Washington, Jefferson, dựa theo đúng tinh thần của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của họ mà các ông đã trích dẫn phần mở đầu, đã theo con đường của Lê Nin, Xít Ta Lin và Mao Trạch Đông.




Hậu quả là 67 năm sau, Bà Hillary Clinton, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ, khi đến thăm Việt Nam đã phải công khai nhắc người đồng nhiệm của Bà ở Việt Nam và luôn cả các ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng Chính Phủ và Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam về vấn đề dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam. Người ta không hiểu là khi làm công việc nhắc nhở này, Bà Clinton có biết rằng 67 năm trước Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập của ông với phần trích dẫn về nhân quyền từ bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ hay không? Người viết tin là có.

Cũng vậy với Đại Sứ David Shear khi ông này tới thăm Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế và Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ ở Saigon. Nhưng dù có hay không, khi trích dẫn những tài liệu này, Hồ Chí Minh và từ đó Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã mắc một món nợ tinh thần với cả hai dân tộc Mỹ và Pháp và nhân ngày 2 tháng 9 năm 2012 này, những ai quan tâm đến vấn đề nhân quyền và dân quyền ở Việt Nam hiện tại, nhất là người Mỹ và người Pháp, nên nhắc nhở những người đang nắm vai trò lãnh đạo ở quốc gia này phải tôn trọng và thực thi những gì Hồ Chí Minh, người đã khai sáng nên chế độ của họ đã long trọng trích dẫn và tuyên đọc 67 năm trước, cần phải “thật thà”[19] coi trọng những lý tưởng mà chính vị “Cha Già” của họ đã viện dẫn từ hai bàn Tuyên Ngôn Độc lập của Hoa Kỳ và Tuyên Nhân Quyền và Dân Quyền của Pháp, coi như một hình thức trả nợ mà bình thường mọi người đều phải làm nếu không muốn mang tiếng là lừa đảo.                                         

TS Phạm Cao Dương

[1] Dương Trung Quốc, Việt Nam: Những Sự Kiện Lịch Sử (1919-1945). Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 2002, tr. 288.

[2] Lệ Thần Trần Trọng Kim, Một Cơn Gió Bụi (Kiến Văn Lục). Saigon: Nhà Xuất Bản Vinh Sơn, 1969, tr. 49.

[3]   -nt- , tr. 51.

[4] Dương Trung Quốc, Việt Nam,,,, đã dẫn, tr.388; Nguyễn Vỹ. Tuấn, Chàng Trai Nước Việt (Chứng Tích Thòi Đại Từ 1900 đến 1970), Quyển II. Saiggon: ?, 1970. Fort Smth, AR tái bản tại Hoa Kỳ, ?, tr. 512.

S. M. Bao Dai, Le Dragon d’Annam. Paris: Plon, 1990. tr. ; Cameron, Alan W. Vietnam Crisis.A Documentary History, Vol. I, 1940-1956. Ithaca, NY: Cornell University Press, 1971, tr. 31-32; Hai bản tiếng Việt in trong tác phẩm của Dương Trung Quốc và tác phẩm của Nguyễn Vỹ hơi khác nhau về ngôn từ nhưng hoàn toàn giống nhau về nội dung. David G. Marr trongVietnam 1945, The Quest for Powe (Berkeley: University of California Press, 1995), trang 71 có nói tới bản tiếng Việt và tiếng Pháp ở văn khố Pháp và bản đăng trên tờ Dân Báo, ngày 12 tháng 3. Vũ Ngự Chiêu cũng nói tới tờ Tin Mới, nhưng nhất thời nguời viết bài này chưa đến được các nơi cần đến để tìm khiếm.

[5] S.M Bao Dai, Le Drafon d’Annam, tr. 104

[6] Taboulet, Georges, La geste francaise en Indochine, histoire par les extes de la France en Indochine des origins à 1914, tome II. Paris: Adrien-Maisonneuve, 1956, tr. 809-812; Phan Khoang, Việt Nam Pháp Thuộc Sử, 1884-1945. Saigon: ?, 1961, tái Bản ở Hoa Kỳ, tr. 322-328.

[7] S.M. Bao Dai, như trên.

[8] Phạm Khắc Hoè, Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc. Huế: Thuận Hóa, 1987, tr. 16.

[9] S.M. Bao Dai. Le Dragon d’Annnam…, tr. 103.

[10] Võ Nguyên Giáp. “Những Năm Tháng Không Thể Nào Quên”, trong Tổng Tập Hồi Ký. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Quân Đội Nhân Dân, 2006, tr. 255.

[11] Phạm Khắc Hoè. Từ Triều Đình Huế…., tr. 76.

[12] Phùng Quán, Ba Phút Sự Thật.Thành Phố Hồ Chí Minh: Nhà Xuất Bản Văn Nghệ, 2006, tr. 114-115.

[13] Hồ Chí Minh.Tuyên Ngôn Độc Lập Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Sự Thật, 1976, tr. 13. Nguyễn Khánh Toàn và Lữ Huy Nguyên, Tổng Tập Văn Học Việt Nam, Tập 36. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1980, tr. 812-823.

[14]   -nt- , tr. 134.

[15]  Patti, Archimedes L.A. Why Vietnam? Prelude to America’s Albatross. Berkeley; University of California Press, 1980, tr. 223.

[16] Thụy Khuê, Nói Chuyện Với Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trong Hiệp. CaliforniaVăn Nghệ, 2002, tr. 180-181.

[17] Trần Thanh Hiệp và Trương Giang. “Một Bản Tuyên Ngôn Phi Nhân Quyền”, trên Nhật Báo Người Việt, số 7940, ngày Thứ Hai, 3 tháng 9 năm 2007.

[18] Sĩ quan này là Trung Úy Dan Phelan, người đã nhảy dù xuống gặp Hồ Chí Minh trong chiến khu của ông này vào khoảng tháng 5 hay tháng 6 năm 1945. Xin xem: Fenn, Charles, Ho Chi Minh, A Bibliographical Introduction. New York: Scribner’s Sons, 1973, tr. 81-82; Duiker, William J. Ho Chi Minh. New York:Hyperion, 2000, tr. 301; Bartholomew-Feis, Dixee R The OSS and Ho Chi Minh, Unexpected Allies Against Japan. Lawrence, Kansas: University Press of Kansas, 2006, tr. 243-244; bản dịch tiếng Việt của Lương Lê Giang nhan đề OSS và Hồ Chí Minh, Đồng Minh Bất Ngờ Trong Cuộc Chiến Chống Phát Xít Nhật. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Thế Giới, 2007, tr. 367-368. Xin để ý: trong nhan đề tiếng Việt người dịch đã thêm hai chữ Phát Xít vào tên nước Nhật mà trong nhan đề nguyên thủy tiếng Anh không có.

[19] chữ Hồ Chí Minh thường dùng.

 

TÀI LỆU ĐỌC THÊM

Ø  Nhân Văn giai Phẩm của Thụy Khuê phỏng vấn người tổ chức lễ 02/9/42 (Nguyễn Hữu Đang)

Ø  Dragon d'Annam của Hoàng Đế Bảo Đại

-----------------------------------

PHẦN ĐỌC THÊM

 Quốc Gia Việt Nam

 

Quốc Trưởng Bảo Đại và Thủ Tướng Ngô Đình Diệm

ĂN CHÁO ĐÁ BÁT hay CẶP BÀI TRÙNG ?

 

CỜ QUẺ CÀN thay cho cờ QUẺ LY

Vì bốc cảnh đấu tranh khác nhau

·        Quẻ Ly nói lên chủ quyền : Nước Nam của người ViệtNam

·        Quẻ Càn kêu gọi

·         đoàn kết dân tộc để bảo vệ độc lập và tự do


A.    Lá cờ nền Vàng Tuyền của lua tơ tầm có từ ngày lập quốc 2.879BC.

B.     Dân tộc Việt lấy màu Vàng của lụa tơ tầm làm sắc thái dân Việt.

C.     Cờ nền Vàng của lụa tơ tầm nói lên tinh thần : Dân có trườc, nước có sau, người dân Việt làm chủ nước Việt.

D.    Bà Trưng phất ngọn cờ vàng có nghĩa là bà Trưng phục hồi quyền tự quyết cho dân tộc.

E.     Người ta biết dệt lụa vào 800BC bằng cách đan sợi ngang và dọc cài vào nhau. Lúc đó chưa có khung cửi bằng gỗ nên phài dệt bằng tay từng sợi một. Lấy xương cá làm kim, lấy vỏ sò làm dao và lấy mo cau làm go.

Lụa là loại vải đầu tiên xuất hiện ở Thượng Hải, vì Tơ Tầm là sợi thiên nhiên không cần pjải tại ra từ bông hay từ đay.

F.      Quan niệm thời đó là Trời tròn đất vuông, trời che đất chở nn cương vực là hình vuông. Bây giờ cương vực là hình chữ nhật (3/2).

Hồi đó chua có Quốc Kỳ mà chỉ có dân tộc kỳ, đế kỳ, vương kỳ và xí của cách chức tước quan lại. Ngày nay Quốc Kỳ là biểu tược ngoại giao Quốc Tế mà thời xưa không có

--------------------------------

Đây là sự kiện lịch sử cần phải tìm hiểu rõ ràng để rút kinh nghiệm. Do đó phải đi sâu vào hậu trường chánh trị bằng cách suy đoán qua di vật và hành động của 2 nhân vật này. Có 2 ẩn khúc mà ít người để ý là :

 

1/- Quốc Gia Việt Nam với lãnh tụ là Quốc Trưởng Bảo Đại được chính thức thành lập vào ngày 08/3/1949 là do nhu cầu của Mỹ, chứ không phải của Thực Dân Pháp.

 

2/- Quân đội Quốc Gia đánh Bình Xuyên (30/4/1955) và đuổi Pháp là do mưu kế của Quốc Trường Bảo Đại và thủ tướng Ngô Đình Diệm tiếp tay nhau để đuổi Pháp, thâu hồi độc lập và trọn vẹn lãnh thổ và trung tuần tháng 7/1955.

 

3/- Sau đó ngày 23/10/1955 Ngài trả quyền tự quyết cho dân tộc. Sở dĩ có trưng cầu dân ý là để Ngài ra đi trong danh dự chứ không phải là tên lính đào ngũ. Thủ tướng Ngô Đình Diệm không có khả năng tự đặt ra Hiến Pháp nên không thể nói là ông ta ăn cáo đá bát đuợc

Những điều phải phân tích :

 

:- Nhân vật HỒ CHÍ MINH : chánh hay tà ?

Tại sao Hồ Chí Minh lại đặt điều và sỉ vả ông BAO ĐẠI và ông Ngô Đình Diệm những điều mà 2 ông này không hề có ? Vậy mà cứ xa-xả nói hoài những chuyện không có

Vậy thì Hồ Chí Minh là ai ?... Bí hiểm thì làm sao má có chánh danh được !

 

B/ - Nhân vật BẢO ĐẠI ?

Ông là một tên tù chánh trị nhưng có trá tim vàng, sẵng sàng hy sinh vì quyền lợi dân tôc.

Đời ông có 3 thời kỳ BỊ LÀM VUA nhưng ông không hề ký bất cứ một bản văn nào có hại cho dân tộc cả.

Và chính ông đã giật sập triều đình nhà NGUYỄN . 

Đối với dòng họ Gia Long thì ông là đứa con Bất Hiếu ; còn đối với dân tộc thì ông lại là người dân ĐẠI HIẾU sãn sàng hy sinh phú quý và danh vọng để cứu nước.

 

Chừng nào dân tộc cần thì ông tham chánh, khi hoàn thành nhiệm vụ thì ông ra đi. Ông không lấy một đồng xu nhỏ của Ngân Quỹ Quốc Gia xài cho cá nhân ông ; ngược lại ông còn lấy thuế cùng Hoàng Tirều Cương Thổ (Tây Nguyên) để bù đắp cho Ngân Quỹ Quốc Gia Việt Nam (08/3/1949 – 01.5.1955).

 

Quốc Gia Việt Nam tồn tại từ 01/10/1947-23/10/1955 (8 năm và 23 ngày)

 

Thiết nghĩ là không ai có thể làm tốt hơn ông trong vấn đề cứu nước giúp dân ở thời kỳ giặc trong (Vẹm) thù ngoài là Thực dân Pháp và Cộng Sản Quốc Tế do Hồ Chí Minh đem vô vào ngày 02/9/1945 (Cộng Sản quc Tế) và ngày 06.3.1946 công nhận chủ quyền của Thực Dân trên đất Việt ; Tåm ước sơ bộ 06/3/1946 còn đó, có muốn chối cũng chẳng được

 

Thời kỳ thứ nhất (1930-09.3.1945) :

Làm vua bù nhìn (từ năm 10 tuổi đến 09/3.1945). Ông là một thằng tù. Một thằng bé 10 tuổi bị đầy đi xứ người, xa gia đình và các trẻ cùng lứa nên đêm nào cũng khóc. Xung quanh toàn người nói tiếng Pháp ; do đó ông nói thông thạo tiếng Pháp nhưng ngô ngọng tiếng Việt.

Mặc dù sống trong môi trường hoàn toàn xa lạ nhưng TÂM VIỆT và HỒN VIỆT của ông bất khả lay chuyển (đây là đặc tính trời cho).

Năm 19 tuổi thì ông về làm vua bù nhìn. Học lực mới xong TÚ TÀI nên việc quản trị đất nước không giỏi.

Về nưóc thì ông chỉ được quyền thay đổ bộ LỄ. Lập tức ông phá luật Gia Long, và cho đó là hủ lậu làm cản trở bước tiến của dân tộc ; tức là ông bỏ quyền lợi cá nhân và nghĩ đến sự phát triển dân tộc mà ta gọi là người có đầu óc cấp tiến.

 

a/- Xóa bỏ chế độ CUNG PHI để trả tự do cho các thiếu nữ trinh trắng. Chuyện ông có bồ bịch cũng là chuyện bình thường. Ông không bị nhan sắc quyến rũ (là đức tính tốt) .

 

b/- Ông dạy người dân bảo vệ nhân phẩm của mình và tự lo lấy việc nước bằng cách đả kích sự khác biệt giữa Vua và Dân.

Ông nói rõ là : Tôi cũng là dân như mọi người, nên xã giao bình đẳng không được Tế Sống Vua ; như vậy là mất nhân vị, là ỷ lại vào nhà vua lo việc nước cho mình.

Sau đó ông xuống chiếu cấm người dân không được tế sống vua.

 

c/ Ông phá hủy toàn bộ luật Gia Long và cho đó là bất bình đẳng làm mất nhân cách con người. Đồng thời làm cản trở sự phát triển đất nước.

 

Luật Gia Long là TỨ BẤT LẬP là không lập : Trạng Nguyên, Tể Tướng, Hoàng Hậu và Thái Tử bị ông phế bỏ thẳng thừng.

Ông lấy vợ theo Tây Học và bà vợ theo Ky Tô Giáo mà ông cũng phong ngay chức NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU ngay sau khi cưới. Nam Phương là Hương Thơm của nước Nam

 

Mặc dù ông biết trước là vợ ông sẽ không bao giờ vào Tôn Miếu để làm lễ cưới và cũng chẳng bao giờ lễ trước bà thờ các bậc tiền bối nhưng ông vẫn cưới.

Ông phong ngay cho con trai trưởng là Thái Tử.

Bất chấp mọi sự chống đối, ông nói rằng tôi lấy vợ cho tôi chứ đâu lấy vợ cho quý vị.

Hành động này phù hợp với đưòng lối Thực Dân Pháp.

Nên nhớ là cuộc hôn nhân này do người Pháp sắp xếp nên 2 vợ chồng thiếu hạnh phúc.

 

Thời kỳ thứ nhì (10.3.45 - 25.8.45):

Tự lo việc nước.

Ông về nước năm 19 tuổi làm vua bù nhìn nên ở tuổi thanh xuân, không có việc làm, do đó ông đi săn bắn, đi đá banh và cặp kè với bồ là chuyện bình thường của tuổi TRÁNG NIÊN.

 

Ngày lịch sử 10/3/1945 : Độc lập trời cho. Đùng một cái trên trời rớt xuống, ngày 10/3/1945 Nhật đảo chính Pháp hôm trước (09/3/1945), thì hôm sau gọi ông trao trả độc lập 2 vùng đất bảo hộ là Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

Nam Kỷ là đất của nưóc Pháp (thuộc địa), vì TỰ ĐỨC đã bán cho PHÁP để bảo bệ Ngai Vàng Mục Nát (thà làm vua nô lệ còn hơn trả lại quyền cho dân) ;

 

Bản văn ra ngày 11/3/1945

Tuyên ngôn độc lập của Hoàng Đế Bảo Đại

 

Đây là một bản văn tương đối ngắn so với những bản văn cùng loại, nhằm ba mục tiêu chính yếu là hủy bỏ một hòa ước Triều Đình Huế đã ký với nước Pháp, tuyên bố Việt Nam độc lập,đứng vào khối Đại Đông Á trong chương trình phát triển chung, đồng thời bày tỏ sự tin tưởng vào lòng  thành của nước Nhật với nguyên văn như sau:

 “ Cứ tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi  Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này điều ước bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập.                                                       .
“ Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vương chung. Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên”  

Bản Tuyên Bố được đề ngày 11 tháng Ba năm 1945 tức ngày 27 tháng Giêng năm Bảo Đại thứ 20 được Bảo Đại ký tên với sáu thượng thư phó thự. Sáu vị thương thư gồm có:

Phạm Quỳnh, bộ Lại, Hồ Đắc Khải, bộ Hộ, Ưng Úy, bộ Lễ, Bùi Bằng Đoàn, bộ Hình, Trần Thanh Đạt, bộ Học, và Trương Như Định, bộ Công. Theo Bảo Đại đây là lần đầu tiên trong lịch sử một văn kiện được ký bởi nhà vua và tất cả các nhân vật quan trọng nhất trong triều đình.

Nguồn: Wikipedia

/Sử Gia Phạm Cao Duơng

---------------------------------

Đầu tháng 4/1945 Nhà Vua ủy thác cho Nội Các (văn phòng nhà vua) đứng ra thành lập thành phần chánh phủ để chuyển dần sang chế độ Quân Chủ Lập Hiến (nhà vua không lãnh dạo chánh trị mà chỉ là người giám sát việc thi hành Hiến Pháp (Hiến Pháp là bản văn quy định trách nhiệm và bổn phận của thành viên trong một đất nước)

-------------------------------

*** 15/8/1945 Nhật đầu hàng đồng minh.

Sáng ngày hôm ấy (158/1945), Nhật Hoàng đích than lên chiến hạm của Mỹ để ký giấy đầu hàng vô diều kiện trước các nguyên thủ của phe đồng minh.

Chiều hôm đó Nhật Hoàng hạ lênh cho binh sỹ án binh bất động chờ ngày hồi hương và TRẢ ĐỘC LẬP cho dân địa phương.

 

*** 16/8/1945 :Thứ Năm trong tuần

Sáng sớm, quân Nhật trao trả nốt Nam Kỳ cho vua Bảo Đại, Ngài chỉ thị cho phái đoàn Nguyễn Văn Sâm vào Saigon là lễ chuyển quyền, thâu hồi lãnh thổ.

 

            *** 17/8/1945 : Thứ Sáu trong tuần

Hôm sau 17/8/1945 là ngày thứ Sáu, ngày làm việc của công chức,

Nhà Vua cho công chức nghỉ việc ăn lương để cùng người dân tụ tập nghe Hiệu Triệu của nhà vua trước tình hình đất nước phóng đi từ đài phát thanh Huế lúc 10 giờ sáng.

 

Nên nhớ là lúc đó đất nước không có Bộ Quốc Phòng nên không có quân đội. Chánh quyền thì chưa quen tổ chức và cũng chẳng có hệ thống phóng thanh. Tất cả đều nhờ vào Quân Đội Nhật.

--------------------------------------------

 

Sau đây là bản Hiệu Triệu ra ngày 17/8/45

Bản văn ra ngày 17/8/1945

Phát sóng trên Radio Huế lúc 10 giờ sáng

Việt Nam Hoàng Đế ban chiếu số 105:

" Cuộc chiến tranh thế giới đã kết liễu, lịch sử nước Việt Nam tiến tới một thời kỳ nghiêm trọng vô cùng.

Đối với dân tộc Nhật Bản, trẫm có nhiệm vụ tuyên bố rằng: dân tộc ta có đủ tư cách tự trị và nhất quyết huy động tất cả lực lượng, tinh thần và vật chất của toàn quốc để giữ vững nền độc lập cho nước nhà.

Trước tình thế quốc tế hiện thời, Trẫm muốn mau có một Nội Các mới.

Trẫm thiết tha hiệu triệu những nhà ái quốc hữu danh và ẩn danh đã nỗ lực chiến đấu cho quyền lợi dân chúng và nền độc lập nước nhà mau mau ra giúp Trẫm để đối phó với thời cuộc.

Muốn củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền lợi của dân tộc, Trẫm sẵn sàng hy sinh tất cả các phương tiện. Trẫm để hạnh phúc của dân Việt lên trên ngai vàng của Trẫm.

Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn là làm vua một nước nô-lệ. Trẫm chắc rằng toàn thể quốc dân cùng một lòng hy sinh như Trẫm.

Trong cuộc chiến đấu mà ta cần phải đương đầu với một cuộc tái hồi ngoại thuộc, toàn thể dân tộc Việt Nam chắc chắn ở sự đắc thắng của công lý và nhân đạo và tin rằng chỉ có một nước Việt Nam độc lập mới có thể cộng tác một cách hiệu quả với tất cả các nước để gây dựng một nền hòa bình vững chắc ở hoàn-cầu"

 

Khâm thử:

Phụng ngự ký: Bảo Đại

Ban chiếu tại Thuận Hóa ngày mồng 10 tháng 7 năm Bảo Đại thứ 20 (17/8/45).

---------------------------------

 

HÀ-NỘI:

Ở Hà-Nội dân chúng và công chúng tập trung ngay ngắn từng khu truớc nhà hát lớn, hồi đó chưa có danh từ Biểu Tình, người ta dung chữ Meeting mà cũng không ai hiểu chữ meeting là gì, cứ thấy tập trung là nhào vô; vì luật cấm tụ họp quá 3 người.

Người Nhật vừa sửa soạn xong khán đài khoảng 9 giờ thì bọn Việt Cộng phá đám, chúng leo lên sân khấu kéo cờ đỏ sao vàng mà chẳng ai biết đó là cờ gì. Thấy chúng hoan hô, đả đảo thì người dân hùa theo. Vì sợ người dân gây loạn nên quân Nhật cho lệnh giải tán vì chúng không muốn gây ra thương vong.

 

NGỤY BIỆN:

Về sau bọn Việt Nô Cộng Sản gọi là ngày biểu tình Công Chức.

Công Chức không có công đoàng, cũng chẳng có dàn âm thanh thì là sao hô hào biểu tình đuợc? Mà biểu tình để đòi cái gì khi đã có độc lập và thống nhất lãnh thổ rồi ?

 

*** 21/8/1945:

Lúc này chưa có chánh phủ Cách Mạng của Hồ Chí Minh tự phong. Hắn ta tự phong là Cách Mạng ra đời vào ngày 02/9/45. Trước đó không ai biết Hồ Chí Minh là ai cả.

Buổi chiều có viên Đại Tá Nhật xin phép nhà vua cho dẹp loạn theo yêu cầu của Mỹ, Nhà vua khước từ.

 

***  25/8/1945:

Đúng 12 giờ trưa và trước Ngọ Môn, nhà vua đọc chiếu thoái vị, trả lại quyền tự quyết cho dân tộc. Nhà vua chánh thức giật sập triều đình GIA LONG.

 

Tiếp theo là Chánh Phủ Trần Trọng Kim với nhiệm vụ XỬ LÝ THƯỜNG VỤ (nghĩa la lo giải quyết các vấn đề bình thường) lo tổ chức Quốc Hội Lập Hiến lập ra bản Hiến Pháp để người dân chung quyết rồi thi hành.

Đây là đường đi chánh danh của dân tộc TỰ QUYẾT định lấy đường lối chánh trị của đất nước.

 

Lợi dụng lúc giao thời, Hồ Chí Mình phá độc lập của dân Việt, hắn ta nhảy phóc ra tổ chức ngày cướp chánh quyền từ tay nhân dân Việt Nam vào ngày 02/9/1945và tự kể công đánh Pháp diệt Nhật... đả vua Bảo Đại, nhưng khi cần chánh danh thì lại nói là nhà vua trao ấn kiếm cho Trần Huy Liệu đại diện cho Chánh Phù Cách Mạng chưa ra đời (ngày sinh của nó là ngày 02/9/45 chửa hoang đẻ vãi nên không có chánh danh và cũng chẳng dám nói tiểu sử và tên cúng cơm......

Xin ghi nhận là: Nhà Vua Bảo Đại không làm lễ trao quyền cho bất cứ ai, vì nhà vua không có cái quyền này. Hoặc lãnh đạo quốc dân, hoặc trả lại quyền cho dân.

Chỉ có người u tối nên mới ca tụng kẻ cướp là ân nhân

.Hồ Chí Minh đã cướp trắng sự độc lập của mình mà lại ngỡ là hắn giải phóng cho mình

 

*** 06/3/1946:

Lúc 3 giờ sang, Hồ Chí Minh ký giấy bán nước cho Thực Dân Pháp qua người đại diện là ông Saintenay (thuộc bộ Thuộc Địa) ở Hà-Nội để công nhận sự hiện diện của quân THỰC DÂN Pháp trên toàn nước Việt, ngược lại xin ngưòi Pháp công nhận Hồ Chí Minh là chánh phủ của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, nhưng chỉ có nước Việt Nam còn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì cương vực ra sao không ai biết cả.

 

Thời kỳ thứ BA (01.10.47 – 13.10.55) :

LÀM VUA BẤT ĐẮC DĨ

Quốc Trưởng Bảo Đại làm tròn nhiệm vụ xong ra đi trong chánh danh.

Cái nghiêp làm vua bắt ông Bảo Đại phải hồ loan để thành lập QUỐC GIA VIỆT NAM

 

Cuối tháng 3/1946:

Phái đoàn Đặng Vũ Trứ (25 tuổi, chưa có kinh nghiệm chánh tri), đảng trưởng đảng Đại Việt ra gặp Hạm Trưởng Mỹ để xin một vị cố vấn chánh trị.

Ông Hạm Trửng tiếp đón niềm nở và giải thích cặn kẽ là:

 

1/- Nước Mỹ muốn chặn làn sóng đỏ ở biên giới Việt Hoa, còn không thì người MỸ phải lùi phòng tuyến xuống Úc Châu.

Vì thế cho nên chúng tôi muốn Việt Nam Độc Lập nên đã không cho Quân Pháp vào tước khí giới quân Nhật. Chúng tôi cũng chỉ nhờ Quân Tàu tước khí giới quân Nhật tới vỹ tuyến 16 vì sợ họ ở ỳ thì quý vị cũng mất chủ quyền.

Nói để quý vị biết sự quan trọng của vị thế chiến lược của nước Việt. Chúng tôi không muốn thống trị quý vị, nhưng chúng tôi cần quý vị làm bạn thì dễ dàng cho chúng tôi hơn là để người Pháp hay người Tàu làm chủ đất nước Việt Nam.

 

2/- Nhưng rất tiếc là chúng tôi đã giúp nhầm phải tên Hồ Chí Minh, nó phản phé theo Nga nên buộc lòng chúng tôi phải nhổ cái gai đó.  Chúng tôi đã nhờ quân Nhật đẹp loạn, nhưng nhà vua không cho.

Chúng tôi đã nhờ quân Tàu nhổ cái gai này (quân Tàu vào Bắc Việt vào ngày 20/9/45 và được chỉ thị bắt Hồ Chí Minh ngay sau khi vào) nhưng không thành. Vì Hồ Chí Minh tổ chức tuần lễ vàng để trám họng tướng Lư Hán và Tiêu Văn nên chúng dựng ra chánh phủ Liên Hiệp và bảo là dân chúng đã thu xếp xong rồi.

 

Do đó chúng tôi bắt buộc phải cho người Pháp tái chiếm nước Việt để triệt hạ Hồ Chí Minh cũng hỏng luôn, nó đấm mõm người Pháp để câu giờ như bạn đẫ biết Tạm Ước Sơ Bộ 06/3/1946.

 

Chúng tôi muốn giúp các bạn lắm; nhưng chúng tôi biết các bạn là ai mà giúp? Giúp xong thì các bạn phản phé như tên Hồ Chí Minh thì chúng tôi làm gì được các bạn?

 

Nếu quả thực cáv bạn tranh dấu cho quyền lợi dân Việt, thì các bạn nói với ông Bảo Đại đứng ra bảo kê; lúc đó chúng tôi sẽ giúp tận tình.

 

Thế là phải lo cho ông Bảo Đại vượt ngục vì Hồ Chí Minh cầm chân ông với chức cố vẫn Vĩnh Thụy (coi cuốn Con Rồng Việt Nam của Hoàng Đế Bảo Đại)

Một mặt phải nhờ Lư Hán giúp máy bay đưa qua Côn Minh rồi hẹn nhau ở Huơng Cảng.

Lư Hán phải xin ý kiến của Tổng Thống TƯỞNG GIỚI THẠCH. Ông này tính lợi dụng để biến Bảo Đại thành Lê Chiêu Thống.

 

Khi được sự chấp nhận rồi mới xui ông Bảo Đại khai bệnh sang Tàu chữa trị.

11 giờ sáng hôm đó ông khai đau mắt, Thủ Tướng Phạm Văn Đồng chuẩn y nên ông chỉ đủ thì giờ xếp valise,

11:30 anh em đến đón đưa sang phi trường Gia Lâm và 12 cất cánh sang Côn Minh. Ngài ở đó đợi gặp Tưởng Giới Thạch rồi Ngài qua Hương Cảng là điểm hẹn bàn bạc cách giành lại độc lập.

 

14:00 ngày hôm đó có phiên họp của Trung Ương gồm Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp và vài người nữa. Phạm Văn Đồng báo cáo đã cho Bảo Đại qua Tàu chữa mắt, mọi người ngồi yên. Riêng Võ Nguyên Giáp vỗ đùi đánh đét một cái, rồi bảo: Chết mẹ rồi, thả cọp vể rừng.

Vì thế nên phải chữa cháy bằng cách gửi phái đoàn sang Tàu điều đình,

Trưởng phái đoàn là ông Bảo Đại đã đi rồi. Nay ông phó là Bộ Trưởng bộ Ngoại Giao Nguyễn Tường Tam cầm 2 vạn (hay 20 vạn chi đó, nhớ không rõ. lương giáo viên tiểu học thượng đẳng là 1 tạ gạo – 600$).

Sau đó phái đoàn Nguyễn Tường Tam xin tỵ nạn chánh trị (coi báo cứu quốc trong tháng 4 và 5 năm 1946 thì rõ).

 

Khi sang HƯƠNG CẢNG (Hong Kong) thì các chí sỹ lo việc bàn kế hoạch.

Đề án đưa ra thì có nhiều nhưng tất cả đồng ý chọn giải pháp 3 bước sau đây:

Bước 1 : Đòi độc lập chánh trị để có bang giao quốc tế.

Bước 2 : Nhờ Mỹ chi viện cho Pháp huấn luyện 175.000 tay súng cho quân đội Quốc Gia Việt Nam.

Bước thứ 3 : Thay thế quân Liên Hiệp Pháp, tách dân chúng ra khỏi bọn chúng: Chiêu Hồi quân phiến loạn về với chánh nghĩa dân tộc, dộc lập và toàn vẹn lãnh thổ đã có rồi trước khi thanh toán chúng bằng quân sự;

 

Đó là kế sách, lẽ dĩ nhiên phải đi thuyết khách thì mới hành động được

Người Mỹ đồng ý trên nguyên tắc.

Người Pháp lưỡng lự tay đôi. Nếu không nhận thì không có tiền cứu vớt nề kinh tế đang suy sụp; nên họ chấp nhận với điều kiện là:

 

1/- Quốc Trưởng Bảo Đại phải đặt đại bản doanh ở nước Pháp,

2/- Các Tướng Lãnh của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam phải do Pháp bổ nhiệm (ông Bảo Đại phản phé người Pháp như thế nào khi đã có trong tay 70.000 quân và thành thạo hành quân một mình – coi phần chót)

3/- Quốc Gia Việt Nam phải nằm trong khối Liên Hiệp Pháp, đồng bạc VN lệ thuộc vào đồng quan.

4/- Trong khi thành lập Quân Đội Quốc GiaViệt Nam thì phải trả tiền cho Quân Liên Hiệp Pháp bảo vệ an ninh.

Vì Quốc Trưởng Bảo Đại thu thuế nên Lính Pháp lúc đó là lính của Liên Hiệp Pháp đánh thuê cho Quốc Gia Việt Nam.

 

TÓM LẠI:

Từ 06/3/1946 đến 08.3.1949 là lính Thực Dân Pháp do Hồ Chí Minh mời vào bằng Tạm Ước Sơ Bộ 06.3.1946., người Pháp thu thuế trên toàn cõi Việt Nam

 

Từ 08/3/1949 đến tháng 7/1955 là lính LIÊN HIỆP PHÁP do ông Bảo Đạo thuê để bảo vệ an ninh trong khi thành lập quân đội. Và ôn Bảo Đại thu thuế trên toàn cõi Việt Nam

Ø  Bọn Việt Nô Cộng Sản lắt léo ở chỗ này đây. Nó nhập nhằng 2 đoàn quân là một.

 

TIẾN TRÌNH BƯỚC THỨ 2:

 

HOÀNG TRIỀU CƯƠNG THỔ:

Trung tuần tháng 7/1947 Ông Bảo Đại thâu hồi Tây Nguyên làm đất của nhà vua (Hoàng Triều Cương Thổ)

** 01/10/1947 :

Thành lập Quốc Gia Việt Nam với chánh phủ lâm thời

Ø  Tháng 12/1947 chọn quốc kỳ cờ NỀN Vàng với 3 sọc đỏ cho cả nước Việt Nam, từ ải Nam uan đến mũi Cà Mau.

Lúc này không ai công nhận Hồ Chí Minh cả, ví hắn không có thủ đô cố định để nươc ngoài gửi phái đoàn Đại Sứ qua sinh hoạt.

Cho mãi đến ngày ký hiệp định Genève 20.7.1954 thì Hồ Chí Minh mới được quyền cấp sổ Hộ Chiếu (Thông Hành). Điểm này bọn Việt Cộng ăn nói loanh quanh.

 

** 05/6/1948:

Tuyên cáo chung ký trên Chiếm Hạm của Pháp ở vịnh Hạ Long, được 2 chánh phủ ký kết với sự làm chứng của Quốc Trưởng Bảo Đại.

Tới đây thì ông Bảo Đại chỉ là một Công Dân, Triều Đình Gia Long đã bị ông Bảo Đại giật sập vào ngày 25/8/1945 rồi nên chức của ông là QUỐC TRƯỞNG.

Ông BẢO ĐẠI làm việc đâu ra đó, chứ không lem nhem như Hồ Chí Minh

 

Mấy tháng sau, ngày 08/3.1949, Quốc Trưởng Bảo Đại thâu hồi độc lập qua sự ký kết với Tổng Thống Pháp ở điện Elysée tại Paris và được Quốc Hội chuẩn y.

Kể từ lúc này Quốc Trưởng Bảo Đại thu thuế và mướn lính trong khối Liên Hiệp Pháp bảo vệ an ninh Quốc Phòng, và cũng là lúc Quốc Trưởng Bảo Đại được quyền cấp sổ thông hành (hộ chiếu) để bảo vệ dân Việt làm ăn ỏ ngoại quốc.

Trong khi đó thì Hồ Chí Minh sống lén lút trong rừng, không có thủ đô cố định để nước ngoài lập Tòa Đại Sứ nên chưa có quyền cấp HỘ CHIẾU.

 

NÊN GHI NHỚ CHUYỆN KHÓ TIN

Đây cũng là lúcNgài bỏ tiền cá nhân thu được ở vùng Hoàng Triều Cưong Thổ để mua tòa nhà ở 89 Avenue de VILLIERS, quận 17 Paris làm tòa đại sứ.

Về sau Quốc Gia có tiền mua toà nhà ở 45Bis cùng phố làm toà đại sứ, thì Ngài cho Quốc Gia mượn toà nhà này miễn phí để làm văn phòng tùy viên quân sự.

Khi bị truất phế thì Ngài vẫn cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiêu tiếp tục dùng miễn phí cho đế ngày mất nước 30.4.1975. Có thể tra cứu ở sở ốp bộ (thuộc sở thuế) hay nhật báo LE FIGARO trong thời điểm hoán chuyển tài sản quốc gia cho Việt Cộng.

 

Ngày 15/7/1951. Quốc Trưởng ký sắc lệnh tổng động viên để thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam với 175.000 tay súng.

Ba năm sau (Novembre 1953) đã có 70.000 tay súng và đã đủ sức hành quân một mình và đã quen với chiến trường rồi, thì Ngài nói lợi hại và xin người Mỹ nói với người Pháp đem quân về nước.

Người Pháp không chịu nên Ngài bày kế cho quân Liên Hiệp Pháp nhảy dù xuống Điện Biên và đóng quân ở lòng chảo. Khi tụi Cộng Sản tụ quân trên đỉnh núi thì Mỹ thả bom chùm để chấm dứt chiến tranh vì chiến phí quá cao rồi.

Quân Liên Hiệp Pháp đổ xuống Điện Biên, quân Tàu vây quanh trên đỉnh núi thì Mỹ khức từ thả bom chùm, và yêu cầu Pháp Hồi Hương trả lại các nơi đóng quân cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam.

 

Pháp không chịu, đòi đưa chiến tranh Đông Dương ra hội nghị Quốc Tế ở BERLIN để chia phần, Mỹ không cho.

 

Hội Nghị Berlin không thành nên chuyển qua Genève với chưong trình thảo luận để tránh chiến tranh nguyên tử là vấn đề: Nga Phong Tỏa Berlin và Bàn Môn Điếm (triều Tiên), Mỹ Tàu đại chiến trên đất Triều Tiên.

 

Pháp thông đồng với Mao là đánh mau đánh mạnh Điện Biên để ép Mỹ phải đưa chiến tranh Đông Dương vào hội nghị Quốc Tế để chia phần, Mao miền Bắc và Pháp miền Nam; còn cù cưa thì Mỹ nhảy vô thay Pháp và Bảo Đại hớt tay trên.

 

** 07.5.1954 :

Điện Biên thất thủ Thủ Tướng Anh Quốc ép Mỹ phải đưa chiến tranh Đông Dương vào hội nghị. Vì thế nên chương trình nghị sự thay đổi, đưa chiến tranh Đông Dương lên đầu.

 

Hội nghị gồm Mỹ, Nga, Anh, Pháp và Tàu Mao.

Tàu Mao giả nhân giả nghĩa cho Lào, Miên, Bảo Đại và Việt Cộng làm chủ tha hồ nói, nhưng quyết định là do Ngũ Cường.

Cuối cùng chúng chia đôi nước Việt vào ngày 20.7.1954.

Nên nhớ là: Quốc Trưởng Bảo Đại không và Mỹ không ký...

 

Ø  Như vậy là lá cờ vàng 3 sọc đỏ vẫn đại diện cho toàn thể lảnh thổ Việt Nam vì thế nên bọn Việt Nô Cộng Sản quyết triệt hạ lá cờ này cho bằng được.

ö

VAI TRÒ CỦA ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM:

** 26/6/1954 ,

Quốc Trưởng Bảo Đại triệu tập ông Ngô Đình Diệm đang đi tu, ép phải về lo việc nước. Hai người lên kế hoạch dựa vào Mỹ để đuổi quân Liên Hiệp Pháp đi thâu hồi độc lập. Trả quyền TỰ QUYẾT cho dân tộc để toàn dân quyết định lấy tương lai của mình

Ø  Đây là cuộc hội đàm mật nên suy ra từ thành quả để biết nguyên nhân.

Ông Diệm làm một cuộc đảo chánh truất phế Bảo Đại trả lại quyền Tự Quyết cho dân tộc.

Ông Bảo Đại tiếp tay bằng cách vặt chân tay của Pháp gài vào.

 

Mới đầu ông Diệm từ chối nên ông Bảo Đại bảo là tôi không năn nỉ Ngài làm việc cho tôi, mà tôi năn nỉ Ngài hãy thương cho dân tộc này đã quá nhiều đắng cay. Ngoài Ngài ra thì không ai làm nổi . Ngài cứ bôi nhọ tôi càng nhiều càng tốt để ngưòi Pháp không dùng tôi nữa;

Ông Diệm phải thu xếp việc cá nhân nên mãi đến ngày 7/7/1954 ông mới về nhận chức Thủ Tướng, chân tay chẳng có ai cả.

 

Như đã mật ước với nhau, ông Diệm lộng quyền.

Tổng Tư lệnh Quân Đội Quốc Gia Việt Nam là Tướng HINH, người Pháp gốc Việt xin Quốc Trưởng cho phép đảo chánh vì tên Diệm lộng hành.

Quốc Trưởng triệu Tướng Nguyễn Văn Hinh về Pháp để báo cáo vì ở xa không hiểu chuyện. Đồng thời chỉ định Tướng Tỵ làm Tổng Tư Lệnh tạm thời.

Khi đến Pháp thì Quốc Trưởng Bảo Đại bóc lon của Tướng Hinh và chánh thức bổ nhiệm Tướng Tỵ giữ chức Tổng Tư Lệnh Quân Đội Quốc Gia Việt Nam.

Tướng Tỵ liền ra sự vụ lệnh (lệnh thi hành công vụ) thuyên chuyển các tướng theo Pháp đi chỗ khác và phân tán mỏng ra. Thế là người Pháp mất vây cánh.

Ø  Có đúng là ông Bảo Đại vặt vây cánh của Pháp để ông Diệm dễ bề hoạt động không?

 

Người Pháp cũng không vừa.

Bảy Viễn là Tướng 1 sao trong Quân Đội Quốc Gia Việt Nam do Bảo Đại phong và đặc cách trấn giữ Saigon và Chợ Lớn, sào huyệt ở rưng Sát.

Đây là một quân đội trong một quân đội.

Ø  Người Pháp giúp Bảy Viễn lật đổ Tổng Thống Diệm.

Ø  Tướng Tỵ cho quân đến đóng ở vườn Tao Đàn để bảo vệ Thủ Tướng.

 

Trước khi cho lệnh Bảy Viễn tấn công thì người Pháp bắt Quốc Trưởng Bảo Đại triệu tập Thủ Tướng Ngô Đình Diệm sang Pháp để báo cáo tình hình, và Tướng VỸ (người của Pháp) lên thay. Tướng Vỹ là Tư Lệnh Ngự Lâm Quân ở Đà Lạt.

 

Lúc 1 giờ trưa ngày thứ Năm 28/4/1955, quân đội Quốc Gia Việt Nam được lệnh bao vây các căn cứ Bình Xuyên ở Saigon và Chợ Lớn, chưa được lệnh tấn công.

19 giờ tối ông Diệm cho người đi mời các tổ chức đấu tranh vào dinh họp khẩn vào lúc 8:00 ngày hôm sau là 29/4/1955 (coi cuốn Việt Sử Khảo Luận của Luật Sư Hoàng Cơ Thụy, là người tham dự phiên họp này).

 

Đúng 8 giờ ngày 29.4.1955, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm bước vào báo cáo: Tình hình sôi sục như thế này mà Quốc Trưởng vì ở xa không rõ, nên NGÀI có gửi điện Triệu Tập tôi về Pháp báo cáo tình hình.

Tôi mời quý vị đến đây để cho ý kiến.

 

Hội trường cầm bức điện triệu hồi và yêu cầu Thủ Tướng NGÔ ĐÌNH DIỆM ra khỏi phòng họp để mọi ngưòi quyết rồi sẽ thông báo sau.

Ông Diệm ra đi thì mọi người ghi danh đầy đủ, có tên, có hội đoàn, có đảng phái và có cả địa chỉ.

Tham dự viên bàu ra ban chủ tọa, có chủ tịch, có ban thư ký, có điều hợp viên, có ban trật tự, nghĩa là có đầy củ cả.

Sau đó bàu danh xưng của phiên họp thì mọi người đồng thuận dùng chữ:

Ø  HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁCH MẠNG.

 

Phiên họp bắt đầu thì Luật Sư Hoàng Cơ thụy là người phát biểu đâu tiên xin hội đồng thảo luận về cương vị Quốc Trưởng của ông Bảo Đại trước khi thảo luận bản văn. Vì tình hình sôi bỏng như thế này là Quốc Trưởng dóng đô ờ nước Pháp vậy thì có xứng đáng là lãnh tụ không?

Hội trương rối loạn, cãi nhau ỏm tỏi.

Tuy chỉ đấu võ mồn chứ chưa ẩu đả thì hung khí bừng bừng nổi dậy, ảnh Bảo Đại bị xé xuống, tượng bị đập nát. Sau một hôi hả giận thì cũng đươa ra được quyết định ra chia tay nhau ra về lúc 15 giờ chiều, hẹn 10 giờ sáng ngày hôm sau (30.4.1955) sẽ đọc quyết định trước tà Đô Chánh Saigon trước toàn thể đồng bào, sau đó trao cho thủ Tướng Ngô Đình Diệm để thi hành,

·        Dù muốn dù không thì cũng phải về đánh máy và soạn hồ sơ cho đàng hoàng trước khi chánh thức công bố.

Đúng 10:00 sáng ngày 30/4/1955, Đại diện HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁCH MẠNG xuất hiện trước hàng vạn người quy tụ đông nghịt, và tuyên đọc như sau:

 

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁCH MẠNG VIỆT NAM quyết định:

1.- Truất Phế Bảo Đại.

2.- Giải tán chánh phủ Ngô Đình Diệm do Bảo Đai thành lập.

3.- Ủy thác cgo chí sỹ Ngô Đình Diệm thành lập chánh phủ để lãnh đạo đất nước

Bản văn được trao cho ông Diệm để thi hành.

 

Khi vào dinh thì ông Nhị Lang (Cao Đài) thấy Tướng Vỹ thì rút sung ra bắn vì nghĩ ông này tới đòi quyền thay thế như trong bản điện tín. Ông DIỆM hoảng vía ra ngăn và nói Thủ Tướng triệu Đại Tá Trần Văn Đông là Tư Lệnh chiến trường Saigon - Chơ Lớn vào đẻ vinh thăng 1 cấp tại mặt trận.

 

Tướng Vỹ là bạn từ Đà Lạt lên chơi nên tiện thể Tướng Đôn mòi đi cùng chứ không phải tự ý Tướng Vỹ vào dinh.

Xin quý vị đừng nóng. Sau đó Thủa Tướng phải hộ tồng Tướng Vỹ ra khỏi dinh một cách an toàn

·        Tướng Vỹ vào dinh hành quân để gặp tướng Tỵ (là bạn học), bảo tướng Tỵ làm đảo chánh.

·        Tướng Tỵ không nghe.

·        Tướng Vỹ về Đà Lạt điện cho Quốc Trưởng Bảo Đại là nó làm loạn cất quyền của Ngài rồi. Xin phép cho làm đảo chánh.

Ông Bảo Đại triệu tướng Vỹ sang Pháp và bóc lon, giải tán Ngự Lâm Quân và trao trả Hoàng Triều Cương Thổ vế với đất mẹ.

 

Sau khi diệt tan Bình Xuyên và buộc quân đội Liên Hiệp Pháp phải ra đi vào trung tuần tháng 7/1955 thì như mật ước ông Diệm tổ chức trưng cầu dân ý để truất phế Bảo Đại mà ông Bải Đại không hề lên tiếng.

 

Sau khi bị truất phế rồi thì ông Bảo Đại vẫn cho Tổng Thống Diệm mượn toà nhà riêng của mình ở 89 Avenue de VILLIERS quận 17 Paris làm văn phòng Tùy Viên Quân Sự không lấy tiền. Ông cũng cho Tồng Thống Thiệu mượn luôn. 

Bọn Việt Nô Cộng Sản đòi tiếp thu sau ngày 30.4.1975 vì nghĩ đó là tài sản quốc gia; nhưng ông Bảo Đại lên tiếng và đòi lại chủ quyền của mình .

Tra cứu tên nhật báo Pháp (Le Figaro) thời đó, hay ra ban ỐP BỘ bất động sản thế chấp thì biết rõ lai lịch của toàn nhà này. (Service d’hypothèque de Paris 17 ème)

 

Muốn biết rõ phiên họp trong Dinh Thủ Tướng ngày 29/4/55 thì xem thêm chi tiết trong cuồn Việt Sử Khảo Luận của Luật Sư Hoàng Cơ Thụy, ngưòi có mặt trong phiên họp này

------------------------------------

 


Quốc Kỳ Quẻ Càn         Quốc Kỳ Quẻ Ly          Hiệu Kỳ Loạn Tặc

Quốc Gia Việt Nam      Đế Quốc Viêt Nam       Giải Phóng Miến Nam

 

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil