vendredi 16 août 2024

T13, nguồn gốc Triệu Đà

T13, nguồn gốc Triệu Đà (01.01.2021) soạn giả: Hoàng Đức Phương

Livestream trên Facebook Nỗi Niềm Quê Hương

NGUỒN  GỐC  TRIỆU  ĐÀ : BÀI  GIẢNG

Mực nước Thái Bình Dương thời kỳ rã băng

(nguồn: Miền đất phương Đông của Giáo Sư Stephen Oppenheimer-2003)



BẢN  ĐỒ  BẮC  KINH  VẼ  NĂM  1974

phỏng theo hậu Hán thư (sách viết theo văn khố thời hậu Hán: 207BC-220AD)



 



Cương vực nước Văn Lang thay đổi từ 2.879BC đến 111B

Phía nam sông Dương Tử thuộc dân Bách Việt, gồm Ngô Sở và Việt, lập quốc nằm 2.879BC (con cháu Lộc Tục, ăn cơm).  Phía bắc sông Dương Tử thuộc con cháu Đế Nghi ; về sau bị dân TÀU (du-mục từ IRAK) di qua tiêu diệt dưới thời nhà CHU (1046BC)…  Năm 3.400BC nước biển rút xuống mực nước ngày hôm nay. Dân Nông Nghiệp từ Phi Luật Tân di lên trên núi Hy Mã Lạp Sơn kéo về quê cũ lập nghệp ; trong đó có con cháu Đế Nghi sồng ở lưu vực con sông Hoàng Hà và phía nam  sông Dương Tử Giang là con cháu Lộc Tục.

Phía cuối dãy núi Trương Sơn là dân Mã Lai trở về đất cũ là dân Chàm và Chân Lạp (Khmer) Lúc này chưa có đồng bằng Bắc con sông Hồng Hà và con sông Cữu Long Giang. Chưa có người TÀU.

Sau 500 năm sinh đẻ thặng dư, con cháu Lộc Tục lập ra 3 nước dể đánh nhau là : NGÔ (thuần chủng) ; SỞ (thuần chủng) và VĂN LANG (Đa Chủng lập nên Liên Bang VIỆT). Sau gân 1.000năm, khoảng 2.000BC dân du- mục nhà Hạ từ Trung Đông theo cánh đồng cỏ (steppes) di tới sống cách biệt với con cháu Đế Nghi (nông nghiệp)-Rồi nhà Thương chung sống hòa bình (1500-1046BC) Sau đó nhà CHU diệt nhà Thương và con cháu Đế Nghi để cướp đất. Sau là TẦN, Tây HÁN, Mãn Vương, Đông Hán, Tống Nguyên Minh Thanh MAO




Hình thạch Y trưng bày ở triển lãm San Francisco ngày 10 Septembre 2000

Thạch y là áo bằng đá quý dung để khâm liệm người chết thuộc dòng quý tộc:

·        Hán Đế nối kết bằng dây vàng

·        Triệu Muội Đế nối kết bằng chỉ tơ tầm

ö

 

Trước thời đại Triệu Đà (trước năm 207BC)

Nguồn gốc nước Văn Lang:

Muốn biết rõ nguồn gốc Triệu Đà thì chúng ta phải trở về ngày lập nước Văn Lang vào năm 2.879BC thì mới rõ được. Chúng ta chỉ nói những điểm chánh chứ không đi sâu vào cách tổ chức hành chánh của các quốc gia trong vùng là nước Ngô, nước Sở và Liên Bang Việt mà ta gọi là Bách Việt.

Bản đồ trở về quê cũ sau trận đại hồng thủy vào khoảng 3.400BC ở trên là do Bắc Kinh vẽ theo truyền thuyết Đế Nghi và Lộc Tục cho ta ít nhiều ý niệm về thời đại lập quốc.

Đó là thời đại đồ đồng, lúc này chưa có sắc dân mệnh danh là Hán Tộc và cũng chưa có nước Tàu hay nước Trung Hoa....Danh từ Trung Hoa có vào năm 183BC do Lã Hậu đặt ra , thì lập tức danh từ Tàu xuất hiện năm sau (182BC) do Triệu Đà tung ra để đối kháng chánh trị.

Những điều cần biết trước khi vào đề:

Ký Hiệu và Ký Tự: Hiệu là ra dấu, còn Tự là chữ viết; Ký là ghi chép lại để làm bằng chứng.Ở thời điểm này cũng chưa có chữ viết mà chỉ có ký hiệu để giao ước với nhau những ý mình muốn nói.

Chúng ta hãy tưởng tượng hình vẽ của bảng chỉ đường cho người lái xe hơi hay lái tầu thủy, xe lửa, máy bay...... Ký hiệu này tạm gọi là ước hiệu, nó khác với ký tự (chữ viết).

Tỷ dụ con số 1, 2, 3, 4.....bằng số Ả Rập, La Mã hay Tàu, Tây, Nga, Đức.....là những ước hiệu chứ không phải ký tự (chữ viết).

Chữ viết (ký tự) bắt đầu có từ ngày biết làm mành-mành; viết lên đó rồi cuốn lại đem theo nên ta có danh từ CUỐN SÁCH. Như vậy là bắt đầu thời đại đồ sắt non, biết làm dao để chẻ lạt, biết làm cưa để cưa tre theo đốt thì mới có thể làm lạt được. Sớm lắm cũng vào khoảng 500BC. Chúng ta vẫn thấy hình sớ Táo Công đọc theo mành-mành, hoặc chuyện Tàu nói là Binh Thư Tôn Tử được viết trên các dóng tre. Tôn Vũ thuộc thời đại vua Ngô Hạp Lưu, khoảng 600BC, cùng thời với Lãnh Vương vùng Lạc Việt (Quảng Đông) tên là Câu Tiễn (Việt Vương Câu Tiễn nếm phân Ngô Phù Sai là mưu thoát hiểm để trả hận cho đời biết tay.

Ø  Nếm thiệt nhưng lại là ảo thuật nếm giả để qua mắt mọi người).

Đông hay Tây, Xưa hay Nay, muốn lưu truyền tâm tư hay kinh nghiệm cho hậu thế thì người ta vẫn để dưới dạng: Ca Dao, Tục Ngữ, Câu Hát, Giọng Hò, Câu Vè, Điêu Khắc, Hội Họa hay Văn Vần, Văn Xuôi. Tức là để dưới dạng Bia Miệng, Bia Đá hay Bia Giấy .....bia Computer.

Ở thời điểm chưa có giấy thì Văn Xuôi bắt buộc phải để dưới dạng Huyền Thoại. Phần Huyền Thoại là phương tiện chuyên chở thông điệp, còn thông điệp là triết lý của câu chuyện.......Sau này không còn bia giấy mà chỉ còn  BIA  ĐIỆN  TỬ  thì mọi chuyện sẽ khác hẳn; vì vậy chúng ta không thể đả kích chuyện huyền thoại khi chúng ta chưa giải mã để hiểu tâm tư người xưa được.

Muốn xét lịch sử người xưa thì phải đặt mình vào bối cảnh cuộc sống ỏ thời điểm đó thì mới rút tỉa kinh nghiệm để giải quyết cho vấn nạn ngày hôm nay được. Đó là ôn cố tri tân, làu thông kinh sử; bằng không là đấu võ mù để sống theo số phận hên xui.

 

Đại hồng thủy 6.000BC:

Ở thời điểm 18.000BC, loài người chưa biết cách sản xuất ra thực phẩm nên nhân số trên toàn thế giới không quá 2 triệu người. Lý do là thiếu thực phẩm. Mùa đông thì không có trái cây để ăn, tôm cá thì hiếm, các sinh vật khác cũng chết vì đói vậy. Thêm vào đó là hữu sinh nhưng vô dưỡng; vì bố mẹ phải đi kiếm ăn nên con cái không được chăm sóc hay canh chừng thú dữ.

Nói chung là từ ngày con người biết dự trữ lương thực, tự sản xuất ra ngũ cốc là lúc nhân số bắt đầu gia tăng không ngừng theo cấp số nhân nên xảy ra chiến tranh để thỏa lòng tham lam.

Về phần con cháu Lộc Tục: Mới đầu dùng lửa để nung đất làm nồi luộc tôm, luộc cá cho khỏi tanh. Trong lúc đói rét thì vớ được ngô, khoai đem luộc để ăn và sau cùng lấy thóc bỏ vô nồi luộc để húp cháo vì khoai thì hà, ngô thì cứng luộc ăn không được.

Sau đó thì nhận thấy ngũ cốc là loại thực phẩm có thể dự trữ được, nhất là lúa có thể phơi khô để vài năm vẫn dùng được nên nghĩ ra nghề Nông. Theo khoa học ngày hôm nay xác định bằng Carbone 14 thì nghề Nông có sớm lắm là cách đây 15.000 năm (tức 13.000BC). Lúc đó trên toàn thế giới có rất nhiều trung tâm nông nghiệp, nhưng chỉ có sắc dân nông nghiệp con cháu Lộc Tục là còn tồn tại và phát triển cho tới ngày hôm nay...Còn các nơi khác thì không thấy di chỉ nữa.

 

§ Vào khoảng 16.000BC bàu không khí rất lạnh nên băng tuyết khắp nơi. Giữa Phi Luật Tân và Trung Đông là băng đá không sống được. Việt Nam với Phi Luật Tân và Nam Dương Quần Đảo là đất liền. Lúc đó đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long chưa có. Nước biển bắt đầu dâng trung bình là 1cm/năm.

§ Như vậy đến năm 13.000BC thì nước biển cao bằng đáy vùng biển Hài Nam và Hải Đông, lấy hoa lục làm mốc; vì Hải Nam và Hải Đông không có nơi nào sâu hơn 100m cả.

§ Năm 13.000BC là năm bắt đầu có nghề nông nên cuộc di cư lên vùng cao là dãy núi trường Sơn và Hi-mã-lạp sơn bắt đầu.

§ Từ năm 13.000BC trở đi nưóc biển dâng nhanh hơn trước, trung bình mỗi năm là 2cm/năm. Lúc này mực nước biển Đông thấp hơn ngày hôm nay là 100m (-100 thước tây)

§ Đến năm 7.200BC thì mực nước sấp sỉ bằng ngày hômnay; nhưng vẫn chưa ngưng. Trung bình mỗi năm dâng cao khoảng 1,73cm.

§ Nước tiếp tục dâng tới 6.000BC thì ngưng. lúc này mực nước cao hơn ngày hôm nay là 5m (+5 thước tây). Trung bình mỗi năm dâng cao khoảng 5cm. Lúc này, tất cả vùng Hoa Lục đều chìm trong biển; nước biển lên tới tận chân núi Himalaya và Trường Sơn....

§ Chuyện Thần Nông, Đế Nghiêu, Đế Thuấn là chuyện giả tưởng do Hán Cao Tổ (206BC) đặt ra để tự đề cao dân du-mục; vì lúc đó Hoa Lục là đất chết, không lụt thì cũng thiếu nước ngọt. Hơn nữa loài người còn thưa thớt, đất hoang chưa có sức để khai phá thì làm gì có nhu cầu và khả năng để thành lập binh đội ăn bám vì không biết đánh ai để cướp của cả.

§ Sau đó thì nước rút xuống vì bàu không khì trở lại lại. Tới khoảng 3.400BC thì mực nước ngưng. Từ thời điểm đó cho đến ngày hôm nay thì mực nước vẫn giữ nguyên như ngày hôm nay. Coi biểu đồ mực nước  trang đầu.Từ năm 2000 sau tây lịch trở đi thì loài người phá hủy môi sinh nên bàu không khí nóng trở lại, và nước biển sẽ dâng, nhân loại thiếu nước uống và không khí để thở.

Ø Đây là một nguy cơ tận thế thật sự chứ không phải hù doạ.

Vì, nhân số gia tăng vượt bực, khí thải và nhiệt thả vào bàu không khí một cách vô tội vạ bằng cách dùng Pétrole và Bom Đạn với tinh thần vô trách nhiệm.

Thực vậy, khi trước trái đất nóng bỏng vì do mặt trời phát nổ. Phải đợi hàng tỷ năm mới tạo thành môi trường sinh sống là do sự kết tinh thành Pétrole, Uranium và nhiều chất khác. Sự kết tinh này là một hình thức hút nhiệt để nhốt các chất độc lại trong URANIUM, trong PETROLE .....

ü  Nay ta dùng Pétrole, Uranium, bom đạn là ta nhả nhiệt và chất độc vào bàu không khí....Đó là nguy cơ tận thế do chính loài người gây ra.

 

Xã hội con cháu Lộc Tục:

1.      Khi nước biển dâng thì con cháu Lộc Tục từ quần đảo Nam Dương, Mã Lai hay Phi Luật Tân đều phải di dần lên cao theo mực nước dâng. Vì là nông nghiệp nên luôn luôn phải sống theo cửa sông hay ven biển mà ta gọi là vùng duyên hải.

2.      Khi nước dâng cao vào năm 6.000BC thì đám dân nông nghiệp này di tới chân núi Himalaya và Trường Sơn, họ đem theo nghề nông và nghề chài lưới, ghe thuyền để di chuyển trên mặt nước. Đây là sắc dân giỏi về trồng lúa chiêm (lúa nước), về bơi lội, chài lưới và thành thạo một cách chuyên nghiệp về di chuyển bằng thuyền trên sông nước.

3.      Khi nước rút xuống vào năm 3.400BC thì họ men theo triền 3 con sông lớn ra biển để sinh sống theo nghề nông và nghề chài lưới.

Ba con sông đó là:

·     Sông Hoàng Hà chảy qua Thiên Tân vào Bột Hải (BOHAI SEA) là nơi sinh sống của con cháu Đế Nghi. Sông này cuốn theo cát ở sa mạc GOBI và TENGRI nên có màu vàng (Hoàng=màu vàng; Hà là sông có sóng lớn) của cát.

·     Sông Dương Tử, sông Hồng là nơi sinh sống của con cháu Lộc Tục. Về sau, nhóm này tăng gia dân số và thành lập 3 nước để đánh nhau với mục đích xâm chiếm đất đai của nhau. Đó là Ngô, Sở và Việt.

-         Nước Ngô (thuần chủng) có học thuyết xâm lăng Thiên Tử, về sau Khổng Khâu (tức Khổng Tử; chữ Tử thời đó bao hàm ý nghĩa kính trọng hiền tài)  phụ họa bằng thuyết Thiên Mệnh.

-         Nước Sở (thuần chủng) có học thuyết Tự Vệ là Vô Vi, về sau được Lão Trang biên soạn cho rõ nghĩa. Muốn sống an lành thì phải bảo vệ tự chủ.

-         Liên Bang Việt (đa chủng), có học thuyết Tự Vệ là Rồng Tiên Khai quốc. Nhiệm vụ của các triều đại Hùng Vương là Hòa Đồng sắc tộc, hội nhập Văn Hóa để biến Liên Bang thành chủng tộc. Vì thế nên xã hội Việt lấy Làng làm đơn vị chánh và nay ta thấy nhiều sắc tộc là thế.

Chánh sách HỘI NHẬP VĂN  HÓA là để có cuộc sống hài hòa trong tình đồng bào (cùng cha, cùng mẹ sinh ra), đã từng được áp dụng và thành công mỹ mãn trong việc quản trị đất nước dưới các triều đại sau đây:

P Việt Vương Câu Tiễn sát nhập nước Ngô vào nước Việt, theo thể chế Dân Chủ Phân Quyền (#600BC). Sau đó cải danh thành nước BÁCH VIỆT

P Nhà Triệu, kể từ Triệu Đà (207BC-137BC) người Bách Việt gốc Ngô, thống nhất nước Bách Việt và cải danh thành nước NAM VIỆT (phía nam sông Dương Tử là đất của dân Bách Việt. đã lãnh đạo đất nước trong 97 năm (207BC-111BC) theo chế độ Quân Chủ Đại Nghị mà không có sắc dân nào chống đối cả.

Quân Chủ Đại Nghị là dân ở vùng nào thì quan lại người vùng đó lo cho đời sống của họ. Khi họp Triều Đình thì vua làm theo ý biểu quyết đa số như hội nghị Diên Hồng dưới thời nhà TRẦN

P   Vua Lê Thánh Tôn (1471) đã sát nhập nước Chàm vào nước Việt theo kiểu này, và cũng không gặp chống đối của người Chàm.

P   Vua Quang Trung (1789), sau khi dứt Chúa Trịnh, vua Lê và giặc Thanh (30 janv. 1789=mồng 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu) cũng áp dụng chánh sách chiêu hiền đãi sỹ, đãi ngộ bình đẳng phe chiến bại nên đã thống nhất lòng dân, canh tân đất nước.

Đó là kinh nghiệm quý báu mà thế hệ chúng ta cần phải học hỏi để xây dựng xã hội hài hòa, giải quyết khúc mắc vấn đề sắc tộc do kẻ thù thọc gậy bánh xe để cầu lợi.

Những điểm cần ghi nhận: (trước năm 206BC)

a)     Nước Sở và Liên Bang Việt không đánh nhau bao giờ cả. Chỉ có mối thù Ngô Việt và Ngô Sở tranh Bá đồ Vương mà thôi.

Về sau này có dân Du Mục từ IRAN, IRAQ đến thống trị con cháu Đế Nghi thuộc dân nông nghiệp) và tràn xuống phía nam sông Dương Tử với hỗn danh là TRUNG HOA (trung tâm tinh hoa của vũ trụ) và Đại Hán để xâm lăng nên mới có kẻ thù không đội trời chung là thế.

b)     Người Tây Tạng cũng chưa lập quốc; vì nước Sở không có ý định bành trướng.

Quốc hiệu Tây Tạng là sau này người Tàu đặt cho họ để nhận xít: Đó là phủ tạng của Bắc Kinh ở phía tây. Trước đó (183BC), Lã Hậu gọi họ là Quỷ Phương Tây (Tây Quỷ)

c)     Người Chiêm cũng chưa lập quốc, vì Liên Bang Việt được thành lập để tự vệ mảnh đất của mình, cũng không phải là người có đầu óc xâm lăng.

d)     Người Chân Lạp (KHMER) cũng chưa lập quốc vì chưa có nhu cầu. Đồng bằng Nam Việt lúc này chưa có nên chưa có danh từ "đất bồi ở phương nam = Phù Nam"

w

LẬP  QUỐC :

Vào năm 2.879BC, nước Ngô thành lập binh đội để đi xâm lăng nước Việt ở phía nam và nước Sở ở phía tây. Còn phía bắc thuộc địa phận của con cháu Đế Nghi thì lạnh và không sơ múi gì cả nên không thiết đánh. Coi bản đồ Trần Nguyên Trụ ở trang đầu thì rõ.

Cương vực: Lúc đó là thời đại đồ đồng nên biên giới là sông sâu và rộng khó vượt qua, biển cả và rừng núi hiểm trở là biên giới thiên nhiên nên chúng ta cũng dễ định cương vực của từng nước một.

1.     Cương vưc nước Ngô:

Nước Ngô là nước của người Ngô, thuần chủng, được bao bọc bởi 2 con sông Dương Tử chảy ra thượng Hải (Shanghai) và Tây Giang chảy ra Hong Kong (Hương cảng)

2.     Cương vực nước Sở:

Nước Sở là nước thuần chủng chiếm vùng Tứ Xuyên(*) từ dãy núi Hoài(**)  đến nước Tây Tạng. Khi đó thì dân Tây Tạng chưa lập quốc vì nước Sở không gây hấn. Phía nam giáp với Vân Nam (U Việt-2.879BC) của nước Văn Lang.

*  Tứ Xuyên là vùng có 4 con sông lớn đi qua: Hoàng Hà, Dương Tử, Cửu Long và con sông chảy qua Miến Điện).

**Sông Hoài và núi dãy núi Hoài là nơi Hạng Võ tự sát, biên giới của nước Sở và nước Nam Việt

§ Chữ U có nghĩa là tối tăm vì bị sương mù che lấp quanh năm. Còn Việt có nghĩa là phải vượt qua sự U Tối của mây mù để phát triển cuộc sống sao cho tốt đẹp hơn.

§ Vân Nam có nghĩa là mây ở phương Nam (bắc Hán nam Việt), danh từ này phát xuất từ năm Triệu Đà xưng là Triệu Vũ Vương (207BC); đặt quốc hiệu là Nam Việt, tức phía nam sông Dương Tử là đất của người Việt. Ngụ ý nói rằng Ngô và Việt là một; kẻ thù chung là người phuơng bắc. Về sau Vân Nam được gọi là Nam Chiếu.

§ Nước Sở và nước Văn Lang không hề đánh nhau bao giờ cả.

3.     Cương vực của nước Văn Lang:

Cương vực nước Văn Lang từ phía nam sông Tây Giang đến đèo Ải Vân (ngày hôm nay gọi là Hải Vân). Lúc đó có mời người Chàm vào Liên Bang thì họ từ chối vì không muốn đóng góp cho phòng tuyến ỡ tận sông Tây-Giang.

Phía tây đến tận sông Cửu Long, bao gồm cả nước Laos ngày hôm nay. Dân Laos và dân Thái là người từ vùng U Việt (Vân Nam) di xuống khi bị bọn Du Mục đánh chiếm.

Muốn rõ thêm, xin tìm đọc bài số 6 : Rồng Tiên Khai Quốc (giải mã câu chuyện Rồng Tiên) ở trang WEB của ban Học Vụ: www.nhanvanviettoc.blogspot.com

õ

Hình thành nước Văn Lang

Văn Lang là một liên bang gồm 15 tiểu bang, lúc đó gọi là Bộ Lạc.

Bộ là vùng đất, Lạc là an vui. Muốn bảo vệ sự an vui (hạnh phúc) của dân chúng thì người dân phải có tinh thần Tự Trọng (Văn Lang) và Cầu Tiến (Việt); với ý niệm: Người dân giữ nước chứ không phải Triều Đình giữ nước.

 

·    Ý niệm này được gói-gém trọn vẹn trong lá cờ NỀN VÀNG của lụa tơ tầm (Trưng, Triệu, Quẻ Ly, Ba Sọc) mà ta gọi là NỀN VÀNG mà cờ Tây Phương không có NỀN. Biên Đông Phương có Dân Tộc, bên Tây Phương có Nhân Dân

·    Nền là căn bản: Ai làm chủ.

Vàng là màu của lụa tơ tầm một loại lụa rất quý ở thời điểm đó. Dân Việt đã chọn màu lụa tơ tầm làm sắc thái của mình từ ngày lập nước Văn Lang.

Ở thời điểm này thì các sắc dân trong vùng chưa có tên để phân biệt dòng họ của mình. Lý do là lúc đó sống rải rác theo đồng ruộng. Ban ngày ra đồng cầy cấy, ban đêm tập trung trong một khu vực có hàng rào bao bọc nên gọi là cái LÝ (một lý là một dặm = 1,6 Km).

§ Lúc đó, vị nguyên thủ lo việc cộng đồng của Lý được gọi là ông Lý Trưởng. Người chết thì chôn ở ngoài đồng.

-        Đồng là ruộng khô trồng ngũ cốc ngoại trừ lúa nước (lúa chiêm).

-        Ruộng là nơi ngập nước trồng lúa chiêm (lúa nước).

-        Nương là ruộng ở trên gò đất cao.

-        Rãy là ruộng xấu, bỏ hoang không ai trồng tỉa.

§ Do đó mới phát sinh ra tục giỗ gia tiên, và hàng năm đi tảo mộ để ghi ơn người chết đã dày công xây dựng ruộng nương, làng xóm cho mình hưởng.

§   Sau khi cái Lý cải danh thành cái Làng nên các Làng mới thành lập sau này (2.879BC)  có thêm ngày giỗ người sáng lập ra nó là ông Thành Hoàng Làng.

§   Bên Việt ghi công đức người đã khuất; chứ không ai ăn sinh nhật của người đang sống cả. Lý do dễ hiểu là khiêm nhường, không tự đề cao mình......Ngay chính ông vua cũng không có ngày mừng sinh nhật mà chỉ có ngày đăng quang Hoàng Đế. Khi chết đi thì chỉ được thờ trong Từ Đường của dòng họ mà thôi. Đúng sai, hay dở thì đó là quan niệm sống của người Việt khi xưa, ta là hậu duệ thì phải tôn trọng ý kiến của tổ tiên.4

Nguyên nhân đưa đến việc thành lập nước Văn Lang:

Vì phải chống nhau với quân Ngô nên các sắc dân trong vùng thành lập Liên Bang mang tên là Việt, tức tinh thần Cầu Tiến (Vượt mọi trở ngại để thăng tiến cùng người) với quốc hiệu là Văn Lang, tức tinh thần Tự Trọng (Hào Hoa, Phong Nhã, Phóng Khoáng và Hào Hiệp) là tôn chỉ phải tiến tới...Thời Đệ Nhất Cộng Hòa thì gọi là Nhân Vị (1962-1963).

 

§  Để tiện việc hành chánh (quản trị đất nước), người thời đó lấy đơn vị là LÀNG thay cho  các Lý, các Buôn, các Sóc ......

§  Vì kết hợp theo tinh thần Dân Chủ Phân Quyền: Lệnh Vua còn thua Lệ Làng nên tổ chức hành chánh của các đơn vị này vẫn để nguyên như cũ. Vì thế nên mới có danh từ Lý Trưởng thay cho Làng Trưởng, Quan Lang thay cho Làng Trưởng.....

§  Cũng vì từ Làng lên thẳng đến Bang nên mới có danh từ Xã Hội; tức các xã hợp lại thành một tiểu bang (nước nhỏ trong một liên bang)...Xã Hội là tiếng Việt, còn Hội-Xã là tiếng Tàu....Mà dân du mục thì làm gì có Xã, có Bang; chúng chỉ có cộng đồng di chuyển theo đàn gia súc mà thôi. Chúng cũng không có văn hóa định cư, chúng chỉ có văn hóa du cư nay đây mai đó của một cộng đồng nhỏ bé.

Trong bài Bình Ngô Đại Cáo, Quốc Sư Nguyễn Trãi đã viết một cách khẳng định là:

Quốc Duy Ngã Đại Việt Chi quốc

Thực vi Văn Hiến Chi Bang

Ý của Ngài muốn nói là dân Việt có nền Văn Hiến Nhân Bản, còn dân Tàu có nền văn Hiến Bắp Thịt của luật rừng, luật biển.

õ

 

THỜI  ĐẠI  TRIỆU ĐÀ

Triệu Đà là Việt hay Tàu ?

Theo sử người Tàu viết, tức kẻ thống trị bóp méo lịch sử của người bị trị thì:

·        Triệu Đà là người Tàu, tướng của Tần Thủy Hoàng đã thống trị dân Việt 71 năm, từ 207BC tới 137BC trong hài hòa (không có bất mãn để sinh ra kháng chiến: Dân Việt chấp nhận nô lệ 1 tên tướng Tàu?).

·        Cũng theo sử đó thì họ lại bảo thời Triệu Đà là thời nước Văn Lang độc lập. Họ nói là nước Văn Lang bị Bắc Thuộc bắt đầu từ 111BC dưới nhà Tây Hán (Lưu Bang).

·        Cũng theo khảo cổ của Bắc Kinh: Năm 2000 sau tây lịch, chánh phủ Bắc Kinh có cho triển lãm ở San Francisco bên Mỹ những vũ khí thời Tần Thủy Hoàng, đặc biệt là 2 ngôi mộ của 2 ông Đế. Một cái là Hán Đế (không nói rõ là ông nào) và một cái Triệu Muội Đế (cháu Triệu Đà). 2 xác chết này đều được bọc bằng Thạch Y.Thạch y là áo bằng đá phủ toàn thây như người ta liệm người chết bằng vải trước khi để vô hòm (quan tài) – coi hình trang đầu.

Thạch Y may bằng các lát đá quý (cẩm thạch) mỏng độ 5mm, có chiều ngang khoảng 20mm và chiều dài khoảng 40mm.

Các lát đá quý được dùi 4 lỗ ở 4 góc và nối kết với nhau bằng dây vàng dành cho Hán Đế và dây lụa tơ tầm dành cho Triệu Muội Đế. Vì dây tơ tầm không chắc bằng dây bằng vàng, nên bên ngoài thạch y của Triệu Muội Đế phải bọc thêm một lớp màng mắt cáo bằng chỉ tơ tầm cho chắc chắn để thạch y khỏi vỡ trong khi di chuyển.

Có lẽ họ làm lại cho giống lúc nguyên thủy, chứ dây vàng hay dây tơ không thể tồn tại lâu như vậy được. Còn 2 cái xác bên trong chắc cũng tiêu luôn vì không phải là xác ướp; đặc biệt là chẳng nhìn thấy mặt mũi chân tay chi cả nên có thể bên trong là người bằng nhựa.

Như vậy rõ ràng là ở thời điểm đó trên mảnh đất Hoa Lục có 2 nước kỳ phùng địch thủ là nước Hán và nước Việt được quản trị bởi 2 ông Hoàng Đế; một ông phía bắc và một ông phía nam....Tức bắc Hán, nam Việt lấy sông Dương Tử làm lằn ranh.

 

·        Vậy thì, ai nói Triệu Đà là người Tàu là người đó ăn nói hàm hồ, không đúng.

Còn nói Triệu Đà là tướng của Tần Thủy Hoàng lại càng phi lý; vì trước khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi (247BC), và trước khi xua quân đi xâm lăng Tràng Sa  Hồ Nam (214BC) thì phía nam sông Dương Tử đã thấy nói về:

1.  Nhâm Ngao và Triệu Đà (có trước năm 260BC) làm chủ vùng Hồ Nam và vùng Lạc Việt.

2.  Thục An dương Vương (257BC) lật đổ được Hùng Vương thứ 18 là nhờ sự tiếp sức của Nhâm Ngao (lúc đó Triệu Đà chưa được 1 tuổi đời –sinh năm 528BC - đảo chánh 527BC)).

3.  Mối tình Trọng Thủy (con Triệu Đà) và Mỵ Châu (con gái Thục An Dương Vương).

Tuy là hoang đường để khuyên con cháu đừng bỏ nước giữ nhà, vì nước mất thì nhà cũng tan, nhưng cũng để hé lộ sự thực là Thục Phán nhờ Nhâm Ngao và Triệu Đà giúp sức để lật đổ Hùng Vương.

Sau đó Triệu Đà (lúc này thì Nhâm Ngao chết rồi; khoảng 211BC) dứt luôn Thục Phán (207BC) và đặt nước là Nam Việt là thế.....

4.  Sử Trần Trọng Kim, trang 32, dòng 25 nói:

 

Vì lời thuyết phục của kẻ thù nên Ngài chịu từ bỏ Đế Hiệu là Triệu Vũ Đế như đã nói ở trên (sau trận đại thắng quân Hán ở Tràng Sa năm 182BC) và vẫy đuôi thần phục Hán Chúa để chịu nhận sắc phong cho một chư hầu.

Lý luận này nghe không lọt tai vì: Một vị anh hùng lẫm liệt, từ tay không dựng nước có ai lại đi nghe kẻ thù nói đôi lời phỉnh gạt mà chịu là đầy tớ cho kẻ thù của mình; nhất là trong khi chính Triệu Đà đánh bại quân Tây Hán ở Tràng Sa, thời Lã hậu (182BC). Oai danh lẫy lừng nên mới tự xưng Đế Hiệu để đem quân từng phạt Tràng An.

·        Vương Hầu là chức vua được Đế phong cho theo chế độ Phong Kiến của nhà Chu.

Sự thực thì vì sợ Triệu Đà thừa thắng xông lên trừng phạt nên quần thần giết Lã Hậu và đưa Thái Tử lên ngôi Hoàng Đế. Ông này xin lỗi những chuyện can qua và xin được hiệp thương như cũ; chứ không phải Triệu Vũ Đế xin thần phục kẻ chiến bại.

·        Nghe sử gia người thần phụ nhà Hán viết chẳng lọt tai tý nào cả.

Trong lời tựa của cuốn Sử Lược thì: Cụ Trần Trọng Kim có nói là lấy tài liệu của Bắc kinh, tuy không đúng lắm nhưng vì nhu cầu lúc đó phải có cuốn Sử Lược để thanh niên nam nữ còn biết mình là ai. Và cụ mong người sau sẽ viết lại cho đúng....

Lưu ý: Dưới thời nô lệ Pháp thì chỉ làm được có thế thôi, và có hợp mắt quan Thực Dân thì mới được in thành sách. Giống như dưới thời Việt Cộng ngày hôm nay nè, có viết láo, dựng đứng nói không thành có, nói có thành không thì mới là con người Cộng Sản; còn nói thẳng nói thật là cặn bã của Tiểu Tư Sản; đi cải tạo tư tưởng để thành tư tưởng tam đại bần cố nông.

·        Vậy người đọc nên thận trọng vì đúng sai lẫn lộn trong cùng một cuốn sách, để ý thì thấy liền, chẳng khó khăn chi cả.

Điểm này phải khai thông thì biết ngay Triệu Đà là ai. .......Điểm này cũng giống như Mỹ dùng nhóm loạn tướng Dương Văn Minh để lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm; sau đó Mỹ thao túng luôn nhóm tướng lãnh bất tài mà lại ham danh vọng để chủ động trong cuộc chiến Việt Nam cho quyền lợi của Nga và Mỹ.

 

Ngoài ra, cũng người Tàu ở Quảng Đông cho biết đã đào được ngôi mộ của Triệu Muội, trong đó thấy các đồ dùng thường nhật khi sống được chôn theo là đồ dùng của sắc dân Lạc Việt, người và ngựa bị chôn sống theo để khi xuống âm phủ còn có cung phi, quần thần để sai khiến.

Điểm này cho thấy các vị Triệu Đế khi sống thì theo nếp sống của người Văn Lang (văn hóa Việt), khi chết thì theo tục lệ người Ngô. Vì người Văn Lang lấy con người làm chính, theo mẫu hệ, bình đẳng bình quyền nên chẳng chôn sống ai cả....kể cả súc vật cũng không bị chôn sống. Đó là văn hóa nhân bản của sắc dân Nông Nghiệp.

Trong khi đó thì người nước Ngô quan niệm sẵn sàng chết cho chủ như trường hợp Chuyên Chư sẵn sàng cảm tử giết vua để Hạp Lư cướp quyền. Hay Yêu Ly tự nguyện để bị chặt tay phải để đựa theo hầu Khánh Kỵ. sau đó thừa cơ cầm dáo đâm chết võ tướng Khánh Kỵ để diệt trừ hậu họa cho Hạp Lư. Người nước Văn Lang không bao giờ hy sinh cho quyền lợi của một cá nhân cả

Ø Từ những yếu tố này chúng ta mới lần ra nguồn gốc Triệu Đà mà không sợ sai lầm.

²

Ngũ Tử Tư làm lịch sử

(#600BC; thời Việt Vương Câu Tiễn, thất quốc tranh hùng, dân chúng điêu linh)

Nước Sở:

Không biết vì lý do gì mà vua nước Sở giết cha và anh của Ngũ Tử Tư, không những vậy còn truy lùng Ngũ Tử Tư để giết luôn. Có lẽ 3 cha con muốn giết vua tiếm vị, mà Ngũ Tử Tư là người chủ xướng. Con người mưu lược ngất trời nhưng không có thế có lẽ nào vua giết nhầm? Do đó Ngũ Tử Tư có mối thù phải giết vua nước Sở. Ông ta tìm mọi cách vượt biên để cõng rắn về cắn gà nhà, rước voi về dày mả tổ.

Nước Ngô (phía đông nước Sở) :

Ngũ Tử Tư vượt biên giới phía bắc, cầu cứu các chư hầu của nhà Chu nhưng không ai nhận lời cả. Ông vòng xuống nước Ngô nhưng vua Ngô cũng từ chối. Cuối cùng ông nghĩ ra mưu giúp Hạp Lư cướp quyền với điều kiện phải kéo quân qua trừng phạt vua Sở và chiếm luôn nước Sở. Hạp Lư đồng ý nên ông lên kế hoạch thi hành.

Hạp Lư là cháu đích tôn của vua Ngô bị cậu em họ cướp quyền nên tìm cách lấy lại với bất cứ giá nào; nay được Ngữ Tử Tư giúp sức thì như gãi đúng chỗ ngứa.

Nguyên nhân như vầy:

Trước khi băng-hà thì ông nội của Hạp Lư có dặn bố Hạp Lư là sau khi mi chết thì phải truyền ngôi cho em, và cứ tiếp nối như thế cho đến cậu em út (người thứ 3) thì thôi.

 

Nghe lời trối trăn của tiên đế, trước khi chết thì bố của Hạp Lư truyền ngôi cho em, cậu này trước khi chết lại truyền ngôi cho cậu em út. Vì cậu em út không nhận với lý do đã lớn tuổi rồi. Thay vì trả lại ngôi cho cháu đích tôn là Hạp Lư thì lại truyền ngôi cho con mình nên xảy ra lắm chuyện. Anh em con chú bác thù hận nhau vì ngôi vua, 2 bên đều biết cả.

Khi làm vua thì bố Hạp Lư ức hiếp Câu Tiễn (lãnh vương vùng Lạc Việt, tức Quảng Đông ngày hôm nay). Câu Tiễn phải tặng 1 con dao găm bằng thép đủ cứng để đâm lũng áo giáp bằng đồng; đó là mầm mống gây ra nhiều chuyện can qua về sau. Khi nhường ngôi cho em thì ông ta trao con dao quý này cho Hạp Lư; về sau Chuyên Chư dùng con dao này đâm lũng áo giáp bằng đồng của vua để giúp Hạp Lư cướp quyền bằng bạo lực.

Ngũ Tử Tư tuyển được Chuyên Chư với nhiệm vụ đâm chết vua ngay trên bàn ăn. Khi đó Hạp Lư dụ vua phái các binh đội đi đánh nơi xa, ở nhà chỉ còn đám lính cận vệ. Lúc này Hạp Lư mới ra tay mời vua đến nhà mình ăn món cá hấp tuyệt vời do đầu bếp Chuyên Chư làm. Tuy nghi, nhưng vì nể tình họ hàng nên vua nhận lời. Khi ăn mặc áo giáp bằng đồng, có đám cận vệ vây quanh, bắt Hạp Lư đứng hầu rượu. Sau đó Hạp Lư xin phép vào trong để bó lại chân đau vì ngã nựa, vua đồng ý.

Hạp Lư ăn món cá hấp thì Chuyên Chư bê cá hấp ra, bên trong giấu một con dao găm được tôi luyện thành thép cứng của Việt Vương Câu Tiễn (vùng Quảng Đông) đem nộp cho bố Hạp Lư.

Đó là một mẻ duy nhất của 5 con dao do Thần luyện hộ. Cớ là ngay sau khi đổ khuôn ở lò ra thì trời mưa to nên dao được tôi thành thép cứng với nồng độ carbone vừa chuẩn.

Nhanh như chớp, Chuyên Chư rút dao ra đâm lũng áo giáp vào thấu tận tim thế là vua chết. Đám vệ sỹ xông lại đâm Chuyên Chư nát nhừ nhưng quá trễ. Thế là Hạp Lư làm đảo chánh ở thủ đô. Trong khi đó võ tướng Khánh Kỵ, thái tử có sức mạnh phi thường thì lại đem quân đi đánh nơi xa; muốn diệt trừ hậu họa nên Ngũ Tử Tư lại phải tìm gặp Yêu Ly và thuyết phục để y nhận lời giúp bằng cách chịu hình phạt chặt tay phải để được xung vào đội cận vệ của Khánh Kỵ.

Vì mắc mưu nên Khánh Kỵ cho Yêu Ly làm cận vệ, chỉ vì Yêu Ly cho nhưng tin chánh xác về Hạp Lư. Một hôm trời nóng mà lại buồn ngủ nên Khánh Kỵ vô ý cho Yêu Ly đứng hầu và cởi trần ra ngủ; chỉ vì thấy Yêu Ly trói gà không chặt hơn nữa lại cụt tay phải nên hớ hênh.

Dịp may hiếm có, Yêu Ly dùng hết sức nặng của tấm thân còm cõi, tay trái cầm dáo đâm thẳng vào tim của Khánh Kỵ....thế là hết hậu họa.

Sau đó, Ngũ Tử Tư còn mời Tôn Vũ (tức Ngô Tôn Tử) về dạy võ để huấn luyện đoàn quân xâm lược. Ngoài ra còn kiếm Bá Hy (người nước Sở) về để lo cho bên quan Văn. Nhờ vậy mà chẳng bao lâu Hạp Lư có một đội quân hùng mạch vô địch nhất trong vùng.

Việt vương Câu Tiễn

 (Lãnh vương vùng Lạc Việt, Quảng Đông một tiểu bang của Liên Bang Việt):

Khi có binh lực hùng hậu mà quanh vùng ai cũng phải sợ. Hạp Lư bèn đánh chiếm một mảnh đất của nước Tề và bắt vua nước Tề phải gả công chúa cho Thái Tử, vì bà con dâu trưởng mới qua đời, để lại đứa con trai là Phù Sai nối nghiệp. Công chúa nước Tề chết vì buồn phiền; thái tử vì quá thương vợ nên mang bệnh và qua đời.

Cuối cùng, Hạp Lư xua quân đánh chiếm nước Sở để trả thù cho Ngũ Tử Tư.

Triều đình nước Sở phải di tản. Vào đến kinh thành thì kẻ thù đã chết, nên Ngũ Tử Tư chỉ còn cách quật mả lên và đánh vào một đống xương mà thôi. Tới đây Hạp Lư (Ngô Hạp Lư) hạ lệnh triệu tập các nước quanh vùng để định chức Bá Chủ và thứ bực các nước theo thể lệ bàu thời đó; sau đó là tiệc uống máu dê để hợp thức hóa phiên họp.

Buổi họp đang gay cấn, chưa định xong vị thế của các nước thì Hạp Lư được mật báo là Câu Tiễn, lãnh vương vùng Lạc Việt đem quân sang đánh phá kinh thành, triều thần phải bỏ chạy di tản vì quân đồn trú không đủ sức chống lại........Lúc này Hạp Lư bắt mọi người phải bàu cho nhanh đặng còn kéo quân về giải cứu. Vừa bàu xong, nước Ngô được giữ chức Bá chủ thì Hạp Lư vội uống xong bát máu dê là phải kéo ngay quân về nước; tuy nhiên còn cố đóng quân ở một mảng đất bien thùy của nước Sở. Lúc này Triều thần cùng hoàng tộc nước Sở mới lục đục hồi cư, nhưng đành chịu mất mảnh đất ở biên giới.

Về đến nơi thì Câu Tiễn đã rút quân về Quảng Đông sau khi phá phách....Hạp Lư kéo quân sang chinh phạt. Nhưng vì đánh gấp, quân mệt nên bị Câu Tiễn chém hụt vào chân làm đứt ngón chân cái nên phải lui binh. Về đến nhà thì chết, Phù Sai đăng quang Hoàng Đế với niên hiệu là Ngô Phù Sai.

Đợi 3 năm, xong khi mãn tang thì kéo quân sang chinh phạt Câu Tiễn và sát nhập luôn vùng Lạc Việt vào nước Ngô........Câu Tiễn thua, nhưng nhờ có Bá Hy can thiệp nên Ngô Phù Sai đồng ý không lấy nước mà chỉ bắt Việt Vương Câu Tiễn sang Ngô làm tù chăn ngựa cho vua.

Trên nguyên tắc thì chỉ một mình Câu Tiễn đi tù thôi; nhưng theo tinh thần liên đới trách nhiệm của dân Việt lúc đó, nên Hoàng Hậu xin đi theo chồng và võ tướng Phạm Lãi cũng xin theo hầu vì sợ Câu Tiễn trẻ người non dạ, dại dột không biết ứng biến. Thế là bộ ba đi chăn ngựa cho nhà vua.

Không biết nghĩ sao mà hôm đó Phù Sai triệu lên để giết. Khi Câu Tiễn đến chầu thì vua mắc bệnh nên cho về. Nhờ Bá Hy cho tin nên mới biết là Phù Sai đã nghe lời Ngũ Tử Tư và quyết định giết, sát nhập luôn vùng Lạc Việt vào nước Ngô. Vì bị bệnh nên tạm cho về, chừng nào khỏi thì sẽ giết sau chưa muộn.

Vua tôi bàn mưu thoát hiểm nhưng chưa ra thì bỗng nhiên Bá Hy tới cho tin tức về bệnh tình nhà vua....Vì Phạm Lãi là thày thuốc nên biết đó là bệnh Thương Hàn, 40 ngày chưa chết thì bệnh sẽ thuyên giảm trong 7 ngày; sau đó dứt bệnh ăn trả bữa thì sức khỏe trở lại như xưa.

Phạm Lãi nghĩ ngay kế đánh vào lòng nhân hậu của Phù Sai nên xúi Câu Tiễn nếm cứt, chẩn bệnh để thoát hiểm. Câu Tiễn gạt đi vì dù sao ta cũng là vua nên không chịu nhục. Phạm Lãi thuyết mãi mới nghe vì nghĩ rằng nhục thì đã có rồi, may ra thoát hiểm thì sẽ báo thù cho đời biết tay.

Hôm sau khi Bá Hy tới thì Câu Tiễn xin được kiến diện để chẩn bệnh, Bá Hy mừng rỡ nên lôi luôn vô kiến diện vua đang nằm trên long sàng (giường của vua).  Thấy mặt Câu Tiễn thì Phù Sai nổi cơn thịnh nộ, quát tháo ầm ầm và toé cứt ra ngơài......Chụp lấy dịp may, Câu Tiễn xin nếm cứt để chẩn bệnh rồi bấm độn ngón tay và quỳ xuống tung hô vạn tuế....Long thể sẽ bình phục trong khoảng mươi ngày vì trong phân có vị chua là chất độc đang thải ra nhiều nên ngày này thì hết bệnh, vị chát mới nhú lên là cơn bệnh sẽ dứt vào ngày này và vị ngọt là long thể sẽ bình phục vào ngày này này....Thế là tạm thoát chết.

Sau đó quả thấy đúng như vậy nên Phù Sai không những tha chết mà còn làm tiệc đãi và phục chức vua cho Câu Tiễn rồi thả về với tình cha con.

Về nước thì Phạm Lãi và Văn Chủng bày mưu lập kế rửa nhục, dạy dân, luyện quân, tích trữ võ khí và lương thực để phục thù. Và 20 năm sau đem quân sang chinh phạt Ngô Phù Sai, lúc này thì ông Phù Sai đã già rồi nên lơ là việc nước. Vì vẫn tôn kính ân đức của Phù Sai nên Câu Tiễn để cho Phù Sai tự sát và sau đó cho hưởng tang lễ theo nghi thức Đế Vương, chôn cất đàng hoàng, lăng tẩm để ở núi Cô Tô.

Để ổn định chánh trị, Câu Tiễn sát nhập nước Ngô vào nước Văn Lang để chấm dứt chiến tranh dai dẳng triền miên, xây dựng hạnh phúc cho dân cả đôi bên nên quyết định:

1.      Trả lại đất cho nước Tề và nước Sở để giữ hòa khí lân bang.

2.      Chia nước Ngô thành 3 vùng là: Mân Việt, Bách Việt và Ngô Việt và sát nhập vào nước Văn Lang nên nước Văn Lang lúc đó lên tới tận sông Dương Tử. Hồ Động Đình thay tên đổi họ vào thời điểm này.

3.      Về chánh trị thì 3 vùng này là 3 tiểu bang mới của Liên Bang Văn Lang, chủ trương Hòa Đồng Sắc Tộc và Hội Nhập Văn Hóa nên lòng dân an bình. Mối thù Ngô Việt chấm dứt và không ai nghĩ đến việc binh đao nữa.

4.      Sai Phạm Lãi và Văn Chủng viết bài Diệt Ngô Đại Cáo bằng bia miệng, dưới dạng huyền thoại Rồng Tiên Khai quốc để nói rõ Việt Giáo (xây dựng con người), Việt Đạo (xây dựng cộng đồng) và Việt Triết để hướng dẫn thế đánh tự vệ chấm dứt hận thù; ngoài ra còn chỉ cách thoát hiểm khi bị nô lệ (tức bửu bối thoát vòng nô lệ bằng câu căn dặn của cha Lạc Long là:

"Chừng nào giặc thù đến cướp phá, chống đỡ không nổi thì gọi Bố ơi về cứu chúng con"

 

Dân chúng 2 nước được an bình trong 300 năm thì nhóm Nhâm Ngao và Triệu Đà làm loạn, đánh chiếm lại nước Ngô và chiếm luôn vùng Lạc Việt (Quảng Đông). Lúc này là triều đại Hùng Vương thứ 18. Đánh xong nhưng chưa dám xưng vương mà chỉ đòi làm vùng tự trị.

Lý do: Nếu xưng vương là khôi phục lại nước Ngô ở thế gọng kìm nên khó sống. Phía nam là nước Văn Lang, phía bắc là nhà Chu, phía tây là nước Sở đang có mối thù do Hạp Lư gây ra. Mà đánh chiếm toàn thể nước Văn Lang thì không đủ sức.

Vì thế nên Nhâm Ngao không xưng Vương hay xưng Đế chi cả; khi chết đi thì Triệu Đà tiếp nối và cũng chưa dám xưng vương vì chưa biết đi đến đâu. Vùng tự trị chỉ là một vùng ly khai của Liên Bang Việt.

·     Theo sử Trần Trọng Kim thì Triệu Đà sinh năm 258BC, năm 207BC ông dứt Thục An Dương Vương thì đã 50 tuổi rồi. Như vậy khi Thục Phán dứt Hùng Vương thứ 18 thì ông mới có 1 tuổi, sinh ở vùng Chiết Giang (vùng Ngô Việt thời đó)

 

Nghĩ nát óc thì Nhâm Ngao mới tìm ra diệu kế là: Xúi và giúp Lãnh Vương vùng Âu Lạc (Quảng Tây) là Thục Phán lật đổ chế độ Dân Chủ Phân quyền để biến thành chế độ Quân Chủ Chuyên Chế; vì Thục Phán là người gốc Văn Lang nên làm được chuyện này. Nghe bùi tai nên Thục Phán ưng thuật với sự giúp sức của Nhâm Ngao (lúc này thì Triệu Đà mới đẻ được 1 tuổi đời) đặt tên nước là Âu Lạc.

·     Chữ Âu Lạc là sự kết hợp của 2 chữ Âu Việt và Lạc Việt. Ngụ ý là từ nay trở đi thì nước Văn Lang được cai trị bởi dân Âu Việt với sự giúp sức của dân Lạc Việt.

·     Vì thế nên Thục Phán mới xây Loa Thành để đề phòng đảo chánh. Vì lòng dân không thuận nên xây đến đâu thì bị phá đến đó. Về sau phải nhờ Nhâm Ngao giúp sức mới xây xong. Đây là ẩn dụ của nỏ thần có móng rùa Thần Kim Quy (cha Lạc Long).

·     Thục Phán dứt Hùng Vương vào năm 257BC, nhưng vẫn nơm nớp sợ Nhâm Ngao tấn công. Vì Loa Thành do người của Nhâm Ngao xây, nên mọi ngõ ngách đều thông thạo.

·     Nhâm Ngao và Triệu Đà chưa dám ra tay là vì phương bắc đang rối ren bởi thất quốc tranh hùng (Đông Chu Liệt Quốc), mà nhà Tần đang lên nên tạm để Thục Phán yên kẻo lấy xong thì mất với nhà Tần.

 

Thế chân vạc:

Lúc này bên Tàu là thời hậu Chu, tình hình loạn lạc liên tục từ mấy trăm năm, dân tình cơ cực. Trong đó có ông cố (bố của ông nội) của Tần Thủy Hoàng dùng chánh sách Ngũ Gia Liên Bảo của Vệ Ửng để nhà vua hùng mạnh, nhưng dân tình đói khổ với chánh sách Công An Trị và kiểm soát dạ dày.....

·     Vệ Ửng là cha đẻ ra học thuyết Cộng Sản, sau này Karl Marx cập nhật hóa với thời đại cơ khí....Lénine hoàn chỉnh để đánh lừa dân Nga, và Mao cũng hoàn chỉnh để đánh lừa dân Tàu.

Khi ông cố chết đi thì Thái Tử (người con nối dõi ngôi vua, tức ông nội Tần Thủy Hoàng) giết Vệ Ửng vì tội làm cho dân nghèo khổ, nhưng của cải của nhà vua thì vẫn giữ nguyên nên Tần Thủy Hoàng mới thống trị được thiên hạ.

Điều bất hạnh là Thái Tử này lại không có con nhưng rất quý bà Hoàng Hậu nên chấp nhận đứa con nuôi của bả, cũng là người hoàng tộc, lên làm Thái Tử (tức là người sẽ nối ngôi). Lợi dụng tình hình để "buôn vua" nên Lã Bất Vi đề nghị hiến vợ bé của mình cho ông này (ông Tần Thủy Hoàng). Ông này nhận và đẻ ra Tần Thủy Hoàng, do đó người ta đồn Tần Thủy Hoàng là con của Lã Bất Vi, thực hư ra sao thì không biết.

Năm 247BC, tức Thục An Dương Vương năm thứ 10 thì ông nội của Tần Thủy Hoàng chết, ông bố Tần Thủy Hoàng lên thay. Lúc này Tần Thủy Hoàng mới có 13 tuổi.

Lã Bất Vi là ân nhân của ông bố Tần Thủy Hoàng nên được lui tới thường xuyên, do đó Lã Bất Vi đầu độc ông này chết bất đắc kỳ tử. Tần Thủy Hoàng lên ngôi và Lã Bất Vi nhiếp chính. Bố của Tần Thủy Hoàng lên ngôi có vài ngày thì lăn ra chết; Lã Bất Vi nhiếp chính.

Đến năm 18 tuổi (242BC) thì Tần Thủy Hoàng lấy lại quyền bính, áp dụng Học Thuyết Vệ Ửng để tạo uy quyền bằng kiểm soát dạ dày và Công An trị. Sẵn có của cha ông để lại nên huấn luyện binh mã đi đánh chư hầu nhà Chu và nước Tề, sau đó sai Chương Đàm đi dánh nước Sở.

Chương Đàm áp dụng binh pháp của Tôn Vũ nên đánh mãi không được vì quân Sở cố thủ theo binh pháp của Phạm Lãi; do đó phải nghỉ dưỡng quân. Trong lúc này nảy ra ý kiến là áp dụng binh pháp Phạm Lãi bằng cách lập những đoàn đặc công gây rối hàng ngũ như chuyền cành như vượn, chạy nhanh như chớp, bơi lội như nhái để tạo thế đánh bất ngờ như: Chọn người có khiếu về leo chèo, tập luyện chuyền cành bằng cách lấy cây đao dài 2 thước, đầu có câu liêm (móc câu) để móc lên cành cây rồi leo lên bằng cây đao; sau đó chuyền cành để đột nhập vào trại lính địch gây hỏa hoạn hoặc lấy tin để bày trận thế.

Ø Chính ông Câu Tiễn đã áp dụng Binh Pháp Phạm Lãi (Việt) để thắng Binh Pháp Tôn Tử (Ngô) mà Ngô Phù sai đã áp dụng. Chúng ta quên nên cứ ca tụng Binh Thư Tôn Tử nghe mà khó chịu làm sao ấy. Đây đúng là tư duy nô dịch cần phải gột bỏ: Bụt nhà không thiêng!

Ø Binh Pháp là cách dụng (dùng) binh, còn Binh Thư là sách viết về Binh Pháp

Nhờ áp dụng binh pháp Phạm Lãi nên tướng Chương Đàm đã đánh tan quân Sở vào năm 221BC. Vì Tần Thủy Hoàng áp dụng học thuyết Vệ Ửng nên phải tiếp tục chiến tranh, ngưng thì chết vì không còn lý do gì để bóc lột người dân nữa. Y chang như ngày hôm nay: Cộng Sản sống nhờ chiến tranh; và chết từ trong chết ra (đột tử).

Vì phải mở rộng chiến tranh nên Tần Thủy Hoàng ký hiệp ước bất tương xâm với Thục An Dương Vương để đánh Nhâm Ngao và Triệu Đà trước rồi sau mới đánh Thục An Dương Vương (coi sử của Phan Huy Chú con Phan Huy Ích ra năm 1820 dưới triều Minh Mạng).

Thế chân vạc

Thục Phán:

Lợi dụng hiệp ưóc bất tương xâm này Thục An Dương Vương cho xây công sự chiến đấu ở biên giới nước Sở, trong tỉnh Quảng Tây ngày hôm nay (theo Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú thì nay vẫn còn di tích, sách viết năm 1820)

Tần Thủy Hoàng:

Kế hoạch tấn công của Tần Thủy Hoàng là đánh gọng kìm. Một cánh quân do Tướng Đồ Thư tiến đánh Tràng Sa thuộc tỉnh Hồ Nam, và một cánh đánh thẳng tiến chiếm Quảng Đông. Sau đó 3 mặt giáp công có thêm cánh quân từ nước Tề kéo xuống tiếp chiến, thì nước Ngô không còn lối thoát

Triệu Đà:

Nhâm Ngao và Triệu Đà áp dụng thế thủ.

-        Bỏ ngỏ Quảng Đông, vì đó là vùng Lạc Việt nên tướng Ngô khó điều động binh sỹ.

-        Dồn toàn lực bảo vệ Tràng Sa để diệt quân Tần. Tràng Sa là thủ phủ của tỉnh Hồ Nam thuộc vùng Bách Việt, phía nam hồ Động Đình. Trận chiến ác liệt xảy ra ở "Ma Thiêng Lãnh"; một địa danh nay vẫn còn.

-        Thắng ở Tràng Sa thì quân Tần ở Quảng Đông sẽ phải lui binh vì tuyệt đường lương.

 

Chiến trận 3 bên: Cuối cùng thì:

1.      Quân của Tần Thủy Hoàng đánh chiếm vùng Quảng Đông dễ như trở bàn tay.

2.      Ở mặt trận Hồ Nam thì tướng Đồ Thư bị chết tại mặt trận. Quân Tần chết như rạ ở "Ma Thiêng Lãnh" nên đành phải lui binh ở mặt trận Hồ Nam, mà sử Hán nói rằng: " Dân chúng ở Tràng Sa bỏ chạy vào rừng, tướng Đồ Thư lâm bệnh chết nên phải lui binh" !!!  chứ không phải bị quân của Nhâm Ngao và Triệu Đà đánh cho đại bại nên phải rút về. Xét như vậy thì trận Tràng Sa ác liệt lắm; và đoàn quân ở Quảng Đông ở trong vùng tử địa nếu Thục Phán hợp lực với Triệu Đà cắt ngang đường tiếp vận. Lúc này thì Nhâm Ngao vừa mới qua đời, chết trận hay không thì chưa biết lý do, và Triệu Đà lên thay.

Vì vậy nên Tần Thủy Hoàng phải tức tốc đi từ Hàm Dương xuống Quảng Đông để thị sát chiến địa và ra chỉ thị cho quân đoàn chiếm đóng ở đó.

Khi tới Quảng Đông thì suýt nữa bị Hạng Võ ám sát, nhưng trên đường về Hàm Dương thì lại bị kháng chiến nước Sở giết chết (210BC).

 

Lợi dụng thời cơ, Hạng Võ hợp với kháng chiến quân Quảng Đông (dân Lạc Việt) tiêu diệt đoàn quân chiếm đóng, giải phóng vùng Lạc Việt. Thừa thắng xông lên giải phóng nước Sở rồi cùng kháng chiến Lưu Bang tiến đánh Hàm Dương. Nhà Tần hoàn toàn sụp đổ vào 2 năm sau cái chết của Tần Thủy Hoàng, tức năm 208BC.

Sau đó, Hạng Võ (vua nước Sở) và Lưu Bang tranh nhau miếng đất nhà Chu cho tới năm 203BC thì Hạng Võ thua và tự sát ở dãy núi Hoài, biên giới với nước Nam Việt của Triệu Đà.

õ

Trở về chuyện Triệu Đà và Thục Phán

Lợi dụng cái chết của Tần Thủy Hoàng (210BC), mặt trận phía Bắc và phía Tây được giải tỏa; Triệu Đà khôi phục lại Quảng Đông (vùng Lạc Việt) rồi tấn chiếm luôn nước Âu Lạc của Thục An Dương Vương vào năm 207BC (tức 3 năm sau cái chết của Tần Thủy Hoàng).

Triệu Đà đặt tên nước là Nam Việt; tức phía nam sông Dương Tử là đất của người Việt. Danh từ này có ý nghĩa chánh trị: Người Ngô hay người Việt đều là một, thuộc sắc dân nông nghiệp, kẻ thù chung là người phương bắc (lúc này chưa có nhà HÁN).

Như trên đã nói là Thục An Dương Vương sau khi dứt Hùng Vương và dứt luôn chế độ Dân Chủ Phân Quyền để thay thế bằng chế độ Quân Chủ Chuyên Chế; nay Triệu Đà muốn thu phục nhân tâm nên:

 

1.      Để chứng tỏ mình là người Việt, Triệu Đà chuyển đô về Phiên Ngung (ở gần Cối Kê của Câu Tiễn) thay vì ở Cô Tô như vua Ngô Phù Sai, .

2.      Thay quốc hiệu Âu Việt thành Nam Việt, có nghĩa là phía nam sông Dương Tử là đất của người Việt.

3.      Thay thể chế Quân Chủ Chuyên Chế bằng thể chế Quân Chủ Phân Quyền; nghĩa là vùng nào thì quan lại ở vùng đó lo việc cho dân, theo đường lối Quân Chủ Đại Nghị. Vì thế nên người dân không bất mãn, không còn loạn lạc nữa.

4.      Nếp sống cung đình và dân gian thì áp dụng phương thức Văn Hóa Hội Nhập. Cung Đình sống theo nếp sống của dân Lạc Việt. Đây là đường lối chánh trị của Câu Tiễn áp dụng cho nước Ngô, và đây cũng là đường lối chánh trị của vua Lê Thánh Tôn áp dụng cho nước Chàm sau khi sáp nhập nước Chàm vào Liên Bang Việt bằng chánh sách:

a.      Hòa đồng các sắc tộc để chung sống trong an bình, khác với sự chung sống hòa bình gượng gạo của khối Cộng Sản, rình rình sơ hở rồi dùng võ lực tiêu diệt đối phương như Tết Mậu Thân năm 1968.

b.      Hội nhập văn hóa của các sắc tộc sống trên mảnh đất Việt...ai có tài thì lên lãnh đạo Liên Bang Việt.

w

NGUỒN  GỐC DANH XƯNG TÀU VÀ XẨM

LƯU BANG:

Lưu Bang là con nhà hèn, thất học nhưng rất thông Minh và mưu lưc. Lợi dụng lúc rối ren thì nổi lên ra tay anh hùng cứu thế nhưng tài hèn sức mọn, lộc trời chưa tới nên chỉ cù cưa chống lại Tần Thủy Hoàng chứ chưa làm nên cơm cháo gì cả.

Ông sinh sống trong đất nhà Chu nên gọi là thần dân nhà Chu. Không biết ông thuộc vùng Phong Kiến nào và Lãnh Chúa là ai, chức tước ra sao thì cũng chẳng cần biết; nhưng ông đã tiếp tay Hạng Võ để lật ngược thế cờ: Hạng Võ diệt nhà Tần để Lưu Bang phỗng tay trên là nhờ có người tài về chánh trị giúp sức. Trong khi đó thì chánh trị gia là Hạng Lương (chú ruột Hạng Võ) chẳng may chết trận nên ông không nghe lời khuyên của Phạm Tăng vì cho lời khuyên này là hành động của kẻ tiểu nhân. Vì thế trúng kế Lưu Bang và bị xơi tái.

HẠNG VÕ: Hạng Võ là người nước Sở thuộc dòng dõi quý tộc có khiếu về võ công. Khi nước Sở bị tướng Chương Đàm của Tần Thủy Hoàng dùng binh pháp của Phạm Lãi (người Lạc Việt) thôn tính thì cả dòng họ Võ chạy qua Quảng Đông để tỵ nạn khoảng 220BC (lúc này thì Quảng Đông thuộc Nhâm Ngao có Triệu Đà phụ giúp).

Khi Tần Thủy Hoàng đi thị sát mặt trận ở Quảng Đông (210BC) thì Hạng Võ tính nhảy ra ám sát nhưng Hạng Lương cản được nên chuyện không bị lộ. Sau đó trên đường về lại Hàm Dương thì bị kháng chiến nước Sở giết chết. Nhận được tin này thì Hạng Võ giúp kháng chiến Quảng Đông giết quân của Tần Thủy Hoàng ở đó, rồi về giải phóng nước Sở và lên ngôi vua vào năm 209BC.

Lợi dụng Hạng Võ rút đi thì Triệu Đà tái chiếm Quảng Đông rồi dứt luôn Thục An Dương Vương vào năm 207BC và đặt quốc hiệu là Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung như đã nói ở trên. Lúc này Triệu Đà đã 50 tuổi rồi, có lẽ Thục An Dương Vương cũng gần bát tuần (gần 80)

Sau khi ổn định nước Sở thì quân của Hạng Võ mà cố vấn là Hạng Lương có Phạm Tăng phụ giúp, đã quyết định phá tan nhà Tần để diệt trừ hậu họa, và luôn thể thôn tính luôn đất nhà Chu vào năm 208BC. Vì thấy mình là ngoại chủng, không có chánh nghĩa nên đã bàn nhau hợp lực với các nhóm kháng cự, trong đó có quân của Lưu Bang là mạnh hơn cả. Lúc đầu lấy danh nghĩa diệt bạo an dân, nhưng đêm hôm đó, giặc phá trại và Hạng Lương bị giết trong khi đang ngủ vì quá chén.  Hạng Võ không đủ sức thay thế nên giết bừa những phần tử nghi là chống đối. Cuối cùng Hạng Võ nhờ sự giúp sức của các nhóm kháng chiến địa phương đã thành công. Vì đất nước quá rộng mà tài thì không đủ nên cho lệnh đốt cung đình Hàm Dương và tàn sát lương dân nên gây oán gây thù và tạo chánh nghĩa cho Lưu Bang (chánh trị non nên thua mưu kẻ thù).

Lượng thấy ở lại không yên, hơn nữa chính sự nước Sở chưa ổn định xong nên Hạng Võ quyết định rút quân về Sở, nhưng vẫn sợ Lưu Bang gây hậu họa, do đó mới phong cho mỗi vị tướng quân khu một chức sắc như dưới thời nhà Chu vậy.

Hạng Võ bỏ tước Công, Hầu, Bá, Tử, Khanh của nhà Chu mà phong chức tước đồng đều là VƯƠNG. Ông phong cho Lưu Bang miếng đất cằn cỗi là Thiểm Tây ngày hôm nay với chức HÁN VƯƠNG, với ý định lưu đầy ông ta ở đó. Còn những vị Tướng khác thì phong cho đất màu mỡ để kìm chân Lưu Bang ở trong rừng.

Năm 207BC Hạng Võ rút quân về nước Sở thì năm sau 206BC Lưu Bang dấy nghiệp đánh các lãnh chúa khác, thâu tóm đất nhà Chu, rồi dứt luôn Sở Vương là Hạng Võ vào năm 203BC.

Sau đó Lưu Bang (Hán Cao Tổ) xin giao thương với nước Nam Việt của Triệu Đà để phát tiển kinh tế....Hai bên rất cánh hẩu và hiếu hòa, nhân dân 2 miền đều có hạnh phúc cả.

DANH  TỪ  GÂY  HẤN

Lúc này chưa có danh từ Nam Di, Bắc Rợ, Tây Quỷ; Hán tộc, Trung Hoa (trung tâm tinh hoa của vũ trụ), Trung Nguyên (đất chính giữa) và cũng chưa có sách lược trị quốc ngoài việc tôn Khổng Tử làm thánh với thuyết thiên mệnh để tạo uy tín cho mình từ tên vô loại sang minh chúa (giống như Hồ Chí Minh vậy)....Vì bị lột mặt nạ nên Lưu Bang cho viết thuyết Hán Nho để thay Khổng Nho, nhưng vẫn giữ thuyết Thiên Mệnh. Nho là đạo học làm người, tức khoa học Nhân Văn ngày hôm nay vậy.

 

Do đó Triệu Đà cũng chưa sáng tạo ra danh từ thằng Tàu (ngố) và mụ xẩm (lòa, xâm xẩm tối nhìn đường không rõ)...Những danh từ gây hấn này là do mụ vợ Lưu Bang là người họ Lã (Lữ) với chức vợ vua (Lã Hậu) nhiếp chánh khi chồng chết. Vì thế nên mới có mối thù không đội trời chung giữa người Tàu và người Việt; và chiến tranh triền miên là thế. Nó chỉ chấm dứt khi người Tàu thay đổi não trạng kẻ Cả mà thôi..

·     Hoàng Hậu là người sau vua, tức vợ vua. Hoàng là Vua, Hậu là nguời quan trọng thứ nhì. Lã Hậu là vợ vua thuộc dòng họ Lã.

·     Dân Việt lấy màu vàng của lụa tơ tầm làm sắc thái dân tộc. Đến triều nhà Lý (sử Trần Trọng Kim) thì vua ra chiếu chỉ: Màu vàng dành cho gia tộc nhà vua, vì thế chữ Hoàng Tộc, Hoàng Hậu, Hoàng Đế …. Là những danh từ độc quyền của tộc họ nhà vua.

²

Đến năm 195BC thì Lưu Bang lăn ra chết, Lã Hậu nhốt con (tức Thái Tử) vào tù và nhiếp chính. Vì quần thần bất phục, nội chính bất an nên y thị tạo ra chiến tranh để giết những người chống đối và đẩy họ ra ngoài trận tuyến vào năm 183BC. Trước khi tung quân thì mụ đẻ ra cái quyền đi khai phóng cho các nước lân bang nên mới phát minh ra danh từ Trung Hoa, Nam Di, Bắc Rợ và Tây Quỷ như đã nói ở trên.

Triệu Đà thì gọi chúng là Tàu, chữ Tàu chỉ dành riêng cho Bạo Chúa, cn người dân thì đã có cái ên là: Thần dân nhà Hán, tức người dân thần phục nhà Hán. Về sau ngôn từ lộn xộn nên nay chúng ta gọi chung người Tàu là người ở phía bắc nước Việt Nam; nhưng họ lại tự nhận là người HOA....Trung Hoa là danh từ chung có nghĩa là nơi của những người Văn Minh nhất cư ngụ. Vậy thì ngày nay Trung Hoa là người Mỹ chứ đâu phải người Tàu!

²

Người Nhật chia người Hoa làm 2 loại: Thống trị và bị trị; còn người Việt chúng ta, vì hận thù nên gom chung vào làm một nên đôi khi: Ông nói gà thì bà lại tưởng là vịt.

Vậy thì xin định nghĩa lại cho rõ:

Ø  Người Trung Hoa là người có gốc ở lưu vực sông Hoàng Hà (tức là thần dân nhà Chu khi xưa) để chỉ giai cấp thống trị hiện nay (người Việt gọi là Tàu, họ tự gọi là Hoa).

Ø  Người Hoa Lục là thần dân bị trị sống trên lục địa Trung Hoa. Nhóm này được chia thành những thần dân như sau: (Thần dân là người dân phục tùng kẻ thống trị)

P Thần dân sống ở phía nam sông Dương Tử (tức Việt và Sở) được gọi là dân Hoa Nam hay Giang Nam, họ dịch sang tiếng Pháp là La Chine du Sud. Hoa Nam hay Giang Nam là người Hoa sống ở phía nam sông Dương Tử.

P Chữ CHINE hay CHINA là phiên âm của chữ T'sin (TẦN). Bên Tàu họ đọc TẦN (Thủy Hoàng) là QIN.Chữ Q học là CHờ; tức CHIN (viết theo chữ ROMAIN là T'sin)

P Thần dân sống phía bắc Vạn Lý Trường Thành được gọi là Mông (Mông Cổ tức nội mông: Rợ Hồ) và Mãn (Mãn Thanh: Rợ Kim)

P Thần dân sống ở phía tây là Ngô Cát Nhĩ (tức Tân Cương có nghĩa là biên giới mới, nay Mao đổi thành Tây Cương là biên giới ở phía tây) và Tây Tạng (có nghĩa là ruột gan của Bắc Kinh để ở đó; lục phủ, ngũ tạng) nay Việt Cộng bắt chước nên gọi người Việt hải ngoại tỵ nạn Việt Cộng là khúc ruột vạn dặm để chỉ những người chống Cộng bỏ nước ra đi.

Danh từ Tàu và tầu

Chữ Tàu phát xuất từ năm 182BC, còn chữ tầu để chỉ văn minh cơ khí, có vào năm 1802 như tầu thủy, tầu hỏa, tầu chiến, tầu bay, tầu bò, tầu điện....Khi trước chỉ có thuyền và xe mà thôi; không có chữ tầu...Nay ta viết lộn 2 chữ làm một nên không rõ nghĩa. Người Tàu và cái tầu khác nhau.

²

Quay lại lịch sử:

Năm 183BC Lã Hậu cướp quyền của con (tức Thái Tử, người kế vị cha) và bắt buộc phải tìm chiến tranh để được tồn tại.

Bất ngờ y thị tung quân đánh Triệu Đà ở Hồ Nam. Đang giao thương tốt đẹp, kinh tế phồn thịnh, dân 2 bên cánh hẩu nên không phòng bị, do đó bị thua đậm.

Vì thế nên phải lui binh, tiêu thổ để nhân lực và tài lực không lọt vào tay giặc, và cưỡng bách di dân để sửa sang lại phòng tuyến.

Năm sau 182BC, Triệu Việt Vương (tức Triệu Đà) lấy quân ở Châu Khâm và Châu Liêm (tức Quảng Tây và Quảng Đông) để tái chiếm. Quân Việt hùng mạnh nên thắng trận ờ Tràng Sa (thủ phủ Hồ Nam), quân Lã Hậu thua chạy thoát thân.

Năm sau 181BC, Lã Hậu tung quân phục thù nhưng thua to.

 

Hệ quả của chiến dịch này:

1.  Triệu Vũ Vương đổi niên hiệu thành Triệu Vũ Đế, sửa soạn binh mã sang đánh Tràng An và thâu tóm nước Tàu.

2.  Lã Hậu bị ám sát trong cuộc đảo chánh để đưa Thái Tử lên ngôi, tức HÁN Thái Tôn; sự thực là Lưu Thái Tôn.

3.  Hán Thái Tông xin giao hiếu như xưa, Triệu Vũ Đế không muốn can qua nên đồng ý.

4.  Từ đó: Các danh từ trịch thượng như Trung Hoa, Trung Nguyên, Bắc Rợ, Tây Quỷ, Nam Di đều bị xóa sạch vì là kẻ bại trận. Nhưng danh từ TÀU (NGỐ) và XẨM (LÒA) là danh từ trừng phạt của lịch sử nên còn giữ đến ngày hôm nay; đó là danh từ của người chiến thắng tặng cho kẻ chiến bại. Vào năm 1911 ông Tôn Văn (Quảng Đông) lập ra Trung Hoa Dân Quốc Đảng nên danh từ trịch thượng lại tái xuất và phịa ra danh từ Hán Tộc thay cho Hán Dân.

 

Xét vậy thì:

Sử gia nhà Hán viết tào lao nói rằng: Triệu Đà là Tướng của Tần Thủy Hoàng sai đi đánh dân Nam Di rồi lập thành nước Nam Việt. Về sau vẫy đuôi phục tùng Hán Chúa. Thật là đại ngoa không có cơ sở như vùng lưỡi bò ngày hôm nay vậy. Đúng là cha nào thì con nấy.

·        Nói mà không biết nghĩ: Nếu quả thực Triệu Đà là tướng của Tần Thủy Hoàng thì nhà Hán là kẻ thù của nhà Tần nên tỳ tướng Triệu Đà phải tiêu diệt nhà Hán.

·        Hơn nữa Triệu Đà đã đánh bại quân của Lã Hậu ở Tràng Sa - Hồ Nam vào năm 182BC; vậy thì mắc mớ chi phải quẫy đuôi quy phục Hán Chúa là kẻ bại trận?

·        Có bao giờ người chiến thắng lại đi quy phục kẻ chiến bại không?

Lời bàn:

P Miêu tộc là người sống về nông nghiệp ở phía nam sông Dương Tử. Miêu có nghĩa là Mễ, tức ngũ cốc (nghề nông, ngũ cốc là 5 loại có tinh bột để nuôi sống con người như ngô, khoai, sắn, gạo, đậu). Người Tàu phát âm Miêu thành Man, người Việt nhái lại thành Mán. Người Man ở phương nam nên chữ Nam Di biến thành chữ Man Di, mọi rợ.

P Nếu Triệu Đà là Tướng của Tần Thủy Hoàng thì Hán Đế là kẻ thù cần phải thanh toán chứ sao lại vẫy đuôi phục tùng được?

P Một người tay không từ phương bắc đã xuống phương nam, khai khẩn đất hoang lập thành một nước hùng mạnh thì chẳng phục tùng ai hết. Ngay như Từ Hải còn nói: Hàng thần lơ láo phận mình ra sao?

P Triệu Đà đã thắng quân nhà Hán một cách oai hùng (182BC), cải danh  Triệu Việt Vương sang Triệu Vũ Đế và sửa soạn sang Tràng An hỏi tội nhà Tây Hán, thì làm gì có chuyện vẫy đuôi về hàng kẻ bại trận là Hán Chúa? (sử Trần Trọng Kim sao y bản chánh của Bắc Kinh, không có suy luận).

 

TÓM  LƯỢC  LỊCH  SỬ

1.      Triệu Đà không phải là tướng của Tần Thủy Hoàng mà là kẻ thù của Tần Thủy Hoàng. Vì ông ta đã đánh tan quân xâm lược nhà Tần ở Ma Thiêng Lãnh, do tướng Đồ Thư chỉ huy,  thuộc Hồ Nam (vùng Bách Việt khi xưa) nay vẫn còn di tích.

2.      Khoảng 600BC, lãnh vương vùng Lạc Việt (Quảng Đông ngày hôm nay) đánh tan quân của Ngô Phù Sai và sát nhập nước Ngô vào nước Văn Lang; rồi chia làm 3 tiểu bang là:

a.       Mân Việt là người Việt ở sông Mân (vùng Thiều Châu, thủ phủ là tỉnh Phúc Kiến).

b.       Ngô Việt là người Việt gốc Ngô (vùng chiết giang ngày hôm nay)

c.       Bách Việt là người Việt ở vùng Hồ Động Đình nơi Lạc Long và Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, nở trăm con. Đây là bài Diệt Ngô Đại Cáo làm bằng bia miệng vì lúc đó chưa có giấy để viết.

3.      Khoảng #300BC Nhâm Ngao là người Ngô gốc Việt ở vùng Chiết Giang khởi binh đánh chiếm 4 vùng là: Ngô Việt, Bách Việt, Mân Việt và Lạc Việt nhưng chưa xưng vương vì còn muốn thâu tóm toàn thể nước Văn Lang nên phải tạo thời cơ thuận tiện.

4.      Triệu Đà sinh năm 258BC, gốc người Chiết Giang; lúc Nhâm Ngao nổi lên kháng chiến (#300BC) thì Triệu Đà chưa đẻ.

5.      Theo kế hoạch thì phải triệt Hùng Vương trước, tạo dựng chánh nghĩa rồi mới thâu tóm Văn Lang sau. Đó là kế hoạch 2 bước.

6.      Nhâm Ngao giúp Thục Phán, lãnh vương Âu Việt (tức Quảng Tây ngày hôm nay) lật đổi Hùng Vương và đổi quốc hiệu Văn Lang thành Âu Lạc, thiết lập chế độ Quân Chủ Chuyên Chế (257BC). Nhâm Ngao chết sau trận Tràng Sa (213BC), Triệu Đà lên thay.

7.      Triệu Đà Dứt Thục An Dương Vương vào năm 207BC, đổi quốc hiệu Âu lạc thành Nam Việt, thiết lập thể chế Quân Chủ ĐẠI NGHỊ (vua chỉ là người hợp thức quyết định của quần thần. Nay ta gọi là tập thể chỉ huy, cá nhân phụ trách. Dân vùng nào thì quan lại người vùng đó).

 

KINH NGHIỆM ĐÁNG HỌC

Mỹ đã áp dụng chánh trị 2 bước này: Trước hết là nhờ tay các loạn tướng phe Dương Văn Minh hạ bệ Tổng Thống Ngô Đình Diệm; sau đó Mỹ hất cẳng các loạn tướng này đi và trực tiếp điều khiển từ chánh trị đến quân sự ở miền nam Việt Nam. Kẻ nào nghe lời thì tồn tại, còn chống đối thì đi làm Đại Sứ Lưu Động, hoặc bị ám sát trên chiến trường như Tướng Đỗ Cao Trí...Chúng ta nên rút kinh nghiệm bài học lịch sử này.

1.      Triệu Đà đã đánh tan quân của Tần Thủy Hoàng do Tướng Đồ Thư cầm đầu ở Tràng Sa, thủ phủ của vùng Hồ Nam (vùng Bách Việt), uy danh lẫy lừng nên không thể là tướng của nhà Tần được.

2.      Triệu Đà đã đánh tan quân xâm lược của Lã Hậu ở Hồ Nam năm 182BC, danh lên như diều, cải danh hiệu từ Triệu Vũ Vương sang Triệu Vũ Đế; sửa soạn binh mã sang đánh tận sào huyệt nhà Tây Hán ở Tràng An.

3.      Kế hoạch phục thù này đã làm triều thần nhà Hán sợ run nên phải đồng thanh ám sát Lã Hậu, phục chức cho Thái Tử lên ngôi Hán Thái Tôn để xin giao hiếu như cũ.

4.      Vì lòng nhân hậu, muốn cho 2 dân tộc được sống trong an bình nên Triệu Đà bãi binh. Nhưng vẫn chứng nào tật nấy, cha nào con nấy; chuyện cầu hòa chỉ là xảo tráo đề tái xâm lăng....giống Lưu Bang xin cầu hòa với Hạng Võ vậy.

Vì thế cho nên 71 năm sau (tức 111BC), Hán Chúa lại kéo binh qua xâm lấn. Nhưng lòng trời không tựa: Kinh thành Tràng An bỏ ngỏ nên Mãng Vương cướp quyền; do đó phải kéo quân về để khôi phục lại Triều Đại nhà Hán......Đó là Nhữ Đẳng hành Khan Thủ Bại Hư (Lý Thường Kiệt).

Hai bên đánh nhau liên tục cho tới 135 năm sau (tới năm thứ 34 sau tây lịch) con cháu  mới khôi phục được giang sơn và chuyển đô về Lạc Dương nên gọi là nhà Đông Hán. Lúc đó đặt niên hiệu là Kiến Võ....Kiến là xây dựng (kiến thiết) và Võ là sức mạnh. Kiến Võ có nghĩa là dùng sức mạnh để lấy lại quyền lãnh đạo...Bố để mất thì con cháu phải lấy lại bằng bạo lực.

 

KẾT  LUẬN

Đến đây thì chúng ta có thể nói được rằng Triệu Đà là người Việt gốc Ngô.

Ông là một nhà chánh trị tài ba xuất chúng, một chiến lược gia tài giỏi và là một nhà lãnh đạo nghĩ đến hạnh phúc của người dân của cả đôi bên, thích xây dựng hòa bình hơn tìm kiếm chiến tranh. Vì thế nên dưới triều đại của ông dân tình hài hòa. Chỉ vì ông thực lòng thương dân yêu nước nên mới áp dụng chánh sách Hoà Đồng Sắc Tộc và Hội Nhập Văn Hóa của tất cả mọi sắc dân.

P Há chẳng phải là điều đáng học hỏi hay sao?

 

Xét lại lịch sử thì chánh sách hòa đổng sắc tộc và hội nhập văn hóa để có cuộc sống hài hòa đã tương được áp dụng trong thời:

1.      Hùng Vương dựng nước, biến Liên Bang Việt thành chủng tộc Việt.

2.      Dưới thời Câu Tiễn (#600BC) sát nhập ngước Ngô vào liên bang Việt.

3.      Dưới thời Triệu Đà với chế độ Quân Chủ Đại Nghị.

4.      Dưới thời vua Lê Thánh Tôn (1471AD) sát nhập nước Chàm vào nước Việt.

5.      Dưới thời Tây Sơn đã thống nhất tuyệt hảo lòng người đàng trong và đàng ngoài sau hơn 200 chia cắt với trên 10 trận đánh khốc liệt, tiêu hủy 1 triệu sinh linh làm cho tiềm năng dân tộc bị suy giảm đến khánh kiệt.

Nay chúng ta phải thay đổi nảo trạng (tư duy) ra sao để tránh vấn đề xung khắc sắc tộc và hận thù phe nhóm do Việt Cộng gây ra để làm tiêu diệt tiềm năng của dân ta? Đây là công việc làm của thế hệ trẻ ngày hôm nay, chủ nhân ông thực sự của đất nước trong tương lai.

Ø  Câu hỏi được đặt ra là làm sao để hòa đồng dân tộc cho có nếp sống hài hòa?

--------------------------------

sơ đồ : Thay Đổi Nếp Sống

cập nhật theo văn minh khoa học, tụt hậu là tiêu vong

(vòng xoáy đi lên ; mỗi nấc thang là 1 lần thay đổi cách sống)

Thiết kế: Hoàng Đức Phương

Paris  28/5/2008



·         Chính tay mình vẽ lại sơ đồ này 5 lần cho nhập tâm thì bài học mới có kết quả tốt.

Theo sơ đồ này thì ta thấy rằng: Xã hội loài người thăng tiến không ngừng là do phát minh khoa học, không phát triển sẽ tiêu vong.

Ø Sáng chế ra cái mới thì không bao giờ ngừng và đủ cả.

Vì thế nên chúng ta cần phải hiểu rõ rằng: Sơ đồ thay đổi nếp sống là một vòng xoáy đi lên, nếu theo không kịp thì sẽ bị tụt hậu và tiêu vong theo luật đào thải bất biến.

·         Khi nắm vững sự phát triển không ngưng nghỉ của khoa học rồi thì chúng ta mới có thể đưa ra học thuyết thoát hiểm để tiến bằng người được. Không biết là đấu võ mù!

·         Nếp sống là tiếng Việt,Văn Hóa là tiếng Tàu, danh từ của ông Phạm Quỳnh vào thập niên 1930. 

·         Mỗi tầng là một thời đại mới đi từ: Mung-lung, biết cách dùng lửa, đồ gốm, đồng đồng, đồ sắt, đồ thép, kỹ nghệ, nguyên tử và nay là thời điện tử thì dân ta lại sống thụt lùi trong thời kỳ đồ đểu, lừa lọc, dối trá, điêu ngoa, ….….cái giá phải trả là : Thế giới coi khinh!

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil