vendredi 16 août 2024

T11 – Quy luật xương hô

T11 – Quy luật xương hô, ngày giảng 18.12.2020

Livestream trên Facebook Nỗi Niềm Quê Hương

soạn giả: Hoàng Đức Phương

 

TRƯỜNG HỢP THÔNG THƯỜNG

A/- Đối với người trong họ

1)-Tuổi tác cân xứng:

Tuổi tác cân xứng thì bắt buộc phải theo cách xưng hô trực ý. Nghĩa là vai-vế ở đâu thi xưng hô ở đó.  Còn bé thì gọi nhau bằng anh xưng em hay chị xưng em. Nhưng khi lớn lên, ở tuổi có con cái thì hô thay cho con mình. Nhưng xưng thì xưng theo vai vế của chính mình.

ü  Tỷ dụ: Người anh kêu người em ruột là em xưng anh khi chưa lập gia đình. Đến khi thành gia thất thì gọi nhau thay cho con mình. Lúc đó người anh gọi em mình bằng Chú (tức là chú của con tôi) và xưng là anh hay tôi. Còn người em thì gọi anh mình là Bác xưng em (chứ không phải là tôi), nếu xưng tôi là hỗn, chơi trèo. Còn người chị lúc đó kêu em mình là Cậu và xưng chị hay tôi.

Khi có gia thất, vì trọng con mình nên cha mẹ gọi thay cháu và xưng là tôi. Ngày xưa còn lấy tên của cháu đích tôn để gọi cho bố mẹ.

ü  Đây là trường hợp trọng con mình khi nó đã có địa vị trong xã hội. Vợ chồng lúc này không gọi nhau bằng Mình với Ta, hay Anh với Em nữa mà gọi nhau bằng Bố Nó, Mẹ Nó và xưng là Tôi, chứ không phải Ta. Chữ Mình thì đi với chữ Ta là ngang nhau, Còn chữ Bố, Mẹ mà đi với Ta là trịch thượng.

2)-Tuổi tác quá chênh lệch:

Trường hợp này bắt buộc phải gọi thay cho con, là vì như trên đã nói là bố mẹ đôi lúc lấy tên con làm tên mình. Vậy thì đây là một điều tế nhị trong cách xưng hô trong xã hội Việt. Vẫn trọng người đối thoại, mà vẫn giữ được thể diện về tuổi tác của mình.

 

B/- Đối với người ngoài:

Đối với người ngoài thì tùy theo tình cảm mình dành cho họ, cộng với tuổi tác và chức vụ hay vị thế (học hàm) của họ trong xã hội mà đặt họ cho đúng chỗ vai-vế trong gia đình.

ü  Cách xưng hô này không cố định; tùy theo môi trường mà áp dụng.

 

1/- Đối với Thày học:

Thày ở đây là sư phụ, tức ông Thày dạy ta đạo làm người (Việt Học). Còn người dạy nghề thì gọi là sư huynh (tức là đàn anh)... Ngày hôm nay chúng ta chỉ có Sư Huynh dạy nghề thôi; còn sư phụ dạy về khoa nhân văn Việt Tộc thì không thể nhờ người ngoại chủng được.

Ø  Con dân đất Việt vì bất hạnh dưới thời nô lệ tư tưởng, nên bị cấm không được học môn này từ thời Gia Long (1802); và môn này được thay thế bằng nền giáo dục Vọng Ngoại để chấp nhận nô lệ - coi chương trình giáo dục dưới thời Pháp thuộc và Việt Cộng thì rõ

Vai vế người Thày:

Thày là người giữ chức vụ dạy ta nên người, như vậy phải ngang với bố mình. Vì thế nên gọi Thày xưng con. Khi xưa chỉ có đàn ông mới giữ chức vụ làm Thày, vì vậy nên Vợ của Thày thì gọi là Cô; nghiã là em gái (tinh thần) của bố mình.

Ngày nay người đàn bà cũng giữ chức vụ dạy ta nên người nên gọi luôn là Cô, hay là Cô Giáo. Lúc khởi thủy thì chữ Giáo chỉ có nghĩa là dạy cách học làm người (ở đây là người Việt). Ngày hôm nay chữ Giáo bị lạm dụng.

ü  Vì vậy nên hô chức Thày hay Cô thì phải xưng là con, chứ không phải là cháu. Thày và Cô là Bố và Mẹ về tinh thần của mình. Còn Bố và Mẹ ruột (hay đẻ) thì chỉ có một thôi, nên không ai có thể thay thế ngôi vị đó được.

Trường hợp học viên ít tuổi, đáng tuổi con cái thì không có vấn đề chi cả. Nay tuổi tác bất tương xứng thì phải gọi khác đi; miễn sao vẫn trọng Thày, trọng Cô mà vẫn giữ được tư thế của mình.

 

2)-Trường hợp thân tình:

Nghiã là người ngoài mà mình dành cho họ tình cảm gia đình.

Theo mẫu hệ thì đặt họ vào bên Mẹ thì quý hơn là đặt vào bên Bố. Tức là cho người ta vị thế là Cậu, là Dì hay là Bác.

ü  Nếu để người ta vào vai Cậu hay Dì của con mình thì phải xưng là Tôi hay là Chị là Anh. Vì lúc này mình ở vai Bố Mẹ, cùng hàng với họ nhưng vai trên.

ü  Còn để người ta vào vị thế Bác của con mình thì phải xưng là Em hay tôi. Còn gọi cho chính mình thì phải xưng là cháu, thân hơn thì xưng là con.

 

3)- Trường hợp gia nhân:

Người giúp việc trong nhà gọi con của ông bà chủ.

·        Đứng về tuổi tác thì bà ta ngang hàng với Bố Mẹ cô hay cậu chủ.

·        Nhưng về học vấn thì bà ta chỉ đáng làm học trò thôi.

Về cách Hô thì gọi là Cô, là Chú (tức em của bố mình, hay bố của con mình) hay là Cậu là Dì, nhưng phải xưng là Cháu hay Con. Tức gọi theo giá trị tâm linh (sự hiểu biết).

w

TRƯỜNG HỢP ĐẶC THÙ

Bố và Mẹ thì bất khả thay thế

Vai vế của Bố và Mẹ thì không ai có thể thay thế được. Do đó nếu không phải là bố mẹ ruột (đẻ) thì phải gọi khác đi như là Thày và U, Chú và Thím hay Dượng và Dì, nay gọi là Tonton hay Tata; tức là giảm thân tình máu mủ đi một bậc.

Vì thế cho nên:

1.      Khi Mẹ chết, Bố đi lấy vợ khác (gọi là tục huyền. Tục huyền là tiếng Tàu, có nghiã là nối lại giây đàn đã đứt), thì các con gọi người vợ kế của bố bằng Dì và xưng là Con. Có nghiã là bà chỉ bằng vai em của mẹ tôi thôi. Thay vì xưng bằng Cháu thì xưng bằng Con cho gần hơn. Nếu bà vợ kế cay-nghiệt thì lúc đó gọi là Dì Ghẻ. Chữ ghẻ có nghiã là lạnh lùng.

·    Nếu người vợ sau không cưới, tức là sống chung bồ bịch hay vợ hai.... thì các con gọi người này bằng Chị và xưng là Tôi. Có nghĩa là bà chỉ ngang vai với chị cả của chúng tôi thôi. Nhưng đối với các con cùng cha khác mẹ thì vẫn gọi là các em, như em ruột của mình vậy. Không có danh từ em nửa vời (demi frère) như Âu Tây, sở dĩ khác là vì những đứa nhỏ này ăn theo dòng Bố nên được thăng chức.

2.      Còn nếu Bố chết, Mẹ đi lấy chồng thì gọi là tái giá. Tái là trở lại, giá là lấy chồng (tiếng Tàu). Thì các con gọi ông chồng mới này bằng Dượng và xưng Con, nếu không thân thì xưng là Tôi. Vai-vế Dượng của ông ta thì không thể bỏ đi được.

Sở dĩ gọi bằng Dượng là vì lúc đó mẹ mình bị hạ xuống một bậc thành Dì, tức là em gái của mẹ. Chồng của Dì thì gọi bằng Dượng.

 

Tái giá: Con cái cùng Mẹ khác Cha, nếu thân thiết thì gọi nhau bằng anh (hay chị) và em, còn không thì gọi nhau là Anh (hay Chị) với Tôi. Cách xưng hô này là quyền của con cái, bà mẹ không có quyền bắt chúng phải gọi thế này hay thế khác.

Ghi chú:

Tái giá là tiếng Việt,

Coi bộ luật Hồng Đức (1470) thì rõ: Người vợ góa được quyền tái giá sau 3 năm tang chế, vì lúc đó bà có thể mang thai nên phải đợi sinh nở và nuôi nấng đứa bé cho dọng-dẽo rồi trao lại cho nhà chồng để bước thêm bước nữa.

Người Tàu không có danh từ này vì họ cho rằng cưới xin là một cuộc mua bán, nàng dâu thuộc nhà chồng như một dụng cụ vậy – coi chuyện Tàu thì rõ: Gái chánh chuyên chỉ có 1 chồng; chồng chết thì ở vậy nuôi con. Trong khi đó thì người dàn ông được quyền 5 thê bảy thiếp mới sang, chỉ vì các bà là cái máy đẻ nên mới có tục bó chân thành tàn phế để chồng nuôi.

 

Tục huyền: Ngược lại khi bố tục huyền thì con vợ trước không có quyền coi con bà kế là người ngoài được. Nhưng nếu là con bà hai hay vợ theo thì người con có quyền khước từ mà người Bố không có quyền ngăn cản.                                                                               

Tại sao lễ giáo dân Việt lại như vậy? Theo Mẫu Hệ thì đáng lý phải trọng bên Mẹ hơn bên Bố mới đúng. Cách xưng hô định sẵn như trên được giải-thích như sau:

·        Vì dân ta theo mẫu hệ nên một đôi vợ chồng chỉ có 2 người thôi. Người thứ 3 là người không chính thức. Ngang vai với Bồ Bịch nên không thuộc gia đình, do đó cách xưng hô có khác.

·        Cái khác biệt này là tùy các con thuộc 2 phe tự quyết định lấy, Bố hay Mẹ không có quyền bắt chúng nó phải gọi nhau như thế này hay thế kia được. Chính Bố hay Mẹ đã đi trái phong tục lễ giáo của dân Việt nên không còn quyền gì đối với các con trong vấn đề giao-tế với nhau nữa. Chúng thương nhau thì tốt, còn không thì cũng đành chịu.

·        Theo điển tích của Tàu thì vợ chồng là đàn căng dây, dây đứt là vợ chết nên phải thay dây khác.

TRƯỜNG HỢP BIẾN DẠNG

Đây là trường hợp đặc biệt, bắt buộc phải dùng đến chức vụ trong xã hội, hay giao tế trong cộng đồng để nói một cách chung chung hợp với tất cả mọi người.

 

A/- Phép xướng danh (trước đám đông):

Xưng thay cho tập thể hay dùng chính tên mình để xưng.

Trường hợp một giáo sư về âm-nhạc lên trình diễn trên sân khấu. Ở dưới cử tọa đủ mọi thành phần, Già có, Trẻ có, Nam có, Nữ có, Thày có mà học trò của giáo sư cũng có.

·        Về cách hô cho một cộng đồng đa dạng thì dễ. Có thể dùng chữ quý vị, hay toàn thể khán thính giả hay đồng bào thân mến. Đó là hô theo vị-thế.

·        Còn xưng thì không có vai-vế nào hợp cả. Tức là xưng Tôi, Em, Chị, Con, Cháu đều không tiện cả. Vậy thì bắt buộc phải xưng tên, nghĩa là nói thay cho người vắng mặt.

 

Tỷ dụ: Giáo sư có danh hiệu là Xuân Sắc, thành lập ban nhạc là Trâu Đen trong hội Bông Lan chẳng hạn, thì lúc đó bà ta có thể nói: " Kính thưa quý vị, Xuân Sắc xin cống hiến nhạc phẩm .. hay là ban nhạc Trâu Đen xin hiến quý vị... hay là hội Bông Lan xin giới thiệu với quý vị nhạc phẩm.... do ban nhạc Trâu Đen trình diễn.

 

B/- Phép Quân Giai (trong quân ngũ):

Vì nhu cầu kỷ-luật gây sức mạnh, lệnh trên thì phải thi hành nên những người trong quân đội vẫn gọi nhau theo cấp bực. Đây là xưng hô theo đẳng trật Quân Giai trong gia đình Binh Lực. Có trên có dưới hẳn hoi, nhưng trên dưới theo cấp bậc (tức học hàm) chứ không theo tuổi tác.

 

C/- Phép Vong Niên (nấc thang tinh thần):

Vì nhu cầu sinh hoạt và đã thề sống chết có nhau nên những người trong gia đình tinh-thần sau đây gọi nhau bằng danh xưng của ý chí:

·        Những người trong cùng một tổ chức chính trị, hay đấu tranh vẫn gọi nhau theo lý tưởng chung của tổ chức như là đồng chí, chiến hữu,....... như vậy là gạt bỏ tuổi tác và vai-vế ra ngoài. Đây là tinh thần bình đẳng, ai cũng giống nhau theo giá trị tinh thần. Tất cả đoàn viên đều thuộc cùng một gia đình; đó là gia đình dấn thân cho hạnh phúc của dân tộc, và họ đã thề nguyện sống chết có nhau.

w

TRƯỜNG HỢP NGOẠI  LỆ

Nhà, Mày, Tao hay Tớ

Khi nói về Vợ hay Chồng, vì tế nhị nên người ta hay dùng chữ NHÀ để thay thế cho người mà mình muốn nói. Chữ NHÀ có nghiã là người ăn nằm cùng mâm, cùng giường cùng chiếu với nhau trong cùng một mái nhà.

Tỷ dụ:

        Thưa Bác NHÀ cháu đi vắng rồi. Có nghiã là Vợ cháu (hay Chồng cháu) đi vắng.

        Thay vì nói Vợ anh ấy đẹp lắm thì nói: Nhà anh ấy đẹp lắm. 

        Cô ấy có chồng giàu thì nói: Nhà cô ấy giàu lắm; khác với nhà (gia đình) cô ấy giàu lắm, tức bố mẹ cô ấy giàu lắm chứ không phải ông chồng giàu.

Ø  Để tránh sự hiểu nhầm, khi viết thì phải viết hoa chữ Nhà. Khi người ta nói thì phải chú ý xem họ nói về vấn-đề gì.

 

·        Thân thiết: Dùng chữ Tao với Mày hay Đằng Ấy với Tớ

Chữ Tao hay Tớ thuộc ngôi thứ nhất (Xưng). Chữ Mày thuộc ngôi thứ hai (Hô).

Danh xưng Mày/Tao để bày tỏ tình thân-mật giữa bạn bè (ngang vai) hay giữa vai trên với vai dưới.

Đôi lúc danh xưng này còn bày tỏ sự bất bình với nhau; nếu không phải là danh xưng thường dùng với nhau.

¨

 

Chúng ta chỉ có một cách xưng hô chính là vai vế trong gia đình. Hoặc theo liên hệ gia đình, hoặc theo tình cảm riêng tư, hoặc theo tuổi tác, hoặc theo kiến thức, hoặc theo đẳng trật, hoặc theo lý tưởng.                                     

Vấn đề khó là tự mình phải định vai-vế của người và của mình cho đúng chỗ. Và nên nhớ rằng: 

"Vai-vế xưng hô thay đổi tùy theo môi trường sinh hoạt. Cũng người đó lúc thì gọi là Anh xưng Tôi hay Em, khi thì gọi là Bác xưng Cháu, lúc thì lại gọi là Ông xưng Tôi".

 

KẾT  LUẬN

Tỷ dụ: 

Hai người Nam Nữ ở 2 lứa tuổi khác nhau, chênh nhau tới 20 tuổi đời. Nhưng ở trong quân ngũ (hay cùng một tổ-chức Chính-Trị) cùng đẳng cấp nên gọi nhau là Anh (hay Chị) với Tôi hay là Em.

·        Nhưng khi ra ngoài, Vợ người ta lại là Bác mình, không lý gọi vợ người ta là Bác xưng Cháu mà gọi người ta là Anh xưng Tôi (hay Em) thì không được.

·        Đến khi em mình lại là học trò của người ta, cậu em thì gọi là Thày xưng Con thì lúc đó bắt buộc mình phải gọi là Ông (hay Thày) xưng Tôi thì mới tiện.

------------------------------------------------

 

Phần THAM LUẬN

Góp ý với giảng viên :

Người ta thường nói là cách xưng hô trong xã-hội Việt rất là phức-tạp; rườm-rà chứ không đơn giản như các dân tộc khác. Sự thực thì đây lại là sự tế-nhị và tôn kính lẫn nhau trong cách giao-tế của con người Việt. Vì không biết rõ ý nghĩa cùng cội nguồn của cách xưng hô này từ đâu mà ra nên ta tưởng là nhiêu khê.

·        Vì lý do này nên Ban Học Vụ của nhóm Nhân Văn Việt Tộc ở Paris mới soạn bài giáo khoa này để chúng ta nắm vững ý niệm về sự tôn kính lẫn nhau trong cách xưng hô mà thế giới không ai có cả.

Từ đó chúng ta mới giảng giải cho thế hệ sinh đẻ nơi nước người biết đến những tinh hoa của nền văn hóa Việt thì chúng mới biết đường bảo vệ bản sắc dân tộc để không trở thành kẻ ăn bám xã hội tiếp cư. Thế hệ này mất gốc là lỗi ở cha mẹ không biết dạy chúng.

Khi không biết tại sao lại xưng hô như vậy thì thấy ngượng-ngùng, e-dè vì sợ vô lễ; nhưng khi biết rồi thì lại thấy hãnh diện về nếp sống tâm linh của dân Việt: Sao lại tế nhị như vậy.…. Sự thực thì không khó. Khó vì ta không hiểu nguyên do từ đâu tới nên ngỡ-ngàng, còn hiểu rồi thì thấy rất là dễ.

 

Nguồn gốc và nguyên tắc xưng hô:

Dân Việt có một cách xưng hô chính bắt nguồn từ câu chuyện Rồng Tiên khai quốc, 100 trứng 100 con được viết thành văn vào thời điểm #600BC.

 

Lúc đó, lãnh Vương vùng Lạc Việt (tức Quảng Đông ngày hôm nay) tên là Câu Tiễn đã phục thù giết vua Ngô là Phù Sai, sau đó hội nhập nước Ngô vào liên bang Việt rồi đổi Quốc Hiệu thành nước BÁCH VIỆT, và sai 2 ông Phạm Lãi (Lạc Tướng nay ta gọi là Quan Võ) và Văn Chủng (Quan Văn, thời đó gọi là Lạc Hầu) viết chuyện Rồng Tiên để nói lên nguồn gốc của dân Ngô và dân Việt là anh em ruột thịt, chớ đánh nhau. Chữ Đồng Bào chỉ dân Ngô và dân Việt cùng một gốc Nông Nghiệp. Kẻ thù chính của chúng ta là bọn nhà Chu bên phía bắc con sông Dưong Tử Giang đang nghấp nghé thôn tính dân nông nghiệp nè.

Chữ Đồng Bào (cùng một bọc mẹ mà ra) là chỉ dân Ngô và dân Việt.

Chữ Bách Việt là 100 giống Việt chứ không phải 100 nc Việt

Chữ Hồ Động Đình được cải danh theo nhu cầu của câu chuyện

Các vùng đất được thay tên đổi họ cho phù hợp với câu chuyện là : Bách Việt (Hồ Nam ngày nay), Mân Viêt (nay là Thiều Châu) và Ngô Vệt (nay là Chiết Giang)

Giang sơn của dân Bách Việt là nước Ngô và nước Việt, sau này Triệu Đà gọi là Nam Việt (đất phía nam con sông Dương Tử là đất của dân Bách Việt.

 

Ca dao : Bàu ơi thương lấy Bí cùng, tuy rng khác giống nhưng chung một giàn phát xuất từ đây, ý nói Ngô và Việt tuy khc nhau nhưng phải dựa vào vùng đât Nam Việt mà sống, còn không thì sẽ bị Nhà Chu giết như chúng đã tàn sát con cháu Đế Nghi

Cách xưng hô theo vai vế Gia Đình bắt nguồn từ đây…. Đây là một kế sách chánh trị

 

Thực dân Pháp chơi xỏ, muốn hạ nhục nên bảo Bộ Lạc là Tribut. Thực ra Tribut là Tù, Chef de Tribu là Tù Trưởng. Rõ ràng : BỘ là vùng, Lạc là an vui ; cách tổ chức có Lạc Vương, Lạc Hầu và Lạc Tướng : Hai bên Văn Võ rõ ràng.

Ở đây chúng ta chỉ giảng thích việc áp dụng cách xưng hô độc đáo này vào từng trường hợp một :

·         Đó là cách xưng hô trong gia đình, theo vai-vế.

Ø  Xưng là tự cho mình một chỗ đứng trong đại gia đình (chứ không phải gia tộc).

Ø  là cho người đối thoại một chỗ đứng trong cùng đại gia đình đó.

 

Xưng thì bắt buộc phải xưng cho chính mình, chứ không thể nói thay cho người khác được. Tuy nhiên trong trường hợp khó khăn thì có thể nói thay cho bút hiệu, danh xưng hay tên của tổ chức, hội đoàn. Tức là ta xưng thay cho người vắng mặt; mà người vắng mặt đó có thể lại là chính ta.

 

Hô thì có thể nói thay cho người khác được, nhưng bắt buộc phải là người có vai-vế thấp hơn ta, hay ngang vai với ta là cùng. Tức là Hô thay cho con, cho cháu hay cho em, chứ không được quyền Hô thay cho Anh Chị hay cho Cha Mẹ; như vậy là hỗn láo, xấc xược, vô lễ và sẽ bị chỉnh ngay lập tức.

 

Cách Xưng và Hô được phân định theo 3 tiêu-chuẩn sau đây:

TUỔI TÁC ; TÌNH CẢM ; KIẾN THỨC (về Nhân Văn Việt Tộc) 

Cái khó là làm sao dung hoà được 3 yếu tố đó với nhau trong trường hợp xung khắc rõ rệt.

Tỷ dụ: Một bà 50 tuổi thất học nói chuyện với một cậu Tiến sỹ 20 tuổi trong tình cảm thân thuộc. Đứng về tuổi tác thì bà ta bằng vai mẹ cậu; nhưng đứng về học vấn thì bà ta chưa xứng đáng làm học trò của cậu….. Còn về chức vụ ngoài đời thì bà ta thua xa, thuộc loại bán hàng rong ngoài chợ chẳng hạn. Xưng hô làm sao để thấy mình vẫn trọng cậu Tiến Sỹ, nhưng vẫn giữ được vai-vế tuổi-tác của mình. Cái đó tưởng là bất bình đẳng, rườm-rà....nhưng sự thực thì dễ ợt.

Để có cái nhìn tổng quát thì trước hết phải học thuộc lòng các vai-vế trong gia-đình cái đã, như nhận diện các chữ cái và các dấu của chữ Quốc-Ngữ vậy – coi sơ đồ vai vế gia đình. Phải tự tay vẽ sơ-đồ vai-vế gia đình ít nhất là 5 lần cho nhập tâm. Sau đó mới học nguyên tắc đặt mình và người đối-thoại với mình vào đúng vị-trí của mỗi người trong gia đình.

·        Phải thuộc lòng để đừng lộn bên nội với bên ngoại, vai trên với vai dưới, trai với gái, dâu với rể.

1.      Chữ viết trong khung là vai-vế của người đó đối với hàng con cháu. Các em thuộc hàng con cháu (thế hệ thứ 3).

2.      Viết đậm là người cùng huyết thống, còn gạch đít là người ngoài nhưng do kết duyên mà thành người nhà; gọi chung chung là thông gia.

3.      Chữ viết ngoài khung là vai-vế của người đó đối với hàng Bố Mẹ, cùng máu-mủ thì gọi là ruột thịt; còn do cưới gả mà ra thì gọi là dâu hay rể. Thuộc bên Vợ hay bên Chồng thì thêm chữ Vợ hay chữ Chồng vô.

Bình thường thì người ta chỉ hô vai-vế chính và bỏ chữ Nội Ngoại, Dâu Rể hay Vợ Chồng đi.

 

Khi xưa Vợ Chồng gọi nhau bằng Mình với Tôi. Chữ Mình có nghĩa là thân thể của một người: Mình Mảy, Chân Tay. Coi nhau như một phần thân thể của mình vậy.

·        Thiết nghĩ vợ chồng gọi nhau bằng Mình với Ta thì không có gì có thể khăng-khít và thắm thiết hơn.

 

Trong sơ-đồ ghi theo tư-tưởng của người xưa quan-niệm là Trời thì tròn, Đất thì vuông (theo quan niệm về kinh dịch).

·        Chữ KINH DỊCH có nghĩa là Nguyên Lý Căn Bản của sự biến hóa vạn vật, xuất phát từ nghề Nông. Còn diễn giải (tức soán truyện) thì do Khổng Khâu thêm vô để giải thích thuyết Thiên Mệnh của ông ta.

·        Kinh là nguyên lý bất biến thiên nhiên , còn Dịch là thay đổi (tức biến hóa).

·        Lý là lý lẽ của một cá nhân hay một nhóm thì nói có thể sai; nhưng đã gọi là KINH thì không bao giờ sai cả.

 

Cha thì tượng trưng cho Trời, còn Mẹ thì tượng trưng cho Đất. Trời che Đất chở. Công Cha như núi Thái Sơn, nghĩa Mẹ như nước trong Nguồn chảy ra.

 

Người Tàu theo Phụ-hệ, tức lấy Cha làm chính. Bên Nội gần hơn bên Ngoại. Nội có nghĩa là bên Trong tộc họ; còn Ngoại có nghĩa là bên Ngoài tộc họ. Do đó họ nói tình nghĩa Phu Thê, Phu là Chồng; Thê là Vợ. Phu Thê là tiếng Tàu.

 

Còn người Việt theo Mẫu-hệ, tức là lấy bên Mẹ làm chính. Bên Ngoại lại gần hơn bên Nội. Do đó dân Việt vẫn nói:

·        Vợ Chồng như đũa có đôi, hay thuận Vợ thuận Chồng thì tát bể Đông cũng cạn.

 

Rõ-ràng bà Vợ đi trước, ông Chồng đi sau, chứ không có chuyện Chồng Chúa Vợ Tôi như người Tàu. Người Tàu thì Phu xướng Phụ tùng, tức Chồng nói thì Vợ phải nghe; như vậy thì làm gì có chuyện thuận vợ thuận chồng.

·        Rõ ràng nếp sống của dân Việt trái ngược với nếp sống của dân dân Tàu....Phong tục Bắc Nam có khác (Bình Ngô Đại Cáo của Quốc Sư Nguyễn Trãi)

 

-         Trong sơ-đồ vai-vế thì: Gạch nối để chỉ liện hệ ruột thịt, gạch chấm để chỉ thông gia.

-         Khung đơn để chỉ ruột thịt, còn khung kép để chỉ do cưới gả mà thành người trong nhà.

-         (coi tiếp T12)

¨

 

 

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil