T11 – Quy luật xương hô
T11 – Quy luật xương hô, ngày giảng 18.12.2020
Livestream trên Facebook Nỗi Niềm Quê Hương
soạn giả: Hoàng Đức Phương
TRƯỜNG HỢP THÔNG THƯỜNG
A/- Đối với người
trong họ
1)-Tuổi tác cân
xứng:
Tuổi tác cân xứng thì bắt buộc phải theo cách xưng hô
trực ý. Nghĩa là vai-vế ở đâu thi xưng hô ở đó.
Còn bé thì gọi nhau bằng anh xưng em hay chị xưng em. Nhưng khi lớn lên,
ở tuổi có con cái thì hô thay cho con mình. Nhưng xưng thì xưng theo vai vế của
chính mình.
ü Tỷ dụ: Người anh kêu người em ruột là em xưng anh khi chưa lập
gia đình. Đến khi thành gia thất thì gọi nhau thay cho con mình. Lúc đó người
anh gọi em mình bằng Chú (tức là chú của con tôi) và xưng là anh hay tôi. Còn
người em thì gọi anh mình là Bác xưng em (chứ không phải là tôi), nếu xưng tôi
là hỗn, chơi trèo. Còn người chị lúc đó kêu em mình là Cậu và xưng chị hay tôi.
Khi có gia thất, vì trọng con mình nên cha mẹ gọi thay
cháu và xưng là tôi. Ngày xưa còn lấy tên của cháu đích tôn để gọi cho bố mẹ.
ü Đây là trường hợp trọng con mình khi nó đã có địa vị
trong xã hội. Vợ chồng lúc này không gọi nhau bằng Mình với Ta, hay Anh với Em
nữa mà gọi nhau bằng Bố Nó, Mẹ Nó và xưng là Tôi, chứ không phải Ta. Chữ Mình
thì đi với chữ Ta là ngang nhau, Còn chữ Bố, Mẹ mà đi với Ta là trịch thượng.
2)-Tuổi tác quá
chênh lệch:
Trường hợp này bắt buộc phải gọi thay cho con, là vì
như trên đã nói là bố mẹ đôi lúc lấy tên con làm tên mình. Vậy thì đây là một
điều tế nhị trong cách xưng hô trong xã hội Việt. Vẫn trọng người đối thoại, mà
vẫn giữ được thể diện về tuổi tác của mình.
B/- Đối với người ngoài:
Đối với người ngoài thì tùy theo tình cảm mình dành
cho họ, cộng với tuổi tác và chức vụ hay vị thế (học hàm) của họ trong xã hội
mà đặt họ cho đúng chỗ vai-vế trong gia đình.
ü Cách xưng hô này không cố định; tùy theo môi trường mà
áp dụng.
1/- Đối với Thày
học:
Thày ở đây là sư phụ, tức ông Thày dạy ta đạo làm người
(Việt Học). Còn người dạy nghề thì gọi là sư huynh (tức là đàn anh)... Ngày hôm
nay chúng ta chỉ có Sư Huynh dạy nghề thôi; còn sư phụ dạy về khoa nhân văn Việt
Tộc thì không thể nhờ người ngoại chủng được.
Ø Con dân đất Việt vì bất hạnh dưới thời nô lệ tư tưởng,
nên bị cấm không được học môn này từ thời Gia Long (1802); và môn này được thay
thế bằng nền giáo dục Vọng Ngoại để chấp nhận nô lệ - coi chương trình giáo dục
dưới thời Pháp thuộc và Việt Cộng thì rõ
Vai vế người
Thày:
Thày là người giữ chức vụ dạy ta nên người, như vậy phải
ngang với bố mình. Vì thế nên gọi Thày xưng con. Khi xưa chỉ có đàn ông mới giữ
chức vụ làm Thày, vì vậy nên Vợ của Thày thì gọi là Cô; nghiã là em gái (tinh
thần) của bố mình.
Ngày nay người đàn bà cũng giữ chức vụ dạy ta nên người
nên gọi luôn là Cô, hay là Cô Giáo. Lúc khởi thủy thì chữ Giáo chỉ có nghĩa là
dạy cách học làm người (ở đây là người Việt). Ngày hôm nay chữ Giáo bị lạm dụng.
ü Vì vậy nên hô chức
Thày hay Cô thì phải xưng là con, chứ không phải là cháu. Thày và Cô là Bố và Mẹ
về tinh thần của mình. Còn Bố và Mẹ ruột (hay đẻ) thì chỉ có một thôi, nên
không ai có thể thay thế ngôi vị đó được.
Trường hợp học
viên ít tuổi, đáng tuổi con cái thì không có vấn đề chi cả. Nay tuổi tác bất
tương xứng thì phải gọi khác đi; miễn sao vẫn trọng Thày, trọng Cô mà vẫn giữ
được tư thế của mình.
2)-Trường hợp thân tình:
Nghiã là người
ngoài mà mình dành cho họ tình cảm gia đình.
Theo mẫu hệ thì
đặt họ vào bên Mẹ thì quý hơn là đặt vào bên Bố. Tức là cho người ta vị thế là
Cậu, là Dì hay là Bác.
ü Nếu để người ta
vào vai Cậu hay Dì của con mình thì phải xưng là Tôi hay là Chị là Anh. Vì lúc
này mình ở vai Bố Mẹ, cùng hàng với họ nhưng vai trên.
ü Còn để người ta
vào vị thế Bác của con mình thì phải xưng là Em hay tôi. Còn gọi cho chính mình
thì phải xưng là cháu, thân hơn thì xưng là con.
3)- Trường hợp gia nhân:
Người giúp việc
trong nhà gọi con của ông bà chủ.
·
Đứng
về tuổi tác thì bà ta ngang hàng với Bố Mẹ cô hay cậu chủ.
·
Nhưng
về học vấn thì bà ta chỉ đáng làm học trò thôi.
Về cách Hô thì gọi
là Cô, là Chú (tức em của bố mình, hay bố của con mình) hay là Cậu là Dì, nhưng
phải xưng là Cháu hay Con. Tức gọi theo giá trị tâm linh (sự hiểu biết).
w
TRƯỜNG
HỢP ĐẶC THÙ
Bố và Mẹ thì bất khả thay thế
Vai vế của Bố và
Mẹ thì không ai có thể thay thế được. Do đó nếu không phải là bố mẹ ruột (đẻ)
thì phải gọi khác đi như là Thày và U, Chú và Thím hay Dượng và Dì, nay gọi là
Tonton hay Tata; tức là giảm thân tình máu mủ đi một bậc.
Vì thế cho nên:
1.
Khi
Mẹ chết, Bố đi lấy vợ khác (gọi là tục huyền. Tục huyền là tiếng Tàu, có nghiã
là nối lại giây đàn đã đứt), thì các con gọi người vợ kế của bố bằng Dì và xưng
là Con. Có nghiã là bà chỉ bằng vai em của mẹ tôi thôi. Thay vì xưng bằng Cháu
thì xưng bằng Con cho gần hơn. Nếu bà vợ kế cay-nghiệt thì lúc đó gọi là Dì Ghẻ.
Chữ ghẻ có nghiã là lạnh lùng.
· Nếu người vợ sau
không cưới, tức là sống chung bồ bịch hay vợ hai.... thì các con gọi người này
bằng Chị và xưng là Tôi. Có nghĩa là bà chỉ ngang vai với chị cả của chúng tôi
thôi. Nhưng đối với các con cùng cha khác mẹ thì vẫn gọi là các em, như em ruột
của mình vậy. Không có danh từ em nửa vời
(demi frère) như Âu Tây, sở dĩ khác là vì những đứa nhỏ này ăn theo dòng Bố nên
được thăng chức.
2.
Còn
nếu Bố chết, Mẹ đi lấy chồng thì gọi là tái giá. Tái là trở lại, giá là lấy chồng
(tiếng Tàu). Thì các con gọi ông chồng mới này bằng Dượng và xưng Con, nếu
không thân thì xưng là Tôi. Vai-vế Dượng của ông ta thì không thể bỏ đi được.
Sở dĩ gọi bằng
Dượng là vì lúc đó mẹ mình bị hạ xuống một bậc thành Dì, tức là em gái của mẹ.
Chồng của Dì thì gọi bằng Dượng.
Tái giá: Con cái cùng Mẹ khác Cha, nếu thân thiết
thì gọi nhau bằng anh (hay chị) và em, còn không thì gọi nhau là Anh (hay Chị)
với Tôi. Cách xưng hô này là quyền của con cái, bà mẹ không có quyền bắt chúng
phải gọi thế này hay thế khác.
Ghi chú:
Tái giá là tiếng Việt,
Coi bộ luật Hồng
Đức (1470) thì rõ: Người vợ góa được quyền tái giá sau 3 năm tang chế, vì lúc
đó bà có thể mang thai nên phải đợi sinh nở và nuôi nấng đứa bé cho dọng-dẽo rồi
trao lại cho nhà chồng để bước thêm bước nữa.
Người Tàu không
có danh từ này vì họ cho rằng cưới xin là một cuộc mua bán, nàng dâu thuộc nhà
chồng như một dụng cụ vậy – coi chuyện Tàu thì rõ: Gái chánh chuyên chỉ có 1 chồng;
chồng chết thì ở vậy nuôi con. Trong khi đó thì người dàn ông được quyền 5 thê
bảy thiếp mới sang, chỉ vì các bà là cái máy đẻ nên mới có tục bó chân thành
tàn phế để chồng nuôi.
Tục huyền: Ngược lại khi bố
tục huyền thì con vợ trước không có quyền coi con bà kế là người ngoài được.
Nhưng nếu là con bà hai hay vợ theo thì người con có quyền khước từ mà người Bố
không có quyền ngăn cản.
Tại sao lễ giáo
dân Việt lại như vậy? Theo Mẫu Hệ thì đáng lý phải trọng bên Mẹ hơn bên Bố mới
đúng. Cách xưng hô định sẵn như trên được giải-thích như sau:
·
Vì
dân ta theo mẫu hệ nên một đôi vợ chồng chỉ có 2 người thôi. Người thứ 3 là người
không chính thức. Ngang vai với Bồ Bịch nên không thuộc gia đình, do đó cách
xưng hô có khác.
·
Cái
khác biệt này là tùy các con thuộc 2 phe tự quyết định lấy, Bố hay Mẹ không có
quyền bắt chúng nó phải gọi nhau như thế này hay thế kia được. Chính Bố hay Mẹ
đã đi trái phong tục lễ giáo của dân Việt nên không còn quyền gì đối với các
con trong vấn đề giao-tế với nhau nữa. Chúng thương nhau thì tốt, còn không thì
cũng đành chịu.
·
Theo
điển tích của Tàu thì vợ chồng là đàn căng dây, dây đứt là vợ chết nên phải
thay dây khác.
TRƯỜNG HỢP BIẾN DẠNG
Đây
là trường hợp đặc biệt, bắt buộc phải dùng đến chức vụ trong xã hội, hay giao tế
trong cộng đồng để nói một cách chung chung hợp với tất cả mọi người.
A/- Phép xướng
danh (trước đám
đông):
Xưng
thay cho tập thể hay dùng chính tên mình để xưng.
Trường
hợp một giáo sư về âm-nhạc lên trình diễn trên sân khấu. Ở dưới cử tọa đủ mọi
thành phần, Già có, Trẻ có, Nam có, Nữ có, Thày có mà học trò của giáo sư cũng
có.
·
Về
cách hô cho một cộng đồng đa dạng thì dễ. Có thể dùng chữ quý vị, hay toàn thể
khán thính giả hay đồng bào thân mến. Đó là hô theo vị-thế.
·
Còn
xưng thì không có vai-vế nào hợp cả. Tức là xưng Tôi, Em, Chị, Con, Cháu đều
không tiện cả. Vậy thì bắt buộc phải xưng tên, nghĩa là nói thay cho người vắng
mặt.
Tỷ dụ: Giáo sư có danh
hiệu là Xuân Sắc, thành lập ban nhạc
là Trâu Đen trong hội Bông Lan chẳng hạn, thì lúc đó
bà ta có thể nói: " Kính thưa quý vị, Xuân Sắc xin cống hiến nhạc phẩm ..
hay là ban nhạc Trâu Đen xin hiến quý vị... hay là hội Bông Lan xin giới thiệu
với quý vị nhạc phẩm.... do ban nhạc Trâu Đen trình diễn.
B/- Phép Quân
Giai (trong quân
ngũ):
Vì
nhu cầu kỷ-luật gây sức mạnh, lệnh trên thì phải thi hành nên những người trong
quân đội vẫn gọi nhau theo cấp bực. Đây là xưng hô theo đẳng trật Quân Giai
trong gia đình Binh Lực. Có trên có dưới hẳn hoi, nhưng trên dưới theo cấp bậc
(tức học hàm) chứ không theo tuổi tác.
C/- Phép Vong Niên (nấc thang tinh
thần):
Vì nhu cầu sinh hoạt và đã thề sống chết có nhau nên
những người trong gia đình tinh-thần sau đây gọi nhau bằng danh xưng của ý chí:
·
Những người
trong cùng một tổ chức chính trị, hay đấu tranh vẫn gọi nhau theo lý tưởng
chung của tổ chức như là đồng chí, chiến hữu,....... như vậy là gạt bỏ tuổi tác
và vai-vế ra ngoài. Đây là tinh thần bình đẳng, ai cũng giống nhau theo giá trị
tinh thần. Tất cả đoàn viên đều thuộc cùng một gia đình; đó là gia đình dấn
thân cho hạnh phúc của dân tộc, và họ đã thề nguyện sống chết có nhau.
w
TRƯỜNG HỢP NGOẠI
LỆ
Nhà, Mày, Tao
hay Tớ
Khi
nói về Vợ hay Chồng, vì tế nhị nên người ta hay dùng chữ NHÀ để thay thế cho
người mà mình muốn nói. Chữ NHÀ có nghiã là người ăn nằm cùng mâm, cùng giường
cùng chiếu với nhau trong cùng một mái nhà.
Tỷ dụ:
–
Thưa
Bác NHÀ cháu đi vắng rồi. Có nghiã là Vợ cháu (hay Chồng cháu) đi vắng.
–
Thay
vì nói Vợ anh ấy đẹp lắm thì nói: Nhà anh ấy đẹp lắm.
–
Cô
ấy có chồng giàu thì nói: Nhà cô ấy giàu lắm; khác với nhà (gia đình) cô ấy
giàu lắm, tức bố mẹ cô ấy giàu lắm chứ không phải ông chồng giàu.
Ø Để tránh sự hiểu
nhầm, khi viết thì phải viết hoa chữ Nhà. Khi người ta nói thì phải chú ý xem họ
nói về vấn-đề gì.
·
Thân
thiết: Dùng chữ Tao với Mày hay Đằng Ấy với Tớ
Chữ Tao hay Tớ
thuộc ngôi thứ nhất (Xưng). Chữ Mày thuộc ngôi thứ hai (Hô).
Danh xưng
Mày/Tao để bày tỏ tình thân-mật giữa bạn bè (ngang vai) hay giữa vai trên với
vai dưới.
Đôi lúc danh
xưng này còn bày tỏ sự bất bình với nhau; nếu không phải là danh xưng thường
dùng với nhau.
¨
Chúng ta chỉ có
một cách xưng hô chính là vai vế trong gia đình. Hoặc theo liên hệ gia đình, hoặc
theo tình cảm riêng tư, hoặc theo tuổi tác, hoặc theo kiến thức, hoặc theo đẳng
trật, hoặc theo lý tưởng.
Vấn đề khó là tự
mình phải định vai-vế của người và của mình cho đúng chỗ. Và nên nhớ rằng:
"Vai-vế xưng hô thay đổi tùy theo môi trường
sinh hoạt. Cũng người đó lúc thì gọi là Anh xưng Tôi hay Em, khi thì gọi là Bác
xưng Cháu, lúc thì lại gọi là Ông xưng Tôi".
KẾT LUẬN
Tỷ dụ:
Hai người Nam Nữ
ở 2 lứa tuổi khác nhau, chênh nhau tới 20 tuổi đời. Nhưng ở trong quân ngũ (hay
cùng một tổ-chức Chính-Trị) cùng đẳng cấp nên gọi nhau là Anh (hay Chị) với Tôi
hay là Em.
·
Nhưng
khi ra ngoài, Vợ người ta lại là Bác mình, không lý gọi vợ người ta là Bác xưng
Cháu mà gọi người ta là Anh xưng Tôi (hay Em) thì không được.
·
Đến
khi em mình lại là học trò của người ta, cậu em thì gọi là Thày xưng Con thì
lúc đó bắt buộc mình phải gọi là Ông (hay Thày) xưng Tôi thì mới tiện.
------------------------------------------------
Phần
THAM LUẬN
Góp ý với giảng viên :
Người ta thường
nói là cách xưng hô trong xã-hội Việt rất là phức-tạp; rườm-rà chứ không đơn giản
như các dân tộc khác. Sự thực thì đây lại là sự tế-nhị và tôn kính lẫn nhau
trong cách giao-tế của con người Việt. Vì không biết rõ ý nghĩa cùng cội nguồn
của cách xưng hô này từ đâu mà ra nên ta tưởng là nhiêu khê.
·
Vì
lý do này nên Ban Học Vụ của nhóm Nhân Văn Việt Tộc ở Paris mới soạn bài giáo
khoa này để chúng ta nắm vững ý niệm về sự tôn kính lẫn nhau trong cách xưng hô
mà thế giới không ai có cả.
Từ đó chúng ta mới
giảng giải cho thế hệ sinh đẻ nơi nước người biết đến những tinh hoa của nền
văn hóa Việt thì chúng mới biết đường bảo vệ bản sắc dân tộc để không trở thành
kẻ ăn bám xã hội tiếp cư. Thế hệ này mất gốc là lỗi ở cha mẹ không biết dạy
chúng.
Khi không biết tại
sao lại xưng hô như vậy thì thấy ngượng-ngùng, e-dè vì sợ vô lễ; nhưng khi biết
rồi thì lại thấy hãnh diện về nếp sống tâm linh của dân Việt: Sao lại tế nhị như vậy.…. Sự thực thì
không khó. Khó vì ta không hiểu nguyên do từ đâu tới nên ngỡ-ngàng, còn hiểu rồi
thì thấy rất là dễ.
Nguồn gốc và
nguyên tắc xưng hô:
Dân Việt có một
cách xưng hô chính bắt nguồn từ câu chuyện Rồng Tiên khai quốc, 100 trứng 100
con được viết thành văn vào thời điểm #600BC.
Lúc đó, lãnh
Vương vùng Lạc Việt (tức Quảng Đông ngày hôm nay) tên là Câu Tiễn đã phục thù giết
vua Ngô là Phù Sai, sau đó hội nhập nước Ngô vào liên bang Việt rồi đổi Quốc Hiệu
thành nước BÁCH VIỆT, và sai
2 ông Phạm Lãi (Lạc Tướng nay ta gọi là Quan Võ) và Văn Chủng (Quan Văn, thời
đó gọi là Lạc Hầu) viết chuyện Rồng Tiên để nói lên nguồn gốc của dân Ngô và
dân Việt là anh em ruột thịt, chớ đánh nhau. Chữ Đồng Bào chỉ dân Ngô và dân Việt
cùng một gốc Nông Nghiệp. Kẻ thù chính của chúng ta là bọn nhà Chu bên phía bắc
con sông Dưong Tử Giang đang nghấp nghé thôn tính dân nông nghiệp nè.
Chữ Đồng Bào (cùng một bọc mẹ mà ra) là chỉ dân Ngô
và dân Việt.
Chữ Bách Việt là 100 giống Việt chứ không phải 100 nc
Việt
Chữ Hồ Động Đình được cải danh theo nhu cầu của
câu chuyện
Các vùng đất được thay tên đổi
họ cho phù hợp với câu chuyện là : Bách Việt (Hồ Nam ngày nay), Mân Viêt
(nay là Thiều Châu) và Ngô Vệt (nay là Chiết Giang)
Giang sơn của
dân Bách Việt là
nước Ngô và nước Việt, sau này Triệu Đà gọi là Nam Việt (đất phía nam con sông
Dương Tử là đất của dân Bách Việt.
Ca dao : Bàu ơi
thương lấy Bí cùng, tuy rng khác giống nhưng chung một giàn phát xuất từ đây, ý
nói Ngô và Việt tuy khc nhau nhưng phải dựa vào vùng đât Nam Việt mà sống, còn
không thì sẽ bị Nhà Chu giết như chúng đã tàn sát con cháu Đế Nghi
Cách xưng hô theo vai vế Gia Đình bắt nguồn từ đây….
Đây là một kế sách chánh trị
Thực dân Pháp
chơi xỏ, muốn hạ nhục nên bảo Bộ Lạc là Tribut. Thực ra Tribut là Tù, Chef de
Tribu là Tù Trưởng. Rõ ràng : BỘ là vùng, Lạc là an vui ; cách tổ chức
có Lạc Vương, Lạc Hầu và Lạc Tướng : Hai bên Văn Võ rõ ràng.
Ở đây chúng ta
chỉ giảng thích việc áp dụng cách xưng hô độc đáo này vào từng trường hợp một :
·
Đó là cách xưng hô trong gia đình, theo vai-vế.
Ø Xưng là tự cho mình một chỗ đứng trong đại
gia đình (chứ không phải gia tộc).
Ø Hô là cho người đối thoại một chỗ đứng
trong cùng đại gia đình đó.
Xưng thì bắt buộc
phải xưng cho chính mình, chứ không thể nói thay cho người khác được. Tuy nhiên
trong trường hợp khó khăn thì có thể nói thay cho bút hiệu, danh xưng hay tên của
tổ chức, hội đoàn. Tức là ta xưng thay cho người vắng mặt; mà người vắng mặt đó
có thể lại là chính ta.
Hô thì có thể
nói thay cho người khác được, nhưng bắt buộc phải là người có vai-vế thấp hơn
ta, hay ngang vai với ta là cùng. Tức là Hô thay cho con, cho cháu hay cho em,
chứ không được quyền Hô thay cho Anh Chị hay cho Cha Mẹ; như vậy là hỗn láo, xấc
xược, vô lễ và sẽ bị chỉnh ngay lập tức.
Cách
Xưng và Hô được phân định theo 3 tiêu-chuẩn sau đây:
TUỔI TÁC ; TÌNH
CẢM ; KIẾN THỨC (về Nhân Văn Việt
Tộc)
Cái khó là làm
sao dung hoà được 3 yếu tố đó với nhau trong trường hợp xung khắc rõ rệt.
Tỷ dụ: Một bà 50 tuổi thất học nói chuyện với một
cậu Tiến sỹ 20 tuổi trong tình cảm thân thuộc. Đứng về tuổi tác thì bà ta bằng
vai mẹ cậu; nhưng đứng về học vấn thì bà ta chưa xứng đáng làm học trò của cậu…..
Còn về chức vụ ngoài đời thì bà ta thua xa, thuộc loại bán hàng rong ngoài chợ
chẳng hạn. Xưng hô làm sao để thấy mình vẫn trọng cậu Tiến Sỹ, nhưng vẫn giữ được
vai-vế tuổi-tác của mình. Cái đó tưởng là bất bình đẳng, rườm-rà....nhưng sự thực
thì dễ ợt.
Để có cái nhìn tổng
quát thì trước hết phải học thuộc lòng các vai-vế trong gia-đình cái đã, như nhận
diện các chữ cái và các dấu của chữ Quốc-Ngữ vậy – coi sơ đồ vai vế gia đình. Phải tự tay vẽ sơ-đồ vai-vế gia đình ít
nhất là 5 lần cho nhập tâm. Sau đó mới học nguyên tắc đặt mình và người đối-thoại
với mình vào đúng vị-trí của mỗi người trong gia đình.
·
Phải
thuộc lòng để đừng lộn bên nội với bên ngoại, vai trên với vai dưới, trai với
gái, dâu với rể.
1.
Chữ
viết trong khung là vai-vế của người đó đối với hàng con cháu. Các em thuộc
hàng con cháu (thế hệ thứ 3).
2.
Viết
đậm là người cùng huyết thống, còn gạch đít là người ngoài nhưng do kết duyên
mà thành người nhà; gọi chung chung là thông gia.
3.
Chữ
viết ngoài khung là vai-vế của người đó đối với hàng Bố Mẹ, cùng máu-mủ thì gọi
là ruột thịt; còn do cưới gả mà ra thì gọi là dâu hay rể. Thuộc bên Vợ hay bên
Chồng thì thêm chữ Vợ hay chữ Chồng vô.
Bình thường thì
người ta chỉ hô vai-vế chính và bỏ chữ Nội Ngoại, Dâu Rể hay Vợ Chồng đi.
Khi xưa Vợ Chồng
gọi nhau bằng Mình với Tôi. Chữ Mình có nghĩa là thân thể của một người: Mình Mảy,
Chân Tay. Coi nhau như một phần thân thể của mình vậy.
·
Thiết
nghĩ vợ chồng gọi nhau bằng Mình với Ta thì không có gì có thể khăng-khít và thắm
thiết hơn.
Trong sơ-đồ ghi
theo tư-tưởng của người xưa quan-niệm là Trời thì tròn, Đất thì vuông (theo
quan niệm về kinh dịch).
·
Chữ
KINH DỊCH có nghĩa là Nguyên Lý Căn Bản của sự biến hóa vạn vật, xuất phát từ
nghề Nông. Còn diễn giải (tức soán truyện) thì do Khổng Khâu thêm vô để giải
thích thuyết Thiên Mệnh của ông ta.
·
Kinh
là nguyên lý bất biến thiên nhiên , còn Dịch là thay đổi (tức biến hóa).
·
Lý
là lý lẽ của một cá nhân hay một nhóm thì nói có thể sai; nhưng đã gọi là KINH
thì không bao giờ sai cả.
Cha thì tượng
trưng cho Trời, còn Mẹ thì tượng trưng cho Đất. Trời che Đất chở. Công Cha như
núi Thái Sơn, nghĩa Mẹ như nước trong Nguồn chảy ra.
Người Tàu theo
Phụ-hệ, tức lấy Cha làm chính. Bên Nội gần hơn bên Ngoại. Nội có nghĩa là bên
Trong tộc họ; còn Ngoại có nghĩa là bên Ngoài tộc họ. Do đó họ nói tình nghĩa
Phu Thê, Phu là Chồng; Thê là Vợ. Phu Thê là tiếng Tàu.
Còn người Việt
theo Mẫu-hệ, tức là lấy bên Mẹ làm chính. Bên Ngoại lại gần hơn bên Nội. Do đó
dân Việt vẫn nói:
·
Vợ
Chồng như đũa có đôi, hay thuận Vợ thuận Chồng thì tát bể Đông cũng cạn.
Rõ-ràng bà Vợ đi
trước, ông Chồng đi sau, chứ không có chuyện Chồng Chúa Vợ Tôi như người Tàu.
Người Tàu thì Phu xướng Phụ tùng, tức Chồng nói thì Vợ phải nghe; như vậy thì
làm gì có chuyện thuận vợ thuận chồng.
·
Rõ
ràng nếp sống của dân Việt trái ngược với nếp sống của dân dân Tàu....Phong tục
Bắc Nam có khác (Bình Ngô Đại Cáo của Quốc Sư Nguyễn Trãi)
-
Trong
sơ-đồ vai-vế thì: Gạch nối để chỉ liện hệ ruột thịt, gạch chấm để chỉ thông
gia.
-
Khung
đơn để chỉ ruột thịt, còn khung kép để chỉ do cưới gả mà thành người trong nhà.
-
(coi
tiếp T12)
¨


0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil