vendredi 16 août 2024

T12 : Giao lưu văn hóa

T12 : Giao lưu văn hóa-25.12.2020

Livestream trên Facebook Nỗi Niềm Quê Hương

soạn giả: Hoàng Đức Phương

GIAO  LƯU  VĂN  HÓA  VIỆT/TÀU

Khi bị người Tàu thống trị thì nẩy sinh ra tư tưởng lấy vợ hai cho chồng để chứng minh sự giàu có của mình. Khôi hài ở chỗ là chính bà vợ Cả đi chọn và cưới bà vợ Hai cho chồng, chứ ông chồng không được quyền tự chọn lấy vợ bé như ở bên Tàu. Tại sao? Người Tàu quan niệm rằng lấy vợ là một gánh nặng phải nuôi, nên càng nhiều vợ thì chứng tỏ người đàn ông càng lắm tài. Do đó chính người chồng tự ý đi chọn vợ bé cho mình, sau đó thông báo để bà Cả biết. Lẽ dĩ nhiên là mỗi bà một dinh cơ do ông chồng cấp phát. Vì thế nên Khổng Tử mới đưa ra học thuyết Tam Tòng để tước bỏ quyểntự chủ của phái nữ. tại gia thì Tòng Phụ, xuất giá thì tòng Phu; đến khi Phu tử (chết) thì Tòng Tử (con trái)

 

Còn ở Việt Nam, vì mang Tư Duy Nô Dịch Khổng Nho nên các bà bắt chước kẻo sợ người đời chê là ghen, là nghèo nên chính bà vợ Cả phải đi mua bà vợ Bé về cho Chồng tí-toáy; đôi khi bà bé chả sơ múi chi cả. Đó là cái tinh khôn của bà vợ Cả.

·        Trường hợp bà Phan Bội Châu là một điển hình: Tự ý đi mua vợ hai cho chồng để được thênh thang buôn bán nuôi con; trong khi ông chồng không muốn nhưng phải chấp nhận vì cần người chăm sóc và đưa tin sinh hoạt chánh trị với các hội viên.

Phần lớn những bà bé mua về đều thuộc loại gia đình nghèo đói, thấp hèn phải chấp nhận bán con để cứu gia đình. Vì thế nên con bà Cả gọi bà hai là Chị.

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung,

Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh-lùng.

Năm thì mười họa chăng hay chớ,

Một tháng đôi lần, có cũng không.  (Hồ Xuân Hương)

Còn một điểm đáng lưu ý là phong tục Tàu không có chuyện tái giá của người đàn bà goá, vì khi cưới cha mẹ đã thách rồi nên bà thuộc sở hữu của nhà chồng. Do đó phải ở vậy thờ chồng và nuôi con. Còn phong tục Việt thì khác hẳn. Hết ba năm tang chế: Lạy anh, em đi lấy chồng. Nghĩa là sau 3 năm mãn tang (hết tang) chồng thì người đàn bà góa được quyền bước thêm bước nữa mà xã hội hoàn toàn đồng ý và cho đó là quyền sống của con người phải được tôn trọng. Luật Hồng Đức có bảo vệ quyền này của người đàn bà goá.                   

Tại sao lại 3 năm tang chế mà không phải là 3 tháng như Tây Phương hay 4, 5 năm chi đó? Tại sao các cụ thời thượng cổ lại có lý do rất chánh đáng này, mà bây giờ vẫn còn thấy hợp lý? Chỉ vì tổ tiên chúng ta không những coi trọng gia đình và gia tộc mà còn tôn trọng quyền sống tự do của con người nữa.

 

Hai cái tương khắc với nhau (cộng đồng và cá nhân; tình và lý), ấy thế mà người xưa đã dung hòa được thì không phải là chuyện dễ. Âu đây cũng là một niềm hãnh diện về nền văn minh tinh thần của dân ta vậy.

 

Thật vậy, người xưa lý luận rằng khi người chồng nằm xuống, có thể lúc đó bà vợ vừa mới mang thai. Cái thai đó là thai của gia đình nhà chồng chứ không phải của riêng bà vợ. Vì thế phải đợi 9 tháng 10 ngày sinh nở xong xuôi thì mới tính chuyện bước đi bước nữa được. Khi sinh nở xong, vì nhu cầu bú mớm của đứa bé nên bà phải hy-sinh tình cảm riêng tư để nuôi con cho đến khi thôi bú, tức là đứa con đầy 2 tuổi thì mới dọng-dẽo ai nuôi cũng được.

 

Lúc này thì bà có thể trao con cho nhà chồng nuôi và bước đi bước nữa (nếu bà muốn). Hơn nữa, nếu quả thực bà yêu chồng thì 3 năm mới chỉ là thời gian tối thiểu để bà dứt tình chăn gối.

Ø  Đây là một học thuyết của dân Việt mà ta gọi là Việt Đạo; tức Triết Lý về cung cách sống cho ra người Việt. Còn Việt Nho là cung cách sống của người Việt đương thời, không bắt buộc là phải theo Việt Đạo.

·        Vậy thì ai dám bảo là người Việt không có Triết Gia?

Cách giải quyết này không phải là trường hợp bắt con như Tây Phương nghĩ.

Thực vậy, đây không những là vì quyền lợi của đứa bé mà còn là quyền lợi của ngay chính người mẹ nữa. Khi bà bước đi bước nữa thì bà không phải là người trong gia tộc nhà chồng nữa. Bà vẫn có quyền về thăm con cái với tình mẹ con trọn vẹn, nhưng bà không được quyền nuôi nấng và dạy dỗ nó nữa. Phần nuôi nấng và dạy dỗ chúng thuộc nhiệm vụ của nhà chồng.

Chết Cha còn Chú, vắng Mẹ bú Dì.

Còn về phần bà vợ goá thì lúc đó bà được tự do như con gái, không bị ràng buộc về tinh thần cũng như vật chất với các con đời chồng trước. Tuy nhiên cũng có cái thiệt là mẹ con không được chung sống hàng ngày với nhau. Nhưng làm sao làm hài lòng được tất cả các đòi hỏi tương khắc với nhau? Ngược lại bà được quyền dẫn ông Dượng về thăm gia đình nhà chồng cũ, và nhà chồng cũ vẫn coi như người bạn thân thiết; không ghen tuông thù hận.

Lý luận Tây Phương là lý luận theo tình cảm cá nhân, vì họ theo cá nhân chủ nghĩa. Bây giờ tỷ dụ con đầu lòng là con gái kém mẹ 18 tuổi. Nếu Mẹ nuôi thì cô con bắt buộc phải ở với ông Dượng. Đến tuổi dạy thì lại nhập-nhằng với ông Dượng, lúc đó thì thật là khó xử cho bà. Ở bên Pháp trường hợp này đã từng xẩy ra và đưa đến hậu quả là bà mẹ tự tử. Đây là sự tự do quá trớn của ngưới Tây Phương, quá thiên về nhu cầu vật chất.

 

MỞ RỘNG KIẾN THỨC

Thoạt đầu (2.879BC), khi thành lập Liên Bang Việt, thì nước Văn Lang được kết hợp bởi 15 vùng an lạc mà ra. Mười lăm vùng đó được gọi là 15 Bộ Lạc. Do đó chỉ có 15 danh xưng cho 15 dòng họ mà thôi. Vì thế nên tên họ của dân Việt chỉ có khoảng độ 20 danh xưng thôi. Trong đó, các nước khác thì có rất nhiều tộc họ; vì họ lập quốc trễ nên lúc đó dân số đã quá đông rồi.

Nước Văn Lang được thành lập để bảo vệ an ninh chung chống lại nước Ngô ở phương Bắc được bao bọc bởi sông Dương Tử (chảy ra Thượng Hải) và sông Tây Giang (chảy ra Hongkong). Lúc đó nước Tàu, nước Chiêm-Thành và Cao-Miên chưa có. Biên giới nước Văn Lang lúc khởi thủy, bắt đầu từ phía nam Tây Giang hay Đại Giang (sông lớn chảy từ phía tây sang phía đông, đổ ra cảng Hongkong), tức vùng Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam xuống tận đèo Hải Vân. Phía Tây thì đến tận sông Cửu Long.

Chữ Quảng là tiếng Việt chứ không phải tiếng Việt gốc Tàu.

·        Ngày hôm nay (2012) người Việt gọi là Lưỡng Quảng, trong khi đó thì nha địa dư ở Bắc Kinh gọi là Lưỡng Việt (coi cuốn Phan bội Châu tự phán)

¨

Quảng có nghĩa là một vùng rộng lớn và phì nhiêu như Quảng Nam là vùng đất chiếm của nước Chàm vào thập niên 1470. Sau này vì muốn xóa bỏ công đức của thế hệ Lê Thánh Tôn nên vua Minh Mạng đổi danh xưng vùng Quảng Nam thành Trấn Quảng Nam. Và đổi chữ Trấn thành chữ Tỉnh.

 

Trấn là tiếng Việt (Trấn thủ lưu đồn là vùng địa đầu giới tuyến), có nghĩa là một vùng đủ khả năng để tự vệ chống quân xâm lược phương Bắc. Như vậy thì Tỉnh Quảng Nam ngày hôm nay không phải là vùng Quảng Nam dưới thời vua Lê Thánh Tôn (1470)

Tỉnh là danh từ của Tàu để chỉ một đơn vị hành chánh trong một quốc gia. Thành là pháo đài quân sự.

Tỉnh Thành là trung tâm hành chánh của một tỉnh, có đồn lính giữ thành trì.

 

Ý nghĩa của VƯƠNG HIỆU

Gia Long (Vương hiệu của ông Nguyễn Ánh) có nghĩa là khởi binh từ Gia Định và thành công ở Thăng Long.

Quang Trung (Đế hiệu của ông Nguyễn Huệ) có nghĩa là Trung Tâm Ánh Sáng, tức dùng Tài và Đức của mình để hướng dẫn toàn dân tiến lên bằng người.

Thái Đức (Vương hiệu của ông Nguyễn Nhạc) có nghĩa là dùng nhân đức để kết hợp lòng dân.

Vuơng hiệu hay Đế hiệu là danh xưng tự mình đặt cho mình để nói lên ý nguyện tranh đấu cho dân tộc hay trả thù cho hả giận.

 

PHÁ HỦY DI TÍCH LịCH SỬ

Vua Gia Long, ngay sau khi cướp chánh quyền (1802) liền cho phá thành Thăng Long và xây lại thành nhỏ hơn, vì sợ dân Bắc Diệt Nguyễn Phù Lê. Thăng Long là tên Kinh Đô, còn thành Thăng Long là thành trì có công sự chiến đấu, là nơi đồn trú binh đoàn và dân chúng, trong đó có thành nội (cung vua, có cột cờ) và thành ngoại là nơi cư trú của dân chúng gồm 36 Phường. Tường thành bao quanh thành nội và thành ngoại, bên ngoài có hào sâu, dưới lòng để bàn chông. Thành này được xây vào năm 1010 để vua Lý Thái Tổ di đô từ Hoa Lư tới. Trước đó được gọi là thành Đại La hay La Thành. Thành này do nhà sư Vạn Hạnh xây theo Kinh Dịch, bao trùm toàn tỉng lỵ (thành phố) Thăng Long. Dinh vua thì ở thành nội nơi có cột cờ, dinh Chúa thì ở ngoài thành bên bờ hồ Hoàn Kiếm, gần nhà thờ lớn ngày hôm nay.

Vua Gia Long còn đổi tên Quy Nhơn ra Bình Định. Có nghĩa là đã bình định được giặc Tây Sơn. Quy Nhơn là tên vua Lê Thánh Tôn đặt cho thủ đô Đồ Bàn của nước Chiêm sai người đi vẽ bản đổ và thay tên tiếng CHAMPA bằng tiếng Việt ể bàomật khi hành quân. Bản đồ được vẽ xong vào năm 1470, năm sau (1471) cất quân đi đánh.

 

Phường là xóm trong thành phố. Phố là nơi buôn bán trong thành trì mà ta gọi là Thành Phố. Ngày trước gọi là Thị Trấn, tức trung tâm hành chánh của một tỉnh (Thị là nơi trao đổi hàng hóa).

 

Sự khác biệt với Làng Xóm là không có ruộng. Người sinh sống nơi đây được gọi là dân kẻ chợ. Chợ là tiếng Việt, còn Thị là tiếng Việt gốc Tàu (Thị trường).

Khi còn là La Thành thì gồm 36 làng làm 36 nghề khác nhau; khi biến thành thành phố thì mỗi làng là một Phường, tức một xóm trong thành phố.

Vua Minh Mạng đổi tên Thăng Long ra tên Hà Nội (trong sông), với mục đích xóa bỏ vết tích lịch sử; như ngày hôm nay, Việt Cộng xóa tên Saigon để thay bằng tên Hồ Chí Minh, một tên không có xuất xứ rõ ràng.

·        Đây là cái nhục cho dân Việt, nếu thế hệ chúng ta không xóa được sự ô nhục này.

·        Phải trả lại tên Thăng Long và Saigon cho 2 địa danh lịch sử này.

Vua Thiệu Trị khi ra Bắc nhận giấy Phong Vương của nhà Thanh bên Tàu, lúc qua núi Dục Thúy (tức núi non nước có 100 bực thang đi lên đỉnh núi) ở tỉnh lỵ Ninh Bình thì sai người đục bài thơ của Ngô Thì Nhiệm ca tụng công đức Tây Sơn với lý do là ăn nói xàm bậy làm mất vẻ đẹp thiên nhiên.

Trên đây chỉ là một vài hành động cố tình xóa bỏ lịch sử của con cháu Gia Long (3 đời) để người về sau coi như Triều Nguyễn là người đẻ ra dân Việt......... Nay Việt Cộng làm y chang!

¨

CHUYỆN LẬP QUỐC : 2.879BC

Lúc đó nước Ai Lao (Lào) có danh xưng là Lão Qua, có nghĩa là người ở Vân Nam (tức dân U Việt) di dân đến lập quốc từ lâu đời rồi.

·        Quảng Đông thì do bộ lạc Lạc Việt làm chủ, Quảng Tây thì do ÂU VIỆT làm chủ....

·        Từ Thanh Hóa cho tới đèo HẢI VÂN thì do VIỆT THƯỜNG làm chủ. Chiến khu Lâm Ấp (ấp chiến lược trong rừng, bất khả xâm phạm) là một phần đất của Việt Thường, tức vùng từ Hà Tĩnh cho tới đèo Hải Vân (dưới thời nhà Trần thì gọi là đèo Ải Vân).

v Bộ Lạc có nghĩa là một vùng An Lạc có Lạc Hầu (quan văn) và Lạc Tướng (quan võ), tức một tiểu bang ở trong liên bang Việt.

v Chữ TRIBU phải dịch là Tù thì mới đúng nghĩa. Chef de Tribu là ông Tù Trưởng.

v Nếu chữ Tribu là Bộ Lạc thì phải có chức Lạc Trưởng kiêm luôn Lạc Hầu và Lạc Tướng.

v Người Pháp khi sang cai trị cố tình hạ nhục dân Việt nên dịch Bộ Lạc là Tribu và nói thời Hùng Vương là huyền sử. Nay chúng ta phải xóa bỏ tư tưởng nô dịch này đi thì mới đúng.

Dưới 18 triều đại Hùng Vương thì nước Văn Lang theo chế độ DÂN CHỦ PHÂN QUYỀN, làng xóm tự trị. Mười lăm vùng đó kết hợp với nhau bằng Tâm và cư-xử với nhau bằng Đức. Vì thế mới có danh từ xã-hội. Tức là các xã hợp lại thành một Bộ Lạc không phải qua trung gian cấp huyện và tỉnh

 

Giải thích ngôn từ:

·        Chữ xã-hội có nghĩa là các làng kết hợp với nhau bầu lên ông Lãnh Vương; 15 ông Lãnh Vương đi bầu ông Hùng Vương. Nhiệm vụ của ông Hùng Vương là lo Hòa Đồng dân tộc, biến Liên Bang Việt thành chủng tộc Việt thuần nhất.

·        Chữ Đức có nghĩa là chỉ đem những cái tốt đóng góp cùng người để xây dựng cộng đồng, đất nước. Còn cái gì xấu thì giữ lại cho mình. Đẹp đẽ đem ra, xấu-xa giữ lại.

·        Chữ Văn có nghĩa là lịch-sự, bặt-thiệp.

·        Chữ Lang có nghiã là con người hào-hoa, phong-nhã biết cách cư-xử và phóng-khoáng hào-hiệp (tương đương với chữ Gentil homme hay là Gentleman) .

Coi thêm ấn phẩm Nối Chí TÂY SƠN số 6: Một ngàn nô lệ Tàu: SAI;  do Ban Tế Tự Paris ấn hành ngày  01/11/1997.

Vị nguyên thủ một Bộ Lạc thì gọi là Lãnh Vương, vị Tổng Tư Lệnh Binh Đội (quân đội) của một Bộ Lạc thì gọi là Quân Vương. Thủ tướng chánh phủ thì gọi là Lạc Hầu.

Mười lăm ông Lãnh Vương hợp lại bầu lên ông Hùng VƯƠNG. Do đó dân ta mới có câu  Lệnh Vua còn thua Lệ Làng để chỉ thể chế dân chủ phân quyền lúc đó.

Trước khi kết hợp thành Liên Bang thì danh xưng đơn vị hành chánh mỗi nơi một khác, nơi thì gọi là LÝ (một dặm vuông, tức mỗi chiều 1,6Km), nơi thì gọi là BUÔN, là BẢN, là SÓC..... Khi kết hợp, để tiện việc hành chánh thì dùng chung một danh từ cho đơn vị là LÀNG, nhưng chức vụ thì không đổi. Do đó mới có ông Lý Trưởng mà không có ông Làng Trưởng là thế.

·        Nước Văn Lang được thành lập vào năm 4.879 trước Tây Lịch.

·        Chữ Lý, chữ Buôn, chữ Bản, chữ Sóc... là nơi ở của cư dân, xung quanh có ruộng.

·        Những danh từ này có trước chữ Làng và sự quản trị đã có tổ chức rồi; do đó mới có chức Lý Trưởng, Quan Lang ......

²

Vùng Lạc Việt (Quảng Đông) nằm sát nước Ngô nên chịu mũi xung kích thường xuyên của kẻ thù Phương Bắc (người Ngô không phải là người Hán đâu). Do đó ta mới có những câu:

·        Mối thù tuyền kiếp Ngô Việt, hay giặc bên Ngô không bằng bà Cô bên chồng.

·        Hoặc thằng Ngô con Đĩ để chỉ gái Việt đi lấy chồng Ngô, chỉ có đĩ mới lấy chồng Ngô; giống như chữ Me Tây trong thời Pháp thuộc vậy.

·        Câu Hoài Con Mà Gả Cho Loài Trắng Răng xuất hiện dưới thời Mã Viện, cùng với tục nhuộm răng đen để phân biệt Ta và Tàu

 

Đó là sự kiện lịch sử đã qua, nói ra để thấu triệt tâm tư uất hận của tổ tiên chúng ta ở thời đó. Nay thời thế đã khác nên suy tư cũng phải hợp với bối cảnh lịch sử ngày hôm nay thì mới gọi là có tinh thần Cầu Tiến. Tinh thần cầu tiến được ký thác trong danh từ Việt.

Ø  Việt có nghĩa là VƯỢT mọi khó khăn để thăng tiến bằng người.

 

Khi lập quốc thì tổ tiên chúng ta đã căn dặn là:

·        Con người Việt chỉ cần có 2 tinh thần Tự Trọng và Cầu Tiến là đủ.

Tự-trọng là ý nghĩa của chữ Văn Lang, cầu tiến là ý nghĩa của chữ Việt. Từ 2 tinh thần này mới đẻ ra mọi thứ:

A.    Con người Tự-trọng thì không ỷ lại, sống bám nên phải biết Tự lực và Tự-cường. Muốn có khả năng Tự-lực và Tự-cường thì phải có tinh thần Cầu Tiến để sống theo văn minh thời đại. Tụt hậu là tiêu vong.

B.     Con người Tự-trọng thì không ăn cắp và cũng chẳng ăn cướp, do đó đẻ ra quy luật đấu tranh tự-vệ như sau:

a.      Cương quyết tiêu diệt kẻ thù, không nhân nhượng nhưng không truy kích hay trả thù trong lúc đấu tranh.

1)  Đó là hình ảnh trấn giữ biên cương của 100 người con (tức 100 binh đội). 50 người con theo mẹ lên núi (núi Tần Lĩnh ở sông Dương Tử) và 50 con theo cha ra biển để làm gì nếu không phải là đóng chốt ngăn chặn giặc thù phương Bắc?

2)  Núi Ngũ Lĩnh nằm trong dãy núi Tần Lĩnh, cạnh sông Dương Tử (Xanh và Tím).

b.      Phải biết Độ Lượng và Khoan Dung với kẻ thù sau khi chiến thắng để xây dựng hạnh phúc cho nhân dân 2 bên. Bằng chứng là:

1)     Nhà Trần, nhà Hậu Lê đã khoan dung với quân thù (quân Nguyên và quân Minh).

2)     Nhà Tây Sơn không những khoan dung với quân Tàu (quân Thanh) mà còn đối xử tử tế với công thần và con cháu nhà Lê và nhà Trịnh; không những vậy mà lại còn chiêu dụ họ về hợp tác để xây dựng hạnh phúc cho toàn dân, thống nhất lòng người, kiến thiết đất nước.

 

Vào khoảng 600 năm trước Thiên Chúa giáng sinh, Lãnh Vương Lạc Việt lúc đó là Câu Tiễn bị vua Ngô hành-hạ nên mới quyết tâm trả thù. Bầy mưu lập kế trong suốt 20 năm thì san bằng được nước Ngô để rửa hận. Sau đó sai người (Phạm Lãi và Văn Chủng) viết thành văn bản câu chuyện Rồng Tiên khai quốc,100 trứng 100 con để truyền đạt cho hậu thế kinh nghiệm xương máu trong 20 năm cá nằm chốc thớt, và gian truân đó.

Câu chuyện Rồng Tiên là học thuyết căn bản của khoa Nhân Văn Việt Tộc (tức Việt Đạo): Xây dựng con người. Xây dựng xã-hội. Quy-Luật đấu tranh TỰ-VỆ Bí Quyết Thoát Vòng Nô Lệ.

·        Đây là bài Diệt Ngô Đại Cáo bằng bia miệng, vì thời đó chưa có giấy bút.

Sau khi đánh chiếm được nước Ngô rồi thì trả lại một phần đất cho nước Sở và nước Tề để tỏ lòng trượng phu, không ăn cướp của người. Giải tỏa thù nghịch, nay ta gọi là hiếu hòa. Chỗ còn lại (tức nước Ngô) thì chặt làm 3 vùng với 3 danh xưng khác nhau. Đó là: Ngô Việt (người Việt gốc Ngô), Mân Việt (người Việt ở vùng sông Mân) và Bách Việt (nơi sinh ra bọc 100 trứng, nở ra 100 người con).

 

Bách Việt là vùng đất ở vùng Hồ Nam, nơi có hồ Động Đình quê quán của Bố Lạc Long.

Hồ Nam là vùng đất ở phía Nam hồ Động Đình. Danh xưng Động Đình hồ bắt nguồn từ đây.

Câu chuyện Rồng Tiên do hai ông Phạm Lãi và Văn Chủng (người vùng Quảng Đông, thuộc dân Lạc Việt) soạn thành huyền thoại ở thời kỳ chưa có chữ viết để lưu truyền trận đánh « diệt Ngô Đại Cáỏo » bằng bia miệng nên cách danh từ đều có ý nghĩa ăn khớp với nhau thành một bức họa.

Tỷ dụ như chữ Đồng Bào là danh từ chánh trị vì : Nước Ngô bị chia làm 3 vùng (Ngô Việt, Mân Việt và Bách Việt) và sát nhập vào Liên Bang Văn Lang từ 15 tiểu bang (Bộ Lạc = các vùng an lạc) nay gồm 18 tiểu bang sống theo chế độ Dân Chủ Phân Quyền, bình đẳng tột cùng thân thương tột độ. Đồng Bào có nghĩa là dân Ngô và dân Việt đều thuộc sắc dân nông nghiệp gồm 100 giống cùng cha cùng mẹ (Lạc Long và Âu Cơ), thôi đừng đánh nhau nữa, để TỚ (Việt) lãnh đạo. Kẻ thù của chúng ta là bọn Du-mục bên kia sông Dương Tử.

Danh từ Bách Việt có từ đây, Cách xưng hô cũng bắt nguồn từ đây. Khi ăn thì phải mời để bày tỏ sự nhường cơm xẻ áo cho nhau : Chết một đống còn hơn sống một người. Khách mơi ăn thì phải trông nồi, ngồi trông hướng.

Nếu người ta nghèo thì phải tìm cách trả bữa. Vì quên vế này nên ta nói mời đãi bôi hay « mồm mời nhưng bụng lạy trời đừng ăn » ; đó là một sự xuyên tạc.

 

Khoảng 280BC, Nhâm Ngao ngưởi vùng Ngô Việt (Chiết Giang ngày nay) làm cách mạng dang dở thì Triệu Đà (cũng người Ngô Việt) tiếp nối nên khi dứt Thục An Dương Vương thì ông ta đặt tên nước là NAM VIỆT : Phía nam sông Dương Tử là đất của người Việt (không có người Ngô trong đó) và … Ngô Việt là anh em cùng cha cùng mẹ, kẻ thù là dân Du-mục nhà CHU. Thôi để TỚ (Ngô) lãmh đạo theo chế độ Quân Chủ Đại Nghị, người vùng nào thì quan lại vùng đó cai trị.

Kinh nghiệm người xưa để lại cần phải thấm nhuần:

Đây là thể chế HỘI NHẬP VĂN HÓA đã được áp dụng dưới thời Hùng Vương, Câu Tiễn, Triệu Đà, vua Lê Thánh Tôn (1470) cũng đã áp dụng để hội nhập nước Chàm vào với nước Đại Việt theo phương cách Bình Đẳng Sắc Tộc (Đồng Bào).

Thiết nghĩ đây là bài học quý giá để chúng ta áp dụng trong phương án : Xoá bỏ xung khắc sắc tộc và hận thù phe nhóm do cha ông để lại thì mới kết hợp toàn lực để vươn lên ; bằng không thì sẽ tiêu vong .

·        Coi thêm cuốn Rồng Tiên khai quốc, ấn phẩm đầu tay của Ban Tế Tự Paris phát hành nhân ngày kỷ niệm 200 năm chiến thắng Đống Đa (1989).

w

Từ đây mới đẻ ra danh từ Đồng Bào, lấy màu vàng của tơ tầm làm sắc thái của dân Văn Lang. Lá cờ ngày xưa tượng trưng cho lãnh thổ, trời tròn đất vuông, nên lá cờ mang hình vuông, có nghĩa là chân phương vuông vức. Còn NỀN là chủ nhân ông của lãnh địa đó.

·        Nay theo quy ước quốc tế là hình chữ nhật, bề dài bằng 3/2 bề rộng. Cờ là biểu tượng của đất nước, Vua Chúa; còn Xí là hiệu lệnh của chức tước. Xí thì bé hơn Cờ

Người Việt mình chọn cờ màu Vàng để nói lên thể chế Dân Chủ Phân Quyền:

·        Nước Việt của toàn dân Việt, toàn dân giữ nước chứ không phải Triều Đình giữ nước.

·        Ý niệm này còn được ký thác trong cờ Quẻ Ly và cờ Quẻ Càn. Ngay trong câu đầu của bài Quốc Ca đã nói:

Ø Này Thanh niên ơi! Quốc Gia đến ngày giải phóng (cờ Quẻ Ly)

Ø Công Dân ơi! Đứng lên đáp lời sông núi (cờ Quẻ Càn, tức cờ 3 sọc)

Thanh niên ở đây là đoàn Thanh Niên võ trang xung phong do Nhật huấn luyện để giữ nội an khi đã được người Nhật giải phóng ra khỏi sự Bảo Hộ của người Pháp (đêm ngày 09/03/1945); vì vậy mới có chữ Giải Phóng chứ chưa có độc lập. Cờ Quẻ Ly mang ý nghĩa: Nước Nam của người Việt Nam (Tuyên bố chủ quyền)

Ø  Cờ Nền Vàng hình vuông là Dân Tộc kỳ (dân có trước, nước có sau): Dân dựng nước và dân giữ nước

Ø  Cờ Nền Đỏ hình vuông là Đế kỳ (nước có trước, dân có sau): Đất của Chúa, lúa của trời.

Ø  Quốc kỳ của Tây Phương không có Nền, vì quan niệm lập quốc của họ khác. Họ theo chế độ Lãnh Chúa. Người Việt theo chế độ Lãnh Vương. Người Tàu theo chế độ Quân Phiệt.

Vì quan niệm sống khác nhau nên các biểu tượng khác nhau, do đó người Việt không phải là cái đuôi của người Tàu như họ nói.

 

Nội cách xưng hô đã thấy rõ, cấu trúc câu văn thì họ nói ngược: Ta gọi con ngựa trắng thì họ lại gọi là con trắng ngựa (Bạch Mã)

HẾT


0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil