T09 – MIÊU LỊCH và QUY LỊCH
T09 – MIÊU LỊCH và
QUY LỊCH (04.12.2020)
Livestream trên Facebook Nỗi Niềm Quê Hương
soạn giả: Hoàng Đức Phương
MIÊU LỊCH : QUY LỊCH hay VIỆT LỊCH
-
Miêu lịch
Miêu lịch hay Nông Lịch là lịch tính theo vị trí ngôi sao chuẩn vào nửa
đêm để định ngày gieo mạ. Lịch này có vào năm 13.000BC (Miêu có nghĩa là Mễ, tức
ngũ cốc) – có lễ hội Tiết mừng xuân
-
Quy lịch
Quy lịch là lịch khắc trên mai rùa. Lịch này có vào khoảng 2.500BC tính
ngày trăng sáng cho lễ hội Tiết Trung Thun – Có lễ hội Tiết mừng xuân và Tiết
Trung Thu cho con trẻ
-
Việt lịch
Việt Lịc là Quy Lịch theo ngôn từ ngày hôm nay (2016)
Bài này gồm 4 phần:
·
Phần 1 : Ghi chú những điều cần biết
trước khi giảng.
·
Phần 2 : Bài giảng. Ôn Cố và Tri
tân
·
Phần 3 : Tham luận dành cho Giảng
Viên.
·
Phần 4 : Ôn tập (văn ôn, vũ luyện).
Phần 1 : GHI CHÚ
Chữ Miêu có nghĩa là
Mễ, tức ngũ cốc. Miêu lịch là lịch dùng để định ngày gieo mạ, trồng trọt nên
còn gọi là lịch nhà nông.
Người Tàu phát âm chữ MIÊU
thành MAN; khi bị thống trị thì người Việt mình phát âm chữ MAN thành Mán. Người
Miêu tộc ở phía nam con sông Dương Tử Giang nên Lã Hậu (183BC) đặt cho cái
"hỗn danh" là Nam Di; người ở phía nam là bọn bán khai. Do đó họ gọi
là Man Di (người Miêu là bọn bán khai)
Lịch này đã bị Mã Viện bức tử
vào năm thứ 43 sau Tây Lịch, và thay thế bằng Âm Lịch. Vì thế nên về sau dân ta
gọi là Quốc Lịch để nhắc nhở con cháu phải phục hồi Miêu Lịch.
Ø
Nay chúng ta khôi phục lại nên gọi là Việt Lịch (cho dễ nhớ) để thay thế
Âm Lịch.
Ø
Dùng Âm Lịch không những không định được ngày gieo mạ, cấy lúa, mà lại
còn ôm khư khư trong đầu tinh thần nô dịch thằng Tàu từ thời Mã Viện (43AD).
Học sử thì chúng ta thấy nói
là Tô Định thất bại trong cuộc xâm lăng nước ta nên phải chui vào "ống đồng"
để lên xe cho ngựa kéo thục mạng vào thuyền rồi chạy về Tàu. Như vậy là trong
trận chiến xâm lăng thì nhà Đông Hán đã dự trù khó mà thắng; nên Tổng Tư Lệnh
chiến trường là Tô Định đã phải đem theo ống đồng để thoát thân.
Tô Định là kẻ ngoại xâm,
quân của hai BÀ là quân chống xâm lăng chứ không phải quân kháng chiến, vì thế
nên binh đội có sẵn voi trận, có sẵn ngựa chiến, quân tuyển hàng vạn như không để
trực chiến với kẻ thù. Nếu nô lệ thì làm gì có phương tiện này.
Sau khi thua thì Hán Chúa,
tên là Quang Vũ, hết sức cay cú nên kéo quân trả thù do Mã Viện cầm đầu. Mã Viện
có danh hiệu là PHỤC BA, tức có khả năng dẹp sóng gió (tiêu diệt kháng chiến).
Nhưng thắng không phải là chuyện dễ, hắn chỉ chiếm được vùng duyên hải thôi.
Chiến khu Lâm Áp (Hà Tĩnh đến đèo Hải Vân) hiên ngang giữ vững nền tự chủ. Hòa
Bình, Mộc Châu và Sơn La vẫn ngoài vòng kiểm soát của giặc Đông Hán; nên hai Bà
vào vùng này ẩn náy để phục thù nhưng không thành. U Việt (Vân Nam) vẫn giữ được
nền độc lập
Vì thế quân Nam Chiếu (U Việt)
và Lâm Ấp mới kéo binh đến Giao Châu để giải vây, và bọn thống trị ăn ngủ không
yên; do đó Mã viện mới cay cú: Bắt dân ta mặc y phục Tàu, nói tiếng Tàu y như
chúng bắt thổ dân ở Đài Loan ngày hôm nay nè.
Thêm vào đó hắn còn trồng cột
đồng trên núi Ba Vì với câu yểm là: Đồng Trụ Chiết, Giao Chỉ Diệt với hy vọng
sét đánh thì hắn nói là ý trời rồi ra tay tàn sát. Ngoài ra hắn còn cho tạc tượng
của hắn với đôi bàn chân dẫm nát thân thể trần truồng của hai bà cho hả giận. Tượng
này hiện nay vẫn còn ở bên Quảng Tây (§ hình đính kèm).
Để đối kháng, dân ta bảo
nhau nhuộm răng đen để nhận diện nhau, đêm đêm gánh đất vùi cột đồng rồi phao
lên rằng mỗi người đi qua ném 1 nắm đất nên cột bị vùi lấp.
·
Việt Lịch là danh từ của chúng tôi đặt ra cho dễ nhớ
và dễ hiểu.
Việt Lịch được tính vào Tiết Mừng Xuân, là ngày bắt đầu khởi công cày cấy
mong có cơm no, áo ấm cho trọn năm. Sau khi quen việc đồng áng thì lại nghĩ ra
Tiết Trung Thu.
Tiết là đốt:
Một đoạn từ 3 đến 7 ngày, nay ta gọi là Tết. Hội Trăng Rằm chỉ có 1 ngày, hội Trăng Rằm để
ngưòi lớn ngắm trăng vịnh nguyệt, ăn bánh chơi đèn. Còn Tết Trung Thu (đúng lúc
lá vàng rơi rầm rộ) là tết của trẻ em, rước đèn vui đùa với nhau.
Do đó ngày đầu năm Việt Lịch
là ngày đầu xuân nên mới có Cung Chúc Tân Xuân và Tân Niên làm một. Người Tàu
là sắc dân Du-mục nên họ không có ngày mừng xuân.
Âm Lịch và Dương Lịch là do kẻ thống trị áp đặt,
còn Miêu Lịch là lịch hữu ích của nhà Nông thì bị bức tử từ thời Mã Viện
(43AD).
·
Âm Lịch là lịch dùng để đi săn thú ban đêm của dân Du-mục.
·
Miêu Lịch là lịch dùng để định ngày gieo mạ, gặt hái của dân Nông Nghiệp
trong đó có dân Việt.
·
Dương Lịch là lịch đơn giản của dân Tây Phương
Chúng ta nghĩ gì về tinh thần
nô dịch này rồi nói luôn là dân Nông Nghiệp nói chung và dân Việt nói riêng
không biết cách tính lịch?
ö
BÀI GIẢNG – Ôn Cố và Tri Tân
Ôn Cố
Khi loài người tự sản xuất được
thực phẩm để bảo đảm cuộc sống thì lúc đó có đời sống Quần Cư, nhân số gia tăng
một cách kinh khủng; từ 3 triệu người vào năm 13.000BC đến 7 tỷ người vào năm
2015.
Ø
Cuộc sống định cư hay du cư thì tùy vào nghề nghiệp: Nông-nghiệp hay Du-mục.
Nghề Nông :
Nghề nông có ruộng phải chăm
sóc nên phải lập làng ở cạnh ruộng để canh tác.
Khi người thân qua đời thì mồ
mả chôn kế bên (ngoài ruộng) nên sinh ra phong tục thờ cúng người đã khuất. Nghề
nông có nếp sống (văn hóa) làng xóm, rồi đến Quốc Gia, lính tráng có trước; sau
đó mới tới thành phố (thành thị). Thành là công sự chiến đấu (blocus), thị (chợ)
là nơi buôn bán. Có lính tráng thì mới có nhu cầu buôn bán và có thành trì kiên
cố để trú quân.
Nghề Du-mục
Du-mục là nghề chăn nuôi, di
theo gia súc ăn cỏ. Ăn hết cỏ cánh đồng này thì di sang cánh đồng kế bên, do đó
họ có cuộc sống du cư. Chết đâu thì chôn ở đó; vì thế nên không có tập tục viếng
mộ và do đó không có tục lệ thờ cúng người đã khuất. Cánh đồng cỏ là STEPPE bên
Á Châu không có; nơi đây chỉ có cỏ là mọc được thôi.
Ø
Mục là mắt dùng để canh chừng gia súc; du là nay đây mai đó. Du-mục thì
có văn hóa bắp thịt, phù hợp với nghề nghiệp và tín ngưỡng thì phù hợp với nếp
sống du cư của họ.
Du-mục hay Nông-nghiệp thì
cũng cần biết trước ngày tháng để sửa soạn công việc phải làm.
-
Du-mục cần biết đêm trăng sáng để rình mồi nên lịch tính theo tuần trăng
– (âm lịch).
-
Nông-nghiệp cần định mùa để gieo mạ nên ngắm sao–(Miêu lịch, nay ta gọi
là Việt lịch)
Ngày là chu kỳ sinh hoạt của
động vật; năm là chu kỳ sinh hoạt của thực vật. Do đó con người một khi đã có
cuộc sống ổn cư rồi thì dân tộc nào cũng biết cách tính lịch cần cho nhu cầu
sinh sống của mình. Vì thế nên cách tính lịch thì ai ai cũng làm được cả, vì nó
dựa trên sự vận hành của vạn vật trong vũ trụ; chỉ cần để công quan sát là tính
ra ngay.
Cách tính Việt Lịch:
Việt lịch tính theo quỹ đạo
của một ngôi sao nào đó trên bàu trời (ngôi sao nào cũng giống nhau cả)
Người ta ngắm vị trí của một ngôi sao làm chuẩn vào giữa
đêm. Vị trí ngôi sao này trên quỹ đạo của nó cho ta biết ngày thứ bao nhiêu
trong một năm; tức là định được mùa mưa, nắng để gieo mạ, trồng tỉa một cách
khá chính xác.
Muốn ngắm sao thì người ta trồng một cây cột cao 2m, trên đầu có trục
quay. Sau đó gắn cần dài 2 thước vào đầu trục quay, một đầu 0,50m còn đầu kia
1,50m dùng làm ống nhòm. Mỗi đầu gắn một cái chốt, hay một lỗ nhỏ dùng để định đường
thẳng.
Dưới chân cột người ta làm một mặt phẳng bằng đất nện,
có đường kính 3m (2x1,5m) để ghi vị trí ngôi sao chuẩn.
Ðầu trục 1,50m để một quả rọi và gắn một cái mào để ngắm
như đầu cây súng ngày hôm nay.
Ðầu trục kia, 0,50m, người ta gắn miếng gỗ có lỗ nhòm được
gọi là ống nhòm; hay cái mào.
Muốn định vị trí ngôi sao chuẩn vào lúc nửa đêm thì
người ta đưa ống nhòm lên ngắm:
Ø
Ðể lỗ nhòm, đầu
mào và ngôi sao thẳng hàng. Giữ nguyên vị trí đó rồi thả quả rọi xuống đất để đánh
dấu.
Như vậy người ta
sẽ thấy quỹ đạo của ngôi sao chuẩn là hình bầu dục. Vị trí của ngôi sao chuẩn
này cho ta biết ngày trong năm. Tuy không chánh xác như ngày hôm nay, nhưng ít
nhất cũng định được mùa một cách khá chánh xác.
Theo cách tính
ngày hôm nay thì mỗi ngày ngôi sao đó di chuyển được 0,99 độ từ Trái sang Phải.
Mỗi mùa di chuyển được một góc vuông (90°). Như thế là định được ngày gieo mạ, định
được tiết xuân, lễ hội mừng xuân và ngày đầu năm: Mồng một tháng Giêng Việt Lịch.
Vì vậy nên Việt
Lịch không thể đổi tháng đầu năm theo nhu cầu chánh trị được. Vì tên các tháng
là số thứ tự trong năm.
Lúc đó người ta tính theo hệ thống
TÁ, 12 đơn vị nhỏ mới bằng 1 đơn vị lớn; vì thế cho nên tên của 12 tháng gọi
khác ngày hôm nay: Tháng GIÊNG là tháng thứ nhất trong năm….. tháng MỘT là
tháng thứ 11 trong năm và tháng CHẠP là tháng thứ 12 trong năm. Mười một và mười hai là cách đếm theo hệ thống Thập Phân chứ không phải
thập Nhị Phân (Tá)
Ø Một và Chạp thuộc hàng đơn vị theo hệ thống đếm
TÁ (chia đơn vị thành 12 phần đều nhau) mà nay vẫn còn dùng như: Một vỷ trứng 6
trái hay 12 trái, một thùng rượu gồm 12 chai, vì nó tiện cho việc gói hàng
(3x4); xếp theo thập phân thì mất chỗ (2x5).
Ø Còn 11 và 12 thuộc hàng chục theo hệ thống đếm
Thập Phân (chia là 10 phần)
Còn Dương lịch
và Âm lịch đặt tháng theo tên, nên nhà vua có thể quyết định thay đổi tháng đầu
năm theo nhu cầu chánh trị. Và 2 lịch này đã đổi tháng đầu năm vì lý do chánh
trị ít nhất là 3 lần rồi.
Phần còn lại là
Tiết Giữa Thu là lúc lá vàng rơi rộ nhất thì tính làm sao cho ngày đó
rơi vào lúc trăng sáng. Trăng lặn sau 09 giờ đêm và mọc trước 8 giờ tối. Tức từ
ngày mồng 7 đến ngày 18 của tuần trăng.
q
Vì dụng cụ thô
sơ nên ngày xưa chỉ tính trước được có 2 hay 3 năm; nhưng bây giờ tính bằng máy
vi tính (computeur) thì ta có thể tính cả hàng trăm hay hàng ngàn năm cũng được.
Cách tính như
sau: (coi
bảng định ngày đính kèm)
Ø Tiết đầu xuân chỉ
quanh quẩn từ 28 février đến 06 mars.
Nếu Tân Xuân
(tx) rơi vào ngày 03 mars thì tháng Giêng có 30 ngày. Nếu rơi vào ngày 28
février thì tháng Giêng có thêm 3 ngày, tức 33 ngày. Còn nếu rơi
vào ngày 06 mars thì tháng Giêng bớt đi 3 ngày, chỉ còn có 27 ngày thôi.
Còn Trung Thu
thì lễ hội được tổ chức trong 3 ngày 14, 15, 16 tháng Tám Việt Lịch. Ba làng
thay phiên nhau mỗi làng 1 ngày.
Nếu 15 tháng Tám
rơi vào ngày 15 octobre thì tháng Tám có 30 ngày, nếu rơi trước
ngày đó thì tháng Tám có thể có tới 33 ngày, còn sau thì chỉ còn 27 ngày thôi.
Tháng Chạp thì tính theo
ngày đầu năm của năm sau. Nếu Tân Xuân (tx) là ngày 03 mars thì tháng Chạp có
30 ngày. Nếu (t.x) rơi vào ngày 28 février thì tháng chạp bớt đi 3 ngày; hay
rơi vào ngày 06 mars thì thêm 3 ngày. Như vậy thì:
P Mồng một tháng
Hai là ngày 02 Avril (cố định).
P Mồng một tháng
Chạp là ngày 01 hay 02 février nếu tháng đó có 29 ngày (cố định).
P Số ngày trong năm
không cách nhau quá 7 ngày. Trung bình là 365 ngày rưỡi, tức từ 362 tới 369
ngày. Do đó gieo mạ sớm hay chậm 4 ngày là đúng; còn không thì dễ thất thu.
·
Sau
đây là bảng trăng rằm giữa mùa thu, tính theo logiciel (nhu liệu) của ông Hồ Ngọc
Ðức http://come.to/duc. phổ biến
trên site web vào năm 2005 và trình luận án Tiến Sỹ ở Đức Quốc vào năm 2012.
Từ đó:
1.
Ðịnh
ngày Giữa Thu (gt) trước, sau đó là Tân Xuân (tx) của năm sau.
2.
Cách
định các tháng còn lại:
-
Tính
tổng số ngày từ tx đến gt, trừ đi 15 ngày tháng Tám và số ngày
tháng Giêng. Còn lại chia đều cho 6 tháng (từ tháng hai đến tháng bảy).
-
Tính
tổng số ngày từ giữa thu (gt) đến hết năm, trừ đi số ngày của tháng Chạp
và ngày còn lại của tháng Tám. Còn lại chia đều cho 3 tháng (3 tháng: Chín, Mười
và Một)
Phần định ngày
trong tháng để dành cho người đọc. Xin quý vị tính tiếp, không khó đâu.
Cách tính rất dễ
và nhanh.
·
Từ
01 mars đến 30 septembre là 214 ngày.
·
Từ
01 octobre đến 28 février là 151 ngày. Năm nhuận thì thêm 1 ngày là ngày 29
février
Ðính theo đây là
ngày đầu Xuân (tx), ngày giữa Thu (gt) đã định sẵn. Số ngày trong
tháng Giêng, tháng Tám và tháng Chạp cũng đã tính sẵn cả rồi.
Lấy
ngày Giữa Thu (g.t) làm chuẩn
·
Tân xuân (t.x) năm sau:
Tính theo giữa thu (g.t) năm trước
·
Số ngày trong Giêng: Tính theo Tân Xuân của năm đó
(tx).
·
Số ngày trong Chạp: Tính theo Tân Xuân năm sau
(t.x).
·
Số ngày trong Tám:
Tính theo ngày Giữa Thu (g.t).
·
g.t: Chính giữa mùa Thu; tức ngày 15 tháng Tám Việt Lịch
(nằm trong tháng Octobre)
·
Tết trung Thu là ngày trăng sáng. Trăng lặn sau 10 giờ đêm (từ mồng 7 tuần trăng trở đi). Trăng mọc trước 08 giờ tối (trước
ngày 19 tuần trăng trở lại)
[1er mars - 30 sept.] = 214
ngày ;
[1er oct. -28 février] = 151 ngày
|
Tân
Xuân t.x |
Giêng số ngày |
Chạp số ngày |
|
Giữa
mùa Thu g.t. (octobre) |
Tháng
Tám số ngày |
Tân xuân năm sau |
|
28 février |
33 |
27 |
|
|
|
|
|
29 février |
33 |
27 |
|
07 |
33 |
28/29 février |
|
1er mars |
32 |
28 |
|
08 |
33 |
28/29 février |
|
02 mars |
31 |
29 |
|
09 |
32 |
1er mars |
|
03 mars |
30 |
30 |
|
10 |
32 |
1er
mars |
|
04 mars |
29 |
31 |
|
11 |
31 |
02 mars |
|
05 mars |
28 |
32 |
|
12 |
31 |
02 mars |
|
06 mars |
27 |
33 |
|
13 |
31 |
02 mars |
|
|
|
|
|
14 |
30 |
03 mars |
|
|
|
|
|
15 |
30 |
03 mars |
|
|
|
|
|
16 |
30 |
03 mars |
Như vậy là:
A/- Mồng
một tháng Hai rơi vào ngày 02 avril (cố định);
B/- Mồng
một tháng Chạp rơi vào ngày (du di 1 ngày):
a.
01 février trong năm không nhuận (tháng
Février có 28 ngày).
b.
hay
02 février trong năm nhuận (tháng Février có 29 ngày)
Tri tân:
Ngày hôm nay lịch
này không còn vì đã bị Mã Viện bức tử vào năm 43
AD để ép buộc dân Nông Nghiệp phải dùng Âm Lịch của dân Du-Mục nên mùa màng lệch
lạc, thất thu, đói kém.
Ø Dùng Âm Lịch là
vô tình nô lệ tư tưởng người Tàu từ thời Mã Viện mà không hay. Nay đã thành thói quen rồi, nên không thể thay đổi đột ngột
được; mặc dù nông nghiệp bị thiệt thòi. Nếu muốn khôi phục lại nền Văn Minh đầu
tiên của dân Việt đã bị bức tử thì chúng ta nên tiến dần dần từng bước một thì
mới thành công được. Công việc làm như sau:
-
Hãy dùng thông tin hiện đại để đánh thức tâm thức u
mê của người Việt là: Văn minh đầu tiên của tổ tiên ta đã bị Mã Viện bức tử và
chúng ta cần phục hồi lại tinh thần hào hùng của dân tộc.
-
Hãy cùng nhau tổ chức ngày Đại Hội Văn Hóa Rồng Tiên
vào ngày mồng 1 tháng Giêng Việt Lịch với chương trình dự trù như sau, từ 11 giờ
sáng đế 8 giờ tối:
SÁNG từ 11 giờ: Triển lãm; Diễn văn khai mạc nói về ý nghĩa của
ngày đại hội này; Tế tổ Hùng Vương theo nghi thức cổ truyền để nói lên nhân
sinh quan của người Việt về cái sống và cái chết của con ngưòi; Hưởng lộc Tổ và
ăn cơm tập thể.
CHIỀU từ 2 giờ đến 8 giờ tối: Hội thảo về
Nền Văn Minh và Văn Hóa của dân Việt; Thi đua thi thố nền Văn Hóa Rồng Tiên
(trình diễn - Carnavale); Ăn cơm tối, tiếp theo là đêm Văn Nghệ tìm hiểu cội nguồn để biết ta là ai? sống để
làm gì?
Ø Quay vidéo, phóng đi các nơi để sửa soạn việc thành lập Liên Hội Văn Hóa ở
mọi nơi.
Phần 3: THAM
LUẬN (dành cho Giảng Viên)
CÁCH TÍNH
GIỜ CỦA NGƯỜI
XƯA
Ðừng nói người
xưa tính giờ không đúng. Họ có cách hành quân đánh gọng kìm, tức 2 hay 3 cánh
quân tiến đánh cùng lúc để tiêu diệt địch quân trong thế bất ngờ như:
1.
Quân
của Lý Thường Kiệt và quân của Tôn Ðản đã hành quân sang đánh phủ đầu bên Tàu
mà ta gọi là "phạt Tống". Mục đích là phá hậu cần của giặc.
2.
Quân
nhà Trần đánh trận Chương Dương, phải phối hợp các cánh quân một cách nhịp
nhàng.
3.
Quân
Lê Lợi đánh trận Chi Lăng, Xương Giang. Phải chặn viện binh và công thành cho ăn
khớp.
4.
Quân
Tây Sơn đánh trận Ðống Ða với 5 cánh quân tiến cùng một lúc.
·
Lúc
xuất quân thì tính 7 ngày sẽ đánh Thăng Long, nhưng đã chiếm Thăng Long vào
ngày mồng 5, tức trước 2 ngày dự tính là vì không phải đánh Hạ Hồi và Thăng
Long nên sớm hơn 2 ngày dự trù.
·
Vì
không phải đánh Hạ Hồi nên Tượng Binh có nhiệm vụ trợ chiến để đánh Ngọc Hồi phải
biết trước thì mới rời nơi trú quân sớm 1 ngày; và Kỵ Binh có nhiệm vụ hạ thành
Ðống Ða cũng phải biết trước thì mới tiến đánh 1 ngày sớm hơn cho ăn khớp với đại
binh.
Nên nhớ là khi dụng
binh thì đơn vị là giờ chứ không phải ngày.
Còn 2 cánh đường
thủy, đóng chốt ở Bắc Ninh và Yến Thế với nhiệm vụ tiếp chiến và chặn viện binh
đến trễ 2 ngày vì thiếu thông tin.
Chốt ở Bắc Ninh
có nhiệm vụ đột nhập doanh trại địch và đốt kho lương cùng súng đạn nếu Tôn Sỹ
Nghị kéo đi tiếp chiến Khương Thượng (Đống Đa); chốt ở Yên Thế chặn viện binh từ
Lưỡng Quảng đến giải vòng vây.
Cuối cùng 5 giờ
sáng ngày mồng 7 voi trận, ngựa chiến cùng đại binh phá tan trại giặc ở thành
Thăng Long.
Đáng lý phải gài
chốt vào đêm ngày mồng 4 thay cho đêm ngày mồng 6 theo dự trù. Đến sớm thì lộ,
giặc phản công lúc mình chưa phối hợp kịp; mà đến trễ thì giặc chạy thoát vòng
vây. Do đó khi vào Thăng Long chỉ có 3 cánh quân thay vì 4 cánh là: Ðại
Binh, Tượng Binh và Kỵ Binh. Như vậy là họ định giờ rất chính xác để đồng
loạt tấn công bất ngờ. Cái giỏi là truyền thông trong đất địch mà địch không biết.
Vậy thì quân Tây Sơn định giờ bằng cách nào, và truyền tin ra sao để qua mắt địch?
Điểm này sẽ học trong phần lịch sử về nhà Tây Sơn trong năm tới (2018)
Ðây là cách định
giờ của người xưa:
·
Ðịnh
tốc độ thì họ dùng cây nhang, hoặc hương vòng, mà ta gọi là Hỏa Tốc.
Hỏa là lửa, Tốc
là nhanh. Hỏa Tốc được dùng để thông tin khẩn cấp mà ta gọi người đưa tin là
Phu Trạm. Tức giữa 2 trạm có toán đưa thư bằng ngựa. Khi leo lên ngựa thì đốt
cây nhang và chạy như biến về trạm kia. Khi chạy thì lắc chuông để phu trạm bên
kia sửa soạn chạy tiếp và mọi người dẹp đường. Nay ta gọi là chạy Tiếp Sức, tốp
này chạy đua với tốp khác; mỗi người trong tốp chạy một đoạn ngắn.
·
Ðịnh
giờ bằng vại nước bị rò, sau này được gọi là Ðồng Hồ, tức cái hồ nước bằng đồng
bị đục lỗ nhỏ ở đáy để nước nhỏ giọt. Lấy đồ bằng đồng thay cho đồ đất nung (tức
đồ Gốm).
·
Ðịnh
ngày trong năm thì bằng cách ngắm sao trên bàu trời ở thời điểm nhất định nào đó
như đã nói ở trên.
Ngày xưa chỉ định
đến giờ chứ chưa có phút và giây. Thời điểm làm chuẩn là mặt trời đứng bóng. Tức
cây sào cao 2 thước, đầu quấn bùi-nhùi, trồng trước sân nhà cho biết đúng giữa
trưa, từ đó tính thời điểm giữa đêm như sau:
1.
Mặt
trời đứng bóng thì đổ nước vào đầy vại.
2.
Ngày
hôm sau, đúng lúc đứng bóng thì định mực nước mất đi.
3.
Khi
nước tụt xuống một nửa thì là nửa đêm. Dù không được chính xác nhưng đêm nào
cũng ngắm sao khi nước tụt xuống một nửa là đủ. Tức ngắm ở thời điểm nhất định.
4.
Muốn
cho thật chính xác thì bên dưới để một vại nhỏ hứng nước chảy ra; cổ thắt lại
khi nước tụt xuống gần phân nửa thì bắt đầu tràn lên cổ bình. Ðợi nước tới giữa
cổ bình thì ngắm sao.
--------------------------------------
Ghi chú:
Lửa bắt đầu có từ
thời đá ghè, lửa tóe ra bắt vào lá khô bốc cháy. Sau đó dùng lửa để
nung đất (đồ gốm) làm nồi luộc tôm, cá, lúa. Vì nhu cầu cần thực phẩm lưu trữ
nên mới đẻ ra nghề Nông. Vì nhu cầu trồng trọt theo thời tiết nên mới có sự ngắm
sao để định mùa, sau mới đến lịch để tính ngày.
·
Nhu
cầu mỗi ngày mỗi cần sự chính xác nên mới có Phút, Giây, Micro, Nano....
ö
BẢNG ÐỐI
CHIẾU : Việt Lịch và Dương Lịch
·
t.x: Tân Xuân,mồng một tháng Giêng Việt Lịch
(du di từ 28/02. tới 06/3)
·
g.t: Chính giữa mùa Thu; tức ngày 15 tháng
Tám Việt Lịch ( trong Oct.)
·
Ð.N : Ðồng niên, tức tổng số ngày trong năm. (DL đậm
nét là fév. 29 ngày)
|
D.L |
V.L |
t.x. |
g.t |
Giêng |
Haiè
Bảy |
tám |
9&10 |
một |
chạp |
Ð.N. |
|
|
1980 |
4859 |
03.3 |
17 |
30 |
|
29 |
|
|
30 |
365 |
|
|
1981 |
4860 |
03.3 |
15 |
30 |
|
30 |
|
|
30 |
365 |
|
|
1982 |
4861 |
03.3 |
07 |
30 |
|
33 |
|
|
30 |
362 |
|
|
1983 |
4862 |
28.2 |
16 |
33 |
|
30 |
|
|
27 |
369 |
|
|
1984 |
4863 |
03.3 |
13 |
30 |
|
31 |
|
|
30 |
364 |
|
|
1985 |
4864 |
02.3 |
21 |
31 |
|
27 |
|
|
29 |
369 |
|
|
1986 |
4865 |
06.3 |
15 |
27 |
|
30 |
|
|
33 |
362 |
|
|
1987 |
4866 |
03.3 |
11 |
30 |
|
31 |
|
|
30 |
365 |
|
|
1988 |
4867 |
02.3 |
19 |
31 |
|
28 |
|
|
29 |
368 |
|
|
1989 |
4868 |
05.3 |
15 |
28 |
|
30 |
|
|
32 |
364 |
|
|
1990 |
4869 |
03.3 |
07 |
30 |
|
33 |
|
|
30 |
362 |
|
|
1991 |
4870 |
28.2 |
16 |
33 |
|
30 |
|
|
27 |
369 |
|
|
1992 |
4871 |
03.3 |
14 |
30 |
|
30 |
|
|
30 |
365 |
|
|
1993 |
4872 |
03.3 |
21 |
30 |
|
27 |
|
|
30 |
369 |
|
|
1994 |
4873 |
06.3 |
15 |
27 |
|
30 |
|
|
33 |
362 |
|
|
1995 |
7874 |
03.3 |
12 |
30 |
|
31 |
|
|
30 |
365 |
|
|
1996 |
4875 |
02.3 |
19 |
31 |
|
28 |
|
|
29 |
368 |
|
|
1997 |
4876 |
05.3 |
15 |
28 |
|
30 |
|
|
32 |
363 |
|
|
1998 |
4877 |
03.3 |
09 |
30 |
|
32 |
|
|
30 |
363 |
|
|
1999 |
4878 |
01.3 |
17 |
32 |
|
29 |
|
|
28 |
369 |
|
|
2000 |
4879 |
04.3 |
15 |
29 |
|
30 |
|
|
31 |
364 |
|
|
2001 |
4880 |
03.3 |
07 |
30 |
|
33 |
|
|
30 |
362 |
|
|
2002 |
4881 |
28.2 |
15 |
33 |
|
30 |
|
|
27 |
368 |
|
|
2003 |
4882 |
03.3 |
14 |
30 |
|
30 |
|
|
30 |
366 |
|
|
2004 |
4883 |
03.3 |
20 |
30 |
|
28 |
|
|
30 |
367 |
|
|
2005 |
4884 |
05.3 |
15 |
28 |
|
30 |
|
|
32 |
363 |
|
|
2006 |
4885 |
03.3 |
10 |
30 |
|
32 |
|
|
30 |
363 |
|
|
2007 |
4886 |
01.3 |
17 |
32 |
|
29 |
|
|
28 |
369 |
|
|
2008 |
4887 |
04.3 |
15 |
29 |
|
30 |
|
|
31 |
364 |
|
|
2009 |
4888 |
03.3 |
08 |
30 |
|
33 |
|
|
30 |
362 |
|
|
2010 |
4889 |
28.2 |
16 |
33 |
|
30 |
|
|
27 |
368 |
|
|
2011 |
4890 |
03.3 |
15 |
30 |
|
30 |
|
|
30 |
366 |
|
|
2012 |
4891 |
03.3 |
22 |
30 |
|
27 |
|
|
30 |
368 |
|
|
2013 |
4892 |
06.3 |
15 |
27 |
|
30 |
|
|
33 |
362 |
|
|
2014 |
4893 |
03.3 |
12 |
30 |
|
31 |
|
|
30 |
364 |
|
|
2015 |
4894 |
02.3 |
19 |
31 |
|
28 |
|
|
29 |
369 |
|
|
2016 |
4895 |
05.3 |
15 |
28 |
|
30 |
|
|
32 |
364 |
|
|
2017 |
4896 |
04.3 |
08 |
29 |
|
33 |
|
|
31 |
361 |
|
|
2018 |
4897 |
28.2 |
17 |
33 |
|
29 |
|
|
27 |
369 |
|
|
2019 |
4898 |
04.3 |
15 |
29 |
|
30 |
|
|
31 |
365 |
|
BẢNG ÐỐI
CHIẾU : Việt Lịch và Dương Lịch
·
t.x: Tân Xuân,mồng một tháng Giêng Việt Lịch
(du di từ 28/02. tới 06/3)
·
g.t: Chính giữa mùa Thu; tức ngày 15 tháng
Tám Việt Lịch ( trong Oct.)
·
Ð.N : Ðồng niên, tức tổng số ngày trong năm. (DL đậm
nét là fév. 29 ngày)
|
D.L |
V.L. |
t.x. |
g.t |
Giêng |
HaièBảy |
tám |
9&10 |
Một |
Chạp |
DN |
|
2020 |
4899 |
03.3 |
07 |
30 |
|
33 |
|
|
30 |
362 |
|
2021 |
4900 |
28.2 |
15 |
33 |
|
30 |
|
|
27 |
368 |
|
2022 |
4901 |
03.3 |
14 |
30 |
|
30 |
|
|
30 |
368 |
|
2023 |
4902 |
06.3 |
21 |
27 |
|
27 |
|
|
33 |
363 |
|
2024 |
4903 |
03.3 |
15 |
30 |
|
30 |
|
|
30 |
365 |
|
2025 |
4904 |
03.3 |
10 |
30 |
|
32 |
|
|
30 |
363 |
|
2026 |
4905 |
01.3 |
17 |
32 |
|
29 |
|
|
28 |
368 |
|
2027 |
4906 |
04.3 |
15 |
29 |
|
30 |
|
|
31 |
365 |
|
2028 |
4907 |
03.3 |
07 |
30 |
|
33 |
|
|
30 |
362 |
|
2029 |
4908 |
28.2 |
15 |
33 |
|
30 |
|
|
27 |
368 |
|
2030 |
4909 |
03.3 |
15 |
30 |
|
30 |
|
|
30 |
365 |
|
2031 |
4910 |
03.3 |
22 |
30 |
|
27 |
|
|
30 |
369 |
|
2032 |
4911 |
06.3 |
15 |
27 |
|
30 |
|
|
33 |
362 |
|
2033 |
4912 |
03.3 |
11 |
30 |
|
31 |
|
|
30 |
364 |
|
2034 |
4913 |
02.3 |
18 |
31 |
|
29 |
|
|
29 |
367 |
|
2035 |
4914 |
04.3 |
15 |
29 |
|
30 |
|
|
31 |
365 |
|
2036 |
4915 |
02.3 |
08 |
31 |
|
33 |
|
|
29 |
362 |
|
2037 |
4916 |
28.2 |
19 |
33 |
|
28 |
|
|
27 |
368 |
|
2038 |
4917 |
03.3 |
15 |
30 |
|
30 |
|
|
30 |
365 |
|
2039 |
4918 |
03.3 |
07 |
30 |
|
33 |
|
|
30 |
363 |
|
2040 |
4919 |
29.3 |
16 |
33 |
|
30 |
|
|
27 |
367 |
|
2041 |
4920 |
03.3 |
13 |
30 |
|
31 |
|
|
30 |
364 |
|
2042 |
4921 |
02.3 |
20 |
31 |
|
28 |
|
|
29 |
368 |
|
2043 |
4922 |
05.3 |
15 |
28 |
|
30 |
|
|
32 |
364 |
|
2044 |
4923 |
03.3 |
09 |
30 |
|
32 |
|
|
30 |
363 |
|
2045 |
4924 |
01.3 |
20 |
32 |
|
28 |
|
|
28 |
369 |
|
2046 |
4925 |
05.3 |
15 |
28 |
|
30 |
|
|
32 |
363 |
|
2047 |
4926 |
03.3 |
08 |
30 |
|
33 |
|
|
30 |
365 |
|
2048 |
4927 |
03.3 |
15 |
30 |
|
30 |
|
|
30 |
362 |
|
2049 |
4928 |
28.2 |
15 |
33 |
|
30 |
|
|
27 |
368 |
|
2050 |
4929 |
03.3 |
22 |
30 |
|
27 |
|
|
30 |
368 |
|
2051 |
4930 |
06.3 |
15 |
27 |
|
30 |
|
|
33 |
363 |
|
2052 |
4931 |
03.3 |
11 |
30 |
|
31 |
|
|
30 |
364 |
|
2053 |
4932 |
02.3 |
19 |
31 |
|
28 |
|
|
29 |
368 |
|
2054 |
4933 |
05.3 |
15 |
28 |
|
30 |
|
|
32 |
363 |
|
2055 |
4934 |
03.3 |
09 |
30 |
|
32 |
|
|
30 |
364 |
|
2056 |
4935 |
01.3 |
19 |
32 |
|
28 |
|
|
28 |
369 |
|
2057 |
4936 |
05.3 |
15 |
28 |
|
30 |
|
|
32 |
363 |
|
2058 |
4937 |
03.3 |
09 |
30 |
|
32 |
|
|
30 |
363 |
|
2059 |
4938 |
01.3 |
15 |
32 |
|
30 |
|
|
28 |
368 |
|
2060 |
4939 |
03.3 |
12 |
30 |
|
31 |
|
|
30 |
364 |
TÓM LƯỢC
GIAO LƯU GIỮA
TÀU VÀ VIỆT
Dựa
trên cách dùng lịch thì ta thấy dân Tàu là dân du-mục từ IRAN (Trung Ðông) di
qua theo cánh đồng cỏ. Còn dân Việt là dân tại chỗ sống bằng nghề Nông, định cư
và định canh từ phía Nam sông Dương Tử.
Theo
kiểm chứng của khoa học ngày hôm nay (thế kỷ thứ 21 - 2003) thì:
-
15.000BC mực nước Thái bình Dương thấp hơn ngày nay là 130,5
mètres. Từ Việt Nam đến Phi Luật Tân và xuống đến Mã Lai là đất liền phủ đầy băng
tuyết và không có sự sống.
-
Sau đó nước bắt đầu dâng lên cho đến 7.200BC thì bằng mực nước ngày
hôm nay.
-
Nước tiếp tục dâng cho đến 6.800BC thì cao hơn mặt biển ngày hôm
nay là gần 5 mètres Tính trung bình mỗi năm dâng cao 1,65 cm. (1355cm/8.200năm=1,65cm)
-
Sau đó giữ nguyên cho đến 5.000BC thì bắt đầu rút xuống bằng mức
hiện nay vào thời điểm 3.400BC. Tính trung bình mỗi năm rút xuống 0,31cm (3,1mm
= 500cm/1600năm).
-
Từ năm 3.400BC đến nay bàu khí quyển ổn định nên mực nước đứng yên
không đổi
Từ
15.000BC đến 8.000BC có tất cả là 3 trận đại hồng thủy (nước dâng rồi lại rút cả
thảy 3 lần) ở mực nước khác nhau. Hai trận ngập lụt trước thì loài người sống
trong tình trạng hoang dã như loài thú nên không bị thiệt hại nhiều. Đó là những
năm 14.000BC và 11.500BC
Nhưng trận đại hồng
thủy lần thứ 3 và cũng là lần chót bắt đầu vào khoảng 8.000BC đã làm thay đổi
hoàn toàn nếp sống của dân Nông Nghiệp ở Phương Ðông. Lúc đó mực nước cao nhất
hơn ngày hôm nay là 5m. Sau đó nước rút xuống ở mức ngày hôm nay vào năm
3.400BC - lúc đó chưa có đồng bằng Bắc Việt (sông Hồng) và đồng bằng Nam Việt
(sông Cửu Long). Lâm Thao, Phú Thọ nơi có đền Hùng nằm ngay bờ biển.
Cách đây 20.000 năm
thì mực nước biển Ðông thấp hơn ngày hôm nay là 130,50m. Việt Nam, Phi Luật Tân
và Nam Dương là đất liền. Ðồng bằng Bắc Việt và đồng bằng Nam Việt phủ đầy tuyết,
không có sự sống.
1.
Vào
khoảng 15.000BC thì mực nước bắt đầu dâng vì khí quyển nóng (lý do gì thì chưa
biết), khối băng tan dần. Đó là thời kỹ rã băng.
Ðến 6.000BC thì
mực nước cao hơn ngày hôm nay là 5mètres (thước Tây).
Lúc đó dân nông
nghiệp ở Phi-Luật-Tân, Mã-Lai phải di lên vùng núi cao: Tân-Cương, Tây-Tạng,
Hoành Sơn. Ðó là: Dân Ngô, dân Sở, dân Việt, dân Chàm, dân KHMER (tức
Chân-Lạp - Phù-Nam là đất bồi bởi con sông Cửu Long thì lúc này chưa có). Vì
sinh sống bằng Nông Nghiệp nên còn có tên là MIÊU TỘC để chỉ dân Ngô, Sở và Việt,
hay Bách Việt.
Miêu là Mễ = Ngũ
Cốc. Người Tàu đọc là Man, ta phiên âm ngược lại thành Mán. Nghề nông bắt đầu
có vào khoảng 13.000BC
-
Còn
dân Lào và Thái thuộc sắc dân vùng U Việt (Vân Nam) di xuống. U có nghĩa là tối,
vì vùng đất này bị mây che phủ quanh năm.
-
Vân
Nam là Mây ở phương Nam, danh từ Vân Nam có từ thời Triệu Ðà (207 BC). Còn danh
từ U Việt có từ thời Văn Lang (2.879 BC). Vân Nam là tiếng Việt; nếu là tiếng
Tàu thì họ gọi là Nam-Vân. Những điểm này sẽ giải thích sau, như thế nào là Lạc
Việt, Âu Việt,
Việt Ðiền, Mân
Việt, Ngô Việt, Bách Việt, Việt Thường..... khi kết hợp để lập nước Văn
Lang. Và Văn Lang là gì? Việt Điền : Cố gắng khẩn hoang. Ngô Việt :
Người Việt gốc Ngô.
Việt Thường :
Phi Thường vì có chiến khu Lâm Ấp, bất khả xâm phạm (từ Hà Tĩnh đến Huế)
2.
Vào
khoảng 3.400BC thì nước biển rút xuống và giữ nguyên ở mực nước ngày hôm nay
(vì khí quyển lạnh trở lại), thì phần lớn các di dân theo triền sông ra biển lập
nghiệp cầy cấy. Ðó là con sông Hoàng Hà (qua Bắc Kinh), con sông Dương
Tử (chảy ra Thượng Hải, hàng Châu), con sông Tây Giang
(chảy ra Hương Cảng, HONGKONG), con sông Hồng Hà (chảy ra Hải
Phòng, Ninh Bình), con sông Mã (chảy ra Thanh Hóa) và con sông Cửu
Long Giang (chảy ra biển miền Nam nước ta ngày
hôm nay).
3.
Sau
cuộc hồi hương này thì thành lập các nước, sớm muộn khác nhau. Nhóm còn lại lập
thành vùng an lạc Tân Cương, Tây Tạng. Các nước mới được lập như sau:
P Theo triền sông
Hoàng Hà: Nhà Thương, sau là nhà Chu, rồi đến Tần (Thủy Hoàng), Hán (Lưu
Bang), Ðường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, Tôn Dật Tiên (Tam Dân), Mao (Cộng Sản).
Nhà Thương bắt đầu
từ 1.500BC.
Vì nhu cầu chung sống hòa bình giữa Nông Nghiệp tại chỗ và Du Mục từ IRAN di
qua nên nhà Thương mới đặt ra luật để tổ chức xã hội vào thời điểm 1.300BC.
P Theo triền sông
Dương Tử: Nước Ngô (thuần chủng) , nước Việt (đa chủng, 15 sắc dân) Nước Sở
(thuần chủng). Lập nước từ năm 2.879 trước Tây lịch với nguyên nhân là chống lại
sự xâm lăng của nước Ngô với thuyết Thiên Tử sơ khai; về sau được Khổng
Tử (551-479BC) biến thành học thuyết
Thiên Mệnh của kẻ xâm lăng (#520BC).
Vì nhu cầu chánh
trị nên ông ta thêm bớt cho rõ nét xâm lăng, phân ranh rõ rệt giữa giai cấp Thống-trị
và giai cấp Bị-trị. Sau đó Lưu Bang (206-183BC) hoàn chỉnh cho phù hợp với đường
lối chánh trị của ông ta. Học thuyết Khổng Khâu (được Hán Cao Tổ tôn lên làm
Thánh nên gọi là Khổng Tử) sẽ được nói riêng cho rõ nét về âm mưu thống trị dân
Nông Nghiệp của ông Nam Mô Một Bồ Dao Găm này.
Vì
phải tự vệ để chống nước Ngô, nên nước Sở được thành lập với thuyết Vô Vi, nước
Việt (Văn Lang) thành lập với thuyết Rồng Tiên Khai Quốc trăm trứng, trăm con.
Ðịa bàn hoạt động
của 3 nước này chiếm một vùng từ phía Nam sông Dương Tử đến tận đèo Hải Vân
ngày hôm nay. Phía Tây đến tận sông Cửu Long bên Lào ngày hôm nay.
P Theo triền sông
Mã là sắc dân Việt Thường với chiến khu Lâm Ấp bất khả xâm phạm. Sắc dân Việt
Thường (tổ tiên đại vương Lê Lợi) kết hợp với 14 sắc dân kia để tạo thành nước
Văn Lang.
P Theo triền sông
Cửu Long gồm có sắc dân Chàm lập quốc vào năm 40 sau thiên chúa để chống Mã Viện
đổ quân từ đảo Hải Nam vào; mượn đường tiến đánh chiến khu Lâm Ấp. Và sắc dân
KHMER tự chia làm 2 nước là Thủy Chân Lạp (tính nết ôn hòa, chín chắn), Lục
Chân Lạp (tính nết nóng nảy), tức nước KHMER ngày hôm nay. Nên nhớ là lúc đó chưa
có đồng bằng con sông Cửu Long, đảo Phú Quốc ở giữa biển khơi. Sau này khi đang bồi thì ta gọi là đất bồi miền nam,
tức Phù Nam không thể ở được vì không những thiếu nước ngọt mà còn bị muỗi, cá
sấu (thuồng luồng) và loài thủy quái ám hại – coi vùng Cà-Mâu ngày hôm nay thì
rõ.
Nước Chân Lạp được
thành lập vào thế kỷ thứ 5 sau Thiên Chúa (#450AD) để tự vệ chống sự bành trướng
của nước Chàm, lúc đó họ chia làm Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp; giống như người
Việt gọi người miền Xuôi (người Kinh) và người miền Ngược hay miền Núi (người
Thượng)
Vào cuối thế kỷ
thứ 8 nước Chàm đánh chiếm 2 châu Ô và châu Lý (Quảng Trị và Huế) của vùng đất
Việt Thường vào thời điểm nước Ta bị nhà Ðường đang cực thịnh thống trị (Ðánh
Hôi). Về sau nhà Trần gả công Chúa Huyền Trân để xin chuộc lại 2 châu Ô và
Lý. Sau đó cải danh thành đất Thuận Hóa; tức trở về với đất mẹ một cách đồng
thuận, hài hòa.
Châu Thuận (Ô)
là Quảng Trị ngày hôm nay, châu Hóa (Lý) là Thừa Thiên ngày hôm nay
KHAI
THÔNG NGỘ NHẬN
Theo cuốn sử do Bắc
Kinh viết mới đây vào năm 2000 (La Gloire des Empereurs; Tổng Thống CHIRAC của
nước Pháp đề tựa) nói rõ XIA là barbare: Nhà Hạ (1.700BC) chưa có luật nước.
Vậy thì lịch sử
nước Tàu chỉ bắt đầu từ đời nhà Thương mà thôi. Trước đó nhà Hạ, Tam Hoàng Ngũ
Ðế đều do Tần Thủy Hoàng bịa ra vào năm 221BC để tự đề cao mình. Danh
xưng Hán là tên Triều đại chứ không có sắc tộc nào mang tên là Hán cả. Do đó
không có Chữ Hán, không có Văn Hóa Hán, không có Hán Tộc (người Hán) hay Ðại
Hán trên nước Tàu và ngay trên cả trên Thế Giới cũng không có nốt.
Dưới thời Lã Hậu
thì người ta gọi là Thần Dân nhà Hán (người dân thần phục triều đình), tức Hán
Dân chứ không phải là Hán Tộc. Sau đó lại biến thành Đường Dân (nhà Đường người
Thiểm Tây), Tống Dân (nhà Tống người Ngô), Nguyên Dân (nhà Nguyên là Rợ Hung
Nô), Minh Dân (nhà Minh người Thiều Châu-Mân Việt), Thanh dân (nhà Thanh là Rợ
Kim).
Năm 1911, Tôn Dật
Tiên người gốc Quảng Đông (con cháu Câu Tiễn) là người Lạc Việt vì muốn cướp
quyền nhà Thanh (Rợ Kim) nên đẻ ra thuyết tam dân (sinh, chủ, quyền) để xóa sự
ngăn cách chủng tộc nên đặt tên đảng là Trung Hoa Dân Quốc Đảng; vì thế nên họ
biến chữ Hán Dân thành Hán Tộc.
Dân Du mục khởi đi
từ IRAN theo đồng cỏ tiến lên phía Bắc, tới KAZAKHSTAN (route de
la soie, đường thương mại giữa Trung Ðông và Á Châu) thì quá lạnh,
không có đồng cỏ cho gia súc ăn nên phải di qua phía Tây (lập nên các nước Âu
Châu) và phía Ðông (Mông Cổ, Mãn Châu). Tới đây gặp biển nên tràn xuống phía
Nam gặp cư dân Nông Nghiệp tại chỗ mà ta gọi là con cháu Đế Nghi (Huyền thoại)
Mới đầu là nhà Hạ,
không có luật lệ gì cả, không có tổ chức xã hội nên không thể gọi là một nước được
Sau đó đến nhà
Thương (1.500BC) thì 200 năm sau (1.300BC) mới bắt đầu có luật lệ để 2 sắc dân
chung sống hòa bình. Vì nhu cầu thông tin nên đẻ ra chữ viết Tượng Hình và Tượng
Ý, nên cải danh thành nhà Ân (1.300BC)
Nhà Chu chê nhà
Thương quá hiền hòa với dân Nông Nghiệp nên diệt Thương, đốt hết sách vở (khử
tịch) đến độ con cháu phải chạy qua Mỹ Châu, tức dân da đỏ ngày nay.
Vì thiếu người
cai trị dân nông nghiệp hiền hòa nên nhà Chu đẻ ra thể chế Phong Kiến.
Tức nhìn trên bản đồ rồi phong cho mỗi người một vùng để tự ý cai trị; miễn sao
thần phục Chu Công (Thiên Tử, con Trời) là đủ. Vì thế nên mới đẻ ra các
chức: Công, Hầu, Bá, Tử, Khanh để phong đất to nhỏ khác nhau. Phong có
nghĩa là cho; còn Kiến có nghĩa là nhìn. Cả thế giới chỉ có nhà Chu là có chế độ
Phong Kiến.
Ông Hồ Chí Minh, học lực chưa qua Tú Tài , vì dốt lịch sử nhân loại nên ông ta mới
gom tất cả chế độ Quân Chủ đủ loại và gán cho nó cái tên PHONG KIẾN.
Người dân không biết nên nói theo.
Phần 4: THỰC TẬP (văn ôn, vũ luyện)
-
Tại
sao con người lại cần Lịch?
-
Tại
sao Việt Lịch và Dương Lịch mỗi năm đều có 12 tháng mà Âm Lịch có lúc 13 tháng?
-
Nói
cách tính Việt Lịch?
-
Việt
Lịch, Miêu Lịch và Quốc Lịch có khác nhau không? Tại sao?
-
Nói
2 điểm Chuẩn để tính Việt Lịch.
-
Danh
từ Đồng Hồ phát xuất từ đâu?
-
Nói
rõ dụng cụ và cách ngắm sao để định ngày ở thời điểm lúc ban đầu.
-
Làm
sao để định được Tiết Trung Thu?
-
Tiết
Trung Thu, nay gọi là Tết Trung Thu khác với hội Trăng Rằm ở chỗ nào?
-
Tại
sao Việt Lịch bị bức tử?
-
Tại
sao ngày Nguyên Đán (ngày đầu năm) Âm Lịch lại chúc mừng nhau là CUNG CHÚC TÂN
XUÂN, trong khi ngày đó rơi đúng vào chính đông (21 janvier)?
-
Nói
rõ công dụng của các loại lịch: Việt lịch, Âm lịch và Dương lịch.
-
Nói
cách tính giờ của người xưa.
-
Làm
sao để biết được giữa trưa (chính Ngọ: chính giữa giờ Ngọ) và giữa đêm (chính
Tý).
Tài liệu đọc thêm: Việt Lịch (1980-2279),
sách giáo khoa Việt Tộc cấp3, số 13 ra ngày 01/02/4890 Việt Lịch tức 02 avril
2011 do Ban Giảng Huấn, cơ sở Paris ấn hành. Phụ bản A-05: Ngày trăng tròn vào tháng octobre để tính ngày 15
tháng 8 Việt Lịch, từ năm 2060 đến năm 2229; tính theo logiciel (nhu liệu) của
ông Hồ Ngọc Ðức http://come.to/duc.
phổ biến trên site web vào năm 2005 mà quý vị có thể theo đó tính tiếp.
HẾT







0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil