dimanche 18 août 2024

T09 – MIÊU LỊCH và QUY LỊCH

T09 – MIÊU LỊCH và QUY LỊCH (04.12.2020)

Livestream trên Facebook Nỗi Niềm Quê Hương

soạn giả: Hoàng Đức Phương

 

MIÊU  LỊCH : QUY LỊCH hay VIỆT LỊCH

-         Miêu lịch

Miêu lịch hay Nông Lịch là lịch tính theo vị trí ngôi sao chuẩn vào nửa đêm để định ngày gieo mạ. Lịch này có vào năm 13.000BC (Miêu có nghĩa là Mễ, tức ngũ cốc) – có lễ hội Tiết mừng xuân

 

-         Quy lịch

Quy lịch là lịch khắc trên mai rùa. Lịch này có vào khoảng 2.500BC tính ngày trăng sáng cho lễ hội Tiết Trung Thun – Có lễ hội Tiết mừng xuân và Tiết Trung Thu cho con trẻ

 

-         Việt lịch

Việt Lịc là Quy Lịch theo ngôn từ ngày hôm nay (2016)

Bài này gồm 4 phần:

·        Phần 1 :  Ghi chú những điều cần biết trước khi giảng.

·        Phần 2 :  Bài giảng. Ôn Cố và Tri tân

·        Phần 3 :  Tham luận dành cho Giảng Viên.

·        Phần 4 :  Ôn tập (văn ôn, vũ luyện).

 

Phần 1 : GHI CHÚ

Chữ Miêu có nghĩa là Mễ, tức ngũ cốc. Miêu lịch là lịch dùng để định ngày gieo mạ, trồng trọt nên còn gọi là lịch nhà nông.

Người Tàu phát âm chữ MIÊU thành MAN; khi bị thống trị thì người Việt mình phát âm chữ MAN thành Mán. Người Miêu tộc ở phía nam con sông Dương Tử Giang nên Lã Hậu (183BC) đặt cho cái "hỗn danh" là Nam Di; người ở phía nam là bọn bán khai. Do đó họ gọi là Man Di (người Miêu là bọn bán khai)

Lịch này đã bị Mã Viện bức tử vào năm thứ 43 sau Tây Lịch, và thay thế bằng Âm Lịch. Vì thế nên về sau dân ta gọi là Quốc Lịch để nhắc nhở con cháu phải phục hồi Miêu Lịch.

 

Ø  Nay chúng ta khôi phục lại nên gọi là Việt Lịch (cho dễ nhớ) để thay thế Âm Lịch.

Ø  Dùng Âm Lịch không những không định được ngày gieo mạ, cấy lúa, mà lại còn ôm khư khư trong đầu tinh thần nô dịch thằng Tàu từ thời Mã Viện (43AD).

Học sử thì chúng ta thấy nói là Tô Định thất bại trong cuộc xâm lăng nước ta nên phải chui vào "ống đồng" để lên xe cho ngựa kéo thục mạng vào thuyền rồi chạy về Tàu. Như vậy là trong trận chiến xâm lăng thì nhà Đông Hán đã dự trù khó mà thắng; nên Tổng Tư Lệnh chiến trường là Tô Định đã phải đem theo ống đồng để thoát thân.

Tô Định là kẻ ngoại xâm, quân của hai BÀ là quân chống xâm lăng chứ không phải quân kháng chiến, vì thế nên binh đội có sẵn voi trận, có sẵn ngựa chiến, quân tuyển hàng vạn như không để trực chiến với kẻ thù. Nếu nô lệ thì làm gì có phương tiện này.

Sau khi thua thì Hán Chúa, tên là Quang Vũ, hết sức cay cú nên kéo quân trả thù do Mã Viện cầm đầu. Mã Viện có danh hiệu là PHỤC BA, tức có khả năng dẹp sóng gió (tiêu diệt kháng chiến). Nhưng thắng không phải là chuyện dễ, hắn chỉ chiếm được vùng duyên hải thôi. Chiến khu Lâm Áp (Hà Tĩnh đến đèo Hải Vân) hiên ngang giữ vững nền tự chủ. Hòa Bình, Mộc Châu và Sơn La vẫn ngoài vòng kiểm soát của giặc Đông Hán; nên hai Bà vào vùng này ẩn náy để phục thù nhưng không thành. U Việt (Vân Nam) vẫn giữ được nền độc lập

Vì thế quân Nam Chiếu (U Việt) và Lâm Ấp mới kéo binh đến Giao Châu để giải vây, và bọn thống trị ăn ngủ không yên; do đó Mã viện mới cay cú: Bắt dân ta mặc y phục Tàu, nói tiếng Tàu y như chúng bắt thổ dân ở Đài Loan ngày hôm nay nè.

Thêm vào đó hắn còn trồng cột đồng trên núi Ba Vì với câu yểm là: Đồng Trụ Chiết, Giao Chỉ Diệt với hy vọng sét đánh thì hắn nói là ý trời rồi ra tay tàn sát. Ngoài ra hắn còn cho tạc tượng của hắn với đôi bàn chân dẫm nát thân thể trần truồng của hai bà cho hả giận. Tượng này hiện nay vẫn còn ở bên Quảng Tây (§ hình đính kèm).

 

Để đối kháng, dân ta bảo nhau nhuộm răng đen để nhận diện nhau, đêm đêm gánh đất vùi cột đồng rồi phao lên rằng mỗi người đi qua ném 1 nắm đất nên cột bị vùi lấp.


 


 

·        Việt Lịch là danh từ của chúng tôi đặt ra cho dễ nhớ và dễ hiểu.

Việt Lịch được tính vào Tiết Mừng Xuân, là ngày bắt đầu khởi công cày cấy mong có cơm no, áo ấm cho trọn năm. Sau khi quen việc đồng áng thì lại nghĩ ra Tiết Trung Thu.

Tiết là đốt:

Một đoạn từ 3 đến 7 ngày, nay ta gọi là Tết. Hội Trăng Rằm chỉ có 1 ngày, hội Trăng Rằm để ngưòi lớn ngắm trăng vịnh nguyệt, ăn bánh chơi đèn. Còn Tết Trung Thu (đúng lúc lá vàng rơi rầm rộ) là tết của trẻ em, rước đèn vui đùa với nhau.

Do đó ngày đầu năm Việt Lịch là ngày đầu xuân nên mới có Cung Chúc Tân Xuân và Tân Niên làm một. Người Tàu là sắc dân Du-mục nên họ không có ngày mừng xuân.

Âm Lịch và Dương Lịch là do kẻ thống trị áp đặt, còn Miêu Lịch là lịch hữu ích của nhà Nông thì bị bức tử từ thời Mã Viện (43AD).

·        Âm Lịch là lịch dùng để đi săn thú ban đêm của dân Du-mục.

·        Miêu Lịch là lịch dùng để định ngày gieo mạ, gặt hái của dân Nông Nghiệp trong đó có dân Việt.

·        Dương Lịch là lịch đơn giản của dân Tây Phương

Chúng ta nghĩ gì về tinh thần nô dịch này rồi nói luôn là dân Nông Nghiệp nói chung và dân Việt nói riêng không biết cách tính lịch?

ö



BÀI  GIẢNG – Ôn Cố và Tri Tân

Ôn Cố

Khi loài người tự sản xuất được thực phẩm để bảo đảm cuộc sống thì lúc đó có đời sống Quần Cư, nhân số gia tăng một cách kinh khủng; từ 3 triệu người vào năm 13.000BC đến 7 tỷ người vào năm 2015.

Ø  Cuộc sống định cư hay du cư thì tùy vào nghề nghiệp: Nông-nghiệp hay Du-mục.

 

Nghề Nông :

Nghề nông có ruộng phải chăm sóc nên phải lập làng ở cạnh ruộng để canh tác.

Khi người thân qua đời thì mồ mả chôn kế bên (ngoài ruộng) nên sinh ra phong tục thờ cúng người đã khuất. Nghề nông có nếp sống (văn hóa) làng xóm, rồi đến Quốc Gia, lính tráng có trước; sau đó mới tới thành phố (thành thị). Thành là công sự chiến đấu (blocus), thị (chợ) là nơi buôn bán. Có lính tráng thì mới có nhu cầu buôn bán và có thành trì kiên cố để trú quân.

Nghề Du-mục

Du-mục là nghề chăn nuôi, di theo gia súc ăn cỏ. Ăn hết cỏ cánh đồng này thì di sang cánh đồng kế bên, do đó họ có cuộc sống du cư. Chết đâu thì chôn ở đó; vì thế nên không có tập tục viếng mộ và do đó không có tục lệ thờ cúng người đã khuất. Cánh đồng cỏ là STEPPE bên Á Châu không có; nơi đây chỉ có cỏ là mọc được thôi.

Ø  Mục là mắt dùng để canh chừng gia súc; du là nay đây mai đó. Du-mục thì có văn hóa bắp thịt, phù hợp với nghề nghiệp và tín ngưỡng thì phù hợp với nếp sống du cư của họ.

Du-mục hay Nông-nghiệp thì cũng cần biết trước ngày tháng để sửa soạn công việc phải làm.

-        Du-mục cần biết đêm trăng sáng để rình mồi nên lịch tính theo tuần trăng – (âm lịch).

-        Nông-nghiệp cần định mùa để gieo mạ nên ngắm sao–(Miêu lịch, nay ta gọi là Việt lịch)

 

Ngày là chu kỳ sinh hoạt của động vật; năm là chu kỳ sinh hoạt của thực vật. Do đó con người một khi đã có cuộc sống ổn cư rồi thì dân tộc nào cũng biết cách tính lịch cần cho nhu cầu sinh sống của mình. Vì thế nên cách tính lịch thì ai ai cũng làm được cả, vì nó dựa trên sự vận hành của vạn vật trong vũ trụ; chỉ cần để công quan sát là tính ra ngay.

 

Cách tính Việt Lịch:

Việt lịch tính theo quỹ đạo của một ngôi sao nào đó trên bàu trời (ngôi sao nào cũng giống nhau cả)

Người ta ngắm vị trí của một ngôi sao làm chuẩn vào giữa đêm. Vị trí ngôi sao này trên quỹ đạo của nó cho ta biết ngày thứ bao nhiêu trong một năm; tức là định được mùa mưa, nắng để gieo mạ, trồng tỉa một cách khá chính xác.

Muốn ngắm sao thì người ta trồng một cây cột cao 2m, trên đầu có trục quay. Sau đó gắn cần dài 2 thước vào đầu trục quay, một đầu 0,50m còn đầu kia 1,50m dùng làm ống nhòm. Mỗi đầu gắn một cái chốt, hay một lỗ nhỏ dùng để định đường thẳng.

Dưới chân cột người ta làm một mặt phẳng bằng đất nện, có đường kính 3m (2x1,5m) để ghi vị trí ngôi sao chuẩn.

Ðầu trục 1,50m để một quả rọi và gắn một cái mào để ngắm như đầu cây súng ngày hôm nay.

Ðầu trục kia, 0,50m, người ta gắn miếng gỗ có lỗ nhòm được gọi là ống nhòm; hay cái mào.

Muốn định vị trí ngôi sao chuẩn vào lúc nửa đêm thì người ta đưa ống nhòm lên ngắm:

Ø Ðể lỗ nhòm, đầu mào và ngôi sao thẳng hàng. Giữ nguyên vị trí đó rồi thả quả rọi xuống đất để đánh dấu.

 


 

Như vậy người ta sẽ thấy quỹ đạo của ngôi sao chuẩn là hình bầu dục. Vị trí của ngôi sao chuẩn này cho ta biết ngày trong năm. Tuy không chánh xác như ngày hôm nay, nhưng ít nhất cũng định được mùa một cách khá chánh xác.

 

Theo cách tính ngày hôm nay thì mỗi ngày ngôi sao đó di chuyển được 0,99 độ từ Trái sang Phải. Mỗi mùa di chuyển được một góc vuông (90°). Như thế là định được ngày gieo mạ, định được tiết xuân, lễ hội mừng xuân và ngày đầu năm: Mồng một tháng Giêng Việt Lịch.

 

Vì vậy nên Việt Lịch không thể đổi tháng đầu năm theo nhu cầu chánh trị được. Vì tên các tháng là số thứ tự trong năm.

Lúc đó người ta tính theo hệ thống TÁ, 12 đơn vị nhỏ mới bằng 1 đơn vị lớn; vì thế cho nên tên của 12 tháng gọi khác ngày hôm nay: Tháng GIÊNG là tháng thứ nhất trong năm….. tháng MỘT là tháng thứ 11 trong năm và tháng CHẠP là tháng thứ 12 trong năm. Mười mộtmười hai là cách đếm theo hệ thống Thập Phân chứ không phải thập Nhị Phân (Tá)

Ø  Một và Chạp thuộc hàng đơn vị theo hệ thống đếm TÁ (chia đơn vị thành 12 phần đều nhau) mà nay vẫn còn dùng như: Một vỷ trứng 6 trái hay 12 trái, một thùng rượu gồm 12 chai, vì nó tiện cho việc gói hàng (3x4); xếp theo thập phân thì mất chỗ (2x5).

Ø  Còn 11 và 12 thuộc hàng chục theo hệ thống đếm Thập Phân (chia là 10 phần)

 

Còn Dương lịch và Âm lịch đặt tháng theo tên, nên nhà vua có thể quyết định thay đổi tháng đầu năm theo nhu cầu chánh trị. Và 2 lịch này đã đổi tháng đầu năm vì lý do chánh trị ít nhất là 3 lần rồi.

Phần còn lại là Tiết Giữa Thu là lúc lá vàng rơi rộ nhất thì tính làm sao cho ngày đó rơi vào lúc trăng sáng. Trăng lặn sau 09 giờ đêm và mọc trước 8 giờ tối. Tức từ ngày mồng 7 đến  ngày 18 của tuần trăng.

q

 

Vì dụng cụ thô sơ nên ngày xưa chỉ tính trước được có 2 hay 3 năm; nhưng bây giờ tính bằng máy vi tính (computeur) thì ta có thể tính cả hàng trăm hay hàng ngàn năm cũng được.

Cách tính như sau: (coi bảng định ngày đính kèm)

Ø  Tiết đầu xuân chỉ quanh quẩn từ 28 février đến 06 mars.

 

Nếu Tân Xuân (tx) rơi vào ngày 03 mars thì tháng Giêng có 30 ngày. Nếu rơi vào ngày 28 février thì tháng Giêng có thêm 3 ngày, tức 33 ngày. Còn nếu rơi vào ngày 06 mars thì tháng Giêng bớt đi 3 ngày, chỉ còn có 27 ngày thôi.

 

Còn Trung Thu thì lễ hội được tổ chức trong 3 ngày 14, 15, 16 tháng Tám Việt Lịch. Ba làng thay phiên nhau mỗi làng 1 ngày.

 

Nếu 15 tháng Tám rơi vào ngày 15 octobre thì tháng Tám có 30 ngày, nếu rơi trước ngày đó thì tháng Tám có thể có tới 33 ngày, còn sau thì chỉ còn 27 ngày thôi.

 

Tháng Chạp thì tính theo ngày đầu năm của năm sau. Nếu Tân Xuân (tx) là ngày 03 mars thì tháng Chạp có 30 ngày. Nếu (t.x) rơi vào ngày 28 février thì tháng chạp bớt đi 3 ngày; hay rơi vào ngày 06 mars thì thêm 3 ngày. Như vậy thì:

P  Mồng một tháng Hai là ngày 02 Avril (cố định).

P  Mồng một tháng Chạp là ngày 01 hay 02 février nếu tháng đó có 29 ngày (cố định).

P  Số ngày trong năm không cách nhau quá 7 ngày. Trung bình là 365 ngày rưỡi, tức từ 362 tới 369 ngày. Do đó gieo mạ sớm hay chậm 4 ngày là đúng; còn không thì dễ thất thu.

 

·        Sau đây là bảng trăng rằm giữa mùa thu, tính theo logiciel (nhu liệu) của ông Hồ Ngọc Ðức http://come.to/duc. phổ biến trên site web vào năm 2005 và trình luận án Tiến Sỹ ở Đức Quốc vào năm 2012.

 

Từ đó:

1.      Ðịnh ngày Giữa Thu (gt) trước, sau đó là Tân Xuân (tx) của năm sau.

2.      Cách định các tháng còn lại:

-         Tính tổng số ngày từ tx đến gt, trừ đi 15 ngày tháng Tám và số ngày tháng Giêng. Còn lại chia đều cho 6 tháng (từ tháng hai đến tháng bảy).

-         Tính tổng số ngày từ giữa thu (gt) đến hết năm, trừ đi số ngày của tháng Chạp và ngày còn lại của tháng Tám. Còn lại chia đều cho 3 tháng (3 tháng: Chín, Mười và Một)

Phần định ngày trong tháng để dành cho người đọc. Xin quý vị tính tiếp, không khó đâu.

 

Cách tính rất dễ và nhanh.

·        Từ 01 mars đến 30 septembre là 214 ngày.

·        Từ 01 octobre đến 28 février là 151 ngày. Năm nhuận thì thêm 1 ngày là ngày 29 février

Ðính theo đây là ngày đầu Xuân (tx), ngày giữa Thu (gt) đã định sẵn. Số ngày trong tháng Giêng, tháng Tám và tháng Chạp cũng đã tính sẵn cả rồi.

 

Lấy ngày Giữa Thu (g.t) làm chuẩn

·        Tân xuân (t.x) năm sau: Tính theo giữa thu (g.t) năm trước

·        Số ngày trong Giêng: Tính theo Tân Xuân của năm đó (tx).

·        Số ngày trong Chạp: Tính theo Tân Xuân năm sau (t.x).

·        Số ngày trong Tám:  Tính theo ngày Giữa Thu (g.t).

·        g.t: Chính giữa mùa Thu; tức ngày 15 tháng Tám Việt Lịch (nằm trong tháng Octobre)

 

·        Tết trung Thu là ngày trăng sáng. Trăng lặn sau 10 giờ đêm (từ mồng 7 tuần trăng trở đi). Trăng mọc trước 08 giờ tối (trước ngày 19 tuần trăng trở lại)

    [1er mars - 30 sept.] = 214 ngày  ;   [1er oct. -28 février] = 151 ngày

 

Tân Xuân

t.x

Giêng

số ngày

Chạp

số ngày

 

Giữa mùa Thu           g.t. (octobre)

Tháng Tám

số ngày

 Tân xuân năm

sau

28 février

33

  27

 

 

 

 

29 février

33

 27

 

07

33

28/29 février

1er mars

32

28

 

08

33

28/29 février

02 mars

31

29

 

             09

   32

1er mars

03 mars

30

30

 

10

               32

1er mars

04 mars

29

31

 

11

        31

02 mars

05 mars

28

32

 

12

        31

02 mars

06 mars

27

33

 

13

        31

02 mars

 

 

 

 

      14

30

03 mars

 

 

 

 

      15

30

03 mars

 

 

 

 

      16

30

03 mars

 

Như vậy là:              

A/-   Mồng một tháng Hai rơi vào ngày 02 avril (cố định);

B/-   Mồng một tháng Chạp rơi vào ngày (du di 1 ngày):

a.       01 février trong năm không nhuận (tháng Février có 28 ngày).

b.      hay 02 février trong năm nhuận (tháng Février có 29 ngày)

Tri tân:

Ngày hôm nay lịch này không còn vì đã bị Mã Viện bức tử vào năm 43 AD để ép buộc dân Nông Nghiệp phải dùng Âm Lịch của dân Du-Mục nên mùa màng lệch lạc, thất thu, đói kém.

Ø  Dùng Âm Lịch là vô tình nô lệ tư tưởng người Tàu từ thời Mã Viện mà không hay. Nay đã thành thói quen rồi, nên không thể thay đổi đột ngột được; mặc dù nông nghiệp bị thiệt thòi. Nếu muốn khôi phục lại nền Văn Minh đầu tiên của dân Việt đã bị bức tử thì chúng ta nên tiến dần dần từng bước một thì mới thành công được. Công việc làm như sau:

-        Hãy dùng thông tin hiện đại để đánh thức tâm thức u mê của người Việt là: Văn minh đầu tiên của tổ tiên ta đã bị Mã Viện bức tử và chúng ta cần phục hồi lại tinh thần hào hùng của dân tộc.

-        Hãy cùng nhau tổ chức ngày Đại Hội Văn Hóa Rồng Tiên vào ngày mồng 1 tháng Giêng Việt Lịch với chương trình dự trù như sau, từ 11 giờ sáng đế 8 giờ tối:

SÁNG từ 11 giờ: Triển lãm; Diễn văn khai mạc nói về ý nghĩa của ngày đại hội này; Tế tổ Hùng Vương theo nghi thức cổ truyền để nói lên nhân sinh quan của người Việt về cái sống và cái chết của con ngưòi; Hưởng lộc Tổ và ăn cơm tập thể.

CHIỀU từ 2 giờ đến 8 giờ tối: Hội thảo về Nền Văn Minh và Văn Hóa của dân Việt; Thi đua thi thố nền Văn Hóa Rồng Tiên (trình diễn - Carnavale); Ăn cơm tối, tiếp theo là đêm Văn Nghệ  tìm hiểu cội nguồn để biết ta là ai? sống để làm gì?

Ø  Quay vidéo, phóng đi các nơi để sửa soạn việc thành lập Liên Hội Văn Hóa ở mọi nơi.

 

Phần 3:  THAM  LUẬN  (dành cho Giảng Viên)

CÁCH  TÍNH  GIỜ  CỦA  NGƯỜI  XƯA

Ðừng nói người xưa tính giờ không đúng. Họ có cách hành quân đánh gọng kìm, tức 2 hay 3 cánh quân tiến đánh cùng lúc để tiêu diệt địch quân trong thế bất ngờ như:

1.      Quân của Lý Thường Kiệt và quân của Tôn Ðản đã hành quân sang đánh phủ đầu bên Tàu mà ta gọi là "phạt Tống". Mục đích là phá hậu cần của giặc.

2.      Quân nhà Trần đánh trận Chương Dương, phải phối hợp các cánh quân một cách nhịp nhàng.

3.      Quân Lê Lợi đánh trận Chi Lăng, Xương Giang. Phải chặn viện binh và công thành cho ăn khớp.

4.      Quân Tây Sơn đánh trận Ðống Ða với 5 cánh quân tiến cùng một lúc.

·        Lúc xuất quân thì tính 7 ngày sẽ đánh Thăng Long, nhưng đã chiếm Thăng Long vào ngày mồng 5, tức trước 2 ngày dự tính là vì không phải đánh Hạ Hồi và Thăng Long nên sớm hơn 2 ngày dự trù.

·        Vì không phải đánh Hạ Hồi nên Tượng Binh có nhiệm vụ trợ chiến để đánh Ngọc Hồi phải biết trước thì mới rời nơi trú quân sớm 1 ngày; và Kỵ Binh có nhiệm vụ hạ thành Ðống Ða cũng phải biết trước thì mới tiến đánh 1 ngày sớm hơn cho ăn khớp với đại binh.

Nên nhớ là khi dụng binh thì đơn vị là giờ chứ không phải ngày.

Còn 2 cánh đường thủy, đóng chốt ở Bắc Ninh và Yến Thế với nhiệm vụ tiếp chiến và chặn viện binh đến trễ 2 ngày vì thiếu thông tin.

Chốt ở Bắc Ninh có nhiệm vụ đột nhập doanh trại địch và đốt kho lương cùng súng đạn nếu Tôn Sỹ Nghị kéo đi tiếp chiến Khương Thượng (Đống Đa); chốt ở Yên Thế chặn viện binh từ Lưỡng Quảng đến giải vòng vây.

Cuối cùng 5 giờ sáng ngày mồng 7 voi trận, ngựa chiến cùng đại binh phá tan trại giặc ở thành Thăng Long.

Đáng lý phải gài chốt vào đêm ngày mồng 4 thay cho đêm ngày mồng 6 theo dự trù. Đến sớm thì lộ, giặc phản công lúc mình chưa phối hợp kịp; mà đến trễ thì giặc chạy thoát vòng vây. Do đó khi vào Thăng Long chỉ có 3 cánh quân thay vì 4 cánh là: Ðại Binh, Tượng Binh và Kỵ Binh. Như vậy là họ định giờ rất chính xác để đồng loạt tấn công bất ngờ. Cái giỏi là truyền thông trong đất địch mà địch không biết. Vậy thì quân Tây Sơn định giờ bằng cách nào, và truyền tin ra sao để qua mắt địch? Điểm này sẽ học trong phần lịch sử về nhà Tây Sơn trong năm tới (2018)

 

Ðây là cách định giờ của người xưa:

·        Ðịnh tốc độ thì họ dùng cây nhang, hoặc hương vòng, mà ta gọi là Hỏa Tốc.

Hỏa là lửa, Tốc là nhanh. Hỏa Tốc được dùng để thông tin khẩn cấp mà ta gọi người đưa tin là Phu Trạm. Tức giữa 2 trạm có toán đưa thư bằng ngựa. Khi leo lên ngựa thì đốt cây nhang và chạy như biến về trạm kia. Khi chạy thì lắc chuông để phu trạm bên kia sửa soạn chạy tiếp và mọi người dẹp đường. Nay ta gọi là chạy Tiếp Sức, tốp này chạy đua với tốp khác; mỗi người trong tốp chạy một đoạn ngắn.

·        Ðịnh giờ bằng vại nước bị rò, sau này được gọi là Ðồng Hồ, tức cái hồ nước bằng đồng bị đục lỗ nhỏ ở đáy để nước nhỏ giọt. Lấy đồ bằng đồng thay cho đồ đất nung (tức đồ Gốm).

·        Ðịnh ngày trong năm thì bằng cách ngắm sao trên bàu trời ở thời điểm nhất định nào đó như đã nói ở trên.

Ngày xưa chỉ định đến giờ chứ chưa có phút và giây. Thời điểm làm chuẩn là mặt trời đứng bóng. Tức cây sào cao 2 thước, đầu quấn bùi-nhùi, trồng trước sân nhà cho biết đúng giữa trưa, từ đó tính thời điểm giữa đêm như sau:

1.      Mặt trời đứng bóng thì đổ nước vào đầy vại.

2.      Ngày hôm sau, đúng lúc đứng bóng thì định mực nước mất đi.

3.      Khi nước tụt xuống một nửa thì là nửa đêm. Dù không được chính xác nhưng đêm nào cũng ngắm sao khi nước tụt xuống một nửa là đủ. Tức ngắm ở thời điểm nhất định.

4.      Muốn cho thật chính xác thì bên dưới để một vại nhỏ hứng nước chảy ra; cổ thắt lại khi nước tụt xuống gần phân nửa thì bắt đầu tràn lên cổ bình. Ðợi nước tới giữa cổ bình thì ngắm sao.

--------------------------------------

Ghi chú:

Lửa bắt đầu có từ thời đá ghè, lửa tóe ra bắt vào lá khô bốc cháy. Sau đó dùng lửa để nung đất (đồ gốm) làm nồi luộc tôm, cá, lúa. Vì nhu cầu cần thực phẩm lưu trữ nên mới đẻ ra nghề Nông. Vì nhu cầu trồng trọt theo thời tiết nên mới có sự ngắm sao để định mùa, sau mới đến lịch để tính ngày.

·        Nhu cầu mỗi ngày mỗi cần sự chính xác nên mới có Phút, Giây, Micro, Nano....

ö

BẢNG  ÐỐI  CHIẾU : Việt Lịch và Dương Lịch

·         t.x: Tân Xuân,mồng một tháng Giêng Việt Lịch (du di từ 28/02. tới 06/3)

·         g.t: Chính giữa mùa Thu; tức ngày 15 tháng Tám Việt Lịch ( trong Oct.)

·         Ð.N : Ðồng niên, tức tổng số ngày trong năm.  (DL đậm nét là fév. 29 ngày)

D.L

V.L

t.x.

g.t

Giêng

Haiè Bảy

tám

9&10

một

chạp

Ð.N.

1980

4859

03.3

17

30

 

29

 

 

30

365

1981

4860

03.3

15

30

 

30

 

 

30

365

1982

4861

03.3

07

30

 

33

 

 

30

362

1983

4862

28.2

16

33

 

30

 

 

27

369

1984

4863

03.3

13

30

 

31

 

 

30

364

1985

4864

02.3

21

31

 

27

 

 

29

369

1986

4865

06.3

15

27

 

30

 

 

33

362

1987

4866

03.3

11

30

 

31

 

 

30

365

1988

4867

02.3

19

31

 

28

 

 

29

368

1989

4868

05.3

15

28

 

30

 

 

32

364

1990

4869

03.3

07

30

 

33

 

 

30

362

1991

4870

28.2

16

33

 

30

 

 

27

369

1992

4871

03.3

14

30

 

30

 

 

30

365

1993

4872

03.3

21

30

 

27

 

 

30

369

1994

4873

06.3

15

27

 

30

 

 

33

362

1995

7874

03.3

12

30

 

31

 

 

30

365

1996

4875

02.3

19

31

 

28

 

 

29

368

1997

4876

05.3

15

28

 

30

 

 

32

363

1998

4877

03.3

09

30

 

32

 

 

30

363

1999

4878

01.3

17

32

 

29

 

 

28

369

2000

4879

04.3

15

29

 

30

 

 

31

364

2001

4880

03.3

07

30

 

33

 

 

30

362

2002

4881

28.2

15

33

 

30

 

 

27

368

2003

4882

03.3

14

30

 

30

 

 

30

366

2004

4883

03.3

20

30

 

28

 

 

30

367

2005

4884

05.3

15

28

 

30

 

 

32

363

2006

4885

03.3

10

30

 

32

 

 

30

363

2007

4886

01.3

17

32

 

29

 

 

28

369

2008

4887

04.3

15

29

 

30

 

 

31

364

2009

4888

03.3

08

30

 

33

 

 

30

362

2010

4889

28.2

16

33

 

30

 

 

27

368

2011

4890

03.3

15

30

 

30

 

 

30

366

2012

4891

03.3

22

30

 

27

 

 

30

368

2013

4892

06.3

15

27

 

30

 

 

33

362

2014

4893

03.3

12

30

 

31

 

 

30

364

2015

4894

02.3

19

31

 

28

 

 

29

369

2016

4895

05.3

15

28

 

30

 

 

32

364

2017

4896

04.3

08

29

 

33

 

 

31

361

2018

4897

28.2

17

33

 

29

 

 

27

369

2019

4898

04.3

15

29

 

30

 

 

31

365

 


BẢNG  ÐỐI  CHIẾU : Việt Lịch và Dương Lịch

·         t.x: Tân Xuân,mồng một tháng Giêng Việt Lịch (du di từ 28/02. tới 06/3)

·         g.t: Chính giữa mùa Thu; tức ngày 15 tháng Tám Việt Lịch ( trong Oct.)

·         Ð.N : Ðồng niên, tức tổng số ngày trong năm.  (DL đậm nét là fév. 29 ngày)

D.L

V.L.

t.x.

g.t

Giêng

HaièBảy

tám

9&10

Một

Chạp

DN

2020

4899

03.3

07

30

 

33

 

 

30

362

2021

4900

28.2

15

33

 

30

 

 

27

368

2022

4901

03.3

14

30

 

30

 

 

30

368

2023

4902

06.3

21

27

 

27

 

 

33

363

2024

4903

03.3

15

30

 

30

 

 

30

365

2025

4904

03.3

10

30

 

32

 

 

30

363

2026

4905

01.3

17

32

 

29

 

 

28

368

2027

4906

04.3

15

29

 

30

 

 

31

365

2028

4907

03.3

07

30

 

33

 

 

30

362

2029

4908

28.2

15

33

 

30

 

 

27

368

2030

4909

03.3

15

30

 

30

 

 

30

365

2031

4910

03.3

22

30

 

27

 

 

30

369

2032

4911

06.3

15

27

 

30

 

 

33

362

2033

4912

03.3

11

30

 

31

 

 

30

364

2034

4913

02.3

18

31

 

29

 

 

29

367

2035

4914

04.3

15

29

 

30

 

 

31

365

2036

4915

02.3

08

31

 

33

 

 

29

362

2037

4916

28.2

19

33

 

28

 

 

27

368

2038

4917

03.3

15

30

 

30

 

 

30

365

2039

4918

03.3

07

30

 

33

 

 

30

363

2040

4919

29.3

16

33

 

30

 

 

27

367

2041

4920

03.3

13

30

 

31

 

 

30

364

2042

4921

02.3

20

31

 

28

 

 

29

368

2043

4922

05.3

15

28

 

30

 

 

32

364

2044

4923

03.3

09

30

 

32

 

 

30

363

2045

4924

01.3

20

32

 

28

 

 

28

369

2046

4925

05.3

15

28

 

30

 

 

32

363

2047

4926

03.3

08

30

 

33

 

 

30

365

2048

4927

03.3

15

30

 

30

 

 

30

362

2049

4928

28.2

15

33

 

30

 

 

27

368

2050

4929

03.3

22

30

 

27

 

 

30

368

2051

4930

06.3

15

27

 

30

 

 

33

363

2052

4931

03.3

11

30

 

31

 

 

30

364

2053

4932

02.3

19

31

 

28

 

 

29

368

2054

4933

05.3

15

28

 

30

 

 

32

363

2055

4934

03.3

09

30

 

32

 

 

30

364

2056

4935

01.3

19

32

 

28

 

 

28

369

2057

4936

05.3

15

28

 

30

 

 

32

363

2058

4937

03.3

09

30

 

32

 

 

30

363

2059

4938

01.3

15

32

 

30

 

 

28

368

2060

4939

03.3

12

30

 

31

 

 

30

364


TÓM  LƯỢC

GIAO  LƯU  GIỮA  TÀU    VIỆT

Dựa trên cách dùng lịch thì ta thấy dân Tàu là dân du-mục từ IRAN (Trung Ðông) di qua theo cánh đồng cỏ. Còn dân Việt là dân tại chỗ sống bằng nghề Nông, định cư và định canh từ phía Nam sông Dương Tử.

Theo kiểm chứng của khoa học ngày hôm nay (thế kỷ thứ 21 - 2003) thì:

-        15.000BC mực nước Thái bình Dương thấp hơn ngày nay là 130,5 mètres. Từ Việt Nam đến Phi Luật Tân và xuống đến Mã Lai là đất liền phủ đầy băng tuyết và không có sự sống.

-        Sau đó nước bắt đầu dâng lên cho đến 7.200BC thì bằng mực nước ngày hôm nay.

-        Nước tiếp tục dâng cho đến 6.800BC thì cao hơn mặt biển ngày hôm nay là gần 5 mètres Tính trung bình mỗi năm dâng cao 1,65 cm. (1355cm/8.200năm=1,65cm)

-        Sau đó giữ nguyên cho đến 5.000BC thì bắt đầu rút xuống bằng mức hiện nay vào thời điểm 3.400BC. Tính trung bình mỗi năm rút xuống 0,31cm (3,1mm = 500cm/1600năm).

-        Từ năm 3.400BC đến nay bàu khí quyển ổn định nên mực nước đứng yên không đổi

Từ 15.000BC đến 8.000BC có tất cả là 3 trận đại hồng thủy (nước dâng rồi lại rút cả thảy 3 lần) ở mực nước khác nhau. Hai trận ngập lụt trước thì loài người sống trong tình trạng hoang dã như loài thú nên không bị thiệt hại nhiều. Đó là những năm 14.000BC và 11.500BC

Nhưng trận đại hồng thủy lần thứ 3 và cũng là lần chót bắt đầu vào khoảng 8.000BC đã làm thay đổi hoàn toàn nếp sống của dân Nông Nghiệp ở Phương Ðông. Lúc đó mực nước cao nhất hơn ngày hôm nay là 5m. Sau đó nước rút xuống ở mức ngày hôm nay vào năm 3.400BC - lúc đó chưa có đồng bằng Bắc Việt (sông Hồng) và đồng bằng Nam Việt (sông Cửu Long). Lâm Thao, Phú Thọ nơi có đền Hùng nằm ngay bờ biển.

Cách đây 20.000 năm thì mực nước biển Ðông thấp hơn ngày hôm nay là 130,50m. Việt Nam, Phi Luật Tân và Nam Dương là đất liền. Ðồng bằng Bắc Việt và đồng bằng Nam Việt phủ đầy tuyết, không có sự sống.

 

1.      Vào khoảng 15.000BC thì mực nước bắt đầu dâng vì khí quyển nóng (lý do gì thì chưa biết), khối băng tan dần. Đó là thời kỹ rã băng.

Ðến 6.000BC thì mực nước cao hơn ngày hôm nay là 5mètres (thước Tây).

Lúc đó dân nông nghiệp ở Phi-Luật-Tân, Mã-Lai phải di lên vùng núi cao: Tân-Cương, Tây-Tạng, Hoành Sơn. Ðó là: Dân Ngô, dân Sở, dân Việt, dân Chàm, dân KHMER (tức Chân-Lạp - Phù-Nam là đất bồi bởi con sông Cửu Long thì lúc này chưa có). Vì sinh sống bằng Nông Nghiệp nên còn có tên là MIÊU TỘC để chỉ dân Ngô, Sở và Việt, hay Bách Việt.

Miêu là Mễ = Ngũ Cốc. Người Tàu đọc là Man, ta phiên âm ngược lại thành Mán. Nghề nông bắt đầu có vào khoảng 13.000BC

-      Còn dân Lào và Thái thuộc sắc dân vùng U Việt (Vân Nam) di xuống. U có nghĩa là tối, vì vùng đất này bị mây che phủ quanh năm.

-      Vân Nam là Mây ở phương Nam, danh từ Vân Nam có từ thời Triệu Ðà (207 BC). Còn danh từ U Việt có từ thời Văn Lang (2.879 BC). Vân Nam là tiếng Việt; nếu là tiếng Tàu thì họ gọi là Nam-Vân. Những điểm này sẽ giải thích sau, như thế nào là Lạc Việt, Âu Việt,

Việt Ðiền, Mân Việt, Ngô Việt, Bách Việt, Việt Thường..... khi kết hợp để lập nước Văn Lang. Và Văn Lang là gì? Việt Điền : Cố gắng khẩn hoang. Ngô Việt : Người Việt gốc Ngô.

Việt Thường : Phi Thường vì có chiến khu Lâm Ấp, bất khả xâm phạm (từ Hà Tĩnh đến Huế)

 

2.      Vào khoảng 3.400BC thì nước biển rút xuống và giữ nguyên ở mực nước ngày hôm nay (vì khí quyển lạnh trở lại), thì phần lớn các di dân theo triền sông ra biển lập nghiệp cầy cấy. Ðó là con sông Hoàng Hà (qua Bắc Kinh), con sông Dương Tử (chảy ra Thượng Hải, hàng Châu), con sông Tây Giang (chảy ra Hương Cảng, HONGKONG), con sông Hồng Hà (chảy ra Hải Phòng, Ninh Bình), con sông (chảy ra Thanh Hóa) và con sông Cửu Long Giang (chảy ra biển miền Nam nước ta ngày hôm nay).

 

3.      Sau cuộc hồi hương này thì thành lập các nước, sớm muộn khác nhau. Nhóm còn lại lập thành vùng an lạc Tân Cương, Tây Tạng. Các nước mới được lập như sau:

P  Theo triền sông Hoàng Hà: Nhà Thương, sau là nhà Chu, rồi đến Tần (Thủy Hoàng), Hán (Lưu Bang), Ðường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, Tôn Dật Tiên (Tam Dân), Mao (Cộng Sản).

Nhà Thương bắt đầu từ 1.500BC. Vì nhu cầu chung sống hòa bình giữa Nông Nghiệp tại chỗ và Du Mục từ IRAN di qua nên nhà Thương mới đặt ra luật để tổ chức xã hội vào thời điểm 1.300BC.

P  Theo triền sông Dương Tử: Nước Ngô (thuần chủng) , nước Việt (đa chủng, 15 sắc dân) Nước Sở (thuần chủng). Lập nước từ năm 2.879 trước Tây lịch với nguyên nhân là chống lại sự xâm lăng của nước Ngô với thuyết Thiên Tử sơ khai; về sau được Khổng Tử (551-479BC)  biến thành học thuyết Thiên Mệnh của kẻ xâm lăng (#520BC).

Vì nhu cầu chánh trị nên ông ta thêm bớt cho rõ nét xâm lăng, phân ranh rõ rệt giữa giai cấp Thống-trị và giai cấp Bị-trị. Sau đó Lưu Bang (206-183BC) hoàn chỉnh cho phù hợp với đường lối chánh trị của ông ta. Học thuyết Khổng Khâu (được Hán Cao Tổ tôn lên làm Thánh nên gọi là Khổng Tử) sẽ được nói riêng cho rõ nét về âm mưu thống trị dân Nông Nghiệp của ông Nam Mô Một Bồ Dao Găm này.

 

Vì phải tự vệ để chống nước Ngô, nên nước Sở được thành lập với thuyết Vô Vi, nước Việt (Văn Lang) thành lập với thuyết Rồng Tiên Khai Quốc trăm trứng, trăm con.

Ðịa bàn hoạt động của 3 nước này chiếm một vùng từ phía Nam sông Dương Tử đến tận đèo Hải Vân ngày hôm nay. Phía Tây đến tận sông Cửu Long bên Lào ngày hôm nay.

 

P  Theo triền sông Mã là sắc dân Việt Thường với chiến khu Lâm Ấp bất khả xâm phạm. Sắc dân Việt Thường (tổ tiên đại vương Lê Lợi) kết hợp với 14 sắc dân kia để tạo thành nước Văn Lang.

P  Theo triền sông Cửu Long gồm có sắc dân Chàm lập quốc vào năm 40 sau thiên chúa để chống Mã Viện đổ quân từ đảo Hải Nam vào; mượn đường tiến đánh chiến khu Lâm Ấp. Và sắc dân KHMER tự chia làm 2 nước là Thủy Chân Lạp (tính nết ôn hòa, chín chắn), Lục Chân Lạp (tính nết nóng nảy), tức nước KHMER ngày hôm nay. Nên nhớ là lúc đó chưa có đồng bằng con sông Cửu Long, đảo Phú Quốc ở giữa biển khơi. Sau này  khi đang bồi thì ta gọi là đất bồi miền nam, tức Phù Nam không thể ở được vì không những thiếu nước ngọt mà còn bị muỗi, cá sấu (thuồng luồng) và loài thủy quái ám hại – coi vùng Cà-Mâu ngày hôm nay thì rõ.

 

Nước Chân Lạp được thành lập vào thế kỷ thứ 5 sau Thiên Chúa (#450AD) để tự vệ chống sự bành trướng của nước Chàm, lúc đó họ chia làm Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp; giống như người Việt gọi người miền Xuôi (người Kinh) và người miền Ngược hay miền Núi (người Thượng)

Vào cuối thế kỷ thứ 8 nước Chàm đánh chiếm 2 châu Ô và châu Lý (Quảng Trị và Huế) của vùng đất Việt Thường vào thời điểm nước Ta bị nhà Ðường đang cực thịnh thống trị (Ðánh Hôi). Về sau nhà Trần gả công Chúa Huyền Trân để xin chuộc lại 2 châu Ô và Lý. Sau đó cải danh thành đất Thuận Hóa; tức trở về với đất mẹ một cách đồng thuận, hài hòa.

Châu Thuận (Ô) là Quảng Trị ngày hôm nay, châu Hóa (Lý) là Thừa Thiên ngày hôm nay

 

KHAI THÔNG NGỘ NHẬN

Theo cuốn sử do Bắc Kinh viết mới đây vào năm 2000 (La Gloire des Empereurs; Tổng Thống CHIRAC của nước Pháp đề tựa) nói rõ XIA là barbare: Nhà Hạ (1.700BC) chưa có luật nước.

Vậy thì lịch sử nước Tàu chỉ bắt đầu từ đời nhà Thương mà thôi. Trước đó nhà Hạ, Tam Hoàng Ngũ Ðế đều do Tần Thủy Hoàng bịa ra vào năm 221BC để tự đề cao mình. Danh xưng Hán là tên Triều đại chứ không có sắc tộc nào mang tên là Hán cả. Do đó không có Chữ Hán, không có Văn Hóa Hán, không có Hán Tộc (người Hán) hay Ðại Hán trên nước Tàu và ngay trên cả trên Thế Giới cũng không có nốt.

Dưới thời Lã Hậu thì người ta gọi là Thần Dân nhà Hán (người dân thần phục triều đình), tức Hán Dân chứ không phải là Hán Tộc. Sau đó lại biến thành Đường Dân (nhà Đường người Thiểm Tây), Tống Dân (nhà Tống người Ngô), Nguyên Dân (nhà Nguyên là Rợ Hung Nô), Minh Dân (nhà Minh người Thiều Châu-Mân Việt), Thanh dân (nhà Thanh là Rợ Kim).

Năm 1911, Tôn Dật Tiên người gốc Quảng Đông (con cháu Câu Tiễn) là người Lạc Việt vì muốn cướp quyền nhà Thanh (Rợ Kim) nên đẻ ra thuyết tam dân (sinh, chủ, quyền) để xóa sự ngăn cách chủng tộc nên đặt tên đảng là Trung Hoa Dân Quốc Đảng; vì thế nên họ biến chữ Hán Dân thành Hán Tộc.

Dân Du mục khởi đi từ IRAN theo đồng cỏ tiến lên phía Bắc, tới KAZAKHSTAN (route de la soie, đường thương mại giữa Trung Ðông và Á Châu) thì quá lạnh, không có đồng cỏ cho gia súc ăn nên phải di qua phía Tây (lập nên các nước Âu Châu) và phía Ðông (Mông Cổ, Mãn Châu). Tới đây gặp biển nên tràn xuống phía Nam gặp cư dân Nông Nghiệp tại chỗ mà ta gọi là con cháu Đế Nghi (Huyền thoại)

Mới đầu là nhà Hạ, không có luật lệ gì cả, không có tổ chức xã hội nên không thể gọi là một nước được

Sau đó đến nhà Thương (1.500BC) thì 200 năm sau (1.300BC) mới bắt đầu có luật lệ để 2 sắc dân chung sống hòa bình. Vì nhu cầu thông tin nên đẻ ra chữ viết Tượng Hình và Tượng Ý, nên cải danh thành nhà Ân (1.300BC)

Nhà Chu chê nhà Thương quá hiền hòa với dân Nông Nghiệp nên diệt Thương, đốt hết sách vở (khử tịch) đến độ con cháu phải chạy qua Mỹ Châu, tức dân da đỏ ngày nay.

Vì thiếu người cai trị dân nông nghiệp hiền hòa nên nhà Chu đẻ ra thể chế Phong Kiến. Tức nhìn trên bản đồ rồi phong cho mỗi người một vùng để tự ý cai trị; miễn sao thần phục Chu Công (Thiên Tử, con Trời) là đủ. Vì thế nên mới đẻ ra các chức: Công, Hầu, Bá, Tử, Khanh để phong đất to nhỏ khác nhau. Phong có nghĩa là cho; còn Kiến có nghĩa là nhìn. Cả thế giới chỉ có nhà Chu là có chế độ Phong Kiến.

Ông Hồ Chí Minh, học lực chưa qua Tú Tài , vì dốt lịch sử nhân loại nên ông ta mới gom tất cả chế độ Quân Chủ đủ loại và gán cho nó cái tên PHONG KIẾN. Người dân không biết nên nói theo.

 

Phần 4: THỰC  TẬP (văn ôn, vũ luyện)

-         Tại sao con người lại cần Lịch?

-         Tại sao Việt Lịch và Dương Lịch mỗi năm đều có 12 tháng mà Âm Lịch có lúc 13 tháng?

-         Nói cách tính Việt Lịch?

-         Việt Lịch, Miêu Lịch và Quốc Lịch có khác nhau không? Tại sao?

-         Nói 2 điểm Chuẩn để tính Việt Lịch.

-         Danh từ Đồng Hồ phát xuất từ đâu?

-         Nói rõ dụng cụ và cách ngắm sao để định ngày ở thời điểm lúc ban đầu.

-         Làm sao để định được Tiết Trung Thu?

-         Tiết Trung Thu, nay gọi là Tết Trung Thu khác với hội Trăng Rằm ở chỗ nào?

-         Tại sao Việt Lịch bị bức tử?

-         Tại sao ngày Nguyên Đán (ngày đầu năm) Âm Lịch lại chúc mừng nhau là CUNG CHÚC TÂN XUÂN, trong khi ngày đó rơi đúng vào chính đông (21 janvier)?

-         Nói rõ công dụng của các loại lịch: Việt lịch, Âm lịch và Dương lịch.

-         Nói cách tính giờ của người xưa.

-         Làm sao để biết được giữa trưa (chính Ngọ: chính giữa giờ Ngọ) và giữa đêm (chính Tý).

 

Tài liệu đọc thêm: Việt Lịch (1980-2279), sách giáo khoa Việt Tộc cấp3, số 13 ra ngày 01/02/4890 Việt Lịch tức 02 avril 2011 do Ban Giảng Huấn, cơ sở Paris ấn hành. Phụ bản A-05: Ngày trăng tròn vào tháng octobre để tính ngày 15 tháng 8 Việt Lịch, từ năm 2060 đến năm 2229; tính theo logiciel (nhu liệu) của ông Hồ Ngọc Ðức http://come.to/duc. phổ biến trên site web vào năm 2005 mà quý vị có thể theo đó tính tiếp.

HẾT




0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil