T10 - NGUỒN GỐC XƯNG HÔ CỦA DÂN BÁCH VIỆT
T10 , ngày giảng 11.12.2020 (thứ Sáu)
NGUỒN GỐC XƯNG HÔ CỦA DÂN BÁCH VIỆT
Livestream trên Facebook Nỗi Niềm Quê Hương
soạn giả: Hoàng Đức Phương
CÁCH XƯNG HÔ ĐỘC ĐÁO
CỦA DÂN BÁCH VIỆT
Bách Việt là tên nước có cương vực từ phía nam con
song Dương Tử Giang đến đèo Hải Vân.
Phía tây lan đến tận con song Cửu Long Giang.
Bách Việt là tên chung cho 2 nước Ngô và nước Văn Lang
được thành lập vào 2.879BC.
Ø Cương vực nước Ngô nằm giữa con sông Dương Tử Giang và
Tây Giang.
Ø Cương vực nước Văn Lang của Liên Bang Việt là vùng đất
từ phía nam con sông Tây Giang (chảy ra Hong Kong (Hương Cảng) đến đèo Hải Vân
(lúc đó mang tên Ải Vân, năm 1802 Gia Long đổi tên thành Hải Vâ,
Khoảng năm 600BC, lãnh vương vùng Lạc Việt (Quảng Đông)
là một tiểu bang (Bộ Lạc) của Liên Bang Việt gồm 15 Bộ Lạc, bị dồn đến đường cùng
nên nuôi chí phục thù giết chết vua Ngô là Phu Sai, sát nhập nước Ngô và nướcVăn
Lang làm một theo chế độ Liêng Bang DÂN
CHỦ PHÂN QUYỀN “Phép viua cò thua lệ làng”.
Vì thế nên đổi quốc hiệu là nước Bách Việt để chấm dứt
chiến tranh dai dẳng giữa 2 dân tộc chỉ vì tính hiếu chiến của vua Ngô.
Đường lối chánh trị Hội Nhập Văn Hóa và Bình Đẳng Sắc
Tộc đã được via Lê Thánh Tông áp dụng vào năm 1471 khi sát nhập nưóc Chàm vào
nước Đại Việt.
Ø Đây cũng là kinh nghiệm phải học để thế hệ chúng ta
(2022) áp dụng vào việc Xây Dựng Xã Hội Hài Hòa giữa 54 sắc tộc và Vô Hiệu Hóa
2 sắc tộc chủ trương tiêu diệt Văn Hóa Thiần Việt là:Việt Nô Công Sản và Bọn Tàu
đang xây dựng làng xóm trên đất Việt để thôn tính chúng ta bằng cách tiệm tiến
theo vết dàu loang, không tiến súng
Dân Việt có cách xưng hô độc đáo bắt nguồn từ câu chuyện
Rồng Tiên khai quốc, 100 trứng 100 con được viết thành văn bản vào thời điểm
600 năm trước Thiên Chúa ra đời.
Ø Đó là cách xưng hô trong gia đình, theo vai-vế.
·
Xưng là tự cho mình
một chỗ đứng trong đại gia đình.
·
Hô là cho người đối
thoại một chỗ đứng trong cùng đại gia đình của mình; dù người đó không có liên
hệ máu mủ chi cả. Đây là vai vế tương ứng (similitude); như bạn của chị mình
thì gọi là chị là anh hay là bác. Còn bạn của em mình thì gọi là em, là chú, cậu,
cô hay dì là tùy thuộc vào bạn gái hay bạn trai và tuổi tác.
·
Gia đình gồm 3 thế hệ liên tiếp; còn xa hơn là gia
tộc.
Gia là nhà, đình là nơi tụ họp, tộc là dòng họ
Xưng thì bắt buộc phải xưng cho chính mình, chứ không thể
nói thay cho người khác được. Tuy nhiên trong trường hợp khó khăn thì có thể
nói thay cho bút hiệu, danh xưng hay tên của tổ chức, hội đoàn. Tức là ta xưng
thay cho người vắng mặt; mà người vắng mặt đó có thể lại là chính ta.
Còn Hô thì có thể nói thay cho người khác được, nhưng bắt buộc
phải là người có vai-vế thấp hơn ta, hay ngang vai với ta là cùng. Tức là Hô
thay cho con, cho cháu hay cho em, chứ không được quyền Hô thay cho Anh Chị hay
cho Cha Mẹ; như vậy là hỗn láo, xấc xược, vô lễ, mất dạy, chơi trèo.... Vì lịch
sự nên không ai sửa lưng mình hết; ngoại trừ người thân.
ö
Cách Xưng và Hô
được phân định theo 3 tiêu-chuẩn sau đây:
Tình cảm, Kiến
thức (về
Nhân Văn) và Tuổi tác
Cái khó là làm sao dung hòa được 3 yếu tố này
với nhau trong trường hợp xung khắc rõ rệt.
Để có cái nhìn tổng
quát thì tham dự viên phải thuộc lòng sơ đồ vai-vế trong gia-đình cái đã. Sau
đó mới học nguyên tắc đặt mình và người đối-thoại với mình vào đúng vi-trí của
mỗi người trong gia đình giả tưởng.
Các vai-vế trong
gia đình được thiết lập một cách rõ-ràng trong biểu-đồ vai-vế gia đình – đính
kèm. Phải thuộc lòng để có phản xạ tự nhiên như tiếng nói, về bên Mẹ và về bên
Bố, vai trên vai dưới, trai với gái, dâu
với rể.
VĂN
MINH đáng kính và VĂN HÓA tuyệt vời của dân Việt trong cách xưng hô trong vai vế
BỐ và MẸ
ö
Dân Việt theo Mẫu Hệ nên bên Mẹ thân thiết hơn bên Bố,
nhưng Nam Nữ bình đẳng bình đẳng nên không phân biệt Nội hay Ngoại (§ bài A-04
Rồng Tiên).
Người Tàu (du-mục) lấy bạo lực làm chính nên trọng Nam
khinh Nữ, do đó mới phân chia Nội Ngoại ; nay chúng ta tạm chấp nhận tư duy nô
dịch này chỉ vì thói quen Nội và Ngoại.
ü Đó là danh xưng các vai vế lúc ban đầu, sau này vì đời
sống thay đổi nên danh xưng cũng thay đổi theo. Thiết nghĩ là nên dùng danh
xưng lúc ban đầu để thống nhất lòng người hơn là mạnh vùng nào thì dùng danh
xưng vùng đó.
Chữ viết trong khung là vai-vế của người đó đối với
hàng con cháu. Viết đậm là người cùng huyết thống, còn gạch đít là người ngoài
nhưng do kết duyên mà thành người nhà; gọi chung chung là thông gia (nghĩa là
do cưới xin mà 2 bên trở nên thân thiết như người nhà. Chữ THÔNG có nghĩa là nối
liền với nhau; chữ GIA có nghĩa là sống chung một mái nhà). Chữ viết ngoài
khung là vai-vế của người đó đối với hàng Bố Mẹ, cùng máu-mủ thì gọi là ruột thịt;
còn do cưới gả mà ra thì gọi là dâu hay rể. Thuộc bên Vợ hay bên Chồng thì thêm
chữ Vợ hay Chồng vô.
ü Bình thường thì người ta chỉ hô vai-vế chính và bỏ chữ
Nội Ngoại, Dâu Rể, Vợ Chồng đi.
NGUỒN GỐC CÁCH XƯNG HÔ
TRONG GIA ĐÌNH
Cách xưng hô này bắt nguồn từ danh từ Đồng Bào.
Đồng là cùng Bào
là bọc, có nghĩa là anh em cùng cha cùng mẹ sinh ra. Vì thế nên dân Việt gọi
nhau trong vai-vế gia đình, mà nay đã thành truyền thống rồi. Đó há chẳng phäi
là một niềm tự hào cho chúng ta hay sao?
Ghi chú:
** Trong khung : đối với thế hệ thứ Ba
** Ngoài khung: đối với thế hệ thứ Nhì
** Khung tròn là
Trai, khung vuông là Gái.
** Gạch nối là
liên hệ do hôn nhân mới có
·
Người
Việt theo Mẫu Hệ. Huyết thống di truyền theo dòng máu của người Mẹ nên anh em
bên Bố (con chú con bác) lấy nhau được, còn đôi con Dì thì không .
·
Người
Tàu theo Phụ Hệ nên bên Nội là người cùng tông không lấy nhau được, nhưng đôi
con Dì thì lấy nhau được.
·
Về
Y Học thì người cùng một dòng máu, dù là cha hay mẹ thì trong 3 đời lấy nhau
không tốt, vì có thể sinh con tật nguyền.
·
Về
Pháp Luật thì chẳng có nước nào cấm lấy nhau vì cùng dòng máu cả. Vì thế nên mới
có danh từ Tự Do Hôn Nhân và Tự Do Luyến Ái.
(Coi
tiếp T11 và T12)
q



0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil