dimanche 24 septembre 2023

T69- Tết Tàu Lai Việt

 T69(a) Tết Tàu Lai Việt

Giải thích theo khoa học (phần 2/2)

Livestream– ngày 03.03.2022

soạn giả : Hoàng Đức Phương 

TẾT TÀU LAI VIỆT

GIẢI THÍCH THEO KHOA HỌC HIỆN ĐẠI

Kết luận lần trước là do di vật người xưa để lại. ***Nay xin chứng minh bằng nền khoa học hiện đại.

Khám phá mới của khoa học ngày hôm nay cho chúng ta biết sinh hoạt của loài người ở vùng Đông Á từ 15.000BC một cách chánh xác như sau ;

-         15.000BC, con người còn sống lang thang đi kiếm ăn, chưa biết nói vì tư tưởng rỗng tuếch không có gì để diễn tả, tiếng nói dùng để diễn tả tư tưởng.

-         13.000BC, biết làm nghề Nông. Sản phẩm đầu tiên là Khoai sọ tìm thấy ở Thanh Hóa. Do đó mới có câu Cung Chúc Tân Xuân và ngày Hội Mừng Xuân ấm áp cho việc gieo mạ trồng trọt : HẾT ĐÓI, mùa ĐÔNG đi qua

-         11.000BC biết làm dụng cụ để đo vị trí của ngôi sao CHUẨN (do mình chọn) vào giữa đêm để định mùa. Do đó mới có câu CUNG CHÚC TÂN NIÊN. Vì ngày tân niên của Nông Lịch là tiết đầu xuân nên Cung Chúc Tân Niên đi với Cung Chúc Tân Xuân tạo thành một cặp bài trùng.

-         10.000BC biết suy nghĩ nên TRIẾT NHÂN đầu tiên xuất phát từ dan Nông Nghiệp với di vật là chữ TẠO HÓA . Ngày nay chúng ta hiểu ý nghĩa chữ Tạo Hóa khác xưa  nên không đọc được tư tuởng người xưa. Chữ Tạo Hóa lúc đó do trực giác mà có với ý nghĩa là sự biến đổi trạng thái sinh ra vạn vật chú không có Thượng Đế như chúng ta nghĩ.

Về sau đuợc giải thích bằng trí tưởng tượng bằng LÝ DỊCH.

500BC, vì nhu cầu biện minh cho thuyết THIÊN MỆNH nên ông Khổng Khuẩ (tứ Khổng Tử) bổ túc đê biến Lý Dịch thành Kinh Dịch mà người ta gọi là SOÁN TRUYỆN (lấy chuyện người khác, bổ xung thành chuyện của mình. Chữ SOÁN = Chiếm đoạt). Lý là lý lẽ của tôi ai muốn thì theo ;còn KINH là lý lẽ thiên nhiên tuyệt đối đúng không cần bàn cãi.

Vì Kinh Dịch chỉ là lý thuyết nên ông Khởng Khâu đẻ ra thuyết TỬ VI và khoa BÓI TOÁN. Vì không đúng với thực tế, ông Thày đoán mệnh thỉ bảo Bốc sai nên đoán sai, chứ thày nói đúng theo sách Khổng Tử dạy. Vì thế muốn chắc ăn nên nhờ THÁNH bốchộ (đẻ ra tục XIN XÂM vẫn còn cho tới ngày hôm nay.

-         2.500BC TẾT TRUNG THU. Khi no đủ, có lúa dự phong cho hết mùa Đp-ng thì người ta lại đẻ ra ngày hội NGHỈ XẢ HƠI vào giữa úa thu là lúc nhà Nông thất nghiệp.

Vì Tết Trung Thu dành cho con trẻ dưới 9 tuổi , phải đi ngủ sớm trước 9 giờ  đêm, nên bắt đầu từ 4 giờ chiều đến 9 giờ đêm để các em rước đèn.

Do đó phải là đêm trăng sáng. Hơn nữa con nít hay đi ngủ sớm nên kéo tới 9 giờ đêm và vừa phải.

Khi trước Nông Lịch chỉ dựa theo sao, nay Quy Lịc vừa dựa theo sao lại vửa dựa theo trăng nên có sụ thay đổi ít nhiều miễn sao khổnh hưởng đến mùa màng là được

Cách tính nông lịch có ghi trên mai rùa đem biếu nhà CHU mà người ta gọi là QUY LỊCH.

Nông Lịch chỉ có Tân Niên thôi (cách tính dựa theo sao chuẩn tự mình chọn lất).

Quy Lịch có cả 2 : Tân Niên và Trung Thu (cách tính dựa theo Sao và Trăng)

²

TẾT TÀU :  âm lịch của dân du-mục

TẾT VIỆT : cung chúc tân xuân của dân nông nghiệp

Chúng ta nên nhớ là khi lâp quốc vào năm 2.879BC thì :

A/- Nước Văn Lang :

Cương vực nước Văn Lang ở phía nam con sông Tây Giang chảy ra Hương Cảng (Hong Kong)  đến đèo Hải Vân (trước Gia Long gọi là đèo Ải Vân) . Phía tây đến con sông Cửu Long.

B/- Nước Ngô (thằng Ngô con Đĩ ; thằng Tàu con Xẩm ; thằng Tây con Đầm...)

Cương vực nước Ngô từ phía bắc con sông Tây Giang lên đến phía nam con sông Dương Tử Giang. Phía tây tới tận con sông Hoài. Bên kia sông Hoài là nước Sở ;

C /- Thời Hậu Chu : thất quốc tranh hùng)

Phía bắc con sông Dương Tử có 5 nước tranh hùng là Sở, Tống, Tê, Tần và Tấn. Cuối cùng nước TẦN thắng và thống trị 5 nước kia dưới bàn ty thép của Tầb Thủy Hoàng (Tần là tên nước chưa không phải tên họ ông Bạo Chúa)

Phía nam con sông Dương Tử có Nhị Bá tranh vương là Việt và Ngô.

Liên Bang Việt có Lãnh Vương vùng Lạc Việt ở Quảng Đông tên là Câu Tiễn đã giết vua Ngô (Phù Sai) vào khoảng 600BC ; sau đó sát nhập nước Ngô và nước Văn Lang với nhau, rồi đổi tên là nước Bách Việt (dựa vào huyền thoại Rồng Tiên). Cách xưng hô độc đáo của dân Việt phát xuất từ danh từ Đồng Bào nay thành truyền thống quốc hồn quốc túy rồi ; nó có quy luật từ ngày sinh một cách rất cởi mở và nhân từ

Chuyện Rồng Tiên Khai Quốc tả trận đánh diệt Ngô của Câu Tiễn do 2 ông Phm Lãi và Văn Chủng dựng chuyện để truyền kinh nghiệmcho hậu thế. Đó là học thuyết căn bản của KHOA NHÂN VĂN VIỆT TỘC

300 năm sau, Triệu Đà người Bách Việt gốc Ngô sinh ở Chiết Giang giết Thục An Dương Vương để thống  nhất đất Bách Việt và đổi tên thành nuớx Nam Việt (vùng đất phía nam con sông Dương Tử là đất của người Bách Việt (Ngô+Việt = Bách Việt)

D/ : Trả lại sự thật cho lịch sử :

-         Triệu Đà là người Bách Việt gốc Ngô, sinh năm 258BC ở Chiết Giang

Chính ông đã nhử toàn thể đoàn quân của Đồ Thư của Tần Thủy Hoàng vào tử địa là rừng cây rồi phóng hỏa. Vùng này người ta gọi mà MA THIÊNG LÃNH (vùng đất của ma thiêng ở Hồ Nam.

-         Sau trận này Tần Thủy Hoàng đi thị sát vùng Quảng Đông mới chiếm được, khi về qua nước Sở thì bị ám sát. Triều đình rối loạn.

-         Nhân vụ nhà Tần rối loạn, Triệu Đà dứt Thục Phán, thống nhất đất nước. Vì muốn Ngô Việt đoàn kết như thời Câu Tiễn nên ông chuyển đô về Phiên Ngung (gần Cối Kê) là đất của Câu Tiễn khi xưa. Ông sống theo văn hóa Việt nhưng chết đi theo phong tục ngưòi Ngô. Do đó ông lấy tên nước là NAM VIỆT (phía nam cn sèng Dương Tử là đất của dân Bách Việt để bọn Phương Bắc đừng ngấp nghé.

-         Triệu Đà là người Bach Việt chứ không phải tướng của Tần Thủy Hoàng

-         Nhà Tây Hán (con cháu Lưu Bang) sang đánh nưóc ta vào năm 111BC thì Mãng Vương chiếm thành Tràng an nên ^hải kéo quân về. Hai bên giằng co trong 140 năm thì nhà Đông Hán mới ổn đi-nh được tì,nh thế và cử Tô Định đem quân sang ái chiếm vùng đất Bách Việt và thua to. Về sau phải cử Mã Viện sang đánh, và chì tạm chiếm vùng duyên hải nên :

NÔ LỆ TÀU 1.000 năm : SAI !

A/- Sai là vì chúng ta không phân biệt được thế nào là người TÀU.

Danh từ Tàu (ngố) và Xẩm (lòa) dùng để chỉ giai cấp lãnh đạo ở Hoa Lục do Triệu Đà đặt ra vào năm 182BC để đối kháng với danh từ Trung Hoa, Trung Nguyên, Bắc Rợ Tây Quỷ và Nam Di của Lã Huận vào năm 183BC để lấy lý cớ cho đám quần thần chống đối sự nhip cíng ra tòng chinh.

B/- Sai là vì chúng ta đồng hóa vùng TẠM CHIẾN là vùng đang đánh nhau (nay ta gọi là da beo hay sôi đậu) với NÔ LỆ là mất hết đất đai và chủ quyền

C/- Trong thực thế thì nhà Đông Hán (43AD - 200AD) và nhà Đường (650-900)

chỉ chiếm đóng vùn ven duyên (bờ biển tới Quảng Bnh (đèo ngang là hết). Kháng chiến không ngưng nghỉ nên tối phải chui và thàng ngủ. Ban ngàu giặc kiểm soát, ban đêm kháng chiế tung hoàng.

Đi sâu vào Hòa Bình là tử địa, khi bị bao vây không có đường thoát. Ở ven duyên khi thua thì xuống thuyền nhổ neo dong về Tàu

ª

RẰNG : Ta không nô lệ nhà Tây Hán

1)     Trong thời gian đấu tranh vùng tạm chiếm không yên lúc nào cà. Nhà Đông Hán đến tối phải kéo vô thành ngủ. Nhà Đường phải xây thành chìm như lô-cốt để tốirút về, ngày đi tảo thanh. 

2)     Vì vậy trong bài Bình Ngô Đai Cáo ông Nguyễn Trãi nói : Đánh nhau thì có, nhưng nô lệ một ngày cũng không. 

3)     Hán Cao Tổ (Lưu Bang) khi chiến thắng thì đóng đô ở Tây An (miền Tây an bình, miền Đông nhiễu nhương dưới thời ĐÔNG CHU), ông ta đổi tên thành Trường An với mong ước là con cháu giữ ngai vua lâu dài, nhưng không ngờ chỉ tại vị chưa đầy 96 năm.

4)     Trong lúc đánh Mãng Vương vì nhu cầu nên phải chuyển sang LẠC DƯƠNG ở phía đông Trường An nên gọi là nhà Đông Hán

E/ : Tết Tàu lai Việt :

Xin coi thêm bài nghiên cứu về Việt Lịch mang số A05VHV để trong

site web :  www.vanhoathuanviet.blogspot.com

Mã Viện sang thống trị dân ta một cách khắc nghiệt vào năm 43AD .Hán quyêt tâmù tiêu diệt dân Việt bằng cách bắt phải mặc y phục TẢU và nói tiếng TÀU ; lẽ dĩ nhiên là sách vở đều bị tịch thu thuộc loại Quốc Cấm,  tiêu diệt chữ viết tiếng Việt. Nó còn khắc nghiệt hơn Tập Cẩm Binh đồi với Duy Ngô Nhĩ (Tân Cương) và Tây Tạng.

Vì thế nên dân Ta mới bảo nhau nhuộm răng đen để nhận diện.

Tuy nhiên có một điều mà hắn hải nhượng bộ là kh-ng thể xóa b » được nghề Nông để sống bằng nghề chăn nuôi vì nước ta không có thảo nguyên (cánh đồng cỏ = steppe) để nuôi gia súc.

Do đó phải giữ nghề Nông nên phải giữ luôn cả Nông Lịch với tập tục ăn Tết Mừng Xuân, Tết Nguyên Đán và Tết Trung Thu.

Muốn diệt luôn Nông Lịch nến Mã Viện thay đổi tháng đầu năm là tháng TÝ cho gần với thang Giêng Nông Lịch.

Ø  Khi trước tháng đầu năm Âm Lịch là tháng Tuất, và trước nữa là tháng Thìn.

Thay đổi tháng đầu của một năm thì không khó vì Âm Lịch tính theo chu kỳ nên muốn chọn tháng nào cũng được, nhưng không thể thay đổi thời tiết được.

Do đó chúng chọn mồng Một tháng Tý là ngày Đầu Xuân (Tân xuân) trong trí tưởng tượng thì ngày Rằm thánh Tám là ngày Trung Thu (chính giữa múa thu) là ngày Hội TRĂNG RẰM cho người lớn thức đêm, chơi đè, ngâm thơ vịnh nguyệt, ăn bánh uống trà (tục này nảy nở dưới thời nhà ĐƯỜNG.

Do đó chữ Cung Chúc Tân Xuân nó dính liền với Cung Chúc Tân Noên một cách lạc điệu và vô duyên.

Tóm lại người TÀU bắt đầu biết ăn Tết Nguyên Đán (đầu năm) từ thời Mã Viện (43AD) , nhưng theo nghi thức người Việt và có thêm thắt chút ít tinh thần Thần Thánh Hóa như Táo Công, cá Chép, múa Lân, là do nhà Đường thêm thắt vô..

Nay lại thêm múa Rồng. Sự thêm thắt này là điều đương nhiên phải có vì nó theo nhu cầu của từng thời đại

Kết luận :

Dân Việt đang ăn Tết Nguyên Dán của Tàu (vì theo Âm Lich) nhưng tổ chức sinh hoạt theo kiểu Nông Nghiệp của dân Bách Việt ; mà chúng ta là một chi nhánh.

Do đó mới gài câu CUNG CHÚC TÂN XUÂN của dân Nông Nghiệp ép với CUNG CHÚC TÂN NIÊN (đang giữa mùa Đông) của dân du-mục một cách gượng ép kỳ quặc. Vì Tân Niên Âm Lịch rơi vào tiết Đông : Dân nông nghiệp đang nhịn đói nằm co đợi Tân Xuấn đến thì đi kiếm ăn.

-------------------------------

Như năm nay chẳng hạn :

Tân niên năm Quý Mão rơi vào ngày 22 Janvier 2023 (22 tháng Giêng Tây), là ngày đang giữa mùa Đông mà đi Cung Chúc Tân Niên thì thật là người không biết suy nghĩ.

·        Tức là con người cả tin bị nó xúi trẻ ăn cứt gà cũng ăn. Hồ Chí Minh là một tên lưu manh, láu cá, không làm lễ nhậm chức, giấu tiểu sử và tên cúng cơm mà cũng tôn lên làm Cha Già nên mất nước là đúng rồi.

-----------------------------------------

T69(b) Đấu Tranh Chánh Trị

Livestream ngày 03/03/2022

Học Thuyết Cần Lao Nhân Vị (Ngô Đình Nhu)

VÀI NÉT GỢI Ý VỀ ĐẤU TRANH CHÁNH TRỊ

Ở đây chúng ta chỉ bàn về cách giải quyết những mâu thuẫn nội bộ do Việt Cộng để lại.

Giải quyết những mâu thuẫn Việt Cộng để lại

1/- Đối với các đảng viên Việt Cộng

Chúng ta nên thận trọng với 5 triệu Đảng Viên Việt Cộng vì đầu óc mất gốc nên khó có thể sửa được, nhưng xã hội cần chúng để phát triển.

Mặc dù chúng chủ trương tiêu diệt dân Việt với chủ nghĩa TAM VÔ, phong trào GIAI CẤP ĐẤU TRANH và TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO đào tận gốc trốc tận rễ để tiến tới Đại Đồng Thế Giới cho giặc TÀU lãnh đạo.

Vậy tốt nhất là :

1.1 - HÌNH PHẠT

1.      Tước quyền công dân của 5 triệu đảng viên để họ mất quyền lãnh đạo.

Nếu để họ lãnh đạo, ở bất cứ địa vị nào thì thế nào họ cũng lái theo tư tưởng Cộng Sản mà họ đã tôn thờ. Nếu họ trở cờ một cách dễ dàng thì họ là con người ba phải cũng không đủ khả năng lãnh đạo từ cấp cán bộ xã lên đến Nguyên Thủ Quốc Gia.

2.      Nên tạo môi trường để họ lập công chuộc tộc và có thể  được phục hồi quyền công dân ; nhưng phải qua nhiều đợt thử thách xem Tâm còn xao xuyến hay không.

3.      Ai có tội thì xử cho có án đàng hoàng, kể cả tử hình.

Nhưng vì nhu cầu cần Phó Thuờng Dân để phát triển kinh tế và canh tân đất nước nên họ được hưởng án treo ; nếu tái phạm thì tội sẽ nặng hơn 1 hay 2 cấp chi đó.

4.      Những kẻ sống nước người mà không khai báo đúng kỳ hạn thì đương nhiên không phải là công dân Việt.

Khi muốn hoàn tịch thì phải đáng ứng được những điều kiện khắt khe

1.2 - TÀI SẢN PHI PHÁP

Theo luật Quốc Tế hay bất cứ Quốc Gia nào cũng vậy : Phải hoàn trả tài sản Phi Pháp cho khổ chủ.

Tài sản phi pháp là những tài sản chiếm đoạt bằng bạo lực, lưu manh hay lường gạt như : ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp, gian thương … tức chiếm đoạt trái với pháp luật cho phép.

Do đó Chánh Quyền hợp Hiến và hợp Pháp là đại diện đất nước và dân tộc có đủ thẩm quyền và tư cách pháp nhân đứng ra tìm cách thu hồi tài sản của đất nước đã bị đánh cắp và để ở Ngoại Quốc, ngoài ra còn có thể đòi bồi thường thiệt hại về tinh thần nữa … Điểm này phải nhờ Luật Sư chuyên ngành mới được.

·        Tịch thu tài sản PHI PHÁP để sung vào quỹ bồi thuờng thiệt hại cho nạn nhân mà Việt Cộng gây ra từ năm 1945 đến nay. Nhưng tôn trọng tài sản mà họ kiếm được bằng công sức của họ.

·        Khuyến khích phạm nhân tự đem nộp thì được hưởng ít nhất là 10% và cao nhất là 30% được đền bù với danh nghĩa XÁM HỐI.

Nên nhớ là các nước sở tại có quyền đóng băng trong khi chưa xử và có bổn phản phải trả lại cho đất nước vì đó là tài sản của nạn nhân bị cướp.

Điều này phải định thời hạn để chứng tỏ sự xám hối của họ

Muốn phát triển đất nuớc thì phải tạo điều kiện để yên lòng dân. Do đó phải xử theo LUẬT, nhưng phải thi hành án lệnh theo TÌNH NGƯỜI và quyền lợi của PHAT TRIỂN

1.3 - Quỹ Nạn Nhân Việt Cộng

Chúng ta chia tài sản phi pháp lấy lại đuợc làm nhiều phần, tỷ dụ như sau ;

a/- Người chết: PHỤC HỒI DANH DỰ.

     Bồi thường tượng trưng cho người thừa kế (5%)

b/- Người tàn phế của cả 2 bên : (15%)

c/- Chương trình giáo dục : (20%)

d/- Tỷ lệ bồi thường vật chất : Định mức bồi thường tối đa là 500.000 hay 1 triệu Mỹ Kim, phần còn lại đợi xét tùy theo khả năng thăng dư ngân quỹ : (45%)

c/- Tỷ lệ bồi thường tinh thần : (10% ngân quỹ)

d/- Còn 5% để phòng hờ cho những thiệt hại bỏ sót.

2/- ĐỐI VỚI NẠN NHÂN

DO ĐẢNG VIỆT CỘNG GÂY RA

·        Phục hồi danh dự cho người đã chết vì Việt Cộng.

·        Chú trọng đến nạn nhân dốt nát vì thiếu giáo dục do Việt Nô Cộng Sản gây ra bằng cách :  Bình Đẳng và cưỡng bách  Giáo Dục cho Thiếu Nhi và Thiếu Niên (dưới 17 tuổi)

·        Đãi ngộ xứng đáng với Thương Phế Binh VNCH. Nơi ăn chốn ở phải đúng tiêu chuẩn. Phục hồi nhân phẩm cho họ.

·        Đãi ngộ đúng mức vì nhân đạo, độ lương và bao dong với Thương Phế Binh Cộng Sản để tạo xã hội hài hòa có tinh thần ĐỒNG BÀO .

Không được sỉ nhục hay làm mất danh dự của họ. Vì cuộc chiến 1945-1975 là Nga Mỹ thử vũ khí trên đất Việt do chính Hồ Chí Minh đem tới bằng 6 văn kiện bán nước mà họ là nạn nhân.

Thủ phạm chánh là ĐẢNG VIỆT NÔ CỘNG SẢN

·        Bồi thường thiệt hại cho dân oan mất nhà, mất đất và nạn nhân khác có giới hạn. Tỷ dụ lấy tối đa là 1.000.000 Mỹ Kim ; chỗ còn lại sẽ xét  sau

 

----------------------------------------------

3/- VẤN ĐỀ TÔN GIÁO

·        Nhiệm vụ của Tôn Giáo là vun trồng Việt Giáo nên không thể lấn lướt rồi thay thế Việt Giáo được. Bàn thờ Gia Tiên là một đặc thù của nền văn hóa Việt (thuộc về Việt Giáo)

·        Lấy Việt Giáo làm chánh để xây dựng con người. Vì không có Việt Giáo làm gốc thì Ta không còn là ta nữa, do đó lấy tôn giáo để bổ xung cho Việt Giáo.

·        Học đường chỉ dậy Việt Giáo thôi

·        Bình đẳng và tự do tôn giáo.

·        Đặt tiêu chuẩn sinh hoạt cho mọi tôn giáo để cấm những tôn giáo hủy hoại Việt Giáo như Chủ Nghĩa Cộng Sản (Tôn Giáo vô thần, ca tụng Lãnh Tụ). Thật vậy Chủ Nghĩa hay Tôn Giáo đều thuộc về Triết Học, nếu không thận trọng tín đồ sẽ u mê gây ra chiến tranh tôn giáo.

·        Đặt số lượng tín đồ để được hưởng quy chế TÔN GIÁO.

·        Tín đồ là người đóng góp niên liễm, chứ không phải thập phương đến học giáo lý

·        Những người đến Giáo Hội để học Giáo Lý với mục đích phục vụ cho Việt Giáo , vì họ là người Việt nên phải có trách nhiệm với dân Việt.

·        Để tiến tới mục tiêu này thì nên cấm mọi người đóng góp tiền bạc cho Giáo Hội để tạo sự buôn thần bán thánh.

Ngược lại, tùy theo sinh hoạt của Giáo Hội, chánh quyền co bổn phận phải chu cấp phương tiện Tự Túc Mưu Sinh cho Giáo Hội Tự Túc Mưu Sinh. 

·        Cấm dựa vào Tôn Giáo để trục lợi cho cá nhân hay cho Giáo Hội.

·        Chúng ta đã bị con buôn chánh trị dùng Tôn Giáo để gây ra nhiều bất công và xung khắc nguy hiểm. Nay chúng ta phải thận trọng, ngăn chặn sự cuồng tín.

4/- VẤN ĐỀ SẮC TỘC

Nước Văn Lang được thành lập vào năm 2.879BC để chống sự xâm lăng của người NGÔ.

Lúc đó cuộc sống tập thể mới bắt đầu nên sự tổ chức rất đơn giản của bên xâm lăng (Ngô) cũng như bên tự vệ (Sở và Việt).

Tuy nhiên các bên đều có học thuyết để thuyết phục người dân về lý do phải lập binh đội, về Hiến Pháp để ổn định xã hội từ làm ăn cá thể sang trách nhiệm phân công.

Đây là quy luật thiên nhiên.

Ø  Học Thuyết của bên xâm lược NGÔ là học thuyết THIÊN TỬ để nói bổn phận trời cho hắn đỉ  « Giải Phóng » các dân bị trị ; y như bọn cán ngố Việt Nô Cộng Sản ngày hôm nay, tự cho mình cái quyền vào Nam ăn cướp.

Ø  Học thuyết của bên tự vệ là bảo vệ nền Văn Hóa của mình, không chịu sống theo Văn Hóa của kẻ xâm lăng.

Nước Sở với học thuyết Vô Vi.

Nước Văn Lang với học thuyết Rồng Tiên mà lúc ban đầu chỉ chú ý đến việc xây dựng tinh thần TỰ TRỌNG (ý nghĩa của chữ Văn Lang) và tinh thần Cầu Tiến (ý nghĩa của Tộc Danh là liên bang VIỆT)

Văn Hóa là danh từ của học giả Tây Học PHẠM QUỲNH đẻ ra vào thập niên 1930 với ý nghĩa là phải thay đổi cách sống và cách suy nghĩ một cách đẹp đẽ cho hợp với cuộc sống đương thời. Đừng vì bài Tây mà chịu tụt hậu.

Ta thấy ngay là Văn Hóa Thuần Việt cập nhật theo thời là chất liệu để kết hợp toàn dân ; vì mọi người có cùng một nếp sống, cùng một hướng suy nghĩ và cùng một mục tiêu là sống cho mình và sống cho người (Rồng Tiên song hiệp) .

Lúc lập quốc (2.879BC) thì nguời Văn Lang gọi là tinh thần Tự Trọng và Cầu Tiến mà chúng ta đã học rồi

Lúc đầu thì học thuyết còn sơ sài, về sau cuộc sống mỗi ngày mỗi phức tạp nên các học thuyết đều được bổ xung cho có khả năng đáp ứng với nhu cầu BẢO VỆ TỰ CHỦ.

Biên giới thiên nhiên lúc đó là địa hình hiểm trớ ; THỦ thì dễ, nhưng CÔNG thì khó. Do đó chúng ta có thể định được biên giới của 3 nước đưọc thành lập đầu tiên của nhân loại là NGÔ, SỞ và VIỆT, tất cả đều thuộc sắc dân nông nghiệp vì đó là đất canh tác, không có thảo nguyên (cách đồng cỏ= Steppes để nuôi gia súc) ở vùng miền TRUNG của ĐÔNG Á (nay gọi là viễn đông) ; vể sau người ta gọi là vùng đất TRUNG HOA (tinh hoa của miền Trung của Đông A ; chứ không phải là Trung Tâm Tinh Hoa của Vũ Trụ như ý nghĩa của mụ LÃ HẬU đặt ra vào năm 183BC để đi xâm lăng.



Bản đồ dân nông nghiệp hồi cư lập nghiệp (3.400BC)

Cương vực của vùng đất TRUNG HOA : Từ vạn lý trường thành tới sông Tây Giang là địa bàn của dân Nông Nghiệp, tức Bách Việt ; lúc đó chưa có người Tàu thuộc sắc dân Du Mục.

Chữ Trung Hoa này khác với ý nghĩa Trung Hoa của mụ Lã Hậu (182BC) đã bị Triệu Việt Vương thay thế bằng thằng TÀU, con Xẩm, hay Trung Hoa tái sinh của tham vọng Mao Trạch Đông (Trung Tâm tinh hoa của vũ trụ mà tôi đã giải thích rồi)

·        Biên giới nước Ngô nằm trong lòng 2 con sông Dương Tử và Tây Giang.

·        Cương vực nước Sở từ dãy núi Hoài (nơi Hạng Võ tự tử) đến Tây Tạng, đất rộng người đông. Tức vùng TỨ XUYÊN ngày hôm nay (vùng đất có 4 con sồng dài chảy qua là Hoàng Hà, Dương Tử, Hồng Hà chảy qua Thăng Long/Hà Nội và Cửu Long chảy qua thành đất bồi mang tên là Phù Nam, nó nhú lên vào khoảng 100AD ; mãi đến 1665AD mới khẩn hoang được. Vị chỉ phải đợi 1500 năm sau, đất bồi của sông Cửu Long mới có nước ngọt để có thể khẩn hoang thành đất canh tác đuợc.

Đồng bằng Bắc Việt cũng vậy : Nhú lên vào khoảng 300BC, khẩn hoang được vào khoảng nhà Lý 1.000AD ; tức phải đợi 1.300 năm sau mới có nước ngọt để sinh sống

·        Biên giới nước Văn Lang mà ta quen gọi là nước Việt (là ý niệm Tây hóa)  từ sông Tây Giang tới đèo Hải Vân, lúc này đồng bằng sông HỒNG chưa có, nó mới nhú lên vào khoảng 300BC ; mãi tới 1000AD mới có nước ngọt đã có thể khẩn hoang  thành đất canh tác được. Vị chi phải đợi 1.300 năm sau mới có nước ngọt để canh tác.

*** GIẢI QUYẾT SUNG KHẮC SẮC TỘC

Lúc khởi thủy (2.879BC), nước Văn Lang có 15 Bộ Lạc (Nay là Triều Đại) Bộ Lạc là một vùng an lạc, được tổ chức thành Liên Bang Việt theo Việt Giáo (Tự Trọng và Cầu Tiến), theo Vệt Đạo (Kết hợp với nhau bằng Tâm, cư xử với nhau bằng Đức, Bình đẳng tột cùng và thân thương tột độ (hình 14 tia trên mặt trống đồng 14 tia, về sau là tinh thần Đồng Bào ( #600BC).

Đâylà lúc nước Văn Lang và Nước Ngô sát nhập với nhau thành nước BÁCH VIỆT, biên giới lên tới sông Dương Tử. Thay đổi nếp sống thành BÌNH ĐẲNG SẮC TỘC và HỘI NHẬP VĂN HÓA , đó là đường lối chánh trị của LÃNH VƯƠNG vùng Lạc Việt (nay là QUẢNG ĐÔNG) tên là CÂU TIỄN.

Ø  Nước Bách Việt lúc đó gồm 18 Bộ Lạc chung sống hài hòa với nhau.

207BC Trệu Đà người vùng Chiết Giang (người Bách Việt gốc NGÔ) dứt THỤC PHÁN và đổi tên nước là NAM VIỆT (phía nam sông Dương Tử là đất của dân Bách Việt).

1471AD Vua Lê Thánh Tôn sát nhập nướ CHÀM vào nước Đại Việt cũng theo chánh sách Bình Đẳng Sắc Tộc và Hội Nhập Văn Hóa.

Trước năm 1945 dân ta có 54 sắc tộc vẫn sống hài hòa theo tinh thần ĐỒNG BÀO, tự cưu mang và giúp đỡ nhau trong vụ đói do giặc Pháp và giặc Nhật cố tình gây ra để giết trên 1 triệu dân Bắc trong vòng vài tháng (vụ đói năm Ất Dậu 1945) với mục đích tiêu diệt các nhóm cách mạng đòi độc lập

Ngày 02/9/1945 : SẮC TỘC VONG NÔ (nô lệ tư tưởng ngoại bang)

Việt Cộng, tay sai cỉa Nga Cộng cướp chánh quyền trong tay Chánh Phủ Trần Trọng Kim và du nhập nền Văn Hóa Hận Thù và Khát Máu để tiêu diệt dân Việt bằng Phong Trào Gia Cấp Đấu Tranh, Trí Phú Địa Hào Đào Tận Gốc Trốc Tận Rễ,

Hy sinh cho Thế Giới Đại Đồng bằng chủ nghĩa TAM VÔ (vô gia đình, vô tổ quốc và vô tôn giáo.

Đây là SẮC TỘC VONG NÔ CỘNG SẢN, kẻ thù của dân Việt ; vì chúng quyết tâm phá hủy tinh thần ĐỒNG BÀO mà tổ tiên nòi Việt đã mất 2.622 năm mới xây dựng xong. Danh xưng theo thời mà hậu thế phải biết:

Danh từ khinh miệt:

·        Từ 1945 - 1954 thì gọi là VẸM (Việt Minh) .

·        Từ 1954 – 30.4.1975 thì gọi là Việt Cộng.

·        Sau 30.4.1975 thì gọi là Tộc Cối hay Khỉ Trường Sơn

Danh từ lịch sự:

·        Danh xưng đúng nghĩa tiếng Việt là: VIỆT NÔ CỘNG SẢN (tức người Việt chối bỏ Văn Hóa Thuần Việt, chửi bới tổ tông đi theo Văn Hóa Cộng Sản nên gọi là Việt Nô, tức người Việt nô lệ tư tưởng ngoại bang

------------------------ 

Vì bị nòi Việt chống đối nên nay (1975AD) chúng mời thêm SẮC TỘC TÀU CỘNG, kẻ thù truyền kiếp của dân Việt xâm nhập để kéo bè, kết cánh quyết tiêu diệt dân Việt.

Khi Việt Nô Cộng Sản ra đi thì chúng để lại cho chúng ta vấn đề xung khắc sắc tộc phải giải quyết càng nhanh thì càng tốt.

Nay chúng ta giải quyết ra sao đây ?

-         Đối với 54 sắc tộc nguyên thủy thì chúng ta áp dụng đường lối chánh trị : Bình Đẳng Sắc Tộc và Hội Nhập Văn Hóa với tinh thần Đồng Bào ; no đói có nhau, vui cùng hưởng và họa cùng chịu ; như Việt Vương Câu Tiễn (#600BC),Vua Lê Thánh Tông (1471AD).

-         Đối với sắc tộc Việt Nô Cộng Sản thì tước bỏ quyền công dân của chúng, sống dưới sự che chở của dân Việt như những kẻ vô tổ quốc cần có một quốc gia để nương náu

-         Đối với sắc tộc TÀU CỘNG thì chỉ được quyền hành một số nghề có tính cách phục vụ, mở đường cho họ nhập Việt Tịch như thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã làm. Tịch biên tài sản bất hợp pháp, số còn lại không được chuyển ra ngoại quốc.,

õ

PHÁT TRIỂN và HẬN THÙ

cách giải quyết mâu thuẫn

RẰNG :

Dân tộc Việt gồm nhiều sắc tộc vẫn lấy tinh thần Đồng Bào thương yêu và đùm bọc nhau và xây dựng xã hội hài hòa bằng Bình Đẳng sắc tộc và Hội Nhập Văn Hóa, điển hình là thời Câu Tiễn (#600BC) Triệu Đà (207BC) và Lê Thánh Tông (1471AD).

 

Dû sống trong nô lệ Tàu hay Tây thì dân ta vẫn có  tinh thần Đồng Bào, tinh thần Độ Lượng và Khoan Dung ; điển hình là vụ đó năm Ất Dậu (1945) do Thực Dân Pháp và Phát Xít Nhật tạo ra vì muốn diệt cách mạng bằng nồi cơm ; ấy thế mà dân Bắc chẳng ai bảo ai, tất cả đều ăn cầm hơi mỗi ngày một tô cháo hoa với muối để dành thực phẩm cứu đói. Đợi đến này mùa thì ăn trả bữa. Do đó tổng sốn nạn nhân chết ít đi.

Nhà Trần và nhà Hậu Lê cũng đối xử khoa dung với kẻ thù ngoại chủng.

Nhà Tây Sơn cũng lấy tình lấy nghĩa đối với công thần nhà Nguyễn, nhà Trịnh và nhà Lê, dẹp bỏ mọi hận thù nghĩ tới tương lai.

Mỗi triền đại đều có giải pháp phù hợp với thời đại đương thời của họ.

Nay vì sức hồi sinh của dân tộc thì chúng ta xử trí ra sao cho tình, cho lý và chophat triển được vẹn toàn.

Trước năm 1945 chúng ta có 54 sắc tộc đoàn kết đẻ  đòi quyền TỰ QUYẾT, nên coi Việt Cộng là Đồng Bào.

Bằng cớ là trong Nội Các Trần Trọng Kim có đảng viên Cộng Sản, không những vậy mà chính cụ Trần Trọng Kim còn yêu cầu người Nhật phóng thích đảng viên Việt Cộng.

Đó là một cái nhầm tai hại do thiếu kinh nghiệm Chánh Trị mà ra.

Do đó, nay chúng ta phải coi Việt Nô Cộng Sản là kẻ thù của dân tộc nên phải loại trừ. Chúng đã ngang nhiên tuyên bố « Quyết Tâm tiêu diệt nòi Việt » bằng :

·        Giai Cấp Đấu Tranh, tức người Việt giết người Việt (trái với tinh thần Đồng Bào)

·        Trí Phú Địa Hào đào tận gốc trốc tận rễ ; tức tiêu diệt nhân tài để phá hủy đất nước cho Giặc Tàu nó hưởng (trái với Tâm Việt và Hồn Việt).

·        Bắt dân Việt chết cho Nghĩa vụ Quốc Tế bằng cách bắt thanh niên Nam Nữ vượt Trường Sơn để Sinh Bắc Tử Nam, xâm lăng và phá hoại độc lập của đồng bào miền Nam để thống nhất lãnh thổ rồi đem dâng cho giặc TÀU dưới khuẩu hiệu tiến tới Đại Đồng Thế Giới bằng chũ nghĩa Tam Vô (vô gia đình, vô tổ quốc và vô tôn giáo. Tức ta chết đi cho Tàu Cộng nó mạnh để nó bần cùng hóa cả nhân loại.

TÓM LẠI

Trước năm 1954 nước Việt có 54 sắc tộc quyết tâm bảo vệ sức sống của dân Việt.

Khi Việt Cộng lên nắm quyền thì chúng tạo ra sắc tộc VIỆT NÔ chủ ngĩa Cộng Sản để tiêu diệt dân Việt, đem đất hiến dâng cho giặc Tàu Mao.

Sắc tộc Việt Nô Cộng Sản là KÝ SINH TRÙNG trong cơ thể dân Việt ; vì nó đã mất hết Hồn Việt và Tâm Việt rồi.

Vì Việt Nô Cộng Sảng thấy không đủ sức để ăn bám vào cơ thể Việt nên nó tăng cường bởi giăc Tàu Mao từ năm 1948 chứ không phài ngày hôm nay.

Nay, giặc Tàu MAO đã bám rễ vào cơ thể Việt từ năm 1948, và nay đã hiện nguyên hình là kẻ cướp nước, tàn sát dân Việt như thời Bình Ngô Đại Cáo.

Sau khi phân tích như trên, và vì chúng ta chủ trương dùng Nền Văn Hóa Thuần Việt để gỡ thế kẹt và xây dựng xã hội hài hòa.

Vì tinh thần độ lượng và bao dong nên thay vì tiêu diệt bọn Việt Nô hãy tìm cách vô hiệu hóa chúng :

Do đó, rút kinh nghiệm người xưa, chúng tôi đề nghị :

A/- Phát huy giáo dục để kết hơp 54 sắc tộc Việt bằng cách Bình Đẳng Sắc Tộc và Hội Nhập Văn Hóa như Triệu Vũ Đế đã làm và đã thành công. Như vua Lê Thánh Tông đã làm khi sát nhập nuớc Chàm vào nước Đại Việt nhưng chỉ thành công có 60% thôi.

Ø  Như chương trình Phục Việt của Hoàng Đế Quang Trung, đang trên đà thành công thì Ngài đột tử nên chương trình hủy bỏ.

Ø  Như Tổng Thống Ngô Đình Diệm với chương trình Ấp Chiến Lược bảo vệ Tự Chủ bằng cách phát huy học thuyết Cần Lao Nhân Vị. Vì thành công nên Hò Chí Minh và Kennedy hè nhau vào sát hại cả 3 anh em để tự do thao túng chiến trưòng bằng vũ khí mới sáng tạo của Nga và Mỹ.

 

Mỹ thua Nga nên tiền đồn bị bỏ rơi để Mỹ thay đổi chiến lược dùng kinh tế hoán chuyển chánh trị bằng cách thả con săn sắt (Nam Việt Nam) để bắt con cá rô (làm sập khối Cộng Sản, ngày 25/12/1991, chính Gorbatchev phải lên đài truyền hình tuyên bố giải tán đảng Nga Cộng sau khi kể tội đảng Cộng Sản và đồng thời trả độc lập cho các chư hầu trong khói Cộng Sản.

 

Vậy tại sao chúng ta lại không dùng Nền Văn Hóa Thuần Việt để làm rã ngũ đảng Việt Cộng nhỉ ?

Giải pháp này có sức mạnh mãnh liệt là làm thức tỉnh thành phần bảo vệ mấy tên đầu não thì tự nó sẽ sập ngay.

 

VÔ HIỆU HÓA SẮC TỘC TÀU

Nay chúng  đã mọc rễ , thì chúng ta áp dụng kế sách của Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi thu hồi 2 đặc khu Saigon và chợ Lớn (1955-56) ; trong khi Mã Lai mất toi thành phố Singapour với người Tàu dịnh cư làm ăn do người Anh đem vô.

Ít nhất phải bắt chúng từ bỏ Quốc Tịch Tàu thì mới được quyền làm ăn trên đất Việt với tư cách Việt Tịch hay người Vô Tổ Quốc được dân Việt che chở.

Như vậy tài sản phải để trong nước Việt và mọi sự tranh tụng chỉ có Tòa Án Việt mới có quyền phân xử.

 

GIẢI PHÁP VÔ HIỆU HÓA VIỆT NÔ CỘNG SẢN

Còn bọn Việt Nô Cộng Sản thì phải kiểm soát thường xuyên tư tưỏng và hành động của chúng như người bị quản thúc.

Tước bỏ quyền Công Dân để chúng không thể nắm chức vụ Điều Hành được (từ tên cán bộ phường, hay xóm đến Nguyên Thủ Quốc Gia).

 

Vì chúng là thành phần quyết Tâm Tiêu Diệt Dân Việt bằng chủ nghĩa Tam Vô nên phải theo dõi thường xuyên để ngăn chặn hậu họa, mặc dù đã tước quyền công dân của chúng.

 

5/- VẤN ĐỀ NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN

Xét rằng nhân tài là vốn quý của đất nước nên cần sự đóng góp của những người bỏ nước ra đi vì nạn Việt Cộng nên phải :

·        Phục hồi quyền công dân của họ và con cháu của họ.

·        Mời gọi họ về giúp dân PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC.

·        NHẬP GIA TÙY TỤC, nên tuyệt đối không chấp nhận nền VĂN HÓA VIỆT LAI. Lý do nó sẽ gây chia rẽ một cách trầm trọng cộng đồng người Việt.

Coi bọn Việt Nô đem văn hóa Việt Lai Cộng Sản về đã gây thiệt hại như thế nào để biết đướng cấm đoán trong Hiến Pháp

 

XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG HẢI NGOẠI

Nên nhớ rằng chúng ta có 2 cộng đồng Quốc Nội và Hải Ngoại phải vun trồng để Phục Hồi lại TÂM VIỆT và HỒN VIỆT trong con người Việt nên đừng để cho con cái sinh trưởng ở nước người trở thành những kẻ mất gốc quên nguồn.

 

Bộ Giáo Dục phải đặt chương trình sinh hoạt Nhân Văn Việt Tộc cho thế hệ sinh sống ở Hải Ngoại để chúng biết đường hướng về nguồn cội.

Coi gợi ý về chương trình sinh hoạt ở các bài học của phần 3 : Xây dựng xã hội hài hòa

 

6/- VẤN ĐỀ GIÁO DỤC

Gợi ý về giáo dục để đào tạo nhân tài như Triều Đại nhà LÝ và nhà TRẦN.

Chúng ta sẽ phân tích nhu cầu Giáo Dục bằng một buổi học riêng. Đây là cốt lõi của vấn đề BẢO VỆ TỰ CHỦ

 

Điều kiện phải thi hành :

Bình Đẳng, Cưỡng Bách, Trợ Giúp GIÁO DỤC cho Thiếu Nhi (6-12 tuổi) và Thiếu Niên (12-16 tuổi).

Đây là rường cột của sự sinh tồn trong vinh quang của nòi Việt nên phải chăm sóc đàng hoàng và kỷ càng.

Đầu tư trí tuệ, công sức và tiền tài vào thế hệ này thì đất nước sẽ có nhiều Hiền Tài như nhà Lý và nhà Trần đã có thặng dư nhân tài

 

Vì thế đây là khâu phải bàn bạc kỹ lưỡng, nếu chúng ta muốn tránh cảnh DỊCH CHỦ TÁI NÔ từ nhà Nguyễn GIA LONG cho đến ngày hôm nay.

 

Phải nhìn thẳng vào sự thật thì mới cứu nguy tương lai con cháu chúng ta được.

Đừng vì tự ái mà tự lừa dối mình để lún sâu vào Lạc Hồn dân Việt.

Đây chỉ là phác họa con đường phải đi để thoát khỏi cảnh nô lệ tư tưởng triền miên.

 

TIỂU HỌC (thiếu nhi 6-12 tuổi) :

Các em phải được chăm sóc kỹ lưỡng và được dạy dỗ về môn VĂN HÓA THUẦN VIỆT do thày cô giàu kinh nghiệm và có Tâm Việt và Hồn Việt dạy dỗ.

Ăn ở nội trú ban ngày và : Miễn phí ăn uống, tiền học và mọi chi phí cho việc học hành.

6 giờ chiều các em về với gia đình để gây tình gia đình và để nghỉ ngơi lấy sức hôm sau  học tiếp.

Ngày nghỉ thì đi du ngoạn .  Thỉnh thoảng đi giao lưu văn hóa với các trường khác

TRUNG HỌC SƠ ĐẲNG (thiếu niên 12-16 tuổi)

Nội trú toàn thời, chỉ được về cuối tuần và ngày nghỉ.

·        Chú trọng về môn Học Làm Người Việt Tốt (Nhân Văn Việt Tộc).

·        Tập đóng góp ý kiến.

·        Du Ngoạn và giao lưu văn hóa thường xuyên để có Tâm Việt và Hồn Việt, để biết yêu quý quê hương, thương yêu nòi giống

TRUNG HỌC CAO ĐẲNG (tráng niên 16-19 tuổi)

Chú trọng về môn Nhân Văn Việt tộc.

·        Tập tranh luận, tập đặt vấn đề và giải quyết vấn đề.

·        Tập làm đề án.

·        Tổ  chức những buổi đi xa, xuất ngoại để biết quê huơng và bạn bè khắp nơi với mục đích mở mang kiến thức để sau này có đủ kinh nghiệm và khả năng lãnh đạo đất nước.

 

Các em phải được trang bị đầy đủ kiến thức căn bản về môn Nhân Văn Việt Tộc trước khi bước chân vào đời.

---------------------

Xin giới thiệu với quý vị 3 đường dẫn sau đây, và kính mời các vị hiền tài tiếp tay cho chương trình này được phong phú.
http://nhanvanviettoc.blogspot.com  là nơi lưu trữ tài liệu để soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com  là nơi lưu trữ các bài đã soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm) từ Tiểu Học đến Trung Học.

Nơi lưu trữ 3 kinh nhật tụng
1. Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18 tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)
SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ (Đủ Bộ) https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ (Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k

SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph
Kênh  Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ là nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu trữ vô máy.

                                                                       Nhóm Nhân Văn Việt Tộc kính báo.

¾