dimanche 18 août 2024

T08 - RỒNG TIÊN đoạn 2/2

Tiếp theo đoạn (T07) Bạch Hóa Rồng Tiên

 T08 - RỒNG TIÊN đoạn 2/2 : Tri Tân / 27.11.20

Xây dựng Cộng Đồng Văn Hóa

Facebook Nỗi Niềm Quê Hương –

soạn giả: Hoàng Đức Phương

 

Chương B- TRI TÂN

Phần 1 : Kỹ Thuật Bảo Vệ Tự Chủ (sơ đồ)

Nay chúng ta tóm lược phần ba: Học Thuyết Cứu nước dưới dạng sơ đổ "Kỹ Thuật Bảo Vệ Tử Chủ" thì chúng ta thấy ngay sự linh nghiệm của câu thần chú này.

Kỹ thuật là ai làm cũng được, nếu giỏi thì thành công và đỡ vất vả. Còn yếu kém nhưng có thiện chí thì cũng thành công nhưng vất vả và tốn công sức nhiều hơn.

Giống như người thợ giỏi thì có quần áo đẹp đẽ, còn thợ vụng thì có quần áo xấu xí chứ không đến nỗi ở truồng.

ö

 

CHUYỂN NGỮ

Chúng tôi xin chuyển thông điệp của cha Lạc Long sang ngôn từ ngày hôm nay, nhưng dưới dạng sơ đồ. Sơ đồ là hình vẽ sơ sài tượng trưng cho ý niệm

·        Dưới đây là lộ trình giáo dục phải theo thì toàn dân mới có đủ khả năng để bảo vệ sự tự chủ của mình được. Việt Lực được suy ra từ lời căn dặn của cha LẠC LONG.

·        Sơ đồ này là chuyển ý từ thông điệp Rồng Tiên khai quốc.

Chuyện Rồng Tiên khai quốc là học thuyết căn bản của khoa nhân văn Việt tộc nói về Việt giáo, Việt đạo và Việt triết.

ü  Cộng đồng Hải Ngoại không phải lo giải quyết những khó khăn ngoại lai nên dễ thành công hơn cộng đồng trong nước, nhưng phải dùng nền văn hóa Rồng Tiên thì mới kết hợp với nhau được. Trong khi đó, trong nước phải áp dụng nền văn hóa Phục Việt thì mới xóa được mọi hận thù sắc tộc và phe nhóm.

ü  Nếu cộng đồng Hải Ngoại không vượt được những khó khăn do chính mình gây ra thì khi Việt Cộng ra đi, trong nước cũng khó lòng mà giữ được nền tự chủ. Vì cái khó thứ nhất là thống nhất lòng người với 54 sắc tộc, cái khó thứ nhì là xây dựng con người buông thả vào kỷ luật và tổ chức kỷ cương mô hình xã hội đã bị tan rã hoàn toàn sau nhiều thế hệ sống trong nô lệ, người dân xa lánh chánh trị.

§  Chương trình huấn luyện lãnh đạo không thuộc phạm vi Nhân Văn Việt Tộc.

§  Lãnh đạo là người chỉ đạo một nhóm người thi hành công tác sao cho toàn hảo. Ngoài khả năng chuyên môn ra còn cần phải biết cách ứng xử  tâm lý nữa thì mới thành công được.

§  Coi cách dùng nhân tài của Hoàng Đế Quang Trung. Lấy bài học về nhà Tây Sơn trong link:  http//: nhanvanviettoc.blogspot.com; bài số 2.06.

§  Sơ đồ Kỹ Thuật Bảo Vệ Tự Chủ ở dưới, là sự đúc kết Thông Điệp Rồng Tiên của ông Phạm Lãi + Văn Chủng vào khoảng 600BC và Học Thuyết Cần Lao Nhân Vị cùng Ấp Chiến Lược bảo vệ sự tự chủ của nhóm ông NGÔ ĐÌNH NHU để thoát khỏi ảnh hưởng của MỸ (vào năm 1961-1963), dưới ngôn ngữ của thời Điện Toán  đương thời

§  RÚT KINH NGHIỆM CHUA CAY ĐỂ THOA1T HIỂM:

Nên nhớ là 3 anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị chết là do sự thành công quá nhanh của Ấp Chiến Lược và Học Thuyết Cần Lao Nhân Vị… Đây là môt kinh nghiệm thứ ba là : Dục Tốc Bất Thành.   Lãnh Tụ không nên đi nhanh hơn dân, phải huấn luyện để toàn dân bắt tay vào việc cùng với mình.

Ø  Lần đầu Dục Tốc Bất Thành là thời đại ông Hồ Quý Ly, môt nhà có cái nhìn Canh Tân Đất Nước theo phát Minh khoa học, làm việc tập thể thay cho nghề nông có tính cách gia đình. Vì thế nên cha con ông bị Minh Thành Tổ bắt séng đem về Tàu để phục vụ cho họ. Ông là thánh tổ của Pháo Binh nước TÀU.

Ø  Lần thứ nhì Dục Tốc Bất Thành là: Hoàng Đế Quang Trung yểu mệnh là vì làm việc quá sức nên khi chết đi không ai có đủ khả năng thay thế. Tức ổng lo cái ngọn mà không vun bồi cái gốc nên chương trình bỏ dở vì thiếu người có khả năng nối tiếp.

Ø  Lần thứ ba: Nền Đệ Nhất Cộng Hòa thoát thai từ nô lệ 100 năm (1858-1945) với kẻ thống trị là Thực Dân Pháp (có Tây Ban Nha và Bắc Kinh giúp sức để giây máu ăn phần mà người Pháp là cai thầu-coi Sử Nguyễn Xuân Thọ lấy tài iệu từ bộ ngoại giao cả 3 nước) có kế sách hủy diệt Văn Hóa, Văn Minh và Lịch Sử của nòi Việt để đào tạo lên một đám sỹ phu vọng ngoại, xa lánh chánh trị; cộng thêm nạn đói năm 1945 do Nhật bắt nhổ lúa trồng đay nên mất mùa; trong vài tháng mà trên 1 triệu người chết ở miền Bắc từ Ninh Bình trở lên. Do đó thiếu nhân tài.

Cuộc chiến 1945-1975 à NGA MỸ thư hùng trên đất Việt dể thử vũ khí do Hồ Chí Minh đem tới nên thời gian không cho phép, do đó Chánh Quyền Ngô Đình Diệm phải làm gấp rút và chấp nhận rủi ro.

Rút tia 3 kinh nghiệm trên thì Cộng Đồng Hải Ngoại đng ỉ-i vào Nhân Tài Tây Học, họ làm việc theo cá nhân chủ nghĩa nên chúng ta không những phải đào tạo nhân tài theo đúng nhu cầu làm việc tập thể theo chuyên môn, mà còn phải có phương án huấn luyện nhân tài theo chương trình NHÂN VĂn VIỆT TỘC thì mới  kết hợp được lòng người.

²


ö

Chương B- TRI TÂN

Phần 2 : Xây dựng cộng đồng Văn Hóa Rồng Tiên ở Hải Ngoại

 

Mục đích là nối kết cộng đồng Việt trên toàn thế giới bằng nền Văn Hóa Thuần Việt thì mới đủ sức, không những bảo vệ được bản sắc dân Việt mà còn có thể đóng góp tinh hoa của nền Văn Hóa Việt cho xã hội tiếp cư để tạo cuộc sống hài hòa với tinh thần:

Ăn cây vườn nào thì rào vườn đó...

Uồng nước phải nhớ đến nguồn.

Bạc phước và tủi hổ cho những kẻ lạc cha, lạc mẹ để phải ăn bám xã hội tiếp cư mà không có gì để tạ ơn.

Ø  Sau đây chỉ là những nét phác họa, gợi ý và mào đầu để mọi người đóng góp. Vì muốn thành công thì người xướng phải có đồng bào phụ họa; nếu chúng ta chưa muốn con cháu của mình mất gốc rồi nguyền rủa cha mẹ không lo dạy dỗ chúng.

 

Mục tiêu phải tiến tới là những yếu tố A và B sau đây:

A.   Tổ Chức Sinh hoạt:

Nằm trong tầm tay của mọi người

Thành lập Liên Hội địa phương với sinh hoạt định kỳ về Văn Hóa Thuần Việt như sau:

 

1)     Mở nơi giữ trẻ vào cuối tuần để các em sống trong môi trường lành mạnh của dân Việt

Do người chuyên nghiệp lo để bố mẹ rảnh rang làm việc khác, với thù lao tương xứng.

2)     Mở lớp học Văn Hóa Thuần Việt hàng tuần ở nhiều trình độ, miễn phí với sự đóng góp của các nhà Mạnh Thường Quân.

3)     Tổ chức hội thảo về Văn Hóa Thuần Việt mỗi năm 3 lần để trau dồi kiến thức.

4)     Tổ chức ngày Đại Hội Văn Hóa Thuần Việt hàng năm vào ngày mồng 1 tháng Giêng Việt Lịch để phục hồi lại Việt Lịch, tức lịch nhà nông (tính theo sao) đã bị Mã viện bóp chết và thay bằng Âm Lịch là lịch của dân du-mục đi săn ban đêm (bài A05-4/11/17)

5)     Làm báo cáo thường niên vào ngày 30 tháng Tư, và lưu trữ hồ sơ để con cháu nhớ đến khúc lịch sử bi đát này: Trông chờ ngoại bang là trông chờ nô lệ. Chẳng nô lệ Cộng Sản thì cũng nô lệ Tư Bản

B.     Liên kết toàn cầu:

Sinh hoạt trên mạng lưới toàn cầu

1)     Mở mạng lưi thông tin toàn cầu giữa các Liên Hội với nhau.

2)     Đồng thời tổ chức những dịp giao lưu văn hóa để trao đổi kinh nghiệm bằng cách gửi thành viên đến thăm viếng nhau và nhận lãnh thành viên đến sinh hoạt với liên hội của mình. Liên hội chủ nhà lo chỗ ở miễn phí và lên chương trình sinh hoạt với khách đến từ phương xa, có văn nghệ bỏ túi và lửa trại để cùng ca, cùng hát.

Chương trình Văn Hóa Rồng Tiên thì nhóm Nhân Văn Việt Tộc cung cấp và các liên hội bổ xung cho phong phú. Vạn sự khởi đầu nan nên cứ bắt tay vào việc đi, rồi bổ túc sau để mỗi ngày mỗi hữu hiệu

ö

 

 

Chương B- TRI TÂN

Phần 3 : Xây dựng cộng đồng Văn Hóa Phục Việt ở trong nước.

Muốn tiến tới kết hợp dân tộc thì phải có chương trình xóa ngay xung khắc sắc tộc và phe nhóm chỉ vì không tôn trọng nền văn hóa của nhau, hơn nữa phải xóa bỏ sự bất bình đẳng và sự kỳ thị giữa các sắc tộc.

Do đó phải phát huy nền Văn Hóa phục Việt mà các triều đại trong quá khứ đã làm và đã thành công như:

1)     Ông Câu Tiễn đã dùng nền văn hóa hội nhập để sát nhập nước Ngô vào nước Văn Lang.

2)     Nhà Trần đã hội nhập các sắc tộc bằng nền Văn Hóa Tam Giáo Đồng Nguyên.

3)     Vua Lê Thánh Tôn đã hội nhập nước Chàm vào nước Đại Việt bằng cách hội nhập văn hóa của tất cả mọi sắc dân.

4)     Nhà Tây Sơn đã dùng nghĩa binh người Chàm ở Nam Bàn (tức vùng Tây Nguyên) để giải phóng dân Việt.

 

Sau đó Gia Long và Việt Cộng lại thù hận dân Chàm nên mới có phong trào chống đối, ly khai của người Nam Bàn.  Đó là lỗi của bọn con buôn chánh trị sống nhờ ngoại bang.

NHẮC NHỞ :

Dân cư nước CHÀM (CHAMPA) là người Nông Nghiệp ở Mã Lai di lên núi Trường Sơn trong thời kỳ Đại Hồng Thủy (15.000BC-3.400BC). Họ sống rải rác thành sắc tộc (mỗi nhóm từng dăm bảy ngàn người), trong đó có chủng tộc CHĂM (khoảng vài 100.000 người) sống ở Ninh Thuận và Bình Thuận. Họ lâp quốc năm 40 sau tây lịch; nhưng mãi đến năm 192 sau TL họ mới quy tụ lại thành Quốc Gia. Khoảng năm 450 sau TL thì binh hùng tướng mạnh họ đánh chiếm đất Chân Lạp nên dân Chân Lạp lập quốc. Khoảng năm 800 sau TL họ đánh chiếm nước Việt đang bị thống trị bời nhà Đường, họ chiếm chiến khu Lâm Ấp của Việt Thường từ đèo Ải Vân (Gia Long đổi thành Hải Vân) lên đến hết Quảng Trị và họ cho nó cái tên là Châu Ô và châu LÝ. Nhà Trần phải hiến Công Chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân để xin chuộc lại dưới cụm từ “Lễ dẫn cướỉ” cho vui vẻ cả 2 dân tộc Việt/Chàm; sau đó đổi thành châu Thuận (Quảng Trị) và châu Hóa (Huế, Thừa Thiên hay Phú Xuân).

Năm 1471 vua Lê Thánh Tôn sát nhập nước Chàm vào nước Đại Việt theo chế độ Bình Đẳng Sắc Tộc và Hội Nhập Văn Hóa. Nước Chàm bị xóa tên từ đây; nhưng dân CHÀM vẫn có cuộc sống tự do nên Nghĩa Binh Tây Sơ 85% là người CHÀM ở vùng Tây Nguyên để đánh trận Rạch Gầm và Xoài Mút phá tan 100.000 thủy binh Thái Lan, thâu hồu đất Nam Việt và đánh trận Đống Đa, phá tan 290.000 quân Tàu trong có 5 ngày tác chiến, thâu hồi chủ quyền và thống nhất đất nước. Chuyện chưa thành thì Hoàng Đế Quang Trung đột tử nên Gia Long lên ngôi là nhở lực lượng CƠ KHÍ của 3 nước hợp lại là: Pháp, Tây Ban Nha và Bắc Kinh đi đêm với nhau, cai thầu là nuớc Pháp phải chia phần (§ Sử Giáo Sư Nguyễn Xuân Thọ xuất bản năm 1995 tại Hoa kỳ, giá $20 Mỹ Kim)

 

Bổ xung việc làm người xưa thì nay ta phải:

1)     Mở rộng nền giáo dục Nhân Văn Việt Tộc cưỡng bách và miễn phí cho mọi trẻ Việt.

2)     Phát triển giáo dục nhân bản cho mọi trẻ Việt cho tới 18 tuổi.

3)     Chánh quyền có bổn phận phải chăm lo cho sắc tộc kém may mắn để làm sao toàn dân có kiến thức về môn Việt Học ngang nhau, có cuộc sống giống nhau, đó là tinh thần tương trợ, tình nghĩa Đồng Bào đã nói ở trên. Có thể áp dụng chính sách Ấp Chiến Lược và học thuyết Cần Lao Nhân Vị để bổ xung cho đề án ngày hôm nay.

 

Tóm lại phải tiến tới trình độ học vấn đồng đều cho mọi người dân sống trong lãnh thổ Việt Nam. Có được như vậy thì mới hy vọng có sự đoàn kết các sắc tộc bằng phương sách:

 

Kết hợp với nhau bằng Tâm và cư xử với nhau bằng Đức. Bình đẳng tột cùng, thân thương tột độ như học thuyết giữ nước trong bài giảng Rồng Tiên Khai quốc.

 

Lẽ dĩ nhiên là phải có sự giao lưu văn hóa thường xuyên giữa các vùng với nhau. Phải trả lại sự thật cho lịch sử để mọi người có tinh thần Tự Lực, Tự Cường, Tự Trọng và Cầu Tiền. Coi việc tham gia sinh hoạt chánh trị là việc của mình thì mới bảo vệ được sự tự chủ của dân tộc.

Phải biết cư xử và nhân ái để biết sống cho mình và sống cho người theo thành ngữ:

Rồng Tiên Song Hiệp mà tổ tiên đã răn dạy hậu thế.

 

Có nghiã là:

Trai gái hợp thành đôi để bổ xung cho nhau trong nhiệm vụ “sống cho mình và sống để giúp nước cứu đời.

 

Ông Nguyễn Công Trứ và cụ Phan Bội Châu đã xuất khẩu thành thơ chỉ vì Tâm Việt và Hồn Việt đã nằm sâu trong huyết quản của 2 vị này để có phản xạ tự nhiên:

-        Nguyễn Công Trứ:  Trích thơ khẩu khí làm trai...."Phải có danh gì với núi sông"

-        Phan Bội Châu:  Trích thơ SỐNG và CHẾT - chết vinh hơn sống nhục.

"Sống tưởng công danh không tưởng nước,

Sống lo phú quý chẳng lo đời.

Sống mà như vậy đừng nên sống"

&

 

 

Chương C- TRAU DỒI KIẾN THỨC

Phần 1 : BỐI CẢNH LỊCH SỬ LÚC ĐÓ

 

Nếu chúng ta nắm vững khúc lịch sử ở thời điểm 600BC thì chúng ta sẽ đọc được tư tưởng của tác giả trong thông điệp Rồng Tiên – tương thông với tư tưởng người xưa qua ngôn từ. Vì thế cho nên soạn giả mới thêm vào phần này trích trong cuốn Đông Chu Liệt Quốc, chương: Mối thù Ngô Việt.

Tuy Đông Chu Liệt Quốc (hay thất quốc tranh hùng) là chuyện mua vui, có rất nhiều hư cấu; nhưng kể lại theo lịch sử. Do đó cũng có những yếu tố lịch sử mà người đọc phải biết cách tách ra. Dưới đây chỉ là cái nhìn của soạn giả sau khi đọc phần này, nó bổ xung cho bài giải mã đã có trước khi đọc – tài liệu này chỉ là phần kiểm chứng để bổ xung cho việc giải mã câu chuyện.

Coi hình số 06 và 07 (481-221BC) đính kèm.

Đó là  thời 7 nước đánh nhau dữ dội.

Phía băc con sông Dương Tử thì Ngũ Bá Tranh Hùng: TỀ, TẤN, TẦN, TỐNG, SỞ.

Phía nam con sông Dương Tử thì Nhị Bá Tranh Vương là nước Việt (YUE hay YUEH) của CÂU TIỄN (thực ra thì Câu Tiễn là lãnh vương vùng Lạc Việt; tức Quảng Đông của Liên Bang VIỆT gồm 15 tiểu bang gọi là Bộ Lạc) và nước Ngô (WU) của HẠP LƯ

 

Sau này nước Ngô bị xóa sổ nhưng người Ngô vẫn còn và hợpvới người Việt thành 100 giống Việt chứ không phải là 100 nước Việt được gọi là BÁCH VIỆT (vùng WU-YUE là vùng đất Ngô Việt, tức người Việt gốc Ngô.

Tiếng Tàu viết xuôi nhưng nghĩa ngược; tức chữ trước bổ nghĩa cho chữ sau như con ngựa trắng thì họ nói con trắng ngựa (bạch-mã) nên khi viết phải có gạch nối (xem bài A-06: Quy luật của chữ Quốc-ngữ để phân biệt: i và y, d với gi, ch với tr và s với x)

 

Vào khoảng 600BC, nước Văn Lang gồm 15 sắc tộc hợp lại với nhau thành liên bang Việt gồm 15 tiểu bang, lúc đó gọi là "Bộ Lạc"; tức vùng an lạc.

Vì muốn hạ nhục nên bọn Thực Dân Pháp gọi Bộ Lạc là Tribu. Tribu là Tù, Chef de Tribu là Tù Trưởng lãnh đạo khoảng vài trăm người và sống cuộc đời du cư. Trong khi đó Bộ Lạc có ông Lãnh Vương, hai bên có quan văn gọi là Lạc Hầu và quan võ gọi là Lạc Tướng phụ tá –

Ø  Điểm này cần phải khai thông, đừng để tư tưởng bế tắc vì dùng sai ngôn từ.

 

Lúc đó, lãnh vương vùng Lạc Việt (Quảng Đông ngày hôm nay) là ông Câu Tiễn hai bên có quan văn là ông Văn Chủng và quan võ là ông Phạm Lãi – coi hình số 05, 06 và 07 đính kèm.

 

Ông Câu Tiễn dùng binh pháp của ông Phạm Lãi đánh bại vua Ngô là Phù Sai (dùng binh pháp Tôn Tử).

Sau khi chiến thắng thì ông Câu Tiễn hội nhập nước Ngô vào với nước Văn Lang và chia nước Ngô thành 3 vùng an lạc (tức 3 Bộ Lạc) là: Vùng Chiết Giang mang tên là Ngô-Việt; vùng Thiều Châu (thủ phủ là Phúc Kiến) mang tên là Mân-Việt và vùng Hồ Nam (thủ phủ là Tràng Sa với nhiều trận đánh lưu danh muôn thuở) mang tên là Bách-Việt.

Chiết Giang, Thiều Châu và Hồ Nam là địa danh, còn Ngô-Việt, Mân-Việt và Bách-Việt là tên cư dân sinh sống ở vùng đó.

·        Binh Pháp là phương pháp dùng binh. Binh Thư là sách viết về binh pháp?

·        Đừng lẫn địa danh với quốc hiệu và tên sắc tộc. Cái này rất quan trọng, vì không biết lịch sử nên nay chúng ta tự nhận là người Việt-Nam (SAI).

Sự thực thì:

Việt-Nam chỉ là Quốc Hiệu chứ không phải tên chủng tộc, nó xuất hiện vào thời Gia Long (1802), Minh Mạng đổi thành Đại Việt (1819), rồi Bảo Đại lấy lại vào tháng Avril 1945, Việt Cộng đổi tên thành nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (septembre 1945) rồi nay thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (hành văn theo Tàu).

Còn tên chủng tộc của chúng ta là người Việt, dân Việt, Văn Hóa Việt,...... có từ ngày lập quốc (2.978BC)

²

NGUYÊN NHÂN ĐƯA ĐẾN MỐI THÙ NGÔ - VIỆT

Ở thời điểm đó, Ngũ Tử Tư là người CHỦ MƯU đảo chánh, nhưng chuyện bại lộ nên Sở Vương (vua nước Sở là TRANG VƯƠNG) hạ chiếu giết cha và anh của Ngũ Tử Tư rồi hạ lệnh truy nã kẻ chủ mưu là Ngũ Tử Tư đan bôn tẩu.

Do đó Ngũ Tử Tư có mối thù với vua Sở và nguyện làm loạn để giết TRANG VƯƠNG, nếu ông này chết thì quật mả và đánh vào bộ xương khô để trả thù thì mới hả dạ - giống như Gia Long hận thù anh em nhà Tây Sơn. Văn Hóa Thuần Việt không cho phép làm như vậy.

 

Vì thế nên ông Ngũ Tử Tư vượt biên giới đi lên phía bắc và cầu xin sự giúp đỡ của các lãnh vương dưới thời Phong Kiến nhà Chu. Nhưng chẳng nước nào chịu giúp cả vì đó là chuyện cá nhân nên họ không muốn rắc rối, hơn nữa chả muốn gây gổ với nước Sở.

Không thối chí, Ngũ Tử Tư bí mật đi xuống nước Ngô và tìm cách liên lạc với Hạp Lư để xúi dục ông này cướp ngôi vua của ngưòi em con ông chú.

 

Cớ là:

Khi vua ông chết đi thì truyền ngôi lại cho bố Hạp Lư và căn dặn là phải truyền ngôi cho em, vì ông này quý cậu con út (thứ 3 tính theo con trai). Đúng theo lời bố dặn thì ông chú lên nối ngôi chứ không phải Hạp Lư (cháu đích tôn). Đến khi ông chú chết đi, thì người em Út khước từ ngôi vua, thay vì trả ngôi vua lại cho cháu đích tôn là Hạp Lư thì lại truyền ngôi cho con trưởng của mình. Đây là điểm mà Ngũ Tử Tư có thể khai thác được. Ông xúi Hạp Lư giết em để lấy lại ngôi vua. Hạp Lư thấy người đánh đúng tim đen của mình nên thuận, và sửa soạn việc cướp ngôi.

Ở thời điểm đó thì: Các nhà quý tộc đều được quyền nuôi lính để bảo vệ an ninh cho mình, nhưng số lượng rất là giới hạn.

Mọi việc thì Ngũ Tử Tư đã lo liệu xong cùng với Chuyên Chư, Yêu Ly, Bá Hi và Tôn Tử cùng nhiều nhân tài khác; mỗi người một công tác mà Ngũ Tử Tư là người đạo diễn.

Ngày động binh đã đến:

·        Hạp Lư dùng kế điệu hổ ly sơn bằng cách xúi vua phái binh ra biên ải để đánh chiếm đất đai của 2 nước láng giềng là nước Tề phía bắc và nước Sở phía tây; trong đó có Khánh Kỵ

·        Khánh Kỵ vừa là thái tử lại vừa là võ tướng vô địch phải thanh toán khi có dịp.

·        Khi quân đã đi xa thì Hạp Lư mời vua đến tư dinh dùng món cá hấp do Chuyên Chư đầu bếp chuyên nghiệp làm, và Hạp Lư đứng hầu rượu.

·        Tuy nghi, nhưng vì nể tình anh em nên vua tới cùng với đám vệ sĩ hùng hậu. Khi ăn thì mặc áo giáp (lúc đó là áo bằng đồng, vì là thời kỳ đồ sắt chứ chưa biết cách luyện thép).

·        Hạp Lư đứng hầu rượu với chân đau vì ngã ngựa (?). Khi sắp đến món cá hấp thì Hạp Lư xin vào bó lại chân cho vững. Vua đồng ý.

·        Hạp Lư vừa vào thì Chuyên Chư mang món cá hấp ra và hầu vua. Vừa mở vung ra thì Chuyên Chư rút lẹ con dao găm đâm lũng áo đồng và vua chết ngay tại chỗ, lính cận vệ đâm nát người Chuyên Chư thì lính của Hạp Lư xông vào thanh toán chiến trường và sau đó Hạp Lư cướp ngôi.

·        Con dao găm mà Chuyên Chư dùng để đâm vua là do Việt Vương Câu Tiễn đem biếu để tránh can qua do Hạp Lư gây sự nên trong bụng không vui.

Con này là 1 trong một mẻ 5 con dao găm được Thần luyện hộ nên trở thành Thép cứng có khả năng đâm lũng áo bằng đồng.

Cớ là khi thép nấu chảy từ mỏ ra thì nó là sắt sau khi khử oxy bằng máu động vật.

Sau đó nhồi 1% carbone rồi đem tôi (tôi = nhúng vào nước lạnh khi vừa mới ra lò).

Còn để nó nguội dần thì tự động nó sẽ thành thép non (mềm) vì các nguyên tử có thời gian để trở về vị trí cũ. Hôm đó hên, khi vừa đổ vào khuôn xong thì trời mưa rào nên Thần tôi hộ mẻ này. Sau này chính Ngô Phù Sai dùng con dao này để tự sát trong danh dự.

·        Như đã cam kết, sau khi cướp ngôi vua thì Ngũ Tử Tư làm Thừa Tướng, Bá Hi lo kinh tế và nội an, còn Tôn Vũ thì lo việc luyện binh để đánh nước Sở; Yêu Ly thì lo thanh toán Khánh Kỵ nên có danh từ éo-le. Vì Yêu Ly vừa yếu, vừa nhỏ con lại cụt mất tay mặt đã cầm dáo đâm lũng ngực Khánh Kỵ là một dũng tướng vừa to vừa khỏe.

·        Khi đã đủ lực rồi thì Hạp Lư gây sự, đánh chiếm vùng biên giới nước Tề và bắt vua Tề phải gả công chúa cho Thái Tử vì vợ đã qua đời để lại 1 đứa con là Phù Sai.

Vì nước nên công chúa nước Tề phải làm dâu. Vì bị ép duyên nên cô này buồn rầu, sức khỏe hao mòi nên ít lâu sau thì chết. Thái Tử vì thương vợ nên thơ thẩn quên ăn quên ngủ, sức khỏe hao mòn nên ít lâu sau cũng qua đời để lại người con côi là Phù Sai.

·        Thừa thắng nên Hạp Lư xua quân sang đánh nước Sở, làm nhục Hoàng Hậu và đào mả vua Sở để Ngũ Tử Tư trả thù. Nhưng khi quật mả chôn dưới ao lên thì trong hòm không có xác, do đó Ngũ Tử Tư uất là vì chưa trả thù được cho cha và anh.

Ø Điều này cho chúng ta một nghi vấn là: Hoàng Đế Quang Trung là một người mưu mẹo như thần, tiên đoán được tương lai nên đã căn dặn Trần Quang Diệu và Bùi thị Xuân là hãy lo chôn cất trong vòng tối đa là 1 tháng. Ma chay tiềm tiệp để thì giờ lo việc giữ nước. Vì khi biết tin này thì thế nào nó (Nguyễn Ánh) cũng kéo quân ra đánh, nếu lơ-là thì sau này không có đất mà chốn.

Ø Biết như vậy rồi, thì không lý gì mà ổng lại không dặn đem chôn nơi khác thật kín đáo, rồi đem thây tử tù vào thay thế để đánh lừa hắn (Nguyễn Ánh).

·        Sau khi khống chế nước Sở thì Hạp Lư triệu các nước quanh vùng  đến họp để uống máu ăn thề, định ngôi Bá Chủ cho thiên hạ an bình.

·        Khi đang họp thì được tin Câu Tiễn đánh chiếm thủ đô, chỉ vì khi trước bị Hạp Lư ức hiếp liên tục nên đã phải biếu 1 con dao găm Thần đủ sức đâm lũng áo giáp.

·        Sau khi nhận tin kinh đô thất thủ thì Hạp Lư hối thúc cho xong sớm việc ngôi thứ, rồi kéo ngay binh về trị tội Câu Tiễn.

·        Được tin Hạp Lư kéo quân về thì Câu Tiễn cho lệnh lui binh, về nước phòng thủ. Nhưng Hạp Lư không để yên; ông ta kéo quân sang chinh phạt. Vì quá giận nên ông đánh rất hăng và khi cận chiến thì bị Câu Tiễn lướt đao chém cụt ngón chân cái. Vì tuổi già sức yếu nên chết vì vết thương này và Phù Sai lên nối ngôi vua ông.

·        Trong thời gian 3 năm tang chế, Ngô Phù Sai không xuất binh nhưng tăng cường quân lực để trả thù cho ông nội là Hạp Lư. Bên này thì Câu Tiễn cũng tăng cường, nhưng vì cương vực nhỏ người thưa nên không kham nổi.

·        Ngay sau khi đoạn tang xong, thì Phù Sai xuất quân chinh phạt Câu Tiễn.

·        Câu Tiễn họp quần thần để hỏi kế chống cự.

-         Phạm Lãi (quan võ) khuyên nên cố thủ, hát lâu chầu mỏi thì nó lui binh. Câu Tiễn chê là  nhát gan.

-        Văn Chủng (quan văn) thì khuyên viết thư xin lỗi để hắn hả dạ và lui binh. Câu Tiễn chê hèn.

·        Khi lâm trận thì Câu Tiễn tung quân ra tấn công. Không ngờ thua to, chỉ còn 3 ngàn quân đóng ở Cối Kê để tử thủ đợi chết. Cối Kê lúc đó là một tiền đồn ở biên giới, phía nam con sông Tây Giang (ở giửa Phiên Ngung và Hương Cảng)

·        Thế bí, đường cùng nên Văn Chủng tự mình, đang đêm lẻn sang trại Bá Hi thuyết phục để Bá Hi khuyên Ngô Phù Sai lui binh và Câu Tiễn sang hầu hạ để tạ tội là đã lỡ tay làm thiệt mạng Hạp Lư.

Không ngờ 3 tấc lưỡi mà cứu nguy được cả một dân tộc. Phù Sai hài lòng và quyết định lui binh trước sự chống đối kịch liệt của Ngũ Tử Tư.

1)     Khi làm lễ tiễn đưa, trước khi sang sông (Tây Giang) để hầu Phù Sai thì Hoàng Hậu xin đi theo cho đúng với tinh thần phụ nữ "LIÊN ĐỚI" trách nhiệm.

-        Phạm Lãi cũng xin đi cùng để vinh nhục có nhau.

-        Văn Chủng ở lại lo việc nước vui cùng hưởng, họa cùng chịu "tinh thần Đồng Bào".

2)     Khi sang nước Ngô thì vua tôi đều bị đầy đi chăn ngựa cho nhà vua. Phạm Lãi khuyên Câu Tiễn và Hoàng Hậu là hãy vui vẻ với công việc, chớ có cằn nhằn hay tỏ ý chí phục thù mà mất mạng; vì nhất cử nhất động đều có người theo dõi cả.

3)     Ba Hi được Văn Chủng đấm mõm liên tục nên xin cái chân do thám hành vi của vua tôi Câu Tiễn, còn Ngũ Tử Tư thì nhất định đòi giết để diệt trừ hậu họa.

4)     Vì nghe Ngũ Tử Tư nên hôm đó Ngô Phù Sai triệu Câu Tiễn lên để thụ án tử hình. Không ngờ mắc bệnh nên Câu Tiễn được lệnh trở về chăn ngựa, đợi ngày bình phục sẽ triệu sau.

5)     Ở nhà thì Văn Chủng vẫn biếu xén Bá Hi đầy đủ nên Bá Hi đưa tin là bữa đó triệu lên để giết.

Phạm Lãi hỏi bệnh trạng thì biết ngay đó là chứng bệnh Thương Hàn, tòc rụng.

Bệnh nhân sẽ chết trong vòng 40 ngày, còn không thì phải dưỡng sức ăn đồ mềm cho khỏi lũng ruột trong vòng 7 ngày thì mới dứt bệnh. Sau đó phải đợi 3 ngày sau mới bình phục (ăn trả bữa). Vì Phạm Lãi là thày thuốc giỏi, nên biết rõ biến chứng của bệnh này và theo dõi sát.

6)     Đợi 40 ngày chưa chết nên Phạm Lãi xúi Câu Tiễn nếm cứt Ngô Phù Sai để đoán bệnh.

-        Câu Tiễn không chịu và nói là: Ta chịu nhục như vậy quá đủ rồi.

-        Phạm Lãi khuyên là: Cùi không sợ hủi, dàu sao thì cũng đã nhục rồi. Để nó giết thì ô danh ngàn thu; vậy tốt nhất là để nó tha mạng cho ông thì ông mới có dịp phục thù để danh thơm muôn thuở.

7)     Cực chẳng đã nên Câu Tiễn đồng ý nếm cứt để đoán bệnh nhưng dùng kế ảo thuật để che mắt thiện hạ.

Lấy ngón tay chỏ chấm vào cứt đưa lên môi để nếm; đồng thời tay trái cầm dẻ lau nâng tay phải lên môi và thè lưỡi nếm vào bên cạnh, rồi lấy dẻ chùi tay và mồm.

8)     Ngay sau khi làm ảo thuật xong thì Câu Tiễn quỳ xuống và tung hô vạn tuế vì Hoàng Thượng đang trên đường bình phục.

Câu Tiễn nói:

-         Trong phân có chất chua, nồng độ gia tăng nhanh, như vậy là con bệnh đang bị tống ra khỏi cơ thể....... Bấm đốt ngón tay thì trong vòng 2 ngày nữa là hết bệnh.

-         Trong phân có chất chát, nồng độ đang gia tăng. Đó là triệu chứng phục hồi sau khi hết bệnh...... Bấm đốt ngón tay thì trong vòng 6 ngày nữa là cùng, sẽ dứt bệnh.

-         Trong phân có chất ngọt, nhưng mới nhú lên. Chất ngọn báo hiệu sự bình phục. Như vậy chắc chắn là 12 ngày nữa thì Hoàng Thượng sẽ hoàn toàn bình phục.

9)     Vì Phù Sai có lòng nhân nên tha cho Câu Tiễn về làm vua như xưa. Khi làm đại tiệc ăn mừng bình phục thì Ngô Phù Sai mời Câu Tiễn ngồi bên cạnh với y phục nhà vua và tuyên bố phục chức cho Câu Tiễn. Đồng thời cũng khuyên Câu Tiễn là dẹp bỏ những chuyện can qua chỉ vì thù hận cá nhân để nhân dân 2 nước được hưởng thái bình.

 

Sau đó thì vua tôi Câu Tiễn đi về nước và được Văn Chủng cùng dân chúng đón tiếp nồng nhiệt. Ngoài mặt thì mang ơn, xóa bỏ chuyện xưa nhưng trong thâm tâm thì bày mưu trả thù. Kế sách thì được Văn Chủng và Phạm Lãi lên chương tình:

a)     – Dời đô về Cối Kê để gần Thượng Hoàng đi lại cho gần (Phù Sai không để ý).Cối Kê ở hữu ngạn cons ông tây Giang và giữa Phiên Ngung và Hong Kong (Hương Cảng)

b)     -  Làm cho nước Ngô suy yếu bằng 7 kế, mới dùng có 3 mà nước Ngô đã bị xóa tên. Phù Sai cứ ngỡ là Câu Tiễn đền ơn mình nên không những không phòng bị mà còn nghe lời xúi dại của Câu Tiễn nữa.

c)     – Tăng cường binh lực và kinh tế cùng dân số để phục thù (20 năm sửa soạn mà kẻ thù không nghi).

 

·        Mười năm đầu xây dựng nội lực :

Toàn dân vi binh dưới dạng học võ để đánh cướp do Phạm Lãi huấn luyện. Dạy người dân cái nhục mất nước do Văn Chủng lên chương trình.

Tăng gia sản xuất để tích lũy lương thực bằng cách khuyến khích đàn bà gửi trẻ nhỏ vào nơi giữ trẻ và nơi đây lo phần giáo dục luôn; để có thì giờ sản xuất.

Khuyến khích sinh sản để giữ nước sau khi thí quân trên trận địa bằng cách ra luật: Cấm bà già lấy trai tơ. Gia đình nào có nhiều con thì nhà vua nuôi từ đứa thứ nhì trở lên. Đẻ con thì được nhà vua xuất quỹ ăn khao: Con Gái quý hơn con Trai vì được 1 hũ rược và 1 con heo, còn trai thì chỉ được 1 hũ rượu và 1 con chó.

·        Mười năm sau sửa soạn chinh phạt:

Đạt đủ tiêu chuẩn về quân lực, về kinh tế và về dân số, lúc đó mới tấn công.

Thoạt đầu tấn đánh bất ngờ trong khi quân Ngô do nhà vua cầm đi viễn chinh.

Đột kích luôn vào kinh đô vào giết Thái Tử.... Ngô Phù Sai kéo quân về và cử Bá Hi sang thuyết phục thì Câu Tiễn lui binh.

Tưởng như vậy là xong, Phù Sai lơ là việc nước nên năm sau Câu Tiễn cất binh xóa sổ nước Ngô, sát nhập nước Ngô vào nước Văn Lang bằng cách hội nhập văn hóa một cách bình đẳng nên 2 dân tộc thoát được cảnh chiến tranh triền miên vì hận thù cá nhân.

Ø Mối thù Ngô Việt chấm dứt từ đây.

Lúc này nước Ngô bị chia làm 3 vùng là : Ngô Việt (vùng Chiết Giang), Mân Việt (vùng Thiều Châu - thủ phủ là Phúc Kiến) và Bách Việt (vùng Hồ Nam, thủ phủ là Tràng Sa)

 

Vì là trận đánh lịch sử nên Câu Tiễn hạ chiếu cho Phạm Lãi và Văn Chủng soạn bài Rồng Tiên Khai Quốc bằng bia miệng dưới dạng Huyền Thoại để tả trận đánh oanh liệt này.

Nên nhớ là: Lúc đó chưa có ký tự (chữ viết) mà chỉ có ký hiệu (quy ước về hình vẽ) nên chưa thể soạn bản văn xuôi như ngày nay được.

Ø  Vì câu chuyện Rồng Tiên này nên mới có tên hồ Động Đình và vùng đất Bách Việt.

Ø  Từ đây mới xuất phát câu chuyện 100 giống Việtcách xưng hô, hay cách cư xử theo ý nghĩa của danh từ Đồng Bào (cùng 1 bọc trứng mà ra) như đã giải thích ở trên. Ngoài ra còn nhiều thuyền thống khác đã thất truyền.

Ký tự (chữ viết) xuất hiện trên mành-mành, đi đâu thì cuốn lại rồi xách đi nên gọi là cuốn sách. Mà mành-mành chỉ xuất hiện ở thời đại biết luyện thép non, tức là vào #500BC; lúc này mới có cưa để cưa tre và nứa, mới có dao để chẻ lạt.

Dưới thời Câu Tiễn là thời kỳ đồ đồng hay đồ sắt nên chưa có phương tiện để làm mành-mành, do đó phải để kinh nghiệm lịch sử cho hậu thế bằng Huyền Thoại.

Phần Huyền Thoại là phương tiện chuyên chở, phần Thông Điệp là triết lý của câu chuyện.

Ø  Muốn giải mã Huyền Thoại thì chúng ta phải nắm vững những điều này.

 

Đọc để biết: Kỹ thuật luyện thép non và thép cứng (ngày nay mới biết).

Thép càng cứng thì càng khó luyện như nhà máy FORMOSA đã phá hủy mọi trường sinh thái của động vật cũng như của thực vật.

Ở đây chúng ta chỉ nói sơ qua về các công đoạn luyện thép mà thôi, chứ không nói về cách tinh luyện, nó thuộc về chuyên môn của kỹ sư luyện kim loại.

Mục đích là để biết vì lý do gì mà ông Câu Tiễn lại có một mẻ dao găm 5 cái thuộc loại thép cứng đâm lũng áo giáp bằng đồng của nhà vua khi ăn món cá hấp của Chuyên Chư, để đưa Hạp Lư lên cướp chánh quyền.

 

a)     Quặng sắt nằm trong núi ở dưới dạng rỉ sắt (oxy+fer).

b)     Đem nung trong lò cao độ (1.535°C) rồi lấy oxy ra thì thành sắt mềm (cứng hơn đồng)

c)     Nhồi than (carbone) vào thì nó thành thép non hay già là tùy hàm lượng than/sắt (#1%) và tùy cách luyện. Hàm lượng Carbone nhiều quá thì thành gang (dòn, dễ vỡ khi rơi)

d)     Nung nóng để nguội thì nó thành thép mềm, nhưng tôi trong nước hay trong dàu thì nó thành thép cứng; vì cấu tạo nguyên tử oxygène và fer (sắt) thay đổi ở cách làm nguội nhanh hay không. Tôi (tui) là nhúng sắt nóng vào nước lạnh để sắt nguội đột ngột.

 

Thời ông Câu Tiễn thì người ta cho quặng sắt vào lò nung chảy thành chất lỏng rồi lấy máu động vật cho vào để lấy dưỡng khí (oxy) đi; sau đó đổ vào khuôn để làm dao găm hay vũ khí, khi cứng khi mềm là do hên xui. Lò đốt bằng than tốt thì mới có nhiệt độ cao.

 

Trường hợp ông Câu Tiễn là: Hàm lượng than đúng mức, và ngay sau khi đổ vào khuôn thì trời mưa rào nên trời tôi hộ, vì thế nên gọi là thần linh luyện hộ.

 

 

 

Chương C- TRAU DỒI KIẾN THỨC

Phần 2 : Cách giải mã huyền thoại.

 

Bây giờ chúng ta hãy cùng nhau giải tỏa một vài lấn cấn.

Nên nhớ rằng chuyện huyền thoại xuất hiện trong thời kỳ chưa có giấy bút, muốn lưu truyền kinh nghiệm cho hậu thế thì chỉ có một cách duy nhất là bia miệng: Huyền thoại (tức văn xuôi ngày hôm nay), Ca dao, Tục ngữ, Văn vần, Vè, Ca hát .......

Dù là Tây, Ta hay Tàu thì chuyện Huyền Thoại bao giờ cũng có 2 vế.

-        Vế thứ nhất là hoang đường thần thánh, lung linh huyền ảo.

-        Vế thứ hai là triết lý của câu chuyện (tức thông điệp người xưa).

 

Vế thứ nhất dùng để chuyên chở thông điệp, do đó phải phù hợp với tâm tình của dân tộc để ai ai cũng thích nghe và cũng thích kể lại cho con cháu. Đó là truyền khẩu:

Trăm năm bia đá cũng mòn,

Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.

 

Vế thứ hai là thông điệp của người xưa. Tức phải xét tình tiết của câu chuyện, phải biết phát xuất từ thời điểm nào và trong bối cảnh lịch sử ra sao thì mới giải mã được.

Do đó khi nghiên cứu thì phải biết phân biệt sự kiện lịch sử, hư cấu hay ý kiến của người viết.

 

Tỷ dụ:

Ta thấy nói để con trưởng ở lại làm vua đất Phong Châu là ý kiến của người viết theo tinh thần phụ hệ (thái tử).

Thật vậy: Trăm trứng, cùng cha cùng mẹ lại nở cùng một lúc thì làm sao phân biệt nổi trưởng với thứ?.... Hơn nữa, danh từ Đồng Bào đã nói lên tinh thần bình đẳng tột cùng, thân thương tột độ, triệu người như một rồi. Danh từ này có phân biệt trưởng thứ, hay trai gái đâu mà khi không lại dựng đứng lên chuyện Thái Tử, và con Trưởng làm vua?

Ngoài ra câu chuyện Tiết Liêu cũng đã nói rõ là truyền ngôi cho người biết lo cho hạnh phúc của toàn dân để cùng nhau giữ nước, chứ có truyền cho con trưởng như chế độ Thiên Tử đâu.

·        Giả thử để lại một người làm vua ở đất Phong Châu, vậy thì một bên chỉ có 49 Binh Đoàn ra biên thùy; như vậy là nói lên sự bất bình đẳng Nam Nữ, trái với ý nghĩa danh từ Đồng Bào. Trong khi thông điệp nói lên tinh thần Bình Đẳng tuyệt đối.

Chúng ta có danh từ đồng bào (cùng một bọc) mà cả thế giới không ai có cả.

Nhờ danh từ này nên dân Việt mới đẻ ra những tập tục mà nay đã trở thành truyền thống tốt đẹp mà chúng ta không ai để ý đến cả. Lẽ dĩ nhiên là phải có người đề xướng và thời điểm phát xuất ra nó. Từ đây phát sinh ra nhiều phong tục đặc thù của dân Việt như:

 

-        Trước khi ăn thì phải mời nhau.

-        Đang ăn mà có người đi qua thì người đang ăn phải mời người kia cùng ăn với mình để chứng tỏ tinh thần đùm bọc, nhường cơm sẻ áo. Còn Tây phương thì ngược lại người đi qua phải chúc người đang ăn là ăn cho ngon miệng. Ở đất Việt mà nói vậy là chửi xéo: Đồ tham ăn tục uống.

-        Cách xưng hô trong vai vế gia đình theo 3 tiêu chuẩn: Tình-cảm riêng tư; Học-thức về Việt Đạo (lối sống của dân Việt) và Tuổi-tác.

-        Lấy màu vàng của tơ tầm làm sắc thái dân tộc.

Do đó quốc kỳ bắt buộc phải là nền mầu vàng. Hình vuông tượng trưng cho lãnh thổ, nay là hình chữ nhật (3/2). Chúng ta vẫn nói: Trên đầu voi phất ngọn cờ vàng (bà Trưng).

w

 

Về những chuyện tương tự như vậy thì bao giờ cũng gồm 3 giai đoạn, phân chia theo nhu cầu của từng lứa tuổi một:

GIAI ĐOẠN MỘT

Dạy các trẻ thơ từ nhỏ cho tới 9 hay 10 tuổi (Thiếu Nhi) thì chỉ nói đến phần hoang đường thần thánh, lung linh huyền ảo để các em ghi nhận và hãnh diện về nòi giống của mình.

Dù cho rằng đó là phần hư cấu nhưng ít nhất cũng cho các em biết cái đích làm người là phải làm sao thăng hoa thành Rồng và Tiên để có thể tương thông với vũ trụ.

Phần này còn quan trọng hơn phần triết lý của thông điệp. Vì thiếu nó thì hết phần giải mã. Thật vậy, có biết câu chuyện đâu mà giải mã. Như vậy là đoạn tuyệt với người xưa, không rút tỉa được kinh nghiệm chi của người xưa cả.

GIAI ĐOẠN HAI

Dạy các em từ 11 đến 15 (Thiếu Niên) tuổi phần triết lý của câu chuyện.

Đó là sự thật của lịch sử được lồng dưới dạng huyền thoại để không bị mai một theo thời gian; còn thông điệp là tình tiết của câu chuyện.

Do đó ta cần phải giải mã thì mới hiểu được phần triết lý của nó.

GIAI ĐOẠN 3

Những Sinh Viên từ 17 hay 18 tuổi trở lên (Tráng Niên) hay người lớn tuổi ngồi thảo luận với nhau xem những nguyên lý đó nay còn giá trị hay không? Làm sao áp dụng để giải quyết được các vấn đề đương thời.

Nay, vấn đề đương thời của chúng ta là: Thiếu kết hợp vì tư tưởng đã bị đầu độc mà không biết. Đây là hiện tượng Lạc Hồn Dân Việt nên cầu phải "chiêu hồn Việt" mà Rồng Tiên là một phương thức.

Vậy thì hãy tìm cách khai thông bế tắc tư tưởng bằng cách đem Tâm Việt và Hồn Việt đến với con dân đất Việt để họ biết MÌNH là ai? Sống để làm gì?

Không phải ngày hôm nay chúng ta  mới có nhu cầu chiêu hồn dân Việt, mà thời cụ Phan Bội Châu đã có hịch: Đề Tỉnh Quốc Dân Hồn.

Nếu đọc hịch này  thì chúng ta sẽ thấy tư tưởng của chúng ta còn bế tắc hơn tư tưởng thời đó. Nghĩa là giá trị tâm linh mỗi ngày mỗi suy thoái đến nguy cơ diệt vong mà không hay. Do đó mới có người hô hào dẹp bỏ Tế Tổ Hùng Vương...  Thật đáng buồn!

²

 

Đến đây chúng ta có thể nói được rằng:

"Trong tình huống khó khăn thì tổ tiên chúng ta luôn luôn sáng tạo ra các yếu tổ để kết hợp lòng dân. Có tạo ra sức mạnh tâm linh thì mới hy vọng kết hợp lòng người được"

 

Mà có kết đoàn thì mới vượt qua được trở ngại khó khăn. Hợp quần gây sức mạnh, đoàn kết thì sống mà chia rẽ thì chết.

Điều này thì ai cũng biết; nhưng không ai lưu tâm đến cả, chỉ lo cãi lấy được dù biết đó là hành động gây chia rẽ.

 

Ngày hôm nay chúng ta đang ở trong tình trạng nghịch lý và bi đát, chúng ta đã sáng tạo được yếu tố gì để kết hợp đây? Hay chúng ta chỉ đề cao cá nhân và đả phá những ai trái ý với mình?

Ø  Nếu cứ tiếp tục như vậy thì tương lai sẽ đi về đâu? Chúng ta có chịu trách nhiệm với lịch sử và con cháu hay không?..

 

ö


NỀN KHOA HỌC THỰC NGHIỆM THỜI XƯA

 

Bây giờ chúng ta nói qua về tinh thần của tổ tiên đã ghi trên mặt trống đồng với 14 tia.

Ø  Đó là sinh hoạt của nước Văn Lang lúc thời bình mà câu chuyện Rồng Tiên đã phản ảnh rõ rệt những nét chính của xã hội Văn Lang là: Kết hợp với nhau bằng tâm và cư xử với nhau bằng Đức. Bình đẳng tột cùng thân thương tột độ.

 

Một đằng diễn tả bằng các vòng tròn đồng tâm, một đằng dùng danh từ Đồng Bào. Chữ Đức có nghĩa là đem những điều tốt lành đóng góp để xây dựng Cộng Đồng, còn những điều xấu thì hãy giữ lại cho mình đừng đem ra để phá bĩnh.

Thật vậy, dân ta có câu: Nhất sĩ nhì Nông. Hết gạo chạy rông, nhất Nông nhì Sĩ.

·        Câu này hàm chứa ý nghĩa: Xã hội chỉ trọng những người giúp ích cho cộng đồng mà thôi. Còn học giỏi tài cao để vinh thân phì gia, giá áo túi cơm thì đó là cuộc sống vị kỷ có chi mà khoe tài khoe giỏi.

 

Ngoài ra nước Văn Lang lúc đó chỉ có 3 bộ. Đó là Bộ Binh (giữ nước). Bộ Kinh Tế để nuôi dân và Bộ Văn Hóa để học làm người Việt.

Kế đến, cũng trên mặt trống đồng chúng ta còn tìm thấy con số Pi (p) bằng 3,2 (p = 3,2) thay vì p = 3,14159... của Tây Phương nữa. (Périmètre, người Hy Lạp đọc chữ P là Pi), Pi là hệ số giữa chu vi vòng tròn và đường kính.

Về con số 3,14159... của người Tây Phương thì chúng ta không biết từ đâu tới, thấy ông Thày Tây nói vậy nên áp dụng như con vẹt mà không hề đặt vấn đề là số đó từ đâu ra ?

Còn con số 3,2 thuộc về khoa học thực nghiệm nên chúng ta thấy liền. Chỉ cần lấy giây đo chu vi vòng tròn, rồi lấy đường kính làm đơn vị gấy đi gấp lại thì thấy con số 3,2. Từ con số 3,2 mới ra câu thần chú (công thức) sau đây vẫn thông dụng ở Á Châu cho tới ngày hôm nay:

·        Chung đôi 3 lần. Bỏ đi 3 phần, còn lại chung đôi.

·        Người Tàu họ nói: Phân bát, chiết tam tồn ngũ, phân nhị.

Vì theo Tây học nên chúng ta không biết câu thần chú này, nhưng những bác thợ mộc ở Á Châu thì ai ai cũng đều biết cả.

Bằng cớ là các cung điện, đền đài ngày xa xưa vẫn để cột trên bệ đá vừa in. Bác thợ mộc lên rừng đẵn gỗ đúng kích thước và bác thợ đẽo đá lên núi làm bệ đâu có cần gặp nhau mà cột nào thì bệ đó.

·        Giữa 3,2 và 3,14159... sai số chỉ có 2% thôi. Cách đây 5.000 năm thì coi như tuyệt diệu.

w

 

CÁI NHẦM CỦA THẾ HỆ CHÚNG TA

Chúng ta hãy tạm kết ở đây bằng một vài cái sai nhầm trong lý luận mà nó đã đưa chúng ta đến sự tranh luận vô bổ từ 200 năm nay rồi:

·        Chữ i và y là 2 ký hiệu khác nhau, và 2 công dụng khác nhau. Trên nguyên tắc thì đứa bé lên 8 tuổi nếu đã học quy luật về âm vịâm vận của tiếng Việt thì không thể lộn được.

Vậy thì tại sao ngày hôm nay chúng ta đã viết lộn lại còn gân cổ cãi càn vậy?  Chúng ta có tinh thần phục thiện hay không? Chữ Quí vị viết i hay y? và tại sao?  Nếu viết Quí thì phải phát âm là: CÚI (cúi đầu chịu nhục)

Tỷ dụ chữ Yên, chữ Tiên và chữ Biên cùng mang vần iên cả (chính vận là iên) mà cái thì viết i, cái thì viết y theo hứng.Sau đó lại lớn tiếng chê chữ Quốc-Ngữ viết không có quy luật chi cả.

Chữ mang tên là Quốc-Ngữ không có quy luật về âm vận rõ ràng hay chính ta không biết quy luật âm vận của tiếng Việt để viết cho đúng chánh tả?  Chữ Ty khi nào thì viết i và khi nào thì viết y?

Sử cụ Trần Trọng Kim đã cho chúng ta có ảo tưởng là lịch sử dân Việt bắt đầu từ nhà Đinh, trước đó là huyền sử nên tổ tiên dễ nói dóc.

Cụ nêu lên rằng: 18 đời Hùng Vương trị vì 2.622 năm, vậy thì tính ra mỗi ông vua phải thọ 150 tuổi; do đó phải xét lại.

Cụ mới chỉ nêu lên nghi vấn mà đám Tây học hậu sinh chúng ta lại cậy khôn, dám ti-toe đem ngay tam đoạn luận ra để biện minh và sỉ vả không tiếc lời các nhà viết sử từ đời nhà Trần đến nay (trong đó có Đúc Trần Hưng Đạo, quốc sư Nguyễn Trãi và nhiều danh nhân khác) là nói phét, nói dóc!!!.

Nói như vậy là chúng ta đã mặc nhiên phỉ báng tổ tông và coi như mình mới là người có can đảm dám nói lên sự thật.

Trong khi đó quên rằng chính thế hệ chúng ta đã làm mất nước, chỉ vì đã hấp thụ nền văn hóa nô dịch để chối bỏ cội nguồn, tôn thờ ngoại bang mà không biết.

Nếu đặt lại vấn đề thì chúng ta thấy ngay đó là lời nói hàm hồ của đám hậu sinh đã làm mất nước, chỉ vì hấp thụ nền văn hóa nô dịch của kẻ thống trị mà không hay là:

1)-  Tuổi thọ của con người không dính chi đến tuổi đời của ông vua cả. Vì xưa hay nay thì ai cũng sinh con ở tuổi 20-25 cả. Vậy thì, nếu vua cha có thọ đến 150 tuổi đi nữa, thì lúc đó vua con cũng đã 130 tuổi rồi. Vậy trung bình tuổi đời của một ông vua chỉ có 20 năm thôi.

2)-  Ngôn từ thay đổi theo thời đại, vậy thì chữ đời có phải là đời một ông vua hay đời một thể chế? Ta vẫn gọi đời nhà Lý, đời nhà Trần, đời nhà Lê; mỗi đời đâu có phải chỉ có một ông vua?

3)-  Nếu chữ đời chỉ Triều Đại thì chữ Hùng Vương bắt buộc phải là danh xưng của chức vụ. Vậy thì phải là 18 dòng họ khác nhau. Rõ ràng sử chép: Họ Hồng Bàng làm vua nước ta trước tiên cả, sau cùng lại chép là bà Trưng dòng dõi vua Hùng thứ 18. Rõ ràng dòng họ khác đó thôi.

Chúng ta vẫn nói chúng ta là con Rồng cháu Tiên mà không hề suy nghĩ xem đúng hay sai. Có bao giờ chúng ta nói con Tiên cháu Rồng không?

Chắc chắn là không, vậy thì chữ con Rồng cháu Tiên đã nói rõ về di truyền huyết thống rồi (con ruột của mẹ Rồng và cháu nội của bà Tiên).

Rõ ràng sử chép rành rành là: Mẹ ông Lạc Long Quân là Rồng và bà nội ông là Tiên.

Vậy thì chữ con Rồng cháu Tiên là chỉ ông Lạc Long Quân (tức thần Kim Quy) đã hấp thụ được tinh anh của Rồng và Tiên (trí dũng vẹn toàn) chứ đâu phải chúng ta. Chúng ta thuộc dòng dõi Rồng Tiên.

·        Nay đọc THÔNG ĐIỆP người xưa mà không hiểu là lỗi ở chúng ta không chịu động não, chứ đâu có phải người xưa nói không rõ.

 

Một ghi nhận nữa:

Rồng là con đực. Rồng cái của Tàu là con Phụng; còn Rồng cái của Việt là Tiên. Chỉ có mỗi chuyện này, vì nhu cầu pha giống nên mới có Long Nữ (cô gái Rồng).

Vậy thì nhân vật Đế Minh, Lộc Tục (Kinh Dương Vương), Sùng Lãm (Lạc Long Quân) và Âu Cơ đều là những nhân vật giả tưởng để người xưa ký thác thông điệp về thành quả đấu tranh đã có thực trong lịch sử, ở thời đó.

·        Vứt bỏ thông điệp loại này là vứt vàng và hột soàn vào đống bùn nên vận tốc tụt hậu cứ gia tăng theo thời gian. Như vậy thì làm sao tránh được hiểm họa diệt vong?

w

 

KIỂM CHỨNG BẰNG KHOA HỌC

a)- Nay rút máy computeur ra coi thì thấy: Từ đời nhà Đinh (968AC) đến hết đời Bảo Đại (1945AC) tổng cộng là 977 năm gồm có 7 Triều Đại; trung bình mỗi đời là 140 năm.

 

Vậy thì 18 đời Hùng Vương trị vị 2.622 năm là một thời gian hợp lý chứ có chi là quá đáng đâu mà phải thắc mắc; trung bình mỗi đời là 145,6 năm.

§  Chẳng qua vì mắc phải tinh thần tự ti và vọng ngoại, cho nên ông Tây bà Đầm, mũi lõ mắt xanh, ngực banh đít vểnh nói câu nào thì cho ngay đó là nguyên lý.

Còn người Việt nói có đúng mười mươi cũng chê là nói mò, nói dóc, nói phét.

§  Ngày hôm nay cũng vậy, hễ nói là Ta không nô lệ Tàu 1.000 năm thì bị chửi ngay là ái quốc cực đoan, chối bỏ sự thực..... Nhưng hỏi thế nào là Tàu thì họ ú-ớ; giá có chìa bản đồ Bắc kinh vẽ năm 1997 (hình số 09) thì họ lại không muốn coi; chỉ vì tự ái quá cao - vì đó là hậu quả của nên giáo dục vong nô!

 

b)- Thời đại phi thuyền đã chứng minh cái dốt của các nhà Bác Học Tây Phương, vậy thì đừng quá tin vào khoa bảng. Chúng ta hãy suy ngẫm sự kiện sau đây:

·        Trước năm 1968 tất cả các sách giáo khoa từ Đại học trở xuống, các ông bác học Tây Phương đều nhất trí đồng quan điểm là trái đất không thể tròn như quả bóng đá được. Ông thì bảo nó dẹp hai đầu như quả bưởi vì do sức ly tâm quay quanh trục. Ông thì bảo nó phình 2 đầu như trái RUGBY vì sức hút ở 2 đầu lớn hơn đường xích đạo (équateur).

·        Đến Noël 1968 loài người lên mặt trăng chụp ảnh trái đất thì thấy màu sắc rực rỡ và tròn xoe như quả bóng đá. Từ đó đến nay không thấy ông Bác Học nào giải thích được là:

Tại sao nó quay mà sức ly tâm không làm cho nó méo? Tại sao nó tròn mà sức hút mỗi nơi mỗi khác?

Ø  Câu sau thì chúng ta có thể giải thích cái nhầm của các nhà Bác Học như sau 

Một vật có trọng khối là M thì bị trung tâm trái đất hút theo công thức F=(MxM’)/D².   M’ là trọng khối của trái đất, F là sức hút.

Vậy thì vật đó ở bất cứ chỗ nào trên mặt trái đất thỉ cũng bị sức hút hướng tâm bằng nhau.

Nhưng sức ly tâm thì lại thẳng góc vói trục quay, chứ không thẳng góc với đường tiếp tuyến ; nên sức ly tâm ở Dầu Trục quay yếu hơn sức ly tâm ở đường Xích Đạo, tùy theo vỹ tuyến.

Ngoài ra, sức ly tâm (sức đối kháng) ở đường xích đạo và sức hút của trái đất (F) thẳng hàng với nhau.

Trong khi đó thì sức ly tâm ở vỹ tuyến nằm xiên với sức hút của trái đất (F) tùy theo góc độ của vỹ tuyến, nên phải dùng VECTEUR chiếu xuống ; phần nằm trên đường tiếp tuyến không bị té là vì có sức cọ sát trên mặt đất

Ø  Như vậy có phải là căn bản lý luận của các nhà Bác Học Tây phương sai không?

 

Vậy thì chớ có lấy khoa học thực dụng mà giải thích cho khoa học Nhân văn. Cũng chớ lấy thực tế vật chất để giải thích cho địa hạt tâm linh. Cũng chớ lấy lời nói của các nhà khoa bảng ngoại quốc làm chân lý tuyệt đối. Vì những nguyên lý tìm thấy chỉ đúng với môi trường nào đó thôi, chứ không phải là nguyên lý bất biến mà ta gọi là KINH.

 

Vật chất thì hoàn toàn thuộc về hữu hình, nên dựa theo cảm giác của ngũ giác: Tai, Mũi, Mắt, Lưỡi và Tay. Nhận được thì nói là có, còn không nhận được thì nói là không biết có hay không.... chứ không thể nói không biết là không có.

Ø  Còn Tâm Linh thì thuộc về vô hình, vậy thì làm sao có thể dùng hữu hình để luận vô hình được?

 

Các vĩ nhân thường hay nói: Duy Vật, Duy Linh, Duy Tâm, Duy....để sự nghiên cứu về xã hội học của họ cho được dễ dàng.

 

Còn tổ tiên chúng ta thì nói trong cuộc sống mỗi thứ có một ít chứ chẳng duy một cái chi ráo trọi. Bằng cớ là câu tục ngữ bất diệt:

Nhất sĩ nhì Nông.

Hết gạo chạy rông, nhất Nông nhì Sĩ.

 

Duy có nghiã là chỉ có, hoặc cái đó làm chủ, còn cái khác là phụ. Xã hội Văn Lang lấy Nhân Chủ và Nhân Bản làm nền móng cho mọi triết lý sống của con người.

Còn xã hội Tàu thì lấy Triều Đình làm chính. Chỉ vì họ thoát thân từ cuộc sống du mục nay đây mai đó.

Còn người Việt thì thoát ra từ đời sống định cư và định canh trong việc trồng lúa nước (lúa chiêm). Kẻ thù của Nông Nghiệp là thiên tai, còn kẻ thù của Du-Mục là Bắp Thịt (luật rừng)

 

Chữ Nhân Chủ có nghiã là có con người thì có tất cả: Chính Trị, Kinh Tế, Xã Hội, Luật Lệ...., còn không có con người thì chẳng có cái chi ráo trọi.

Còn Nhân Bản là lấy hạnh phúc của từng người dân làm căn bản. Dân đói rách lầm than, tương lai mờ mịt thì Triều Đình phải tự động ra đi vì bất lực. Coi chuyện Tiết Liêu, Phù Đổng, Hoàn Kiếm....Coi bài Bình Ngô Đại Cáo, ngay trong câu đầu linh hồn Kháng Chiến Lam Sơn đã viết:  Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. (Hạnh phúc của dân làm trọng)

õ


Chương D-  Phần: SLIDES SHOW



Hình số 01: Thế giới (15.000BC) -trước nạn đại hồng thủy-


Hình số 02 : Mực nước vùng biển Thái Bình Dương

(Điểm chuẩn: BC -  Đơn vị 1.000 năm)

                          

Hình số 03 : Lục địa Đông Nam Á Châu

(sau đại hồng thủy, tức #3.400BC)



Hình số 04:

Dân Miêu Tộc trở về quê cũ (3.400BC)

 



Hình số 05:

Cương vực nước Văn Lang thay đổi từ 2.879BC đến 111BC


Hình số 06

Cương vực thất quốc tranh hùng (481-221BC)

Hình số 07:

Phòng tuyến thời Đông Chu Liệt Quốc (481BC - 111BC)



Hình số 08 : Thời Ngũ Quý (907-960 sau tây lịch)

Hậu Đường, CHU = Sở; MIN = Mân-Việt, WU=Ngô;

WU-YUE=Ngô-Việt  _  QI=Tề, YAN=Yên



Hình số 09 : Cương vực nhà HÁN rộng nhất -Nhà Hán chưa chiếm được:

·        Phía bắc: Vân Nam (quân Nam Chiếu, và phần đất phía tây của Quảng Tây).

·        Phía tây : Hòa Bình, Mộc Châu, Sơn La nên 2 bà Trưng vào ẩn trú nơi đây.

·        Phía nam: Chiến khu Lâm Ấp của Việt Thường (từ Quảng Bình vào đến đèo Hải Vân Trước gọi là đèo ẢI VÂN. Vì lý do Chánh Trị nên Gia Long đổi thành HẢI VÂN vào năm 1802AD)


Chương E : CÁCH THẨM ĐỊNH TÀI LIỆU

Chúng ta có thể kết luận mà không sợ nhầm là:

·        Ai chê chuyện Rồng Tiên là hoang đường, thần kỳ quái đản là người đó đã lạc hồn dân Việt vì họ không đọc được tư tưởng người xưa; vì thế mới chia rẽ.

Càng chê nhiều bao nhiêu thì chứng tỏ họ có đầu óc tự kiêu và tự mãn nhiều bấy nhiêu. Vì họ không thèm đặt câu hỏi là: Tại sao khi nguy biến, cần kết hợp thì dân Việt lại đem chuyện Rồng Tiên ra nhắc nhở nhau qua những bài hát hay kịch bản như: Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại......... hay vùng lên hỡi giống nòi Tiên Rồng.

·        Còn những ai đặt câu hỏi là: Tại sao chuyện hoang đường đó còn lưu truyền cho tới nay? Tác giả là ai? Xuất hiện ở thời điểm nào? Thông điệp là gì? Thì người đó tuy chưa đọc được tư tưởng người xưa nhưng ít nhất họ cũng chưa lạc hồn dân Việt.

·        Chuyện giải mã không phải dễ, là vì: Từ thắc mắc này mới đi nghiên cứu sử liệu, văn hóa và tư tưởng người xưa.

Tới khi đủ vốn về Việt Học thì mới đủ khả năng đọc được tư tưởng người xưa qua khám phá mới của khoa học đương thời, qua di vật để lại và qua ý nghĩa của ngôn từ theo phương pháp khoa học ngày hôm nay. Công việc này cần vốn liếng của nhiều ngành. Từ đó mới giải tỏa được mọi thắc mắc sau khi đã giải mã xong câu chuyện huyền thoại này.

Ø  Việt Học là học về người Việt và đất Việt từ ngày khai quốc (2.879BC)

 

Còn nói theo bản văn của hậu thế suy ra, là mình đã nói theo tư tưởng hạn hẹp của tác giả mà không suy nghĩ. Cái nhầm của thế hệ chúng ta là quá tin vào bằng cấp và kiến thức chuyên môn của người viết; đó là kết quả của nền giáo dục nô dịch do Thực Dân Pháp, do kẻ thù truyền kiếp và Cộng Nô nhồi sọ. Nên nhớ là hiện nay sử gia trong nước phần lớn viết theo chỉ thị của đảng là: Việt từ Tàu mà ra, nên coi chừng.

Ngày hôm nay chúng ta vẫn cả tin, không chịu phân biệt giữa sử do Tàu viết và sử do con dân đất Việt soạn; mặc dù sự phân biết rất dễ là: Tàu thuộc dân Du-mục nên có tư tưởng thần thánh, còn Việt thuộc dân Nông Nghiệp nên có tư tưởng thực tế.

Tỷ dụ:

Sử do Việt Cộng viết thì nhà lãnh đạo xa xưa nào của dân Viêt cũng đều có máu Tàu cả, làm như là tổ tiên chúng ta không biết cách sống nên thích nô lệ Tàu.

Cụ thể là họ nói khẳng định:

Triệu Đà là tướng của Tần Thủy Hoàng có tài đánh chiếm đất hoang ở phương Nam và lập ra nước Nam Việt (phía nam con sông Dương Tử là đất của người Việt).

Nhà Hán diệt nhà Tần, ấy thế mà viên tướng tài ba này lại hèn hạ đi vẫy đuôi quy phục Hán Chúa; trong khi đó Hán Chúa lại là kẻ thù của chủ tướng mình là Tần Thủy Hoàng mà Triệu Đà có bổn phận phải diệt để trung với chúa.

 

Từ cái điểm phi lý này nên sau khi đi tìm sự thật mới té ra là Triệu Đà là người Việt gốc Ngô ở vùng Chiết Giang làm cách mạng chống nhà nước Văn Lang, và cũng chính Triệu Đà chém tướng Đồ Thư của Tần Thủy Hoàng ở Tràng Sa và quân của Đồ Thư phải chạy về Hàm Dương – coi thêm bài Nguồn Gốc Triệu Đà bài số A-08.

 

Ø  Tóm lại là chúng ta phải có TƯ DUY ĐỘC LẬP thì mới nhìn thấy sự ngụy biện của những kẻ muốn tieu diệt dân ta

ö

 

Nay Thực Dân Pháp không còn, nhưng Tàu Cộng và Việt Cộng đang ra sức bóp méo lịch sử của dân ta để nô lệ tư tưởng chúng ta, sau đó thôn tính toàn cõi và tiêu diệt giống dân bất khuất..... Vậy đọc tài liệu trên mạng truyền thông điện tử thì hãy thận trọng kẻo mắc mưu nô dịch từ thời Mã Viện với Miêu Lịch và Đồng Trụ Chiết Giao Chỉ Diệt mà

 

Việt Cộng là kẻ nối dáo cho giặc.  Phải xem cho kỹ nguồn sử liệu đó do ai cung cấp và viết với mục đích gì?

Nên nhớ: Nô Lệ Tư Tưởng là nô lệ toàn diện, vì tư tưởng lãnh đạo hành động.

Điển hình là cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim viết vừa sai, vừa thiếu, vừa lý luận yếu kém về các môn mà tác giả không biết một tý gì cả; ấy thế mà chúng ta lại tin đặc là vì cụ là nhà Nho Học Uyên Thâm nên lời nói là khuôn vàng thước ngọc; mà quên rằng: Cụ là người yếm thế (đọc thì biết liền), sách viết trong thời nô lệ thực dân Pháp và bị kiểm duyệt. Có viết đúng đường lối chánh trị của Quan Tây thì mới được xuất bản.

Bằng cớ là sách này đã được nhà xuất bản Sống Mới ở Hoa Kỳ tái bản vào tháng August năm 1978. Tức là chúng ta coi thường công trình nghiên cứu của các sử gia đương thời chỉ vì: Bụt nhà không thiêng! Hay thế hệ chúng ta đã đánh mất tư duy độc lập rồi?

Riêng soạn giả, không phải trong ngành sử hay triết mà thuộc ngành khoa học, nên đã phải để ra 15 năm truy tìm mới dám thuyết trình (1975-1789) và phải cần thêm 20 năm nữa mới hoàn chỉnh được bản văn này (2010) là nhờ tài liệu của Bắc Kinh ra từ năm 1974 đến năm 2000 và cuốn "Miền Đất Phương Đông" của Giáo Sư Stephen Oppenheimer ra năm 2003.

·        Coi bản liệt kê tài liệu tham khảo ở dưới thì rõ.

 

Nay soạn giả bài này xin cống hiến hậu thế thành quả nghiên cứu này, vì nó giúp rất nhiều cho thế hệ đương thời trong công việc đi tìm giải pháp thoát hiểm tiêu vong cho dân tộc.

4Vì đây là cái vốn tối thiểu về Việt Học cần phải có thì mới sáng tạo ra được học thuyết

 

 

Các tài liệu chính được dùng để soạn bài này là:

1.      Miền đất phương đông của: Stephen Oppenheimer (2003)– dùng để xác định ngày lập quốc (2.879BC), thể chế dân chủ phân quyền cùng các yếu tố cần phải có khi lập quốc.

2.      Phan Bội Châu Tự Phán: Xác định ý nghĩa của chữ Văn Lang (tự trọng, nhân ái và nghĩa kiệp) rồi suy ra tư tưởng của tổ tiên đã ký thác trong danh từ Việt có nghĩa là Cầu Tiến

3.      Hội thảo về nguồn gốc dân Việt trong ngày Quốc Khánh 06 mai 1989 tại Paris do Ban Tổ Chức đài thọ 100%, Ban Tế Tự Paris lo phần hội thảo: Bày cỗ sẵn, mời cụ sơi.

4.      Bài thuyết giảng 1.06: Rồng Tiên Khai Quốc trên diễn đàn Paltalk, room Diễnđàn Phỏngvấn Hộiluận Hiện tình VN: Lập diễn đàn mời các cụ diễn thuyết tự do.

5.      Tủ sách Việt Thường ở Houston (USA)

6.      Tập San Tư Tưởng ở Sydney (Úc châu)

7.      Hoa văn 4 tia trên mặt trống đồng Đông Sơn (hình thành nước Văn Lang và Pi = 3,2)

8.      Kinh Việt : Giải mã các chuyện huyền thoại (giải mã theo trực giác chứ kha theo khoa học)

 

9.      Chuyện Đông Chu Liệt Quốc/mục Mối thù Ngô - Việt. Cái nhục của Câu Tiễn, và kế hoạch diệt Ngô để phục thù:

Đối nội: xây dựng tinh thần và sức mạnh

a.      Toàn dân vi binh

b.      Khuyến khích tăng gia sản xuất

c.      Khuyến khích sinh đẻ

d.      Khuyến khích đẻ con gái

Đối ngoại: làm suy yếu tinh thần và sức mạnh đối phương

a)     Nịnh hót kẻ thù đế họ đừng nghi mưu mô phục thù.

b)     Hạ uy tín kẻ thù bằng kế sách thất nhân tâm.

c)     Dụ kẻ thù ham chơi bỏ bê việc nước.

 

Kết thúc trận chiến trong sự tương kính và biết ơn kẻ thù.

Bản cáo trạng kể 7 tội đáng chết của Phù Sai mà tội thứ 7 là: Tha cho kẻ thù của Tiên Vương nên mới có ngày hôm nay là tội Bất Hiếu.

Ø Sau đó cho Ngô Phù Sai tự sát trong danh dự, và đưọc hưởng tang lễ Đế Vương.

HẾT

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil