T08 - RỒNG TIÊN đoạn 2/2
Tiếp theo đoạn (T07) Bạch Hóa Rồng Tiên
T08 - RỒNG TIÊN đoạn 2/2 :
Tri Tân / 27.11.20
Xây dựng Cộng Đồng Văn Hóa
Facebook Nỗi Niềm Quê
Hương –
soạn giả: Hoàng Đức Phương
·
Dưới đây là lộ trình giáo dục phải theo thì
toàn dân mới có đủ khả năng để bảo vệ sự tự chủ của mình được. Việt Lực được
suy ra từ lời căn dặn của cha LẠC LONG.
·
Sơ đồ này là chuyển ý từ thông điệp Rồng Tiên
khai quốc.
Chuyện Rồng Tiên khai quốc là học
thuyết căn bản của khoa nhân văn Việt tộc nói về Việt giáo, Việt đạo và Việt
triết.
ü Cộng đồng Hải
Ngoại không phải lo giải quyết những khó khăn ngoại lai nên dễ thành công hơn
cộng đồng trong nước, nhưng phải dùng nền văn
hóa Rồng Tiên thì mới kết hợp với nhau được. Trong khi đó, trong nước
phải áp dụng nền văn hóa Phục Việt
thì mới xóa được mọi hận thù sắc tộc và phe nhóm.
ü Nếu cộng đồng
Hải Ngoại không vượt được những khó
khăn do chính mình gây ra thì khi Việt Cộng ra đi, trong nước cũng khó
lòng mà giữ được nền tự chủ. Vì cái khó thứ nhất là thống nhất lòng người với
54 sắc tộc, cái khó thứ nhì là xây dựng con người buông thả vào kỷ luật và tổ
chức kỷ cương mô hình xã hội đã bị tan rã hoàn toàn sau nhiều thế hệ sống trong
nô lệ, người dân xa lánh chánh trị.
§ Chương trình
huấn luyện lãnh đạo không thuộc phạm vi Nhân Văn Việt Tộc.
§ Lãnh đạo là
người chỉ đạo một nhóm người thi hành công tác sao cho toàn hảo. Ngoài khả năng
chuyên môn ra còn cần phải biết cách ứng xử
tâm lý nữa thì mới thành công được.
§ Coi cách dùng
nhân tài của Hoàng Đế Quang Trung. Lấy bài học về nhà Tây Sơn trong link: http//:
nhanvanviettoc.blogspot.com; bài số 2.06.
§ Sơ đồ Kỹ
Thuật Bảo Vệ Tự Chủ ở dưới, là sự đúc kết Thông Điệp Rồng Tiên của ông Phạm Lãi
+ Văn Chủng vào khoảng 600BC và Học Thuyết Cần Lao Nhân Vị cùng Ấp Chiến Lược
bảo vệ sự tự chủ của nhóm ông NGÔ ĐÌNH NHU để thoát khỏi ảnh hưởng của MỸ (vào
năm 1961-1963), dưới ngôn ngữ của thời Điện Toán đương thời
§ RÚT KINH NGHIỆM CHUA CAY ĐỂ THOA1T HIỂM:
Nên nhớ là 3 anh em
Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị chết là do sự thành công quá nhanh của Ấp Chiến
Lược và Học Thuyết Cần Lao Nhân Vị… Đây là môt kinh nghiệm thứ ba là : Dục Tốc Bất Thành. Lãnh Tụ không nên đi nhanh hơn dân, phải
huấn luyện để toàn dân bắt tay vào việc cùng với mình.
Ø Lần đầu Dục Tốc Bất Thành là
thời đại ông Hồ Quý Ly, môt nhà có cái nhìn Canh Tân Đất Nước theo phát Minh
khoa học, làm việc tập thể thay cho nghề nông có tính cách gia đình. Vì thế nên
cha con ông bị Minh Thành Tổ bắt séng đem về Tàu để phục vụ cho họ. Ông là
thánh tổ của Pháo Binh nước TÀU.
Ø Lần thứ nhì Dục Tốc Bất Thành
là: Hoàng Đế Quang Trung yểu mệnh là vì làm việc quá sức nên khi chết đi không
ai có đủ khả năng thay thế. Tức ổng lo cái ngọn mà không vun bồi cái gốc nên
chương trình bỏ dở vì thiếu người có khả năng nối tiếp.
Ø Lần thứ ba: Nền Đệ Nhất Cộng Hòa
thoát thai từ nô lệ 100 năm (1858-1945) với kẻ thống trị là Thực Dân Pháp (có
Tây Ban Nha và Bắc Kinh giúp sức để giây máu ăn phần mà người Pháp là cai
thầu-coi Sử Nguyễn Xuân Thọ lấy tài iệu từ bộ ngoại giao cả 3 nước) có kế sách
hủy diệt Văn Hóa, Văn Minh và Lịch Sử của nòi Việt để đào tạo lên một đám sỹ
phu vọng ngoại, xa lánh chánh trị; cộng thêm nạn đói năm 1945 do Nhật bắt nhổ
lúa trồng đay nên mất mùa; trong vài tháng mà trên 1 triệu người chết ở miền
Bắc từ Ninh Bình trở lên. Do đó thiếu nhân tài.
Cuộc chiến 1945-1975
à NGA MỸ thư hùng trên đất Việt dể thử vũ khí do Hồ Chí Minh đem tới nên thời
gian không cho phép, do đó Chánh Quyền Ngô Đình Diệm phải làm gấp rút và chấp
nhận rủi ro.
Rút tia 3 kinh nghiệm trên thì Cộng
Đồng Hải Ngoại đng ỉ-i vào Nhân Tài Tây Học, họ làm việc theo cá nhân chủ
nghĩa nên chúng ta không những phải đào tạo nhân tài theo đúng nhu cầu làm việc
tập thể theo chuyên môn, mà còn phải có phương án huấn luyện nhân tài theo
chương trình NHÂN VĂn VIỆT TỘC thì mới
kết hợp được lòng người.
²
Bây giờ chúng ta hãy cùng nhau giải
tỏa một vài lấn cấn.
Nên nhớ rằng chuyện huyền thoại xuất
hiện trong thời kỳ chưa có giấy bút, muốn lưu truyền kinh nghiệm cho hậu thế
thì chỉ có một cách duy nhất là bia miệng: Huyền thoại (tức văn xuôi ngày hôm
nay), Ca dao, Tục ngữ, Văn vần, Vè, Ca hát .......
Dù là Tây, Ta hay Tàu thì chuyện Huyền
Thoại bao giờ cũng có 2 vế.
-
Vế thứ nhất là hoang đường thần thánh, lung
linh huyền ảo.
-
Vế thứ hai là triết lý của câu chuyện (tức thông
điệp người xưa).
Vế thứ nhất dùng để chuyên chở thông
điệp, do đó phải phù hợp với tâm tình của dân tộc để ai ai cũng thích nghe và cũng
thích kể lại cho con cháu. Đó là truyền khẩu:
Trăm năm bia đá cũng mòn,
Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.
Vế thứ hai là thông điệp của người
xưa. Tức phải xét tình tiết của câu chuyện, phải biết phát xuất từ thời điểm
nào và trong bối cảnh lịch sử ra sao thì mới giải mã được.
Do đó khi nghiên cứu thì phải biết
phân biệt sự kiện lịch sử, hư cấu hay ý kiến của người viết.
Tỷ dụ:
Ta thấy nói để con trưởng ở lại làm
vua đất Phong Châu là ý kiến của người viết theo tinh thần phụ hệ (thái tử).
Thật vậy: Trăm trứng, cùng cha cùng mẹ
lại nở cùng một lúc thì làm sao phân biệt nổi trưởng với thứ?.... Hơn nữa, danh
từ Đồng Bào đã nói lên tinh thần bình đẳng tột cùng, thân thương tột độ, triệu
người như một rồi. Danh từ này có phân biệt trưởng thứ, hay trai gái đâu mà khi
không lại dựng đứng lên chuyện Thái Tử, và con Trưởng làm vua?
Ngoài ra câu
chuyện Tiết Liêu cũng đã nói rõ là truyền ngôi cho người biết lo cho hạnh phúc
của toàn dân để cùng nhau giữ nước, chứ có truyền cho con trưởng như chế độ
Thiên Tử đâu.
·
Giả thử để lại một người làm vua ở đất Phong
Châu, vậy thì một bên chỉ có 49 Binh Đoàn ra biên thùy; như vậy là nói lên sự
bất bình đẳng Nam Nữ, trái với ý nghĩa danh từ Đồng Bào. Trong khi thông điệp
nói lên tinh thần Bình Đẳng tuyệt đối.
Chúng ta có danh từ đồng bào (cùng một bọc) mà cả
thế giới không ai có cả.
Nhờ danh từ này nên dân Việt mới đẻ ra
những tập tục mà nay đã trở thành truyền thống tốt đẹp mà chúng ta không ai để
ý đến cả. Lẽ dĩ nhiên là phải có người đề xướng và thời điểm phát xuất ra nó.
Từ đây phát sinh ra nhiều phong tục đặc thù của dân Việt như:
-
Trước khi ăn thì phải mời nhau.
-
Đang ăn mà có người đi qua thì người đang ăn
phải mời người kia cùng ăn với mình để chứng tỏ tinh thần đùm bọc, nhường cơm
sẻ áo. Còn Tây phương thì ngược lại người đi qua phải chúc người đang ăn là ăn
cho ngon miệng. Ở đất Việt mà nói vậy là chửi xéo: Đồ tham ăn tục uống.
-
Cách xưng hô trong vai vế gia đình theo 3
tiêu chuẩn: Tình-cảm riêng tư; Học-thức về Việt Đạo (lối sống của dân Việt) và
Tuổi-tác.
-
Lấy màu vàng của tơ tầm làm sắc thái dân tộc.
Do đó quốc kỳ bắt
buộc phải là nền mầu vàng. Hình vuông tượng trưng cho lãnh thổ, nay là hình chữ
nhật (3/2). Chúng ta vẫn nói: Trên đầu voi phất ngọn cờ vàng (bà Trưng).
w
Về những chuyện tương tự như vậy thì bao giờ cũng gồm 3 giai đoạn,
phân chia theo nhu cầu của từng lứa tuổi một:
GIAI
ĐOẠN MỘT
Dạy các trẻ thơ từ nhỏ cho tới 9 hay 10 tuổi (Thiếu Nhi) thì chỉ
nói đến phần hoang đường thần thánh, lung linh huyền ảo để các em ghi nhận và
hãnh diện về nòi giống của mình.
Dù cho rằng đó là phần hư cấu nhưng ít nhất cũng cho các em biết
cái đích làm người là phải làm sao thăng hoa thành Rồng và Tiên để có thể tương
thông với vũ trụ.
Phần này còn quan trọng hơn phần triết lý của thông điệp. Vì thiếu
nó thì hết phần giải mã. Thật vậy, có biết câu chuyện đâu mà giải mã. Như vậy
là đoạn tuyệt với người xưa, không rút tỉa được kinh nghiệm chi của người xưa
cả.
GIAI
ĐOẠN HAI
Dạy các em từ 11 đến 15 (Thiếu Niên) tuổi phần triết lý của câu
chuyện.
Đó là sự thật của lịch sử được lồng dưới dạng huyền thoại để không
bị mai một theo thời gian; còn thông điệp là tình tiết của câu chuyện.
Do đó ta cần phải giải mã thì mới hiểu được phần triết lý của nó.
GIAI
ĐOẠN 3
Những Sinh Viên từ 17 hay 18 tuổi trở lên (Tráng Niên) hay người
lớn tuổi ngồi thảo luận với nhau xem những nguyên lý đó nay còn giá trị hay
không? Làm sao áp dụng để giải quyết được các vấn đề đương thời.
Nay, vấn đề đương thời của chúng ta là: Thiếu kết hợp vì tư tưởng đã bị đầu độc mà không biết. Đây
là hiện tượng Lạc Hồn Dân Việt nên cầu phải "chiêu hồn Việt" mà Rồng
Tiên là một phương thức.
Vậy thì hãy tìm cách khai thông bế tắc tư tưởng bằng cách đem Tâm
Việt và Hồn Việt đến với con dân đất Việt để họ biết MÌNH là ai? Sống để làm
gì?
Không phải ngày hôm nay chúng ta
mới có nhu cầu chiêu hồn dân Việt, mà thời cụ Phan Bội Châu đã có hịch:
Đề Tỉnh Quốc Dân Hồn.
Nếu đọc hịch này thì chúng
ta sẽ thấy tư tưởng của chúng ta còn bế tắc hơn tư tưởng thời đó. Nghĩa là giá
trị tâm linh mỗi ngày mỗi suy thoái đến nguy cơ diệt vong mà không hay. Do đó
mới có người hô hào dẹp bỏ Tế Tổ Hùng Vương...
Thật đáng buồn!
²
Đến đây chúng ta có thể nói được rằng:
"Trong tình huống khó khăn thì tổ tiên chúng ta luôn luôn
sáng tạo ra các yếu tổ để kết hợp lòng dân. Có tạo ra sức mạnh tâm linh thì mới
hy vọng kết hợp lòng người được"
Mà có kết đoàn thì mới vượt qua được trở ngại khó khăn. Hợp quần
gây sức mạnh, đoàn kết thì sống mà chia rẽ thì chết.
Điều này thì ai cũng biết; nhưng không ai lưu tâm đến cả, chỉ lo
cãi lấy được dù biết đó là hành động gây chia rẽ.
Ngày hôm nay chúng ta đang ở trong tình trạng nghịch lý và bi đát,
chúng ta đã sáng tạo được yếu tố gì để kết hợp đây? Hay chúng ta chỉ đề cao cá
nhân và đả phá những ai trái ý với mình?
Ø
Nếu
cứ tiếp tục như vậy thì tương lai sẽ đi về đâu? Chúng ta có chịu trách nhiệm
với lịch sử và con cháu hay không?..
ö
NỀN
KHOA HỌC THỰC NGHIỆM THỜI XƯA
Bây giờ chúng ta nói qua về tinh
thần của tổ tiên đã ghi trên mặt trống đồng với 14 tia.
Ø
Đó là
sinh hoạt của nước Văn Lang lúc thời bình mà câu chuyện Rồng Tiên đã phản ảnh
rõ rệt những nét chính của xã hội Văn Lang là: Kết hợp với nhau bằng tâm và cư
xử với nhau bằng Đức. Bình đẳng tột cùng thân thương tột độ.
Một đằng diễn tả bằng các vòng tròn đồng tâm, một đằng dùng danh
từ Đồng Bào. Chữ Đức có nghĩa là đem những điều tốt lành đóng góp để xây dựng
Cộng Đồng, còn những điều xấu thì hãy giữ lại cho mình đừng đem ra để phá bĩnh.
Thật vậy, dân ta có câu: Nhất sĩ nhì Nông. Hết gạo chạy rông, nhất
Nông nhì Sĩ.
·
Câu
này hàm chứa ý nghĩa: Xã hội chỉ trọng những người giúp ích cho cộng đồng mà
thôi. Còn học giỏi tài cao để vinh thân phì gia, giá áo túi cơm thì đó là cuộc
sống vị kỷ có chi mà khoe tài khoe giỏi.
Ngoài ra nước Văn Lang lúc đó chỉ có 3 bộ. Đó là Bộ Binh (giữ nước).
Bộ Kinh Tế để nuôi dân và Bộ Văn Hóa để học làm người Việt.
Kế đến, cũng trên mặt trống đồng chúng ta còn tìm thấy con số Pi (p) bằng 3,2 (p = 3,2) thay vì p = 3,14159...
của Tây Phương nữa. (Périmètre,
người Hy Lạp đọc chữ P là Pi), Pi là hệ số giữa chu vi vòng tròn và đường kính.
Về con số 3,14159... của người Tây Phương thì
chúng ta không biết từ đâu tới, thấy ông Thày Tây nói vậy nên áp dụng như con
vẹt mà không hề đặt vấn đề là số đó từ đâu ra ?
Còn con số 3,2 thuộc về khoa học thực nghiệm nên chúng ta thấy
liền. Chỉ cần lấy giây đo chu vi vòng tròn, rồi lấy đường kính làm đơn vị gấy
đi gấp lại thì thấy con số 3,2. Từ con số 3,2 mới ra câu thần chú (công thức)
sau đây vẫn thông dụng ở Á Châu cho tới ngày hôm nay:
·
Chung
đôi 3 lần. Bỏ đi 3 phần, còn lại chung đôi.
·
Người
Tàu họ nói: Phân bát, chiết tam tồn ngũ, phân nhị.
Vì theo Tây học nên chúng ta không biết
câu thần chú này, nhưng những bác thợ mộc ở Á Châu thì ai ai cũng đều biết cả.
Bằng cớ là các cung điện, đền đài ngày xa xưa vẫn để cột trên bệ
đá vừa in. Bác thợ mộc lên rừng đẵn gỗ đúng kích thước và bác thợ đẽo đá lên
núi làm bệ đâu có cần gặp nhau mà cột nào thì bệ đó.
·
Giữa
3,2 và 3,14159... sai số chỉ có 2% thôi. Cách đây 5.000 năm thì coi như tuyệt
diệu.
w
CÁI
NHẦM CỦA THẾ HỆ CHÚNG TA
Chúng ta hãy tạm kết ở đây bằng một vài cái sai nhầm trong lý luận
mà nó đã đưa chúng ta đến sự tranh luận vô bổ từ 200 năm nay rồi:
·
Chữ i
và y là 2 ký hiệu khác nhau, và 2 công dụng khác nhau. Trên nguyên tắc thì đứa
bé lên 8 tuổi nếu đã học quy luật về âm
vị và âm vận của
tiếng Việt thì không thể lộn được.
Vậy thì tại sao ngày hôm nay chúng ta đã
viết lộn lại còn gân cổ cãi càn vậy? Chúng ta có tinh thần phục thiện hay không?
Chữ Quí vị viết i hay y? và tại sao? Nếu
viết Quí thì phải phát âm là: CÚI (cúi đầu chịu nhục)
Tỷ dụ chữ Yên, chữ Tiên và chữ Biên cùng mang vần iên cả (chính vận là iên) mà cái thì
viết i, cái thì viết y theo hứng.Sau đó lại lớn tiếng chê chữ Quốc-Ngữ viết
không có quy luật chi cả.
Chữ mang tên là Quốc-Ngữ không có quy luật về âm vận rõ ràng hay
chính ta không biết quy luật âm vận của tiếng Việt để viết cho đúng chánh tả? Chữ Ty khi nào thì viết i và khi nào thì viết
y?
Sử cụ Trần Trọng Kim đã cho chúng ta có ảo
tưởng là lịch sử dân Việt bắt đầu từ nhà Đinh, trước đó là huyền sử nên tổ tiên
dễ nói dóc.
Cụ nêu lên rằng: 18 đời Hùng Vương trị vì
2.622 năm, vậy thì tính ra mỗi ông vua phải thọ 150 tuổi; do đó phải xét lại.
Cụ mới chỉ nêu lên nghi vấn mà đám Tây học
hậu sinh chúng ta lại cậy khôn, dám ti-toe đem ngay tam đoạn luận ra để biện
minh và sỉ vả không tiếc lời các nhà viết sử từ đời nhà Trần đến nay (trong đó
có Đúc Trần Hưng Đạo, quốc sư Nguyễn Trãi và nhiều danh nhân khác) là nói phét,
nói dóc!!!.
Nói như vậy là chúng ta đã mặc nhiên phỉ
báng tổ tông và coi như mình mới là người có can đảm dám nói lên sự thật.
Trong khi đó quên rằng chính thế hệ chúng ta đã làm mất nước, chỉ
vì đã hấp thụ nền văn hóa nô dịch để chối bỏ cội nguồn, tôn thờ ngoại bang mà
không biết.
Nếu đặt lại vấn đề thì chúng ta thấy ngay
đó là lời nói hàm hồ của đám hậu sinh đã làm mất nước, chỉ vì hấp thụ nền văn
hóa nô dịch của kẻ thống trị mà không hay là:
1)- Tuổi thọ của con người không dính chi đến tuổi
đời của ông vua cả. Vì xưa hay nay thì ai cũng sinh con ở tuổi 20-25 cả. Vậy
thì, nếu vua cha có thọ đến 150 tuổi đi nữa, thì lúc đó vua con cũng đã 130
tuổi rồi. Vậy trung bình tuổi đời của một ông vua chỉ có 20 năm thôi.
2)- Ngôn từ thay đổi theo thời đại, vậy thì chữ
đời có phải là đời một ông vua hay đời một thể chế? Ta vẫn gọi đời nhà Lý, đời
nhà Trần, đời nhà Lê; mỗi đời đâu có phải chỉ có một ông vua?
3)- Nếu chữ đời chỉ Triều Đại thì chữ Hùng Vương
bắt buộc phải là danh xưng của chức vụ. Vậy thì phải là 18 dòng họ khác nhau. Rõ ràng sử chép: Họ Hồng Bàng làm vua
nước ta trước tiên cả, sau cùng lại chép là bà Trưng dòng dõi vua Hùng thứ 18.
Rõ ràng dòng họ khác đó thôi.
Chúng ta vẫn nói chúng ta là con Rồng cháu
Tiên mà không hề suy nghĩ xem đúng hay sai. Có bao giờ chúng ta nói con Tiên
cháu Rồng không?
Chắc chắn là không, vậy thì chữ con Rồng cháu Tiên đã nói rõ về di
truyền huyết thống rồi (con ruột của mẹ Rồng và cháu nội của bà Tiên).
Rõ ràng sử chép rành rành là: Mẹ ông Lạc Long Quân là Rồng và bà nội
ông là Tiên.
Vậy thì chữ con Rồng cháu Tiên là chỉ ông Lạc Long Quân (tức thần
Kim Quy) đã hấp thụ được tinh anh của Rồng và Tiên (trí dũng vẹn toàn) chứ đâu
phải chúng ta. Chúng ta thuộc dòng dõi Rồng Tiên.
·
Nay
đọc THÔNG ĐIỆP người xưa mà không hiểu là lỗi ở chúng ta không chịu động não,
chứ đâu có phải người xưa nói không rõ.
Một ghi nhận nữa:
Rồng là con đực. Rồng cái của Tàu là con Phụng; còn Rồng cái của
Việt là Tiên. Chỉ có mỗi chuyện này, vì nhu cầu pha giống nên mới có Long Nữ
(cô gái Rồng).
Vậy thì nhân vật Đế Minh, Lộc Tục (Kinh Dương Vương), Sùng Lãm
(Lạc Long Quân) và Âu Cơ đều là những nhân vật giả tưởng để người xưa ký thác
thông điệp về thành quả đấu tranh đã có thực trong lịch sử, ở thời đó.
·
Vứt
bỏ thông điệp loại này là vứt vàng và hột soàn vào đống bùn nên vận tốc tụt hậu
cứ gia tăng theo thời gian. Như vậy thì làm sao tránh được hiểm họa diệt vong?
w
KIỂM CHỨNG BẰNG KHOA HỌC
a)- Nay rút máy computeur
ra coi thì thấy: Từ đời nhà Đinh (968AC) đến hết đời Bảo Đại (1945AC) tổng cộng
là 977 năm gồm có 7 Triều Đại; trung bình mỗi đời là 140 năm.
Vậy thì 18 đời Hùng Vương trị vị 2.622 năm là một thời gian hợp lý
chứ có chi là quá đáng đâu mà phải thắc mắc; trung bình mỗi đời là 145,6 năm.
§
Chẳng
qua vì mắc phải tinh thần tự ti và vọng ngoại, cho nên ông Tây bà Đầm, mũi lõ
mắt xanh, ngực banh đít vểnh nói câu nào thì cho ngay đó là nguyên lý.
Còn người Việt nói có đúng mười mươi cũng
chê là nói mò, nói dóc, nói phét.
§
Ngày
hôm nay cũng vậy, hễ nói là Ta không nô lệ Tàu 1.000 năm thì bị chửi ngay là ái
quốc cực đoan, chối bỏ sự thực..... Nhưng hỏi thế nào là Tàu thì họ ú-ớ; giá có
chìa bản đồ Bắc kinh vẽ năm 1997 (hình số 09) thì họ lại không muốn coi; chỉ vì
tự ái quá cao - vì đó là hậu quả của nên giáo dục vong nô!
b)- Thời đại phi thuyền đã
chứng minh cái dốt của các nhà Bác Học Tây Phương, vậy thì đừng quá tin vào
khoa bảng. Chúng ta hãy suy ngẫm sự kiện sau đây:
·
Trước
năm 1968 tất cả các sách giáo khoa từ Đại học trở xuống, các ông bác học Tây
Phương đều nhất trí đồng quan điểm là trái đất không thể tròn như quả bóng đá
được. Ông thì bảo nó dẹp hai đầu như quả bưởi vì do sức ly tâm quay quanh trục.
Ông thì bảo nó phình 2 đầu như trái RUGBY vì sức hút ở 2 đầu lớn hơn đường xích
đạo (équateur).
·
Đến
Noël 1968 loài người lên mặt trăng chụp ảnh trái đất thì thấy màu sắc rực rỡ và
tròn xoe như quả bóng đá. Từ đó đến nay không thấy ông Bác Học nào giải thích được
là:
Tại sao nó quay mà sức ly tâm không làm cho nó méo? Tại sao nó
tròn mà sức hút mỗi nơi mỗi khác?
Ø
Câu
sau thì chúng ta có thể giải thích cái nhầm của các nhà Bác Học như sau
Một vật có trọng khối là M thì bị trung
tâm trái đất hút theo công thức F=(MxM’)/D².
M’ là trọng khối của trái đất, F là sức hút.
Vậy thì vật đó ở bất cứ chỗ nào trên mặt
trái đất thỉ cũng bị sức hút hướng tâm bằng nhau.
Nhưng sức ly tâm thì lại thẳng góc vói trục quay, chứ không thẳng
góc với đường tiếp tuyến ; nên sức ly tâm ở Dầu Trục quay yếu hơn sức ly
tâm ở đường Xích Đạo, tùy theo vỹ tuyến.
Ngoài ra, sức ly tâm (sức đối kháng) ở đường xích đạo và sức hút
của trái đất (F) thẳng hàng với nhau.
Trong khi đó thì sức ly tâm ở vỹ tuyến nằm xiên với sức hút của
trái đất (F) tùy theo góc độ của vỹ tuyến, nên phải dùng VECTEUR chiếu
xuống ; phần nằm trên đường tiếp tuyến không bị té là vì có sức cọ sát
trên mặt đất
Ø
Như
vậy có phải là căn bản lý luận của các nhà Bác Học Tây phương sai không?
Vậy thì chớ có lấy khoa học thực dụng mà giải thích cho khoa học
Nhân văn. Cũng chớ lấy thực tế vật chất để giải thích cho địa hạt tâm linh.
Cũng chớ lấy lời nói của các nhà khoa bảng ngoại quốc làm chân lý tuyệt đối. Vì
những nguyên lý tìm thấy chỉ đúng với môi trường nào đó thôi, chứ không phải là
nguyên lý bất biến mà ta gọi là KINH.
Vật chất thì hoàn toàn thuộc về hữu hình, nên dựa theo cảm giác
của ngũ giác: Tai, Mũi, Mắt, Lưỡi và Tay. Nhận được thì nói là có, còn không
nhận được thì nói là không biết có hay không.... chứ không thể nói không biết
là không có.
Ø
Còn
Tâm Linh thì thuộc về vô hình, vậy thì làm sao có thể dùng hữu hình để luận vô
hình được?
Các vĩ nhân thường hay nói: Duy Vật, Duy Linh, Duy Tâm, Duy....để
sự nghiên cứu về xã hội học của họ cho được dễ dàng.
Còn tổ tiên chúng ta thì nói trong cuộc sống mỗi thứ có một ít chứ
chẳng duy một cái chi ráo trọi. Bằng cớ là câu tục ngữ bất diệt:
Nhất
sĩ nhì Nông.
Hết
gạo chạy rông, nhất Nông nhì Sĩ.
Duy có nghiã là chỉ có, hoặc cái đó làm chủ, còn cái khác là phụ.
Xã hội Văn Lang lấy Nhân Chủ và Nhân Bản
làm nền móng cho mọi triết lý sống của con người.
Còn xã hội Tàu thì lấy Triều
Đình làm chính. Chỉ vì họ thoát thân từ cuộc sống du mục nay đây mai đó.
Còn người Việt thì thoát ra từ đời sống định cư và định canh trong
việc trồng lúa nước (lúa chiêm). Kẻ thù của Nông Nghiệp là thiên tai, còn kẻ
thù của Du-Mục là Bắp Thịt (luật rừng)
Chữ Nhân Chủ có nghiã là có con người thì có tất cả: Chính Trị,
Kinh Tế, Xã Hội, Luật Lệ...., còn không có con người thì chẳng có cái chi ráo
trọi.
Còn Nhân Bản là lấy hạnh phúc của từng
người dân làm căn bản. Dân đói rách lầm than, tương lai mờ mịt thì Triều Đình
phải tự động ra đi vì bất lực. Coi chuyện Tiết Liêu, Phù Đổng, Hoàn Kiếm....Coi
bài Bình Ngô Đại Cáo, ngay trong câu đầu linh hồn Kháng Chiến Lam Sơn đã
viết: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. (Hạnh phúc của dân làm trọng)
![]()
![]()












0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil