T05 –QUY LUẬT CHỮ QUỐC NGỮ
T05 –QUY LUẬT CHỮ QUỐC NGỮ- thứ sáu 06.11.2020
Livestream trên Facebook Nỗi Niềm Quê Hương
soạn giả: Hoàng Đức Phương
QUY LUẬT CỦA CHỮ QUỐC NGỮ
quy
luật tiếng Việt mà chữ Quốc-ngữ phải viết theo
Vài điều cần biết
để viết chữ QUốc-ngữ cho đúng chánh tả:
1.
Trong tiếng nói
có Âm, Thanh và Hồn của dân tộc. Âm là chấn động có nghĩa và thanh là chấn động
vô nghĩa.
Ø Đó là QUY LUẬT của tiếng Việt
2.
Bảng mã chữ QUốc-ngữ
lấy từ bảng mã Latin ; mà bảng mã chữ QUốc-ngữ lại là biến dạng (thay đổi
hình dạng) của bảng mã Việt Thường dùng để ghi Âm Thanh và Hồn tiếng Việt.
3.
Bảng mã chữ QUốc-ngữ
chỉ ghi được có phần Âm và Thanh thôi, nên thiếu hẳn phần hồn. Vì ông Alexandre
De Rhodes (Đắc Lộc Sơn) là nguời ngọai quốc nên không cảm nhận được cái HỒN VIỆT
trong tiếng VIỆT ;
4.
Nay chúng ta phải
bổ xung PHẦN HỒN cho trọn vẹn. Phần Hồn đi từ Quy Luật ÂM-VẬN của tiếng Việt. Âm-vận là vần của
một Âm-vị.
5.
Do
đó chữ QUốc-ngữ không những phải viết theo quy luật của chữ Latin mà còn phải
viết theo quy luật của TIẾNG VIỆT nữa.
6.
TỐI QUAN TRỌNG:
Ø Dân
Việt tốn vong hay tiêu vong là : Ở chỗ có thay đổi chữ viết hay không ?.
Đừng chạy theo
Văn Minh Khoa Học một cách mù quáng, vì có thứ cần phải thay đổi theo văn minh
thời đại…. Nhưng có thứ không thể thay đổi được, vì nó thuộc về bản sắc của dân
Việt ; thay đổi là TỰ DIỆT CHỦNG.
Như :
Tiếng nói, chữ viết, cách xưng hô, đạo
Gia Tiên thờ cúng cha mẹ và tông đường để nhắc nhở chữ HIẾU với cha mẹ và tông
đường (thuộc về Giáo Lý học làm người Việt)
vân…vân…..
Thật vậy, mỗi lần thay đổi chữ viết là một
lần đoạn tuyệt với tiền nhân để biến mình thành kẻ MẤT GỐC, vì hậu thế không đọc
được tư tưởng nguời xưa qua bút tự lưu truyền.
Đó là một hình
thức Đốt Sách giết học trò để hủy diệt Văn Hóa và Lịch Sử của dân Bị Trị như :
Ø Bọn giặc Tàu đã
làm đối với dân Việt, và đang làm đối với dân Duy Ngô Nhĩ –Tân Cương) và Tây Tạng,
Hong Kong..
Ø Bọn giặc Nhật Bản
đã làm với dân Cao Ly (Triều Tiên hay Đại Hàn)
Ø Bọn giặc Nga
đang làm với dân tộc UCRAINA.
Đây là những tấm
gưong rất sáng cho những người đòi thay đổi chữ viết để chạy theo văn minh thời
đại : Đòi gọt dũa đôi chân cho vừa với đôi giầy mà ta gọi là làm giường
theo chiếu một cách ngược đời.
ö
QUY
LUẬT CHỮ QUỐC NGỮ
Bảng mã chữ Quốc-Ngữ:
Chữ Quốc-Ngữ là
loại ký hiệu dùng để ghi âm và thanh tiếng Việt, gồm 22 chữ cái (ký hiệu gốc),
7 chữ cái có dấu (bằng môi hay lưỡi) cộng với 5 cái dấu (bằng tay để ra hiệu Trầm hay Bổng). Vị chi
có tất cả 35 ký hiệu phải học nằm lòng
§ Âm là chấn động
có nghĩa, còn Thanh là chấn động vô nghĩa.
Những ký hiệu đó
là:
§ 22 chữ cái lấy từ
bảng-mã Latin là:
A, B, C, D, E, G, H, I, Y,
K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U, V, X.
§ 7 chữ cái biến dạng bằng dấu hiệu môi và lưỡi là:
Ð,
Ă, Â, Ê, Ô, Ơ, Ư.
§ 5 dấu hiệu bằng
tay dùng để biến âm của chính-vận là:
Huyền,
Sắc, Hỏi, Ngã, Nặng.
ö
PH ÂN LO ẠI
Người ta chia 29
chữ cái làm 2 loại:
-
Phụ-âm
là ký hiệu tự nó không phát ra âm được
-
Nguyên-âm
là ký hiệu tự nó có thể phát ra âm được, nhưng chia làm 2 loại:
1.
Nguyên-âm
có nghĩa là: A, E, Ê, Y, O, Ô, Ơ, U và Ư
2.
Nguyên-âm
vô nghĩa là: Ă, Â, I, U (chữ U lúc thì có nghĩa, lúc thì vô nghĩa)
Cách phát âm:
-
Phụ-âm
thì phát âm theo chữ khi đứng một mình, khi ghép với chữ khác thì thành Bội-vận
nên phải phát âm theo vần. Tỷ dụ: B là chữ
cái thì phát âm là Bê, còn BAN thì phát âm là Bờ+AN, vì
BAN là một chữ để ghi một tiếng nói nên lúc này B mang chức năng là Bội-vận (vần
thêm vào vần chính để thành một âm-vị khác.
BA QUY LUẬT CĂN BẢN CỦA TIẾNG
VIỆT
Muốn ghi âm tiếng
Việt bằng bất-cứ ký hiệu nào thì bao giờ cũng phải tôn trọng cấu-trúc của câu
văn Việt thì mới là người Việt nói tiếng Việt; còn không là tiếng Việt lai-căng
không rõ và khó hiểu.
A.-
QUY LUẬT CHUYỂN NGỮ
Dân tộc nào cũng
vậy, khi giao-tiếp với nước ngoài thì bao-giờ cũng phải chuyển tiếng nước người
sang tiếng nước mình, đó là hiện-tượng giao-lưu văn-hóa.
Chuyển ngữ chỉ
có 4 cách chính phải tôn trọng là:
1.
Việt-hóa: Biến hoàn-toàn sang tiếng nuớc mình
như: Stylo à bille gọi luôn là bút chì nguyên-tử (danh từ lịch-sử phát minh vào
tháng septembre 1945).
2.
Chuyển âm: Biến âm tiếng
nước người sang âm tiếng nước mình như Savon gọi là sà-phòng (có gạch nối và
dùng chữ S chứ không phải X, vì Savon viết S).
3.
Chuyển nghĩa: Máy
Photocopieur thì gọi là máy sao-chụp; tức sao y bản chánh bằng cách chụp hình
(gạch nối bắt buộc vì là chữ viết tắt của một câu).
4.
Nguyên con: Thủ đô nước
Nga thì viết MOSKVA và đọc theo âm của người Nga.
B.-
QUY LUẬT GẠCH NỐI
Trường-hợp thông-thường:
Cấu-trúc câu văn
tiếng Việt thì lúc nào cũng là tiếng sau bổ nghĩa cho tiếng trước.
Vì tiếng Việt
thuộc loại đơn-âm nên lắm khi một âm không có nghĩa mà cả chùm chữ đó mới có một
nghĩa thì bắt buộc phải dùng gạch nối để nói rằng tất cả bấy nhiêu chữ mới có một
nghĩa; nhưng khi đọc thì phải tách rời chứ không được đọc kẹp díp như tiếng
đa-âm.
Tỷ-dụ: Chữ
lôi-thôi, bì-bõm, cà-tưng, lạch-tạch-đùng ...Hoặc thấy cụt khó nghe nên thêm
vào một chữ vô nghĩa như chùa-chiền, chợ-búa,...thì cũng phải dùng gạch nối.
Trường-hợp chuyển ngữ:
Trong cách chuyển
âm nếu viết suôi mà tiếng sau bổ nghĩa cho tiếng trước thì không cần gạch nối.
Còn viết suôi mà nghĩa ngược, tiếng trước bổ nghĩa cho tiếng sau thì phải có gạch
nối để tôn trọng câu văn của người và đồng thời vẫn giữ được hồn của tiếng Việt.
Tỷ-dụ:
-
Người Việt nói: Con ngựa trắng, con ngựa đen.
Ðen tuyền, trắng đốm đen hay trắng toát được dùng để bổ nghĩa cho con ngựa mang
màu gì. Chữ tuyền bổ nghĩa cho màu đen và chữ toát bổ nghĩa cho màu trắng.
-
Người Tàu nói: Con trắng ngựa (bạch-mã), chữ trước bổ
nghĩa cho chữ sau. Như vậy khi chuyển âm sang tiếng Việt thì phải có gạch nối để
chỉ cả chùm này mới có một nghĩa như con Bạch-Mã, Tiền-Nhân, hay Sà-phòng đi từ
chữ savon của Pháp hoặc Công-ti đi từ chữ Compagnie (họ dùng chữ i nên phải viết
là ti chứ không phải ty).
C.- QUY-LUẬT ÂM-VẬN
Ðịnh nghĩa
Âm-vị: Tiếng Việt không có âm-tiết mà chỉ có âm-vị thôi. Tiết là đốt, còn
vị là chỗ đứng.
Âm-vận: Trong tiếng Việt
mỗi âm-vị thường có 2 âm-vận. Ðây là mấu chốt của quy-luật âm-vận để viết cho
đúng cách. Hai vần đó được gọi là Bội-vận và Chính-vận.
§ Bội-vận là vần
đi trước chính-vận để biến chính-vận thành âm-vị khác.
§ Chính-vận là vần
đi sau. Không có chính-vận thì không có âm-vị. Ngược lại không có bội-vận thì
chính-âm đã tạo được âm-vị rồi.
Bội-vận là sự tập
hợp của các phụ-âm tính từ trái qua phải.
Chính-vận bắt đầu
từ nguyên-âm đến hết chữ.
Chính-âm và biến-âm:
Chính-âm là âm
chính (chữ không có dấu). Biến-âm là chữ có dấu bằng tay (huyền, sắc,hỏi, ngã,
và nặng) để biến cách phát âm của Chính-vận; vì thế nên dấu phải để trên
Chính-vận
Âm-giai :
Vì mỗi Chính-vận
có 6 âm nên tiếng Việt được chia làm 3 âm-giai:
-
Bình
(không dấu và dấu huyền).
-
Trầm
(dấu ngã và nặng).
-
Bổng
(dấu sắc và hỏi). T
Tiếng Tàu có 4
âm nên chia làm 2 âm giai Bằng và Trắc. Tiếng Tàu âm hỏi và sắc giống nhau
Chức năng
35 ký hiệu được
phân loại như sau :
§ 22 chữ cái chính
lấy từ bảng-mã Latin là:
A, B, C, D, E, G, H, I, Y,
K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U, V, X.
§ 7 chữ cái biến dạng bằng dấu hiệu môi và lưỡi là:
Ð, Ă, Â, Ê, Ô, Ơ, Ư.
§ 5 dấu hiệu bằng tay dùng để biến-âm của chính-vận là:
Huyền, Sắc, Hỏi, Ngã, Nặng.
Vị-trí của dấu: Các dấu này chỉ dùng cho chính-vận mà thôi: Do đó các
dấu phải nằm trên chính-vận chứ không được để trên bội-vận. Theo quy-ước thì dấu
ở trên hay dưới nguyên-âm, vì nguyên-âm đại diện cho chính-vận. Nếu chính-vận
có 2 nguyên-âm thì để ở đâu cũng được miễn đẹp mắt thì thôi. Còn 3 nguyên âm
thì phải để ở nguyên-âm chính giữa.
Phân loại: Phụ-âm và Nguyên-âm:
§ Phụ-âm là chữ cái tự nó không phát ra âm được; phải đi
với chữ khác mới phát được ra âm. Do đó mỗi phụ-âm đều có 2 cách phát âm: Theo
chữ cái hay theo bội-vận là tùy theo chức năng của nó.
§ Nguyên-âm là chữ cái tự nó đã phát ra âm rồi; nhưng có
2 loại là nguyên-âm vô nghĩa và nguyên-âm có nghĩa.
- Chữ Ă, chữ Â và chữ I thuộc loại nguyên âm vô nghĩa.
- Chữ U lúc thì có nghĩa; nhưng khi đi với chữ Q để
thành bội vận QUờ thì lại vô nghĩa
BỘI
VẬN:
Tiếng Việt có tất cả 27 bội-vận được chia
làm 3 loại là: Ðơn (16), Kép (10) và Mền (1)
1.
Bội-vận
đơn có một phụ-âm:
B, C, D, Ð, G,
H, K, L, M, N, P, R, S, T, V và X.
2.
Bội-vận
kép có 2 phụ-âm:
CH, GH, GI, KH,
NG, NH, PH, QU, TH. TR.
3.
Bội-vận
mền có 3 phụ-âm: NGH.
CHÍNH
VẬN:
Chính-vận bao giờ cũng bắt đầu bằng
nguyên-âm. Không có nguyên-âm không thể thành chính-vận được. Chính-vận cũng được
chia làm 3 loại: Ðơn, Kép và Mền.
1.
Chính-vận
đơn có 1 nguyên âm như: an, ung, in.....
2.
Chính-vận
kép có 2 nguyên âm như:
oanh, ai, ui, ươn;
oong (boong tầu, đi-đoong).....
3.
Chính-vận
mền có 3 nguyên âm như:
ươi, yêu, uỷu (khúc-khuỷu quanh
co), ......
TỔNG SỐ
ÂM VỊ :
Tiếng Việt có tất cả 27 bội-vận (đơn, kép và
mền), và tối đa là 900 chính-vận (đơn, kép và mền). Ðếm kỹ thì thấy tiếng Việt
có tất cả 150 chính-vận không dấu, nhân với 6 (5 cái dấu và 1 cái không dấu)
thành ra 900 chính-vận, trong đó có chính-vận cụt và chính-vận câm.
CHÍNH VẬN CỤT :
Chính vận CỤT là chính-vận chỉ có 2 vần thay
vì 6 vần (chữ không dấu đọc giống chữ có dấu sắc) như AC, AT, ACH chỉ có ÁC
và ẠC; ÁT và ẠT; ÁCH và ẠCH. Chữ không dấu là chữ vô nghĩa.
CHÍNH VẬN CÂM :
Chính vận câm
là 6 âm tuy viết được nhưng không thể phát âm
được như
ĂCH, ÂCH, , ATH, ĂTH, ÂTH.
ö
Vị chi tiếng Việt có tối-đa 25.200 âm-vị (27 bội-vận+1
cái không bội-vận là: 28x900= 25.200 âm-vị). Tuy chỉ có 25.200 âm-vị nhưng tiếng
Việt thuộc loại phong-phú trong khi các dân tộc khác phải có ít nhất là trên
30.000 tiếng thì mới được gọi là đầy đủ để diễn tả tư-tưởng. Trang
Sở-dĩ phong phú là vì tiếng Việt có rất nhiều tiếng gồm
2, 3 hay 4 âm-vị mới có một nghĩa như long-tong, bì-bõm, lạch-tạch-đùng hay lạch-tà
lạch-tạch, bì-bà bì-bõm; mà những người lập dị gọi là tiếng đa âm.
Do đó không thể bỏ gạch nối được. Nếu bỏ gạch nối là âm-vị
sau bổ nghiã cho âm-vị trước, còn có gạch nối là bấy nhiêu âm-vị mới có một
nghĩa.
Tỷ-dụ:
·
Xe-đạp là danh từ riêng để chỉ chiếc xe 2 bánh thuộc loại xe phải
đạp thì nó mới chạy (bicyclette). Còn xe đạp không có gạch nối là chỉ một
loại xe phải dùng chân đạp thì nó mới đi như xe 3 bánh (tricycle), pédalo,
cyclo…; để phân biệt với xe kéo, xe đẩy, xe máy, xe hơi, xe bò, xe ngựa....
·
Chợ-búa là đi chợ mua đồ, còn chợ búa là cái chợ chuyên
bán búa.
Ø Rõ ràngviết theo quy-luật gạch nối thì mới ghi được hồn
tiếng Việt. Bỏ gạch nối là điều khô ng nên làm. Còn cứ theo thói quen là làm rối
rắm tiếng Việt đi.
THỨ TỰ và CÁCH VIẾT
(dùng cho tự-vị để tra-cứu)
·
Tự-vị là vị trí của chữ đó trong toàn bộ tiếng nói.
·
Còn Tự-điển là nguồn gốc và ý nghĩa của chữ đó biến đổi theo thời gian.
THỨ TỰ CÁC ÂM VỊ:
Cứ hợp lý mà nói thì trong tự-vị phải xếp theo thứ
tự bội-vận.
Chữ nào không có bội-vận thì xếp trước, chữ có bội-vận
thì xếp sau. Bội-vận đơn xếp trước bội-vận kép rồi mới tới bội-vận mền. Chính-vận
đơn xếp trước chính-vận kép sau mới đến chính-vận mền.
VIẾT HOA:
Ở đây viết theo thói quen, mặc
dù biết là sai
Khi viết Hoa thì phải viết hoa cả bội vận chứ không được
viết hoa mỗi chữ cái đầu chữ, viết như vậy là Tây viết chữ Việt, vì họ không biết
là trong tiếng Việt có quy-luật bội-vận.
VIẾT TẮT :
Vì muốn tránh lập lại nên chính-vận nào bắt đầu bằng O
hay U mà ghép với bội-vận QU đều được đặc-cách bỏ chữ O hay chữ U đi.
Tỷ dụ chữ QUăn thuộc chính-vận OĂN chứ không phải
chính-vận ĂN; hay chữ QUy thuộc chính-vận UY chứ không phải chính-vận Y.
CHÁNH TẢ:
Chánh-tả là viết đúng cách theo quy-luật tiếng nói của
người Việt để chuyển hồn Việt trong câu văn từ đời này qua đời khác. Vì vậy
không những phải phân biệt ý nghĩa của chính-vận có chữ i và y mà còn phải phân
biệt được sự khác biệt giữ các bội-vận: Dờ và GIờ; CHờ
và TRờ, Sờ và Xờ.
Một
vài tỷ dụ:
1.
Sự khác biệt giữa
i và y:
Hai chữ này
không thể nào viết chữ nọ thay cho chữ kia được.
a.
Thứ
nhất là cách phát âm khác nhau, một đằng là i; một đằng là i-gờ-rếch
b.
Thứ
nhì:Hình dáng khác nhau, một đằng là nguyên-âm có nghĩa (Y) và một đằng
là nguyên-âm vô nghĩa (I).
Vì thế nên quy-luật như sau:
·
Nếu
chỉ có một mình nó bao trùm chính-vận thì phải viết Y; còn viết i là âm vô
nghĩa, ngoại trừ trường hợp chuyển ngữ. Như chữ Ty, By, Sy, nhưng công-ti xây cất
thì viết i là vì đây là chuyển ngữ từ tiếng Pháp qua (compagnie). Chữ compagnie
họ dùng i thì bắt buộc ta phải dùng i...... Còn Y phục, Y tế thì phải viết Y,
vì nó là chính-vận.
·
Nếu
đi với chữ khác mới thành chính-vận được, thì chỉ có 2 trường hợp như sau:
-
Phát
âm giống nhau thì để i, như in, tin, tiên, như vậy thì yên ngựa phải viết là
iên mới đúng.
-
Còn
phát âm khác nhau thì không có lý do gì để thay chữ nọ bằng chữ kia được.
Tỷ-dụ vần ui
và vần uy; vần ai và vần ay.....không thể thay vần nọ bằng
vần kia được.
Ø
Chữ
Quý thuộc vần ÚY; nếu viết Quí thì phải phát âm là Cúi mới đúng.
2.
Sự khác biệt giữa CH và TR
; D và GI ; S và X:
Người ta chia nghĩa của tiếng nói ra
làm 2 loại:
a/- Cụ-thể
và trừu-tượng:
·
Cụ-thể
là vật gì có thể nắm bắt được.
·
Trừu-trượng
thì không.
b/- Ðộng
và tĩnh:
·
Ðộng
là có sự di chuyển.
·
Tĩnh
là trạng thái bất động.
Bình thường thì:
-
Danh-từ
thuộc loại cụ-thể hay trừu-tượng.
-
Tĩnh-từ
dùng để bổ nghĩa cho danh-từ nên phần lớn thuộc thể tĩnh; nhưng cũng lắm khi ở
thể động.
-
Ðộng-từ
dùng để chỉ hành động bằng chân tay thì thuộc thể động còn bằng trí óc (phê
phán) thì thuộc về thể tĩnh.
Tỷ-dụ sử-dụng là cầm một vật để dùng vào
việc nào đó, còn xử án là dùng lý trí để phê phán việc làm của bị can thì thuộc
thể tĩnh.
-
Trạng-từ
dùng để chỉ một trạng thái động hay tĩnh.
Áp dụng:
-
Chữ
mang nghĩa cụ-thể hay ở thể động thì viết CH, D, S.
-
Chữ
có nghĩa trừu-tượng hay ở thể tĩnh thì viết TR, GI, X.
-
Chữ
nào do-dự thì cho vào Cụ-thể.
Tỷ dụ:
-
CHuyền và
TRuyền
có cùng một nghĩa là đem một cái gì từ chỗ này đến chỗ khác.
Nếu đem một vật
cụ thể từ chỗ này đến chỗ khác thì viết CH như chuyền banh cho nhau, bóng chuyền,
chim bay chuyền, kể chuyện cho nhau nghe....
Nếu đem quảng-bá
tư-tưởng từ chỗ này đến chỗ kia thì viết TR, vì thuộc thể tĩnh.
Bà kể CHuyện
Kiều (động) cho cháu nghe; nhưng cuốn sách nói về thân phận nàng Kiều thì gọi
là TRuyện Kiều (tĩnh).
Nội
dung giống nhau nhưng cách truyền đạt khác nhau nên lúc thì viết CH khi thì viết
TR.
-
Dải và GIải (Bội vận D và GI) :
Dải yếm là sợi
dây buộc yếm thuộc cụ-thể, nắm bắt được;.....còn GIải thưởng là phần thưởng, nó
là danh-từ thuộc về trừu-tượng không nắm bắt được.
-
Sinh và Xinh (Bội vận S và X) :
Sinh đẻ ở thể động thì viết S, còn xinh-xắn, xấu-xí ở
thể tĩnh thì viết X. Con cá Sấu khác với con cá Xấu. Cá Sấu là con thuồng-luồng
ăn thịt người; còn con cá Xấu là con cá hình dạng méo mó.
²
KHÁC BIỆT GIỮA TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG
TÀU:
-
Biến-âm:
Tiếng Việt có 6
âm chia làm 3 âm-giai (hay âm điệu). Tiếng Tàu chỉ có 4 âm chia làm 2 âm-giai
nên không thể nói tiếng Việt từ Tàu mà ra được. Chữ giai có nghĩa là nấc, là bậc.
-
Âm-vị:
Tiếng Việt thuộc
loại đơn âm, tiếng Tàu thuộc loại đơn âm; nhưng tiếng Tây Phương thuộc loại đa
âm. Đơn âm là monosyllabe, còn độc âm là unisylabe.
-
Ghép chữ:
Người Tàu có ghép
chữ nên là loại chữ tượng hình hay hội ý. Tỷ dụ chữ Nữ bên cạnh chữ Tử là chữ
hoan: Người đàn bà có con thì vui, hay chữ Nữ dưới mái nhà là chữ An.
Người Tây Phương có thanh đầu và thanh cuối
như chữ SPORT họ phát âm thành Sì + Port, hay IT'S (ít + sì) Sì là thanh vô
nghĩa. Còn tiếng Việt là tiếng đơn âm nên không có thanh đầu hay thanh cuối; mà
chỉ có Bội-vận và Chính-vận mà tiếng đa âm không có.
Người Tây Phương
dùng tiếng đa âm nên có nối vần, ghép vần hoặc nuốt vần. Tỷ dụ: anti+chambre hoặc
I'm. Còn tiếng Việt thì không có kiểu đó; nhưng lại có kiểu ghép âm độc đáo mà
tiếng Tây hay tiếng Tàu đều không có.
Tỷ dụ: Chữ Cỏ là ghép bội-vận của
chữ Cây và chính-vận của chữ nhỎ. Cỏ là một loại
cây nhỏ. Chữ cổ là cô ấy, Bả là bà ấy, Ổng là ông ấy, Ảnh là anh ấy...Chữ ấy biến
thành dấu hỏi.
(coi tiếp bài
T06 : Huyền bí của tiếng Việt)


0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil