lundi 19 août 2024

T05 –QUY LUẬT CHỮ QUỐC NGỮ

T05 –QUY LUẬT CHỮ QUỐC NGỮ- thứ sáu 06.11.2020

Livestream trên Facebook Nỗi Niềm Quê Hương

soạn giả: Hoàng Đức Phương

QUY LUẬT CỦA CHỮ QUỐC NGỮ

quy luật tiếng Việt mà chữ Quốc-ngữ phải viết theo

Vài điều cần biết để viết chữ QUốc-ngữ cho đúng chánh tả:

1.      Trong tiếng nói có Âm, Thanh và Hồn của dân tộc. Âm là chấn động có nghĩa và thanh là chấn động vô nghĩa.

Ø  Đó là QUY LUẬT của tiếng Việt

2.      Bảng mã chữ QUốc-ngữ lấy từ bảng mã Latin ; mà bảng mã chữ QUốc-ngữ lại là biến dạng (thay đổi hình dạng) của bảng mã Việt Thường dùng để ghi Âm Thanh và Hồn tiếng Việt.

3.      Bảng mã chữ QUốc-ngữ chỉ ghi được có phần Âm và Thanh thôi, nên thiếu hẳn phần hồn. Vì ông Alexandre De Rhodes (Đắc Lộc Sơn) là nguời ngọai quốc nên không cảm nhận được cái HỒN VIỆT trong tiếng VIỆT ;

4.      Nay chúng ta phải bổ xung PHẦN HỒN cho trọn vẹn. Phần Hồn đi từ Quy Luật ÂM-VẬN của tiếng Việt. Âm-vận là vần của một Âm-vị.

5.      Do đó chữ QUốc-ngữ không những phải viết theo quy luật của chữ Latin mà còn phải viết theo quy luật của TIẾNG VIỆT nữa.

6.     TỐI QUAN TRỌNG:

Ø  Dân Việt tốn vong hay tiêu vong là : Ở chỗ có thay đổi chữ viết hay không ?.

Đừng chạy theo Văn Minh Khoa Học một cách mù quáng, vì có thứ cần phải thay đổi theo văn minh thời đại…. Nhưng có thứ không thể thay đổi được, vì nó thuộc về bản sắc của dân Việt ; thay đổi là TỰ DIỆT CHỦNG. Như :

Tiếng nói, chữ viết, cách xưng hô, đạo Gia Tiên thờ cúng cha mẹ và tông đường để nhắc nhở chữ HIẾU với cha mẹ và tông đường (thuộc về Giáo Lý học làm người Việt)  vân…vân…..

Thật vậy, mỗi lần thay đổi chữ viết là một lần đoạn tuyệt với tiền nhân để biến mình thành kẻ MẤT GỐC, vì hậu thế không đọc được tư tưởng nguời xưa qua bút tự lưu truyền.

 

Đó là một hình thức Đốt Sách giết học trò để hủy diệt Văn Hóa và Lịch Sử của dân Bị Trị như :

Ø  Bọn giặc Tàu đã làm đối với dân Việt, và đang làm đối với dân Duy Ngô Nhĩ –Tân Cương) và Tây Tạng, Hong Kong..

Ø  Bọn giặc Nhật Bản đã làm với dân Cao Ly (Triều Tiên hay Đại Hàn)

Ø  Bọn giặc Nga đang làm với dân tộc UCRAINA.

 

Đây là những tấm gưong rất sáng cho những người đòi thay đổi chữ viết để chạy theo văn minh thời đại : Đòi gọt dũa đôi chân cho vừa với đôi giầy mà ta gọi là làm giường theo chiếu một cách ngược đời.

ö

 

QUY LUẬT CHỮ QUỐC NGỮ

Bảng mã chữ Quốc-Ngữ:

Chữ Quốc-Ngữ là loại ký hiệu dùng để ghi âm và thanh tiếng Việt, gồm 22 chữ cái (ký hiệu gốc), 7 chữ cái có dấu (bằng môi hay lưỡi) cộng với 5 cái dấu  (bằng tay để ra hiệu Trầm hay Bổng). Vị chi có tất cả 35 ký hiệu phải học nằm lòng

§  Âm là chấn động có nghĩa, còn Thanh là chấn động vô nghĩa.

Những ký hiệu đó là:

§  22 chữ cái lấy từ bảng-mã Latin là:

A, B, C, D, E, G, H, I, Y, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U, V, X.

§  7 chữ cái biến dạng bằng dấu hiệu môi và lưỡi là:

Ð, Ă, Â, Ê, Ô, Ơ, Ư.

§  5 dấu hiệu bằng tay dùng để biến âm của chính-vận là:

Huyền, Sắc, Hỏi, Ngã, Nặng.

ö

PH ÂN LO ẠI

Người ta chia 29 chữ cái làm 2 loại:

-         Phụ-âm là ký hiệu tự nó không phát ra âm được

-         Nguyên-âm là ký hiệu tự nó có thể phát ra âm được, nhưng chia làm 2 loại:

1.      Nguyên-âm có nghĩa là: A, E, Ê, Y, O, Ô, Ơ, U và Ư

2.      Nguyên-âm vô nghĩa là: Ă, Â, I, U (chữ U lúc thì có nghĩa, lúc thì vô nghĩa)

Cách phát âm:

-         Phụ-âm thì phát âm theo chữ khi đứng một mình, khi ghép với chữ khác thì thành Bội-vận nên phải phát âm theo vần.  Tỷ dụ: B là chữ cái thì phát âm là Bê, còn BAN thì phát âm là Bờ+AN, vì BAN là một chữ để ghi một tiếng nói nên lúc này B mang chức năng là Bội-vận (vần thêm vào vần chính để thành một âm-vị khác.

 

BA QUY  LUẬT CĂN BẢN CỦA  TIẾNG  VIỆT

Muốn ghi âm tiếng Việt bằng bất-cứ ký hiệu nào thì bao giờ cũng phải tôn trọng cấu-trúc của câu văn Việt thì mới là người Việt nói tiếng Việt; còn không là tiếng Việt lai-căng không rõ và khó hiểu.

A.- QUY LUẬT CHUYỂN NGỮ

Dân tộc nào cũng vậy, khi giao-tiếp với nước ngoài thì bao-giờ cũng phải chuyển tiếng nước người sang tiếng nước mình, đó là hiện-tượng giao-lưu văn-hóa.

Chuyển ngữ chỉ có 4 cách chính phải tôn trọng là:

1.   Việt-hóa: Biến hoàn-toàn sang tiếng nuớc mình như: Stylo à bille gọi luôn là bút chì nguyên-tử (danh từ lịch-sử phát minh vào tháng septembre 1945).

2.   Chuyển âm: Biến âm tiếng nước người sang âm tiếng nước mình như Savon gọi là sà-phòng (có gạch nối và dùng chữ S chứ không phải X, vì Savon viết S).

3.   Chuyển nghĩa: Máy Photocopieur thì gọi là máy sao-chụp; tức sao y bản chánh bằng cách chụp hình (gạch nối bắt buộc vì là chữ viết tắt của một câu).

4.   Nguyên con: Thủ đô nước Nga thì viết MOSKVA và đọc theo âm của người Nga.

 

B.- QUY LUẬT GẠCH NỐI

Trường-hợp thông-thường:

Cấu-trúc câu văn tiếng Việt thì lúc nào cũng là tiếng sau bổ nghĩa cho tiếng trước.

Vì tiếng Việt thuộc loại đơn-âm nên lắm khi một âm không có nghĩa mà cả chùm chữ đó mới có một nghĩa thì bắt buộc phải dùng gạch nối để nói rằng tất cả bấy nhiêu chữ mới có một nghĩa; nhưng khi đọc thì phải tách rời chứ không được đọc kẹp díp như tiếng đa-âm.

Tỷ-dụ: Chữ lôi-thôi, bì-bõm, cà-tưng, lạch-tạch-đùng ...Hoặc thấy cụt khó nghe nên thêm vào một chữ vô nghĩa như chùa-chiền, chợ-búa,...thì cũng phải dùng gạch nối.        

 

Trường-hợp chuyển ngữ:

Trong cách chuyển âm nếu viết suôi mà tiếng sau bổ nghĩa cho tiếng trước thì không cần gạch nối. Còn viết suôi mà nghĩa ngược, tiếng trước bổ nghĩa cho tiếng sau thì phải có gạch nối để tôn trọng câu văn của người và đồng thời vẫn giữ được hồn của tiếng Việt.

Tỷ-dụ:

-         Người Việt nói: Con ngựa trắng, con ngựa đen. Ðen tuyền, trắng đốm đen hay trắng toát được dùng để bổ nghĩa cho con ngựa mang màu gì. Chữ tuyền bổ nghĩa cho màu đen và chữ toát bổ nghĩa cho màu trắng.

-         Người Tàu nói: Con trắng ngựa (bạch-mã), chữ trước bổ nghĩa cho chữ sau. Như vậy khi chuyển âm sang tiếng Việt thì phải có gạch nối để chỉ cả chùm này mới có một nghĩa như con Bạch-Mã, Tiền-Nhân, hay Sà-phòng đi từ chữ savon của Pháp hoặc Công-ti đi từ chữ Compagnie (họ dùng chữ i nên phải viết là ti chứ không phải ty).

 

C.- QUY-LUẬT  ÂM-VẬN

Ðịnh nghĩa

Âm-vị: Tiếng Việt không có âm-tiết mà chỉ có âm-vị thôi. Tiết là đốt, còn vị là chỗ đứng.

Âm-vận: Trong tiếng Việt mỗi âm-vị thường có 2 âm-vận. Ðây là mấu chốt của quy-luật âm-vận để viết cho đúng cách. Hai vần đó được gọi là Bội-vậnChính-vận.

 

§  Bội-vận là vần đi trước chính-vận để biến chính-vận thành âm-vị khác.

§  Chính-vận là vần đi sau. Không có chính-vận thì không có âm-vị. Ngược lại không có bội-vận thì chính-âm đã tạo được âm-vị rồi.

Bội-vận là sự tập hợp của các phụ-âm tính từ trái qua phải.

Chính-vận bắt đầu từ nguyên-âm đến hết chữ.

Chính-âm và biến-âm:

Chính-âm là âm chính (chữ không có dấu). Biến-âm là chữ có dấu bằng tay (huyền, sắc,hỏi, ngã, và nặng) để biến cách phát âm của Chính-vận; vì thế nên dấu phải để trên Chính-vận

Âm-giai :

Vì mỗi Chính-vận có 6 âm nên tiếng Việt được chia làm 3 âm-giai:

-         Bình (không dấu và dấu huyền).

-         Trầm (dấu ngã và nặng).

-         Bổng (dấu sắc và hỏi). T

Tiếng Tàu có 4 âm nên chia làm 2 âm giai Bằng và Trắc. Tiếng Tàu âm hỏi và sắc giống nhau

 

Chức năng

35 ký hiệu được phân loại như sau :

§  22 chữ cái chính lấy từ bảng-mã Latin là:

A, B, C, D, E, G, H, I, Y, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U, V, X.

§  7 chữ cái biến dạng bằng dấu hiệu môi và lưỡi là:

Ð, Ă, Â, Ê, Ô, Ơ, Ư.

§  5 dấu hiệu bằng tay dùng để biến-âm của chính-vận là:

Huyền, Sắc, Hỏi, Ngã, Nặng.

 

Vị-trí của dấu: Các dấu này chỉ dùng cho chính-vận mà thôi: Do đó các dấu phải nằm trên chính-vận chứ không được để trên bội-vận. Theo quy-ước thì dấu ở trên hay dưới nguyên-âm, vì nguyên-âm đại diện cho chính-vận. Nếu chính-vận có 2 nguyên-âm thì để ở đâu cũng được miễn đẹp mắt thì thôi. Còn 3 nguyên âm thì phải để ở nguyên-âm chính giữa.

 

Phân loại: Phụ-âm và Nguyên-âm:          

§  Phụ-âm là chữ cái tự nó không phát ra âm được; phải đi với chữ khác mới phát được ra âm. Do đó mỗi phụ-âm đều có 2 cách phát âm: Theo chữ cái hay theo bội-vận là tùy theo chức năng của nó.

§  Nguyên-âm là chữ cái tự nó đã phát ra âm rồi; nhưng có 2 loại là nguyên-âm vô nghĩa và nguyên-âm có nghĩa.

- Chữ Ă, chữ Â và chữ I thuộc loại nguyên âm vô nghĩa.

- Chữ U lúc thì có nghĩa; nhưng khi đi với chữ Q để thành bội vận QUờ thì lại vô nghĩa

BỘI VẬN:

Tiếng Việt có tất cả 27 bội-vận được chia làm 3 loại là: Ðơn (16), Kép (10) và Mền (1)

1.      Bội-vận đơn có một phụ-âm:

B, C, D, Ð, G, H, K, L, M, N, P, R, S, T, V và X.

2.      Bội-vận kép có 2 phụ-âm:

CH, GH, GI, KH, NG, NH, PH, QU, TH. TR.

3.      Bội-vận mền có 3 phụ-âm: NGH.

 

CHÍNH VẬN:

Chính-vận bao giờ cũng bắt đầu bằng nguyên-âm. Không có nguyên-âm không thể thành chính-vận được. Chính-vận cũng được chia làm 3 loại: Ðơn, Kép và Mền.

1.      Chính-vận đơn có 1 nguyên âm như: an, ung, in.....

2.      Chính-vận kép có 2 nguyên âm như:

oanh, ai, ui, ươn; oong (boong tầu, đi-đoong).....

3.      Chính-vận mền có 3 nguyên âm như:

ươi, yêu, uỷu (khúc-khuỷu quanh co), ......

 

TỔNG SỐ ÂM VỊ : 

Tiếng Việt có tất cả 27 bội-vận (đơn, kép và mền), và tối đa là 900 chính-vận (đơn, kép và mền). Ðếm kỹ thì thấy tiếng Việt có tất cả 150 chính-vận không dấu, nhân với 6 (5 cái dấu và 1 cái không dấu) thành ra 900 chính-vận, trong đó có chính-vận cụt và chính-vận câm.

CHÍNH VẬN CỤT :

Chính vận CỤT là chính-vận chỉ có 2 vần thay vì 6 vần (chữ không dấu đọc giống chữ có dấu sắc) như AC, AT, ACH chỉ có ÁC và ẠC; ÁT và ẠT; ÁCH và ẠCH. Chữ không dấu là chữ vô nghĩa.

CHÍNH VẬN CÂM :

Chính vận câm là 6 âm tuy viết được nhưng không thể phát âm được như

ĂCH, ÂCH, , ATH, ĂTH, ÂTH.

ö

 

Vị chi tiếng Việt có tối-đa 25.200 âm-vị (27 bội-vận+1 cái không bội-vận là: 28x900= 25.200 âm-vị). Tuy chỉ có 25.200 âm-vị nhưng tiếng Việt thuộc loại phong-phú trong khi các dân tộc khác phải có ít nhất là trên 30.000 tiếng thì mới được gọi là đầy đủ để diễn tả tư-tưởng. Trang 

Sở-dĩ phong phú là vì tiếng Việt có rất nhiều tiếng gồm 2, 3 hay 4 âm-vị mới có một nghĩa như long-tong, bì-bõm, lạch-tạch-đùng hay lạch-tà lạch-tạch, bì-bà bì-bõm; mà những người lập dị gọi là tiếng đa âm.

Do đó không thể bỏ gạch nối được. Nếu bỏ gạch nối là âm-vị sau bổ nghiã cho âm-vị trước, còn có gạch nối là bấy nhiêu âm-vị mới có một nghĩa.

 

Tỷ-dụ:

·        Xe-đạp là danh từ riêng để chỉ chiếc xe 2 bánh thuộc loại xe phải đạp thì nó mới chạy (bicyclette). Còn xe đạp không có gạch nối là chỉ một loại xe phải dùng chân đạp thì nó mới đi như xe 3 bánh (tricycle), pédalo, cyclo…; để phân biệt với xe kéo, xe đẩy, xe máy, xe hơi, xe bò, xe ngựa....

·        Chợ-búa là đi chợ mua đồ, còn chợ búa là cái chợ chuyên bán búa.

Ø Rõ ràngviết theo quy-luật gạch nối thì mới ghi được hồn tiếng Việt. Bỏ gạch nối là điều khô ng nên làm. Còn cứ theo thói quen là làm rối rắm tiếng Việt đi.

THỨ TỰ    CÁCH VIẾT

(dùng cho tự-vị để tra-cứu)

·        Tự-vị là vị trí của chữ đó trong toàn bộ tiếng nói.

·        Còn Tự-điển là nguồn gốc và ý nghĩa của chữ đó biến đổi theo thời gian.

THỨ TỰ CÁC ÂM VỊ:

Cứ hợp lý mà nói thì trong tự-vị phải xếp theo thứ tự bội-vận.

Chữ nào không có bội-vận thì xếp trước, chữ có bội-vận thì xếp sau. Bội-vận đơn xếp trước bội-vận kép rồi mới tới bội-vận mền. Chính-vận đơn xếp trước chính-vận kép sau mới đến chính-vận mền.

 

VIẾT HOA:

Ở đây viết theo thói quen, mặc dù biết là sai

Khi viết Hoa thì phải viết hoa cả bội vận chứ không được viết hoa mỗi chữ cái đầu chữ, viết như vậy là Tây viết chữ Việt, vì họ không biết là trong tiếng Việt có quy-luật bội-vận.

 

VIẾT TẮT :

Vì muốn tránh lập lại nên chính-vận nào bắt đầu bằng O hay U mà ghép với bội-vận QU đều được đặc-cách bỏ chữ O hay chữ U đi.

Tỷ dụ chữ QUăn thuộc chính-vận OĂN chứ không phải chính-vận ĂN; hay chữ QUy thuộc chính-vận UY chứ không phải chính-vận Y.

 

CHÁNH TẢ:

Chánh-tả là viết đúng cách theo quy-luật tiếng nói của người Việt để chuyển hồn Việt trong câu văn từ đời này qua đời khác. Vì vậy không những phải phân biệt ý nghĩa của chính-vận có chữ i và y mà còn phải phân biệt được sự khác biệt giữ các bội-vận: Dờ và GIờ; CHờ và TRờ, Sờ và Xờ.

 Một vài tỷ dụ:

1.      Sự khác biệt giữa i và y:

Hai chữ này không thể nào viết chữ nọ thay cho chữ kia được.

a.      Thứ nhất là cách phát âm khác nhau, một đằng là i; một đằng là i-gờ-rếch

b.      Thứ nhì:Hình dáng khác nhau, một đằng là nguyên-âm có nghĩa (Y) và một đằng là nguyên-âm vô nghĩa (I).

Vì thế nên quy-luật như sau:

·        Nếu chỉ có một mình nó bao trùm chính-vận thì phải viết Y; còn viết i là âm vô nghĩa, ngoại trừ trường hợp chuyển ngữ. Như chữ Ty, By, Sy, nhưng công-ti xây cất thì viết i là vì đây là chuyển ngữ từ tiếng Pháp qua (compagnie). Chữ compagnie họ dùng i thì bắt buộc ta phải dùng i...... Còn Y phục, Y tế thì phải viết Y, vì nó là chính-vận.

·        Nếu đi với chữ khác mới thành chính-vận được, thì chỉ có 2 trường hợp như sau:

-     Phát âm giống nhau thì để i, như in, tin, tiên, như vậy thì yên ngựa phải viết là iên mới đúng.

-     Còn phát âm khác nhau thì không có lý do gì để thay chữ nọ bằng chữ kia được.

Tỷ-dụ vần ui và vần uy; vần ai và vần ay.....không thể thay vần nọ bằng vần kia được.

Ø  Chữ Quý thuộc vần ÚY; nếu viết Quí thì phải phát âm là Cúi mới đúng.

2.     Sự khác biệt giữa CH TR ; DGI ; SX:

         Người ta chia nghĩa của tiếng nói ra làm 2 loại:

 a/- Cụ-thể và trừu-tượng:

·              Cụ-thể là vật gì có thể nắm bắt được.

·              Trừu-trượng thì không.

 b/- Ðộng và tĩnh:

·        Ðộng là có sự di chuyển.

·        Tĩnh là trạng thái bất động.

 

Bình thường thì:

-         Danh-từ thuộc loại cụ-thể hay trừu-tượng.

-         Tĩnh-từ dùng để bổ nghĩa cho danh-từ nên phần lớn thuộc thể tĩnh; nhưng cũng lắm khi ở thể động.

-         Ðộng-từ dùng để chỉ hành động bằng chân tay thì thuộc thể động còn bằng trí óc (phê phán) thì thuộc về thể tĩnh.

      Tỷ-dụ sử-dụng là cầm một vật để dùng vào việc nào đó, còn xử án là dùng lý trí để phê phán việc làm của bị can thì thuộc thể tĩnh.

-         Trạng-từ dùng để chỉ một trạng thái động hay tĩnh.

 

Áp dụng:

-         Chữ mang nghĩa cụ-thể hay ở thể động thì viết CH, D, S.

-         Chữ có nghĩa trừu-tượng hay ở thể tĩnh thì viết TR, GI, X.

-         Chữ nào do-dự thì cho vào Cụ-thể.

 

Tỷ dụ:

-         CHuyền  và TRuyền có cùng một nghĩa là đem một cái gì từ chỗ này đến chỗ khác.

Nếu đem một vật cụ thể từ chỗ này đến chỗ khác thì viết CH như chuyền banh cho nhau, bóng chuyền, chim bay chuyền, kể chuyện cho nhau nghe....

Nếu đem quảng-bá tư-tưởng từ chỗ này đến chỗ kia thì viết TR, vì thuộc thể tĩnh.

Bà kể CHuyện Kiều (động) cho cháu nghe; nhưng cuốn sách nói về thân phận nàng Kiều thì gọi là TRuyện Kiều (tĩnh).

Nội dung giống nhau nhưng cách truyền đạt khác nhau nên lúc thì viết CH khi thì viết TR.

 

-         Dải và GIải (Bội vận D và GI) :

Dải yếm là sợi dây buộc yếm thuộc cụ-thể, nắm bắt được;.....còn GIải thưởng là phần thưởng, nó là danh-từ thuộc về trừu-tượng không nắm bắt được.

 

-         Sinh và Xinh (Bội vận S và X) :

Sinh đẻ ở thể động thì viết S, còn xinh-xắn, xấu-xí ở thể tĩnh thì viết X. Con cá Sấu khác với con cá Xấu. Cá Sấu là con thuồng-luồng ăn thịt người; còn con cá Xấu là con cá hình dạng méo mó. 

²

KHÁC BIỆT GIỮA TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG TÀU:

-  Biến-âm:

Tiếng Việt có 6 âm chia làm 3 âm-giai (hay âm điệu). Tiếng Tàu chỉ có 4 âm chia làm 2 âm-giai nên không thể nói tiếng Việt từ Tàu mà ra được. Chữ giai có nghĩa là nấc, là bậc.

-  Âm-vị:

Tiếng Việt thuộc loại đơn âm, tiếng Tàu thuộc loại đơn âm; nhưng tiếng Tây Phương thuộc loại đa âm. Đơn âm là monosyllabe, còn độc âm là unisylabe.

-  Ghép chữ:

Người Tàu có ghép chữ nên là loại chữ tượng hình hay hội ý. Tỷ dụ chữ Nữ bên cạnh chữ Tử là chữ hoan: Người đàn bà có con thì vui, hay chữ Nữ dưới mái nhà là chữ An.

Người Tây Phương có thanh đầu và thanh cuối như chữ SPORT họ phát âm thành Sì + Port, hay IT'S (ít + sì) Sì là thanh vô nghĩa. Còn tiếng Việt là tiếng đơn âm nên không có thanh đầu hay thanh cuối; mà chỉ có Bội-vận và Chính-vận mà tiếng đa âm không có.

Người Tây Phương dùng tiếng đa âm nên có nối vần, ghép vần hoặc nuốt vần. Tỷ dụ: anti+chambre hoặc I'm. Còn tiếng Việt thì không có kiểu đó; nhưng lại có kiểu ghép âm độc đáo mà tiếng Tây hay tiếng Tàu đều không có.

 

Tỷ dụ: Chữ Cỏ là ghép bội-vận của chữ Cây và chính-vận của chữ nh. Cỏ là một loại cây nhỏ. Chữ cổ là cô ấy, Bả là bà ấy, Ổng là ông ấy, Ảnh là anh ấy...Chữ ấy biến thành dấu hỏi.

(coi tiếp bài T06 : Huyền bí của tiếng Việt)

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil