dimanche 18 août 2024

T07 – RỒNG TIÊN đoạn 1/2 : Bạch Hóa

T07  – RỒNG TIÊN đoạn 1/2 : Bạch Hóa  20.11.20.

            Học Thuyết Cứu Nước và Giữ Nước

Xem tiếp T08 - RỒNG TIÊN đoạn 2/2 : Tri Tân / 27.11.20

Xây dựng Cộng Đồng Văn Hóa

Facebook Nỗi Niềm Quê Hương - soạn giả: Hoàng Đức Phương

 

Chương trình giáo dục:

1.      Giáo dục Thiếu Nhi (lấy phần huyền hoại)

2.      Giáo dục Thiếu Niên (lấy phần giải nghĩ đen theo ngôn từ)

3.      Giáo dục TRÁNG NIÊN (lấy phần đấu tranh Cách Mạng và Chánh Trị + phê bình bản văn)

HUYỀN  THOẠI  RỒNG  TIÊN

CÔNG  SỨC  Đà ĐẦU 

Đây là cái vốn cần phải có để các thế hệ đương thời sáng tạo ra học thuyết cứu nước an dân. Vì vậy, soạn giả xin được nói hết mọi khó khăn tiềm ẩn để chúng ta biết rõ công sức đã đầu tư vào đề tài này.

·        Người nghiên cứu và soạn thảo đề tài này vốn theo Tây học, và cũng chính là thành phần chịu trách nhiệm về thảm họa ngày hôm nay y như mọi người VN khác, nên đã quyết tâm nghiên cứu từ 1975 đến 2012 để có được bài học giải mã trọn vẹn Huyền Thoại Rồng Tiên theo phương pháp của khoa học gia.

·        Người soạn bài thấy quá thiên về khoa học thực dụng nên đã kiểm chứng lại bằng những bài của các học giả về môn: Triết học, Khí hậu học, Địa dư học, Ngôn ngữ học, Nhân chủng học, Khảo cổ học, Sử học, Huyền thoại, Di sản người xưa ...

ĐỀ TÀI HÓC BÚA

Sở dĩ chọn tên đề tài mà các vị NHO TÂY – quá thiên vị Tây học – thường hay chê bai (lớn tiếng đả kích kịch liệt) là vì muốn để các Nhân Tài của đất nước hãy giảm bớt tính tự kiêu, tự mãn và vọng ngoại sau khi nhận thấy rằng phải học thêm nền Khoa Học Nhân Văn thì mới đủ khả năng hướng dẫn dân tộc bảo vệ sự tự chủ được. Thực tế đã chứng minh điều này qua 2 chủ điểm:

-  Khoa Học Nhân Văn dùng để Canh Tân Con Người.

-  Khoa Học Thực Dụng dùng để Canh Tân Đất Nước.

ÔN  CỐ

Phần giải mã huyền thoại gồm có: Năm sinh và tác giả; Nguồn gốc hào hùng của nòi giống; Học thuyết giữ nước; Học thuyết cứu nước.

TRI  TÂN

Sáng tạo ra học thuyết để thoát hiểm vấn nạn tiêu vong và diệt chủng có thể xẩy ra trong thời gian lâu dài về sau:

-        Chuyển thông điệp người xưa qua ngôn ngữ ngày nay.

-        Đề án xây dựng Cộng Đồng Hải Ngoại để hậu thế vừa giữ được bản sắc dân tộc lại vừa đóng góp hữu ích cho xã hội tiếp cư với tinh thần: Ăn cây vườn nào thì rào vườn đó.

-        Đề án xây dựng Cộng Đồng Trong Nước để xóa ngay hận thù sắc tộc và phe nhóm. Xây dựng xã hội hài hòa bằng cách hội nhập Văn Hóa mà tổ tiên chúng ta đã làm và đã thành công.

 

Học Thuyết Cứu Nước, Giữ Nước

của cha Lạc Long

LỜI  NÓI  MỞ  ĐẦU

Mục đích của bài này là: Ôn cố để biết đường tri tân

ÔN CỐ:

Lời căn dặn của cha Lạc Long trước khi chia tay các con:

"Chừng nào giặc thù đến cướp phá, chống đỡ không nổi thì gọi Bố ơi! Về cứu chúng con"

Ø  Nay còn văng vẳng bên tai của chúng ta. Vậy ẩn dụ là gì? Phải giải mã cho ra lẽ

 

TRI TÂN:

Tìm lối thoát cho dân Việt.

[

Chuyện Rồng Tiên là thông điệp nói về kỹ thuật cứu nước trước cảnh cá nằm chốc thớt do ông Phạm Lãi và Văn Chủng soạn dưới dạng Huyền Thoại (bia miệng) để truyền kinh nghiệm đấu tranh bảo vệ sự tự chủ của dân tộc cho hậu thế. Vì thế nên phải giải mã.

Ø  Kỹ thuật là ai làm cũng được, miễn là làm theo tuần tự; không có chuyện đốt giai đoạn.

Câu chuyện này được viết dưới dạng Huyền Thoại để ai ai cũng muốn nghe và cũng muốn kể lại cho con cháu; vì lúc đó chưa có ký tự (chữ viết) mà chỉ có ký hiệu (quy ước của hình vẽ như bảng chỉ đường cho xe chạy); mà ký hiệu thì chưa đủ khả năng để chuyên chở thông điệp.

 

Có rất nhiều chỉ dấu cho biết là câu chuyện này được soạn ra để tả kỹ thuật trận đánh của Lãnh Vương nước Việt (tiểu bang Lạc Việt ở vùng Quảng Đông ngày hôm nay) tên là Câu Tiễn, mà chuyện nói là Việt Vương Câu Tiễn nếm cứt vua nước Ngô tên là Phù Sai để được phục hồi quyền thế. Ngay sau khi được thả, ông lên kế hoạch để giết Ngô Phù Sai và sát nhập nước Ngô vào với nước Văn Lang.

Sau trận đánh kinh hồn này mới có danh xưng hồ Động Đình, vùng Bách Việt 100 giống Việt cùng cha cùng mẹ lại sinh nở cùng một thời điểm nên có danh từ Đồng Bào.

Từ danh từ Đồng Bào này mới đẻ ra cách giao tế khác với các dân tộc khác như:

 

1.      Trước khi ăn chung phải mời nhau cùng ăn để bày tỏ tinh thần đùm bọc có no cùng no, có đói cùng đói. Người lớn động đũa trước, con nít động đũa sau, vì vậy nên có câu "ăn trông nồi, ngồi trông hướng.

Nếu nhà người ta nghèo mà khoản đãi mình, thì mình phải tìm cách thoái thác để khỏi phụ lòng người mời. Còn nếu ăn thì phải trả phần chi phí dưới một hình thức nào đó.

Ngày nay vì không biết, bỏ vế sau đi; theo phong tục Tây phương "của ai nấy ăn" nên mình chê là mời đãi bôi, hay miệng mời nhưng bụng lạy trời đừng ăn; chỉ vì mình quên vế sau là ăn trông nồi, ngồi trông hướng. Vì thế nên lúng túng khi đang ăn có người đi qua thì phải làm gì đây? Mời họ ngồi ăn chung để chứng tỏ tinh thần đùm bọc hay chúc họ ăn ngon (tức chửi xéo là ích kỷ). Điều này phải dạy cho hậu thế biết để có cử chỉ trung dung như: Tôi xin vô phép cơm ông bà (được tiếp tục ăn) chẳng hạn, hay cách nào đó do thế hệ đương thời biến chế ra.

2.      Thay đổi cách xưng hô Ngộ Nị thành cô dì chú bác..... là do danh từ Đồng Bào mà ra. Nó có quy luật, nhưng vì ta không biết nên chê ngay tinh hoa của nền văn hóa Việt !!!

Đây là cách xưng hô theo vai vế trong gia đình; tuy người đó không có liên hệ họ hàng nhưng phải đồng hóa họ vào một vai nào đó trong gia đình của mình. Xin coi bài số A-07 giảng ngày 06/01/2018, tiêu đề: Cách Xưng Hô trong xã hội Việt (để biết nguồn gốc và quy luật).

Trên đây chỉ là 2 đặc điểm trong nhiều đặc thù khác của dân Việt như ngày Quốc Tổ mà nhân loại không ai có cả. Những đặc điểm này không phải là dân Việt hay hơn người khác, mà đó chỉ là sự suy tư (tư tưởng) do hoàn cảnh sinh sống của các sắc dân mà ra.

 

Câu chuyện huyền thoại Rồng Tiên được giảng dạy theo 3 lứa tuổi.

a)     Trẻ thơ dưới 12 tuổi thì dạy theo kiểu nói chuyện cổ tích lung linh, huyền ảo cho các em để chúng hãnh diện về dòng giống Tiên Rồng mà cố gắng học hành để thành người tốt.

b)     Tráng niên từ 13 tuổi đến 16 tuổi thì dạy các em thông điệp ký thác dưới dạng huyền thoại. Huyền thoại chỉ là phương tiên chuyên chở thông điệp bằng bia miệng. Còn thông điệp người xưa lưu truyền chính là triết lý của câu chuyện; vì thế nên phải giải mã mới thấy được.

c)     Thanh niên từ 17 tuổi trở lên thì dạy các em có óc sáng tạo về việc cứu nước và xây dựng đất nước qua việc làm của người thời xưa.

Chúng em học hỏi được gì trong thông điệp này, và các em đưa ra đề án gì để giải quyết một vấn đề nào đó của xã hội mà các em đang sống.

Đây là dịp để luyện cho các em có tinh thần Tự Trọng và Cầu Tiến, biết sống cho mình và cho xã hội với 2 câu lưu truyền là: Uống nước nhớ nguồn, ăn cây vườn nào thì rào vườn đó.

Từ 2 bổn phận này, các em tự tạo hướng đi làm sao để: Vừa bảo vệ được bản sắc của mình (identité), lại vừa đóng góp được phần mình cho xã hội tiếp cư để đừng trở thành kẻ mất gốc và ăn bám.

 

Ở đây chúng ta học phần thứ nhì, tức giải mã ẩn dụ cứu nước của cha Lạc Long:

"Chừng nào giặc thù đến cướp phá, chống đỡ không nổi thì gọi: Bố ơi!  về cứu chúng con"

Còn phần ứng dụng thì chỉ là gợi ý của soạn giả để phác họa lối thoát thôi, chứ chưa phải là một Học Thuyết Thoát Hiểm hoàn chỉnh để đem ra áp dụng; vì nó còn lệ thuộc vào nhiều yếu tố của cuộc sống hiện tại, và cần sự góp ý của nhiều người (người xướng cũng như người họa)

ö

HỌC THUYẾT CỨU NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC

của cha LẠC LONG

soạn giả: Hoàng Đức Phương

Sau đây là bản văn lưu truyền bằng bia miệng dưới dạng huyền thoại gồm 3 phần là:

1.      Nguồn gốc dân Việt.

2.      Học thuyết giữ nước.

3.      Học Thuyết cứu nước.

Là con dân đất Việt phải thuộc nằm lòng thì mới biết đường tự tạo ra lối thoát để cứu nước giúp đời

ö

1.- NGUỒN GỐC DÂN VIỆT

Vua Đế Minh đi tuần thú phương Nam, gặp Tiên Nữ ở phiá nam dãy núi Ngũ Lĩnh  lấy làm vợ và sanh ra Lộc Tục.

Phong cho Lộc Tục làm vua ở phương nam; còn Đế Nghi là anh cùng cha khác mẹ thì làm vua ở phương bắc (lấy núi Ngũ Lĩnh và sông Dương Tử làm ranh giới).

Lộc Tục chọn vương hiệu là Kinh Dương Vương, lấy Long Nữhồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm nối ngôi cha, lấy vương hiệu là Lạc Long.

 

Chú thích về ngôn từ:

Ông Sùng Lãm (tức Lạc Long Quân) là con của mẹ (ruột) Rồng và cháu đích tôn của bà Tiên; vì thế nên danh từ "con Rồng cháu Tiên" là nói ông Lạc Long hấp thụ được tất cả các tinh hoa của Rồng và của Tiên: Khỏe và công minh như Rồng, nhân ái và hiền từ như Tiên

ö

2.- HỌC THUYẾT GIỮ NƯỚC

Lạc Long lấy Âu Cơ thuộc dòng dõi tiên, đẻ ra một bọc 100 trứng, nở 100 con. Tạo ra 100 giống Việt (bách Việt); nhưng tất cả đều cùng chung một một lò Lạc Long tạo ra.

Ø  Đó là 100 giống Việt – đây là nguồn gốc của danh từ Bách Việt (người và địa danh).

Ø  Tất cả gọi nhau bằng Đồng Bào - từ đây mới đẻ ra nhiều đặc thù về giao tế.

Ø  Lấy quốc hiệu là Văn Lang – đây là tinh thần tự-trọng phải truyền lại cho con trẻ.

Ø  Chọn màu vàng của tơ tầm làm sắc thái của dân tộc – đây là tinh hoa phải gìn giữ.

 

Sau đó 50 con theo mẹ lên núi để bảo vệ bờ cõi phía bắc; còn 50 con theo cha ra biển để bảo vệ bờ cõi phía đông.

Cách nhìn câu chuyện: Ở đây phải hiểu là cả nước chỉ có 100 binh đoàn thôi.

Chia đôi ra trấn giữ biên ải trong thế đánh liên hoàn tiếp ứng. Một nửa là 50 binh đoàn do mẹ điều khiển trấn giữ biên cương phía bắc, và 50 binh đoàn do cha điều khiển (= bình quyền nam nữ); trấn giữ biên cương phía đông.

Như vậy thì thấy rõ ngay cách phòng vệ nước Văn Lang trong thời chiến là TỰ VỆ:

     Toàn dân vi binh, nam nữ bình quyền trong thế tự vệ liên hoàn tiếp ứng

Do đó phải nắm vững lịch sử nước Văn Lang ở thời điểm đó thì mới giải mã được

ö

3.- HỌC THUYẾT CỨU NƯỚC

Lúc chia tay thì cha Lạc Long có ân cần căn dặn là

"Chừng nào giặc thù đến cướp phá, chống đỡ không nổi thì gọi Bố ơi! về cứu chúng con"

 

Câu này hàm chứa ẩn dụ gì đây? Giải mã thì sẽ thấy tư tưởng người xưa gửi gắm cho con cháu kinh nghiệm về cách tự giải cứu khi lâm nguy cá nằm chốc thớt.

õ

BÀI  HỌC gồm 5 chương:

Hiệu chính phần B (16/10/2020)

Áp dụng để giải quyết vấn nạn đương thời

Chương A -  ÔN CỐ (giải mã) - gồm 3 phần:

Phần 1 : Giá trị con người (nguồn gốc và khí phách).

Phần 2 : Học Thuyết giữ nước (Việt giáo, Việt đạo, Việt triết).

Phần 3 : Học Thuyết cứu nước (Việt lực)

 

Chương B - TRI TÂN

Áp dụng thông điệp Rồng Tiên vào thực tế để giải quyết những bế tắc tư tưởng và hành động đương thời của thế hệ chúng ta)  gồm 3 phần:

Phần 1 : Kỹ Thuật Bảo Vệ Tự Chủ (dưới dạng sơ đồ; ngôn ngữ ngày nay)

Phần 2 : Xây dựng cộng đồng Văn Hóa Rồng Tiên ở Hải Ngoại (cách hình thành).

Phần 3 : Xây dựng cộng đồng Văn Hóa Phục Việt ở trong nước (cách hình thành).

 

Chương C - TRAU DỒI KIẾN THỨC- gồm 2 phần:

Phần 1 : Bối cảnh lịch sử ở thời đó.

Phần 2 : Cách giải mã huyền thoại (đọc được tư tưởng người xưa).

Chương D-  SLIDES  SHOW (dùng để giảng bài).

 

Chương E - CÁCH THẨM ĐỊNH TÀI LIỆU

&

Chương A- ÔN CỐ (giải mã)

Chương A-  GIẢI MÃ

Phần 1 : Giá trị con người (nguồn gốc và khí phách)

 

A/-  Nguồn gốc:

Niên đại và tác giả câu chuyện.

Trong câu chuyện ta thấy có tên địa danh là hồ Động Đình và núi Ngũ Lĩnh. Hai địa danh này hiện nay vẫn còn.

 

Theo lịch sử thì lãnh vực nước Văn Lang khi lập quốc chỉ lên đến phía nam con sông Tây Giang chảy ra Hương Cảng (Hong Kong) thôi. Từ phía bắc con sông Tây Giang lên đến con sông Dương Tử là nước Ngô.

Theo bản đồ Bắc Kinh vẽ năm 1997 thì người Ngô chiếm cứ cả phía bắc hạ lưu con sông Dương Tử Giang-Thượng Hải, vào thời Xuân Thu 771-481BC (Hình số 06 phần Slides show)

Sau trận phục thù của lãnh vương vùng Lạc Việt (Quảng Đông ngày nay #600BC) tên là Câu Tiễn đánh nước Ngô của Phù Sai, và đại thắng thì ông Câu Tiễn sát nhập  nước Ngô vào liên bang Việt, và chia nước Ngô thành 3 tiểu bang là Ngô-Việt (vùng Chiết Giang, người Việt gốc Ngô), Mân-Việt (người Việt ở sông Mân, nay là vùng Thiều Châu, kinh đô là tỉnh Phúc Kién) và vùng Bách-Việt tức Hồ Nam ngày hôm nay (kinh đô là Tràng Sa nơi thư hùng của nhiều trận chiến)

 

Lúc này mới có danh xưng Động Đình (nơi họp triều đình của Long Vương ở Thủy Cung; theo trí tưởng tượng thời đó) và vùng Bách Việt là nơi sinh ra bọc trứng nở 100 người con; tạo thành 100 giống Việt cùng chung một gốc Việt mang dòng máu Lạc Long và Âu Cơ.

Kết luận:

Vậy thì câu chuyện này đã được Phạm Lãi và Văn Chủng soạn thành Huyền Thoại sau đại thắng vào khoảng 600BC, để tả cách phục thù của Câu Tiễn: Từ sửa soạn cho đến thành công.

Lúc này là thời đại đồ sắt nên chưa có ký tự (chữ viết) mà mới chỉ có ký hiệu in trên đất nung nên phải để bằng bia miệng để ai ai cũng thích nghe và cũng thích kể lại cho con cháu.

 

B/- Thông điệp cứu nước:

Trước hết là tuyên xưng chánh nghĩa, sau đó nói về khí phách và uy vũ Rồng Tiên của nòi giống rồi mới nói kế sách phục thù.

Ø  Vậy thì đây chính là bài "Diệt Ngô Đại Cáo" bằng bia miệng; chứ không phải Bình Ngô

Trước khi giải mã bắt buộc phải phải hiểu ý nghĩa từng ngôn từ một, vì chữ nọ liên hệ với chữ kia để thành một bản văn có đầu có đuôi. Đã gọi là huyền thoại thì tác giả phải ký thác thông điệp trong các sinh vật tưởng tượng như Rồng, Tiên hay lụa tơ tầm ở thời hiếm quý để làm sắc thái dân tộc. Nên nhớ là thời đó quan niệm là trời tròn đất vuông; trời che đất chở nên:

- Ở Dương Trần thì có Triều Đình lo việc nước.

- Trên trời thì có Thiên Đình gồm có ông trời chỉ thò mỗi cái mặt ra để quan sát thôi (mặt trời), có ông Thiên Lôi (tức là Sét đó) chỉ đâu đánh đó và bà La Sát (tức là Sấm đó, la lớn trước khi giết).  Đó là nhân cách hóa các nhân vật tưởng tượng.

- Dưới sông thì có Hà Bá (danh từ này có từ thời nhà CHU #1122BC. 

  Công; Hầu; Bá; Tử; Khanh là 5 bậc để phong đất nên gọi là chế độ Phong Kiến - nhìn trên bản đồ rồi cấp đất cho tự quản trị lấy theo ý mình; miễn sao nộp thuế đầy đủ là được.

- Dưới Hồ hay Biển thì có Long Vương họp triều thần ở Động Đình. Đình là nơi họp triều thần, Động là nơi cư trú của siêu nhân, hang là nơi cư trú của con người và các loài thú.

- Dưới âm ty thì có Âm Phủ, cũng có triều thần như dương thế nhưng lại là Quỷ Thần.

 

C/- Tuyên xưng chánh nghĩa:

Trước hết, muốn hiểu rõ tư tưởng người xưa qua huyền thoại thì bắt buộc phải giải nghĩa ngôn từ trong bài ở thời điểm đó (#600BC); thì sau đó mới nhìn thấy vấn đề pháp lý trong tuyên xưng chánh nghĩa:

 

Giải nghĩa ngôn từ:

1.      ĐẾ  MINH: Minh là sáng. Đế là căn bản, là nền để vạn vật dựa vào đó cho vững. Vậy thì Đế Minh là cha đẻ ra mặt đất để vạn vật sinh sống. Mặt đất là tài sản của ông Đế Minh (hồi đó cho rằng trời tròn đất vuông, đất đứng yên, mặt trời quay quanh trái đất nên không thể dùng chữ trái đất hay quả đất được, mà phải dùng chữ mặt đất.

Ông có 2 người con là Đế Nghi và Lộc Tục nên chia gia tàn làm 2. Đế nghi ở phương bắc, Lộc Tục ở phương nam; lấy sông Dương Tử làm ranh giới phân chia đồng đều.

2.      Đế Nghi thì không nói nhiều vì ông này quản trị vùng đất phía bắc. Theo triết lý Á Đông thì chữ NGHI là ngôi chánh trong vũ trụ như lưỡng nghi là Âm và Dương (Đất và Trời).

 

Lý do con cháu Đế Nghi tuyệt tự:

Lúc này con cháu Đế Nghi đã bị tiêu diệt bởi dân Du Mục nhà CHU từ IRAN di qua (1046BC-771BC) mà chống gọi là “Thống Nhất” sơn hà sau khi giết sạch thổ dân !!!

 

·        Những niên dại cần ghi nhớ ở vùng phía bắc Dương Tử Giang:

Thất Quốc Tranh Hùng 771BC-221BC.

Tiếp theo là nhà TẦN thâu tóm thiên hạ trong 24 năm (221-207BC) mà kẻ thống trị gọi là thống nhất sơn hà ? Tần Thủy Hoàng ra lệnh “thống nhất” chữ viết và gọi là chữ Quan Thoại.

Sau đến nhà Tây Hán từ 207BC đến 111BC

Về chữ nghĩa:

Chữ nghĩa dùng để diễn tả tư tưởng nên cần phải hiểu đúng tư tưởng người xưa.

Nay chúng ta gọi CHỮ QUAN THOẠI là chữ Hán, chữ Tàu hay chữ Nho; vì gọi sai nên chúng ta suy diễn  sai lịch sử Hoa Lục, rút cục Văn Hóa Tàu từ Việt mà ra thì ta lại nói Văn Hóa Việt từ Tàu mà ra.

Ta không nô lệ nó 1 ngày nào cả mà dám nói là 1.000 nô lệ giặc Tàu.

 

Nhà Đông Hán (43BC-220AD) và nhà Đuờng (600AD-900AD) mới tạm chiếm vùng duyên hải thì la oáng lên là bị Tàu thống trị từ nhà Tây Hán (111BC) với câu 1.000 năm nô lệ Giặc Tàu ??? !!!.

 

Ttrong khi ta thống trị nó thì không nói tới, như: Nhà Bắc Tống (960D – 1127AD) là người Bách Việt gốc Ngô. Nhà Minh (1368-1644) là người Thiều Châu;  ăn cơm, người Bách Việt gốc Ngô. Người Tàu ăn mì, người Việt ăn cơm

 

Ø  Hiện nay, ông Tôn Dật Tiên (Tôn Trung Sơn) người Quảng Đông là dân Bách Việt gốc Văn Lang đang thống trị tư tưởng chúng nó thì không nói.

 

Nhà Nguyên là Rợ Hồ và nhà Thanh là Rợ KIM, không phải người Tàu mà chúng ta lại nói Tống, Nguyên, Minh, Thanh là người Tàu !!

 

Ø  TẦN, HÁN ĐƯỜNG, TỐNG, NGUYÊN, MINH, THANH và TRUNG HOA là tên nước mà ta lại gọi là tên dân tộc, hay tên Triều Đại !!!  

 

Vì không rõ lich sử vùng Hoa Luc, và dùng sai ngôn từ nên nay mới có tinh thần ự ti mặc cảm, vọng ngoại vong nô là một hình thức nô lệ Tư Tưởng đó.

·        Hãy mau mau thức tỉnh nha.

Ngoài ra Tần Thủy Hoàng còn “thống nhất” tiền tệ và cách đo lường… nhưng không thống nhất được lòng người; vì hắn tiêu diệt sức sống của dânbị trị b¢ng cách cấm dân bị trị không được học lich sử, văn hóa và chữ viết của mình.

Ø  Tóm lại đây là là chánh sách diệt chủng mà bọn Việt Nô Cộng Sản đã áp dụng cho dân vùng ch&ng kiểm soát từ ngày 02/9/1945 cho đến ngày nay d-“ tiêu diệt sức sống của nòi Việt

------------------------------------------------

3.      Lộc Tục là con bà Tiên ở dãy núi Ngũ Lĩnh nên hấp thụ 50% dòng máu Tiên (pha giống). Lộc có nghĩa là trồi non, là nhụy. Tục có nghĩa là trần gian. Như vậy ông này là tiên ông, cha đẻ ra nhân loại vì Đế Nghi tuyệt tự.

4.      Kinh Dương Vương: Chữ này đối kháng với chữ Đế Nghi.

Kinh là lớn nhất, kinh hoàng, kinh ngạc... Dương là đời sống trên mặt đất và Vương là vua. Tức là ông Vua lớn nhất trên mặt đất, cao hơn ông Đế Nghi ở phương bắc.

5.      Vợ ông Lộc Tục là Long Nữ (cô gái Rồng, con của Long Vương ở thủy cung Hồ Động Đình) sinh ra Sùng Lãm . Ông này mang trong người 50% dòng máu nhân ái của Tiên và 50% dòng máu uy vũ và công minh của Rồng

6.      Rõ ràng: Nhân Phẩm và Tư Cách do người mẹ truyền, còn tài năng chống chọi với đời thì do cha dạy (nằm trong tư tưởng truyền ngôi).

Do đó chúng ta mới có câu: Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà; chứ không ai nói nó hư là tại bố cả.

Ngược lại đứa bé ăn cắp, khôn vặt thì người ta lại nói là Bố nó không biết dạy; chứ không ai nói là mẹ nó không biết dạy cả.

Tóm lại là: Người mẹ cho huyết thống và người cha dạy tài năng để tự lực mưu sinh.

ü  Đó là quan niệm của người thời đó, còn đúng hay sai thì thuộc phần thứ 3.

7.      Sùng Lãm: Sùng là kính trọng, Lãm là nhìn.

ü  Nhìn vào là thấy phục liền. Phục vì tài và quý vì đức

8.      Vợ ông Sùng Lãm là Âu Cơ. Âu là tình người, còn Cơ là chính yếu (cơ bản).

Người Việt thời đó theo mẫu hệ nên khi đẻ con gái phần lớn đều mang chữ Cơ cả.

Còn người Tàu theo phụ hệ nên con gái mang chữ Thị- Chữ thị có nghĩa là phái nữ; như dân Việt nói: Thằng Cu con Hẽm (hay mẹ đĩ, bố cu)

9.      Sùng Lãm lên ngôi lấy niên hiệu là Lạc Long.

Ø  Lạc Long Quân có nghĩa là: Vua Rồng đem sự an lạc đến cho đàn con

 

 

KẾT  LUẬN  PHẦN  1 (chương Giải Mã)

Chủ quyền đất đai:

Phần đất phía nam con sông Dương Tử là phần gia tài của ông Lộc Tục. Ông là cha đẻ ra nhân loại nên uy quyền của ông vượt trội người anh cùng cha khác mẹ là Đế Nghi.

Mẹ ông Lộc Tục là Tiên, còn mẹ ông Đế Nghi là người trần tục.

 

Huyết thống:

Con nhà Tông, máu huyết do người mẹ truyền cho nên theo Mẫu Hệ.

Con Rồng Cháu Tiên là nói ông Lạc Long con của mẹ Rồng và cháu đích tôn của bà Tiên, do đó ông Lạc Long văn võ toàn tài và siêu đẳng không ai bì kịp; là vì ông hấp thụ được những tinh anh của Rồng và của Tiên. Do đó có câu châm ngôn:

Ø  Con hư tại mẹ (không biết dạy); cháu hư tại bà (nuông chiều).

 

Tài Năng :

Tài tranh đua với đời thì do người bố truyền dạy nên mới có sự kế thừa, truyền ngôi từ người cha.

Ø  Vì thế nên mới có châm ngôn: "Bố nó không biết dạy"

 

 

ö

 

 

Chương A- GIẢI MÃ

Phần 2 : Học thuyết giữ nước (Việt giáo, Việt đạo, Việt triết)

 

Phần này bắt đầu từ sự kết hôn của Lạc Long và Âu Cơ.

·        Sinh ra 1 bọc trứng nở 100 con cùng một lúc.

·        Gọi nhau là đồng bào.

·        Chia nhau đi trấn giữ biên ải.

·        50 con theo mẹ lên biên cương phía bắc (dãy núi Ngũ lĩnh ờ con sông Dương Tử),

·        50 con theo cha ra trấn giữ vùng biển Đông Hải.

·        Lấy màu vàng của lụa tơ tầm làm sắc thái dân tộc.

·        Gọi nhau bằng Đồng Bào (cùng 1 bọc trứng)

 

Ở đây ta phải hiểu 100 người con là 100 binh đội. Binh lực có bấy nhiêu, trong cách diễn tả thì toàn dân chỉ có 100 giống và 2 ông bà; tất cả mọi người đều tham gia đấu tranh để bảo vệ đất nuớc.

Ø  Tức toàn dân kháng chiến, toàn diện đấu tranh để đòi lại những gì đã mất.

 

GIẢI  THÍCH

VIỆT GIÁO: Việt giáo là giáo lý học làm người Việt tốt

ü  Giáo lý học làm người Việt tốt là:

    Tự Lực, Tự Cường, Tự Trọng và Cầu Tiến.

 

Ngoài ra, ý niệm này còn thấy trên lá cờ Dân Tộc hình vuông với nền vàng tuyền là màu vàng của lụa tơ tầm, sắc thái dân tộc (bà Trưng phất ngọn cờ vàng).

Hình vuông là lãnh thổ (trời tròn đất vuông) nền vàng là dân Việt làm chủ trên mảnh đất Việt

Hình ảnh toàn dân ra biên ải để ngăn chặn giặc thù nói lên tinh thần tự lực, tự cường, không ỷ lại, không cầu xin với tư thế: Toàn dân kháng chiến, toàn diện đấu tranh trong thế liên hoàn tiếp ứng (nếu ta nhìn họa hình với 100 binh đoàn được chỉ huy bởi Tiên và Rồng).

Tinh thần Tự Trọng là ý nghĩa của danh từ VĂN LANG, tinh thần CẦU TIẾN là ý nghĩa của danh từ Việt. Chữ Lang có nghĩa là con người Hào-hoa, phong-nhã, Phóng-khoáng, Hào-hiệp, Lịch sự Bặt thiệp.

Coi cuốn Phan Bội Châu tự phán thì: Khi 500 du sinh bị đuổi khỏi Nhật thì được 1 ông bác sỹ tặng một số tiền rất lớn để di tản (hình như trên 300 lạng vàng – 1 lạng=37,5 grammes) thì cụ gọi ông này là: Đại Hỷ Thái Lang.

Đến khi ổn định tổ chức thì ông này chết nên cụ cùng một người nữa đến làng xin phép được dựng bia cám ơn thì: Ông Lý Trưởng triệu tập dân làng để thông báo. Sau đó mọi người đề nghị xuất quỹ làng để khoản đãi 2 ông ăn và ở để khắc bia đá cho trọng thể trong thời gian là hơn 1 năm đục đẽo, sau đó làm lễ khánh thành và 2 cụ trở về Tàu.

·        Hiện nay tấm bia này còn tồn tại. Và cụ gọi ông này là Đại Nghĩa Thái Lang.

Chữ Việt có nghĩa là vượt, tức cố gắng vượt mọi trở ngại để thăng tiến bằng người . Đó là hình ảnh tự vệ của 100 binh đoàn không vượt biên giới để truy kich kẻ thù.

²

VIỆT ĐẠO:

Việt đạo là đạo lý sống của con người trong xã hội Việt được tóm tắt như sau theo thông điệp ký thác trong hình ảnh 100 trứng, 100 con, cùng cha cùng mẹ lại sinh nở cùng một thời điềm:

·        Kết hợp với nhau bằng Tâm, Cư xử với nhau bằng Đức, 

Bình Đẳng Tột Cùng, Thân Thương Tột Độ.

 

Chữ Tâm có nghĩa là trái tim; tức coi trọng tình nghĩa hơn tiền tài. Đó là biểu tượng của danh từ Đồng Bào, và cũng là đức tính nhân hậu của Tiên.

Chữ Đức có nghĩa là đem lại điều tốt cho người.  Đó là hình ảnh 100 con cùng một dòng máu nên vui cùng huởng mà họa cùng chịu .

Chữ Đức còn là hình 14 tia có cùng một tâm điểm của vòng tròn trên mặt trống đồng Đông Sơn; về sau tác giả chữ Đúc phết luôn là 14 cái cùng 1 tâm (THẬP trên TỨ dưới, NHẤT đè chữ TÂM là chữ ĐỨC)

Bình đẳng tột cùng là hình ảnh 100 người con, cùng cha cùng mẹ lại sinh nở cùng một lúc, không có trên dưới anh em chi cả.

 

Ngoài ra nó còn nằm ở nam nữ bình quyền và bình bổn phận trong việc chia đôi đồng đều: Ông lãnh một nửa (50%) ra trấn giữa vùng biển Đông Hải (biên giới phía đông phòng ngừa thủy quân giặc phương bắc đánh cạnh sườn bỏ ngỏ)

 

Bà lãnh một nửa (50%) lên trấn giữ phương bắc là dãy núi Ngũ Lĩnh và con sông Dương Tử Giang.

Ø  Đây là cương vực mà ông Đế Minh đã chia gia tài cho bố mình (Lộc Tục)

Thân thương tột độ là tình máu mủ anh em cùng cha, cùng mẹ.

²

VIỆT TRIẾT:

Việt Triết là triết lý sống của dân Việt, nay ta gọi là Văn Hóa Thuần Việt.

Vì có lòng nhân nên dân Việt theo triết lý hiếu hòa nhưng không nhu nhược, vì thế nên dân Ta chỉ tiến hành cuộc cuộc đấu tranh  tự vệ để đòi lại những gì đã mất.

Triết lý này nằm trong hình ảnh toàn dân đi ra biên ải để ngăn chặn giặc thù từ phương bắc tiến xuống mà ta có thể kết luận như sau:

"Cương quyết tiêu diệt kẻ thù, không nhân nhượng; nhưng không những không được truy kích hay trả thù trong khi đấu tranh mà ngược lại còn phải độ lượng và bao dong với kẻ thù sau khi chiến thắng"

 

Tức là anh dũng và quyết liệt trong khi chiến đấu, nhưng lại nhân từ sau khi chiến thắng.

Ø  Cách cư xử của nhà Tây Sơn đối với đối phương (Việt cũng như Tàu) là một điển hình

ö

Chương A- GIẢI MÃ

Phần 3 : Học thuyết cứu nước (Việt lực)

Phần này gói ghém trong câu căn dặn của cha Lạc Long trước khi chia tay các con là:

"Chừng nào giặc thù đến cướp phá, chống đỡ không nổi thì gọi: Bố ơi! về cứu chúng con"

õ

GIẢI  THÍCH

1.      Giặc thù đến cướp phá:

Phải hiểu chữ Giặc là tất cả những gì phá hoại hạnh phúc của dân tộc, trong đó có hạnh phúc của chính mình và gia đình mình. Vậy thì giặc mẹ là sự u-tối trong não trạng của đại đa số người dân xa lánh chánh trị nên bọn cướp, mà nay ta gọi là con buôn chánh trị mới đến cướp nước rồi cướp luôn mạng sống của chính ta. Do đó ta có thể kết luận rằng:

ü  Hồn nước mất trước, nước mất sau (điển hình là Việt Cướp quyền ngày 02/9/1945)

Chúng ta bảo giặc Cộng cướp nước, đúng; nhưng nếu toàn dân giữ nước thì 10 giặc Cộng cũng chẳng cướp nổi.

Lỗi chính là đại đa số người dân xa lánh chánh trị, thêm vào đó bọn nho Tây lại đi hùa theo Việt Cộng vì tinh thần vọng ngoại nên ca tụng chủ nghĩa Mác-Lê một cách ngây thơ.

2.      Chống đỡ không nổi:

Có nghĩa là toàn dân tham gia chánh trị và lo việc giữ nước mà không được thì hãy gọi Bố về giúp. Đây là tinh thần thần tự lập, đừng ỷ lại há miệng chờ sung. Ỷ lại hay vọng ngoại là có tinh thần nô dịch.

Câu này ngụ ý là: Phải tự tin vào sức mạnh tâm linh (mưu lược) của dân tộc và ý chí dấn thân để bảo vệ tự chủ

3.      Gọi Bố về cứu:

Câu này có nghĩa là chúng ta chưa dùng sức mạnh Tâm Linh (của tim và của óc) nên chưa đuổi được giặc thù từ trong tim của chính mình đuổi ra.

ü  Vậy thì Bố Lạc Long nói gì khi chúng ta gọi ổng về cứu?

Bố Lạc Long nói ít, nhưng làm nhiều nên ông chỉ dạy chúng ta cách xây dựng Việt Lực (sức mạnh của toàn dân) thì mới giải quyết được khó khăn nội tại do tinh thần chia rẽ, thờ ơ, vọng ngoại mà ra. Đây là hậu quả của nền giáo dục vong nô do kẻ thù nhồi sọ.

Sau đó mới giải quyết được những khó khăn ngoại lai bằng học thuyết thoát hiễm do chính thế hệ đương thời sáng tạo ra để tự cứu lấy mình.

&

Xin coi tiếp T08- phần tri tân: Xây dựng cộng đồng văn hóa Rồng Tiên

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil