lundi 19 août 2024

T06- Huyền bí của tiếng Việt

T06- Huyền bí của tiếng Việt (thứ Sáu 13.11.2020)

Livestream trên Facebook Nỗi Niềm Quê Hương

soạn giả: Hoàng Đức Phương

 

KHÁC BIỆT GIỮA TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG TÀU:

- Biến-âm:

Tiếng Việt có 6 âm chia làm 3 âm-giai (hay âm điệu). Tiếng Tàu chỉ có 4 âm chia làm 2 âm-giai nên không thể nói tiếng Việt từ Tàu mà ra được. Chữ giai có nghĩa là nấc, là bậc.

- Âm-vị:

Tiếng Việt thuộc loại đơn âm, tiếng Tàu thuộc loại đơn âm; nhưng tiếng Tây Phương thuộc loại đa âm. Đơn âm là monosyllabe, còn độc âm là unisylabe.

- Ghép chữ:

Người Tàu có ghép chữ nên là loại chữ tượng hình hay hội ý. Tỷ dụ chữ Nữ bên cạnh chữ Tử là chữ hoan: Người đàn bà có con thì vui, hay chữ Nữ dưới mái nhà là chữ An.

 

Người Tây Phương có thanh đầu và thanh cuối như chữ SPORT họ phát âm thành Sì + Port, hay IT'S (ít + sì) Sì là thanh vô nghĩa. Còn tiếng Việt là tiếng đơn âm nên không có thanh đầu hay thanh cuối; mà chỉ có Bội-vận và Chính-vận mà tiếng đa âm không có.

Người Tây Phương dùng tiếng đa âm nên có nối vần, ghép vần hoặc nuốt vần. Tỷ dụ: anti+chambre hoặc I'm. Còn tiếng Việt thì không có kiểu đó; nhưng lại có kiểu ghép âm độc đáo mà tiếng Tây hay tiếng Tàu đều không có.

Tỷ dụ:

Chữ Cỏ là ghép bội-vận của chữ Cây và chính-vận của chữ nh. Cỏ là một loại cây nhỏ. Chữ cổ là cô ấy, Bả là bà ấy, Ổng là ông ấy, Ảnh là anh ấy...Chữ ấy biến thành dấu hỏi.

ö

HUYỀN BÍ CỦA TIẾNG VIỆT

Chúng ta vẫn nói thuận mồm và nghe thuận tai những chính-vận sau đây mà không để ý. Ðó là sự kỳ-bí của tiếng Việt, nó nằm ngay trong đầu chúng ta.

Một vài tỷ-dụ điển hình :

-     Vần ẸP chỉ một vật đang to bé lại (tượng hình) như chữ xẹp; chúng ta không thấy chính-vận nào mang vần ẸP được dùng để chỉ một vật đang bé lại to ra cả.

-     Vần ÌNH chỉ một vật đang bé nở to ra như sình lầy, ngã cái ình, thình-lình, bập-bình, áo rộng thùng-thình......

·         Chúng ta không thấy chữ nào mang vần ÌNH đang to lại bé lại cả.

-     Vần OĂN chỉ một vật không thẳng, chúng ta cũng không thấy chính-vận OĂN nào được dùng để chỉ một vật thẳng băng, căng thẳng cả.

-     Vần À-ẠCH chỉ động tác chậm chạp, đố quý vị tìm thấy âm-vị có chính-vận à-ạch được dùng để chỉ động tác nhanh nhẹn.

 

NÓI  LÁI:

Nói lái tức chuyển âm. Chuyển âm là vần chữ này thay cho vần chữ kia (hoán-vị). Chúng ta chỉ có 3 cách chính về chuyển âm là:

(1)      Chuyển chính-vận (bội-vận để nguyên như cũ)

(2)      Chuyển chính-âm (dấu để nguyên như cũ)

(3)      Chuyển chính-âm của chính-vận (bội-vận và dấu để nguyên như cũ)

Ø  Ðặc-biệt là trong 3 cách nói lái êm tai đó chỉ có một cách là có ý nghĩa. Tỷ-dụ:

CHà đồ NHôm chuyển thành:

-     CHôm đồ NHà (bội-vận để nguyên: có nghĩa)...

-     NHồm đồ CHa (dấu để nguyên : vô nghĩa) ....  

-     CHồm đồ NHa (bội-vận và dấu để nguyên: vô nghĩa)

 

Ðầu Tiên chuyển thành:

-     Ðiên Tầu (bội-vận để nguyên: vô nghĩa)....

-     Tiền Ðâu (dấu để nguyên : có nghĩa).....

-     Ðiền Tâu (bội-vận và dấu để nguyên: vô nghĩa)

 

Lộng Kiếng chuyển thành:

-     Liếng Kộng (bội-vận để nguyên: vô nghĩa)....

-     Kiệng Lống (dấu để nguyên: vô nghĩa)...

-     Liệng Kống (bội-vận và dấu để nguyên: có nghĩa)

 

NÓI  LÁY:

Nói láy tức điệp âm, nhắc lại âm đã nói. Vì tiếng Việt thuộc loại đơn-âm nên đôi khi phát âm ra thì thấy thiêu-thiếu, chưa êm tai nên phải thêm một âm vô nghĩa cho êm tai. Mục này cho ta thấy sự quan-trọng của gạch nối được dùng để ghi lại hồn tiếng Việt.

Tỷ-dụ chợ-búa có nghĩa là cái chợ để trao đổi hàng hóa, khác với chợ búa là cái chợ chuyên bán búa. Chúng ta chỉ có 4 cách chính là: 

1. Ðiệp chính-âm:

Ðiệp chính-âm là nhắc lại âm-vị không dấu như quả bóng thì nói là quả bong-bóng, mầu hơi đỏ thì nói là màu đo-đỏ, hay thiếu thì nói là thiêu-thiếu,.....

2.Ðiệp âm-vị:

Ðiệp âm-vị là nhắc lại nguyên vẹn âm đã nói như: ầm-ầm, rầm-rầm, xanh-xanh, vàng-vàng, dần-dần, tà-tà, từ-từ, xè-xè......

3.Ðiệp chính-vận:

Ðiệp chính-vận là nhắc lại chính-vận của tiếng vừa nói như lắp-bắp, long-tong, lụp-xụp, le-te, lè-tè, lẹp-xẹp,.....

4.Ðiệp bội-vận:

Ðiệp bội vận là nhắc lại bội-vận của tiếng vừa nói như bàn-bạc, bồ-bịch, bún-biếc, phở-phiếc, lễ-liếc, phê-phiếc, suôn-sẻ, ngơ-ngác, nhấp-nhô, nghỉ-nghơi (vì chữ nghỉ thuộc bội vận NGH nên chữ NGHơi cũng phải NGH, chứ không phải NG như chữ ngơi).....

------------------------------

 

Phần THƯC TẬP

1)      Tiếng Việt thuộc loại đơn âm hay độc âm?

2)      Sự khác biệt giữa đa âm, đơn âm và độc âm ra sao.?

3)      Thế nào là ÂmVị, Chính Vận và Bội Vận?

4)      Chữ Quốc Ngữ có bao nhiêu ký hiệu? Có mấy loại Nguyên Âm?

5)      Nguyên tắc chuyển ngữ có mấy cách? Cho mỗi cách 3 tỷ-dụ.

6)      Chữ Quốc-Ngữ có tối đa bao nhiêu Chính-vận, bao nhiêu Bội-vận?

7)      Thế nào là Chính-vận cụt và chính-vận câm? Cho vài tỷ dụ

8)      Nói rõ sự khác biệt giữa Âm Vị và Âm Tiết?

9)      Chữ Quốc-Ngữ có tối đa là bao nhiêu Âm Vị.

10)        Làm sao để phân biệt được giữa bội vận Dờ với GIờ, Sờ với Xờ, CHờ với TRờ.

11)        Lúc nào thì viết i, lúc nào thì viết y?

12)        Nói về một vài sự huyền-bí của tiếng Việt mà tiếng khác không có.

13)        Tiếng nói bắt đầu có từ bao giờ?

14)        Chữ viết bắt đầu có từ lúc nào?

15)        Trong thực tế không có dân Hán nên chẳng có chữ Hán hay văn hóa Hán, vậy thì chữ Hán Việt từ đâu mà ra? Đúng lý ra thì phải gọi là gì.

16)        Chữ Nôm và chữ Quốc-Ngữ đều dùng để viết tiếng nói của dân Việt, hãy nói rõ sự khác biệt của 2 loại ký âm này.

17)        Truyện Kiều nguyên bản là chữ Nôm, nay chuyển qua cách viết bằng ký hiệu Quốc-Ngữ (Latin) thì người ta gọi là  Dịch thuật, Chuyển Âm hay là Chuyển Ký Tự (tức đổi cách viết)?

18)        Chữ Nôm thuộc loại tượng Hình, tượng Ý hay tượng Thanh là loại chữ có hồn. Còn chữ Quốc-Ngữ thuộc loại tượng Thanh là loại chữ không có hồn. Vậy đọc truyện Kiều qua 2 cách viết (ký tự) thì ta có cảm nhận khác nhau hay không? Tại sao?

[

Bảng mã chữ THANH HÓA (tượng thanh)

cha đẻ ra bảng mã chữ QUỐC NGỮ

Người ta đã kiếm được bảng-mã ký hiệu tượng thanh ở Thanh Hóa, vùng đất Việt Thường.

Theo bảng-mã này thì tiếng Việt chỉ có 35 ký hiệu gốc là đủ để ghi tất cả các âm và thanh (âm vô nghiã) của tiếng VIỆT. Chữ Quốc-ngữ cũng chĩ có 35 ký hiệu mà thôi: 22 CHỮ CÁI (chữ mẹ) không dấu + 7 chữ cái có dấu bằng môi và lưỡi + 5 cái dấu bằng tay dùng cho Chính-vận và 1 Chính-vận không dấu; vị chi 35 ký hiệu....  nên người ta tự hỏi : Phải chăng các vị Cố Đạo thay ký hiệu Việt Thường bằng ký hiệu Latin cho các Linh Mục học trước để biết nghe và hiểu tiếng Việt trước khi đi giảng đạo ở nước Việt ?

Lẽ dĩ nhiên là hiểu ở trình độ sơ đẳng hay trung đẳng chứ làm sao hiểu được cái hồn trong câu văn của các danh nhân như : Hịch Tướng Sỹ, Bình Ngô Đại Cáo hay Tâm Tư Ai Oán của thế hệ Nguyễn Du trong tiêu đề : Đoạn Trường Tân Thanh đã bộc lộ trong 4 câu mở đầu :

Trăm năm trong cõi người ta, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Trải qua một cuộc bể dâu (binh biến không dứt), những điều trông thấy mà đau đớn lòng… và 2 câu : Bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khấp Tố Như (thương sót cho thân phận của thế hệ Tố Như)

Vì thế nên khi học cách ghép âm người ta mới chia ra CHÍNH VẬN và BỘI VẬN; CHÍNH ÂM và BIẾN ÂM cho dễ học. Người ta còn gọi 7 chữ cái có dấu là BIẾN DẠNG để phân biệt Nguyên Âm Có Nghĩa với Nguyên Âm Vô Nghĩa thì khi viết mới đúng quy luật của tiếng (nói) Việt được.



 

0 commentaires:

Enregistrer un commentaire

Abonnement Publier les commentaires [Atom]

<< Accueil