T01-Yếu tô kết hợp toàn dân
T01-Yếu tô kết hợp toàn dân (06/9/2020)
Livestream trên Facebook Nỗi Niềm
Quê Hương
soạn giả: Hoàng Đức Phương
CHỦ ĐỀ : KẾT HỢP TOÀN DÂN
Tài
liệu căn bản để soạn bài theo thời đại:
1.
Tài
liệu phản ảnh đời sống trong xã hội (dã sử).
2.
Luật
lệ đương thời (chánh sử).
3.
Chương
trình giáo dục (chánh sử).
4.
Tiêu
chuẩn lựa chọn người của chế độ (chánh sử).
5.
Đời
sống chánh trị đương thời (chánh sử và dã sử).
6.
Mục
tiêu của cuộc sống (chánh quyền , dân chúng).
ö
Sơ đồ
ở trên là lộ trình giáo dục phải theo thì toàn dân mới có đủ khả năng bảo vệ sự
tự chủ của mình được.
Ø
Việt
Lực được suy ra từ lời căn dặn của cha LẠC LONG.
Ø
Sơ đồ này là chuyển ý từ thông điệp Rồng Tiên khai quốc: 100 trứng,
100 con.
Ø
Các
yếu tố cần phải có để kết hợp toàn dân thành bó đũa được suy ra từ sơ đồ này.
DÀN BÀI :
Bài này gồm 5 phần :
Phần 1 : MỞ ĐẦU / Thế kết hợp của tổ tiên từ ngày dựng nước/2.4879BC
Phần 2 : KHỞI ĐẦU SUY THOÁI / nền giáo dục dưới triều Lê
Thánh Tôn -1460
Phần 3 : SUY THOÁI BÉN RỄ TRONG NÃO TRẠNG- diệt MẠC phù LÊ .
Phần 4 : YẾU TỐ KẾT HỢP –xóa bỏ xung khắc sắc tộc, hận thù
phe nhóm.
Phần 5 : THỰC HÀNH
&
Phần 1 : MỞ ĐẦU
Tóm lược thế kết hợp
của tổ tiên từ ngày dựng nước (2879BC)
TRƯỚC
NGÀP LẬP NƯỚC VĂN LANG (2.879BC)
1) Con
người đầu tiên xuất hiện ở vùng KENYA (gần somalie) từ trên 4 triệu năm nay; vì
da mỏng và không có lông ấm nên chỉ sống được ở vùng nhiệt đới.
Lúc đó
con người là con thú thiếu khả năng kiếm mồi nhưng có bộ óc sáng kiến.
·
Nay do bộ óc phát triển nên con người là con vật đi 2 chân, không
có đuôi, có văn hóa, có tiếng nói, có tư tưởng và có óc sáng tạo mà loài thú không
có.
2) Từ
ngày kiếm ra lửa (thời đại đá ghè) phải mất cả hàng chục ngàn năm mới biết dùng
lửa để sưởi ấm nên chinh phục được vùng ôn đới và hàn đới vì nhu cầu kiếm ăn.
·
Lúc đó đi lẻ tẻ ; chưa có tiếng nói vì tư tưởng chưa có gì để
diễn tả và hơn nữa sống đơn lẻ nên chẳng biết nói để ai nghe. Lúc này sinh đẻ
ít vì thiếu thực phẩm, nhân số trên toàn thế giới chưa tới 1 triệu nhân mạng.
3) Vào
khoảng 23.000BC,
Vì
đói ăn nên sáng chế ra đồ gốm để luộc tôm, luộc cá ăn đỡ tanh. Về sau mới luộc
khoai, sắn và lúa để húp cháo, và nảy sinh ra nghề nông
·
Đồ gốm là đồ làm bằng đất nung như bát đĩa, nồi niêu, chum vại,
chĩnh …. mà ngày hôm nay chúng ta vẫn dùng ; nhưng phẩm chất và cách tạo
hình phát triển theo mỹ thuật và nhu cầu của từng thời, do đó dựa vào đồ gốm
thì chúng ta có thể dựng lại lịch sử tư tưởng và cách sống của loài người nó diễn
tiến ra sao.
·
Diễn biến nhanh thì ở vùng Đông Á và Trung Á (vùng Viễn Đông và
Trung Đông) vì có nhu cầu tranh sống.
·
Còn diễn biến chập thì ở các vùng không có nhu cầu tranh đua như
Đào Loan, Tích Lan …..
·
Tựu chung, quy luật diễn biến chỉ có một mà thôi.
4) Đến
khi đói, tôm cá không còn thì luộc khoai, luộc sắn, có gì luộc đó kể cả những hạt
như kê, như lúa để húp cháo. Sau đó nghiệm ra rằng Ngũ Cốc là lương khô cứu đói
nên đẻ ra nghề nông ở vùng Viễn Đông.
Lúc
này mực nước biển Thái Bình Dương thấp hơn ngày hôm nay là 130,5mètres. Đồng bằng
Bắc Việt và đồng bằng Nam Việt chưa có. Từ Phi Luật Tân đến Trung Đông (IRAN,
IRAK) đất phủ đầy băng tuyết nên gọi là thời kỳ băng hà. ..Nên nhớ là số lượng
nước trên mặt trái đất không đổi, như nó biến đổi trạng thái nên không có mặt ở
nơi này thì có mặt ở nời khác. Lúc đầu nó ở thể hơi vì trái đất quá nóng, sau
thành thể hơi và thể lỏng, cuối cùng ở thể hơi (mây, thể lỏng (nước) và thể đặc
(băng đá) nên mới có sinh vật khi bàu không khí có dưỡng khí do thực vật tiết
ra. Nước ngọt chỉ chiếm có 4% khối lượng nước, còn lại là nước mặn.
5) Từ
chỗ luộc lúc húp cháo nên khởi thủy của nghề nông vào khoảng 13.000BC. Lúc này
trên thế giới có rất nhiều trung tâm nông nghiệp, nhưng nay chỉ tích của nghề
nông ven biển Thái Bình Dương là tổ tiên cua dân nông nghiệp (Mã Lai, Nam
Dương, Phi Luật Tân, Chân Lạp, Chàm, Bách Việt, Sở ở vùng Tứ Xuyên, Tây Tạng)
chủ nhân ông vùng Đông Á. Lúc này dân du-mục (TÀU) còn ở vùng Trung Đông
6) mà họ
phong cho chức Thần như Thần Tài, Thần Thổ Địa, Thần Núi, Thần Sông, Ngọc Hoàng
Thượng Đế ….chưa di sang Đông Á
7) #13.000BC :
Nghề nông xuất hiện vào khoảng
13.000BC, tạo thành cuộc sống quần cư có của phải giữ nên tập trung vào nơi
chung cư có lũy tre để bảo đảm an ninh ở ngay sát ruộng, đồng (ruộng trồng lúa
nước gọi là lúa CHIÊM, đồng trồng lúa khô gọi là lúa MÚA hay ngũ cốc không càn
nước như khoai, sắn.
Vì sống định cư bên cạnh ruộng đồng nên khi chết thì đem chôn ra
ngoài ruộng nên mới có tục cúng tế.
Vậy phong tục Tế Lễ để
tưởng nhớ công đức người xưa , nay ta gọi là chữ HIẾU với cha mẹ và tông
đường và nó là nguồn cội của nền VĂN HÓA THUẦN VỆT dùng để kết hợp dân tộc thành
một bó đủa. Mất đi là mất HỒN DÂN VIỆT, và chúng ta có bổn phận phải PHỤC HỒI lại
tinh thần kết hợp.
Ø Kẻ nào
chủ trương anh em đánh nhau (nội chiến)
với bất cứ chiêu bài nào để tiềm lực dân tộc suy yếu, thì kẻ đó là TỘI ĐỒ DÂN TỘC. Có
công lao bao nhiêu cũng không bù đắp được cái tội làm suy yếu tiềm năng để ngoại
chủng lợi dụng xâm lăng nước ta ; như GIA LONG và VIỆT CỘNG chẳng hạn
Vậy thì Tế và Lễ là của dân
nông nghiệp chứ không phải của dân du-mục , vì du-mục chết ở đâu chôn ở đó
nên không có mồ mả để thờ.
TẾ là nghi thức trọng đại để
đón HƯƠNG LINH người quá cố, cò LỄ là nghi thức đơn sơ để tưởng niệm HƯƠNG LINH
người quá cố
Khi dân du-mục (Tàu) từ IRAN (Trung Đông = Trung Á) di sang vào nhà
CHU (1046BC) cướp đất của con cháu Đế Nghi
đã có cuộc sống quần cư và định cư ở phía bắc con sông Hoàng Hà từ
3.400BC, thì họ bắt chiếc phong tục tế lễ của dân nông nghiệp rồi phịa ra tế lể
những vật vô tri như Trời, Đất .
Nhà Hạ (1.700BC) ở Nội Mông và nhà Thương (1.500BC) ở Mãn Thanh, là
dân du-mục gốc nông nghiệp nên chung sống hòa bình với dân nông nghệp ở lưu vực
con sống Hoàng Hà là con cháu Đế Nghi.
Chính nhà THƯƠNG (1.300BC) và dân nông nghiệp đã sáng tạo ra KÝ HIỆU
(tiền thân của Ký Tự có vào 500BC) để hiểu nhau và đặt ra luật để bảo vệ an
ninh chơ cu dân. Vì thế xã hội mới
phát triển trong an bình.
Ø Nhà
CHU (1.046BC-771AD)
thù ghét dân nông nghiệp nên đã tiêu diệt nhà Thương bằng phong trào KHỬ TỊCH (xóa
hết di tích nhà thuơng, một hình thúc Cách Mạng Văn Hóa) nhưng lại chiếm đoạt văn
minh và văn hóa nhà THƯƠNG thành của mình. Nhận Tổ Tiên nguời vùng đất chiếm đoạt
làm tổ tiên của mình. Đó là đặc tính của dân Du MỤC mà ta gọi là người TÀU
· VIỆT LICH còn
gọi là :
Miêu Lịch
(Cung Chúc Tân Xuân, 11.000BC). Miêu = Mễ, ngũ cốc.
Quy Lịch
(CungChúc Tân Xuân + Tết Trung Thu khắc trên mu rùa đem tặng nhà CHU, có khoảng
2.300BC là lúc không sợ mất mùa, nghỉ xả hơi)
hay NÔNG LỊCH (gọi theo ngôn ngữ nhà nông)
Vì canh tác nên phải biết cách định mùa nên người ta nghĩ ra lịch
tính theo vị trí một ngôi sao chuẩn nào đó trên bàu trời vào giữa đêm. Tôi cho
nó cái tên là MIÊU LỊCH (lịch nhà nông, vì Miêu=Mễ=Ngũ Cốc).
#11.000BC :
Miêu lịch có vào khoảng 11.000BC, nhưng mãi tới 10.000BC thì dụng
cụ đo mới chính xác nên không bị thất thu.
#10.000BC :
Triết
gia ra đời : Vì không phải lo ăn nên mới sinh ra Triết Gia, tự hỏi là ai sinh
ra ta ? Ai sinh ra vạn vật ? vào khoảng 10.000BC. Do TRỰC GIÁC thì họ
bảo do : TẠO HÓA sinh ra ; có nghĩa là do sự biến đổi trạng thái sinh
ra. Tạo là sinh ra và Hóa là biến đổi. Thấy nói như vậy có vể quá dễ nên họ đẻ
ra Lý Dịch, tức lý lẽ của sự biến đổi vạn vật, Dịch là di chưển. Vì nguyên lý
này không chuẩn nên loay hoang chỉ tới : Nhất Nguyên sinh Lững Cực. Lưỡng
Cực sinh Tam Tài và Tam Tài sinh Bát Quái vì họ chĩ nghĩ có quẻ đơn thôi. Lý luận
này thuộc về khoa TRIẾT (triết=nguyên lý thay đổi vạn vật)
500BC :
Kinh
Dịch : Khổng Khâu vì không có lý cớ để giải thích thuyết THIÊN MỆNH nên
ông vớ ngay Lý Dịch, thêm vào Quẽ Kép (hai quẻ đơn chồng lên nhau). Quẻ đơn có
3 hào (Tam Tài) ; quẻ kép có 6 hào. Tựu chung có 64 quẻ kép và 384 hào
(64x6=384) mà ông bảo là trong vũ trụ chỉ có 384 trạng thái. Theo khoa học ngày
hôm nay thì căn bản lý luận của Lý Dịch sai nên Kinh Dịch cũng sai luôn. Lý là
lý lẽ của tôi nó có thể sai ; nhưng Kinh là lý lẽ thiên nhiên nên không
bao giờ sai cả như Kinh Phật, Kinh Chúa (kinh ở đây là tiếng Tàu còn Kinh tiếng
Việt là lớn nhu kinh kỳ, kinh đô, kinh hoàng…)
ĐẠI HỒNG THỦY kéo dài 4.100 năm (7.500BC
– 3.400BC)
SAU NGÀY LẬP QUỐC
8) 2.879BC Lập
Quốc :
Khi
bảo đảm được cuộc sống, sản xuất gia tăng thì nhân số tăng theo. Năm Trăm Năm
sau (2.879BC) thì nước Ngô lập quô1c đề đi xâm lăng (giưa sông Dương Tử và sông
Tây Giang) với học thuyết Thiên Tử (xâm lăng, theo chế độ Quân Chủ Chuyên Chế)
thì nước Sở và nước Việt cũng phải lập quốc để tự vệ với học thuyết Vô Vi (nước
Sở theo thể chế Quân Chủ Đại Nghị) và họcthuyết Rồng Tiên (nước Văn Lang của
Liên Bang Việt theo thể chế Dân Chủ Phân Quyền)
*Học thuyết kết hợp
dân tộc còn sót lại là : Tinh thần Tự Trọng (Văn Lang), tinh thần Cầu Tiến
(Việt) thuộc về lãnh vực Việt Giáo và thể
chế dân chủ phân quyền thuộc Việt Đ’ạo với câu bất hủy : Lệnh vua cón thua
lệ làng, chữ Lý Trưởng thay cho Làng Trưởng, chữ Xã Hội để nói căn bản của nước
là Làng Xã chứ không phài Triều Đình cùng với nghi thức tế lễ nói lên quan niệm
sống của dân Cổ Việt.
BẢN ĐỒ HỒI HƯƠNG
Theo ven sông ra biển để canh tác
nông nghiệp
- Con cháu Đế Nghi (nông
nghiệp) theo triền sông Hoàng Hà (bị nhà
Chu tiêu diệt - 1.046BC)
* Con cháu Lộc Tục (nông nghiệp), chia làm 3 nước đánh nhau Ngô, Sở
Việt, men theo triền sông : Dương Tử, Tây Giang, Hoàng Hà và sông Mã.
**Cuối Trường Sơn (VN) theo triền sông Cửu Long là dân Chàm và
Khmer (nông nghiệp)
*** Văn Lang là một liên bang gồm 15 nước (Bộ Lạc) ; trong
khi đó dân Chàm còn sống khảng tảng nên không vào Liên Bang.
9) #2.300BC :
Quy Lịch ra đời :
Khi đời sống Quốc Gia được ổn định thì nhà nông (chưa biết là nước
nào chủ xướng) trước khi thất nghiệp vì mùa đông tới nên đẻ ra Tiết (Tết) Trung
Thu, có nghĩa là giữa mùa thu thiên nhiên ăn mừng giải lao để cho con nít vui
tuổi ấu thơ. Vì là tết của con trẻ nên được tổ chức vào khoảng xế chiều (17 giờ
tới 21 giờ) đến chập tối để con nít đi ngủ nên phải tính lại miêu lịch sao cho
ngày đó có trăng mọc sau khi mặt trời lặn (khoảng 19 giờ tối) và lặn sau 21 giờ. Cách tính hơi khác với Miêu Lịch nhưng được
khắc trên mai rùa để tặng nhà Chu. Nghe nói là của sứ giả Việt Thường, nếu đúng
vậy thì vùng đất Việt Thường ở Thanh Hóa đến đèo Hải Vân.
*Học thuyết kết hợp dân tộc là tình nghĩa cộng đồng : Tiết
mừng xuân là của người lớn, tiết Trung Thu là của con nít .
Đây là quan niệm sống
trọn vẹn trong tinh thần cộng đồng của người thời đó :mà chúng ta cần phải
tìm hiểu sự gắn bó xã hội với nhau của người thời đó.
10)#600BC Sát nhập nước Ngô vào nước Văn
Lang :
Lãnh
vương vùng Lạc Việt (Quảng Đông) tên là Câu Tiễn đã bức tử vua Ngô là Phù Sai
và sau đó sát nhập dân Ngô vào với dân Việt dưới thể chế Dân Chủ Phân Quyền, hội
nhập Văn Hóa đã được nói rõ trong học thuyết Rồng Tiên
*Học
thuyết kết hợp 2 dân tộc thù nghịch nhau :
Đây là học thuyết căn bản của khoa Nhân Văn Việt Tộc để lại bằng
bia miệng ở thời chưa có chữ viết, và được phân chia rõ ràng.
-
Việt
Giáo (giáo lý học làm người Việt) là Tự Lực Tự Cường, Tự Trọng và Cầu
Tiến đi từ chữ Văn Lang và Việt
-
Việt
Đạo (cách tổ chức xã hội) : Kết hợp với nhau bằng TÂM, cư xử với
nhau bằng Đức, bình đẳng tột cùng, thân thương tột độ (gói ghém trong danh từ Đồng
Bào).
Từ ý niệm Đồng Bào mới
có danh từ Bách Việt (100 giống Việt chứ không phải 100 nước Việt). Cách xưng
hô trong vai vế gia đình (3 thế hệ) xuất phát từ đây để nói lên tinh thần đùm bọc,
văn minh và văn hóa ở thời đó. Câu ca dao Bàu (dân Ngô) ơi thương lấy Bí (dân
Việt) cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn cũng phát xuất từ đây.
-
Việt
Triết (cách đấu tranh của dân Việt) : 100 binh đội theo mẹ lên núi
để bảo vệ biên giới phía Bắc, 100 binh đội theo cha ra trấn giữ biển Đông để bảo
vệ đất nước. Đân là thế Toàn Dân Kháng Chiến, toàn Diện Đấu Tranh trong thế
liên hoàn tiếp ứng với câu : « Chừng nào Giặc Thù đế cướp phá, chống
đỡ không nổi thì gọi Bố ơi về cứu chúng con » Câu Bố ở đây nghĩa rộng là sức
mạnh tâm linh bị lãng quên (mưu trí, kết hợp bằng văn hóa thuần Việt mà cha Lạc
Lonh là một biểu tượng vô hình.
-
VIỆT
LỰC : Việt Giáo+Việt Đạo+Việt Triết
tạo ra Việt Lực mà thời nhà Lý, nhà Trần và ông Nguyễn Trãi đã triệt để
khai thác nên đã thành công và còn để lại di tích cho chúng ta suy nghĩ.
Viện Sùng Chính
Sùng Chính là Viện dạy môn học đáng kính, tức những nét đặc thù của
dân Việt (PHỤC VIỆT) do ông Nguyễn Thiếp làm Viện Trưởng thời Hoàng Đế Quang
Trung, cũng đi theomục tiêu này.
ẤP
CHIẾN LƯỢC :
Ấp Chiến Lược (sách
lược bảo vệ Tự Chủ, chứ không phải sách
lược chống Cộng) và Học Thuyết Cần
Lao Nhân Vị cũng nằm trong sách lược
này
11)
207BC - Triệu Đà :
Triệu Đà thống nhất đất Nam Việt (phía Nam sông Dương Tử là
lãnh thổ của dân Bách Việt (tuyên bố chủ quyền : Đất Nam của dân Việt – Lý
Thường Kiệt, Trần Trọng Kim – Avril 1945, trong lá cờ Quẻ Ly)
*Học thuyết kết hợp 2 dân tộc Ngô+Việt (Bách
Việt đã có từ 400 năm trước dưới thời
Câu Tiễn #600BC) bằng thể chế Quân Chủ Đại
Nghị : Hội nhập văn hóa, bình đẳng bình quyền, dân vùng nào thì quan lại
ngườì vùng đó. Vua chỉ hợp thức hóa mọi văn bản cần thiết để thi hành chung cho
liên bang
12)
Từ
111BC đến 43AD :
Liên Bang Bách Việt tan rã, nhưng đất Giao Châu Tự chủ theo
chế độ bàu phiếu LỚN, tức là : Đại diện các tiểu bang cử
người về đầu phiếu ở Mê Linh là nơi vua Hùng thứ 18 họp bàn việc nước, và
« TÔN » bà Trưng Chắc lên làm Thủ Lĩnh (tôn tức là bỏ phiếu, mỗi tiểu
bang có 1 phiếu được gọi là phiếu lớn):
Học
thuyết kết hợp lòng người :
Dân khí kiêu hùng, dân trí cao (ý chí quyết tâm bảo vệ tự chủ).
**Dân Khí tạo nên ý chí dấn thân cho đại cuộc (nghĩa lớn),
**Dân trí tạo sức mạnh phi thường trong thế kết hợp thành bó đũa….
Do đó nền Giáo Dục Nhân Văn Việt Tộc phải đặt lên hàng đầu. :
Việc học ta lấy làm Đầu, Công Thương mọi việc dần dần tính sau – (Đông kinh
nghĩa thục=trường dạy làm người)
Đông Kinh Nghĩa Thục ở phố hàng Gai, HÀ-NỘI của cụ Cử Can bị Thực
Dân Pháp dẹp khi còn trứng nước.
Đông Kinh là Hà Nội, Tây Kinh là Thánh Hóa, Nghĩa Thục là trường học
dạy làm người Việt tốt ; nay ta gọi là Nhân Văn Việt Tộc cho hợp với ngôn từ ngày nay.
13)Thời nhà LÝ :
Kết
hợp lòng người bằng Nhân Nghĩa, lấy giáo lý nhà Phật để bổ xung cho Việt Giáo.
14)
Thời
nhà Trần :
Bổ
xung Việt Giáo để kết hợp lòng người bằng Tam Giáo Đồng Nguyên (tức
tư tưởng Lão, Phật và Khổng lớn ngang nhau.
Nguyên
có nghĩa là lớn như Nguyên Thủ Quốc Gia, hành động điển hình là Hội Nghị Diên Hồng,
Binh Thư Yếu Lược - Quyết tâm diệt giặc : Sát Thát, Hịch Tướng Sỹ để nâng
cao sỹ khí (tức Hào Khí chánh đáng của dân tộc)
15)
Thời
Lê Lợi :
Ông
Nguyễn Trãi đã tận dụng khai thác sức mạnh Tâm Linh của con tim (Việt) và của bộ
óc Việt với kế sách CÔNG TÂM (ta đây mưu phạt công tâm, không đánh mà người phải
khuất với quan niệm «có dân mới có vua ».
Vua thối nát bất lực thì dân chọn triều đình khác để dạy vua lo hạnh phúc cho
dân như : Dân là nước, vua là thuyền, thuyền mục nát thì nước tràn vào nhận
chìm thưyền đi.
16)Thời Lê Thánh Tông (1460) :
Thay đổi nền giáo dục nhân bản để thay bằng nền giáo dục :
VUA ĐỘC TÔN với quan niệm « Đất Của
Chúa Lúa Của Trời », dân là kẻ ăn nhờ ở đậu, chẳng có quyền chi cả. Tư
duy suy thoái từ đây nên khẩu hièệu Diệt Mạc Phù Lê mới ăn khách và 2 con buôn
chánh trị làm hại đất nước là Trịnh Kiểm và Nguyễn Kim. Thế hệ chúng ta lãnh đủ
hậu quả của 2 tên lưu manh chánh trị này.
17)
Thời
Tây Sơn :
Sùng Chính Viện ra đời để Phục Hồi Văn Hóa Thuần Việt không những
là chất liệu kết hợp dân tộc và mà còn là động lực tạo ra khí phách hiên ngang
và bất khuất trước bạo lực của dân Việt
18)
Thời nô lệ Thực Dân Pháp :
Tuy
không thành công nhưng các nhà ái quốc thời đó đã để lại kim chỉ Nam cho chúng
ta là : CHẤN DÂN KHÍ (lấy
lại niềm tự hào chánh đánh của dân tộc), KHAI
DÂN TRÍ (ý chí quyết tâm bảo vệ Độc Lập), rồi mới HẬU
DÂN SINH .
Học thuyết kết hợp lòng người :
Cụ Phan Bội Châu đã
nhắc chúng ta là : Đừng lo độc lập không tới, mà chỉ lo dân trí chưa đủ
cao để giữ vững nền tự chủ là điều mà chúng ta phải suy nghĩ để tự cứu lấy mình
và cứu tương lai của con cháu
&
19)
THỜI
ĐỘC LẬP ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA (1956-1963)
Nhóm Triết Gia Ngô Đình Nhu đã nghiên cứu cách cứu nước của tổ
tiên trong suốt trên 15 năm để sáng tạo ra Học Thuyết Cần Lao Nhân Vi và Ấp Chiến
Lược, nhưng giữa đường gãy gánh là điều chúng ta phải rút kinh nghiệm là :
Chương trình Phục Việt không thể để trên vai một sáng lập viên hay tổ chức của
họ, mà phải phổ biến và khuyến khích toàn dân (phụ họa) nhập cuộc để chương
trình không bị bỏ dở khi các nhóm người để xướng chẳng may qua đời.
Sách Lược của thời này là :
Canh Tân con người và
đất nước với tiêu đề «Chống Giặc Chậm Tiến»
bằng cách
-Cá nhân và Cộng Đồng song song đồng tiến.
-Tham gia chánh trị là việc phải làm của toàn dân.
-Nắm vững học thuyết Nhân Văn Việt Tộc để tạo Việt Lực qua 3 môn học
là :
1/- Việt
Giáo ,
2/- Việt
Đạo,
3/- Việt Triết
Sáng tạo ra Việt Lực Hợp Thời để
bảo vệ sự tự chủ của NÒI VIỆT.
Canh tân con người có nghĩa
là thay đổi não trạng cho có cái nhìn ngang tầm thời đại. Tức là Canh tân Tư Tưởng,
thay đổi Tư Duy cho có cái nhìn ngang tầm thời đại.
õ
TÓM LẠI CHO DỄ NHỚ
A. Trong
thời vua HÙNG dựng nước là thời chưa có chữ viết (2.897BC-257BC) thì tổ tiên
chúng ta đã để lại bằng bia miệng học thuyết xây dựng Việt Giáo, Việt Đạo và Việt
Triết để kết hợp thành bó đũa có sức mạnh vô song là Việt Lực được tóm gọn
trong các nguyên lý sau đây :
1) VIỆT GIÁO :
Xây dựng tinh thần Tự Trọng và Cầu Tiến để biết Tự Lực, Tự Cường và Phục Thiện ;
tức biết lắng nghe và có tư duy độc lập.
2) VIỆT ĐẠO :
Xây dựng nguyên lý kết hợp thành bó đũa : Kết hợp với nhau bằng Tâm, cư xử
với nhau bằng Đức, Bình Đẳng Tột Cùng, Thân Thương Tột Độ (Đồng Bào, và hình 14
tia trên mặt trống Đồng Đông Sơn)
3) VIỆT TRIẾT:
Cương quyết bảo vệ Tự Chủ, không nhân nhượng với kẻ thù trong khi đấu tranh Tự
Vệ ; nhưng độ lượng và khoan dung với
kẻ thù sau khi chiến thắng (ký thác trong chuyện Rồng Tiên như đã phân tích ở
các bài trước)
4) Ngoài
ra còn dạy cách thoát vòng nô lệ với câu Thần Chú : « Chừng nào giặc thù đến cướp phá, chống đỡ không nổi thì gọi Bố
ơi về cứu chúng con ».
5) Bố ở
đây là nguyên lý căn bản để kết hợp lòng dân thành bó đũa, tức là sức mạnh Tâm
Linh chưa dùng tới. Sức mạnh này gọi là VIỆT LỰC nó nằm trong nền VĂN HÓA THUẦN
VIỆT ; và muốn phát huy thì phải có nền giáo dục Nhân Văn Việt Tộc với đội
ngũ Giảng Huấn Viên chuyên nghiệp.
Giảng Huấn Viên
chuyên nghiệp là người không những có Tâm Việt, có Hồn Việt mà còn phải có khả
năng chuyên môn về Việt Học mà ta gọi là TẦM (phải có Tâm và có Tầm mới làm Giảng
Huấn Viên Việt Tộc được). Đội ngũ này phải huấn luyện mới có.
Nay
chúng ta học hỏi được gì đây để tự sáng tạo ra sách lược đấu tranh đòi quyền Tự
Chủ ? Không những vậy còn phải huấn luyện Giảng Huấn Viên Việt Tộc nữa.
B. THỜI KỲ CÓ CHỮ VIẾT :
Đây là thời kỳ đồ thép non (#500BC) có cưa để cưa tre, có dao để
chẻ lạt rồi đan mành-mành viết lên đó. Đi đâu thì CUỐN lại rồi XÁCH
đi theo nên gọi là CUỐN SÁCH.
Trước đó là đồ Sắt và trước đồ Sắt là đồ Đồng.
Thời kỳ đồ đồng có cưa và có búa, có chùy nhưng chỉ cưa được đồ mềm
như bắp chuối.
Thời Thục Phán (257BC-207BC) cũng là thời chấm dứt lịch sử truyền
miệng (Huyền Thoại) để thay thé bằng SỬ XANH (ghi trên lạt cật, vỏ tre. Bên trong gọi là lạt ruột thì mềm trói chặt hơn lạt cật).
Huyền Thoại sau cùng là chuyện Trọng Thủy Mỵ Châu ra vào khoảng năm
208BC.
Người dựng chuyện là quần thần khờ khạo bị Gián Điệp của Triệu Đà
dụ và đánh tráo lẫy bằng Sắt Mềm thay cho lẫy bằng Thép Cứng nên khi dùng thì lẫy
cong chứ dây nỏ không bật lên được.
C. Thời Triệu Đà :
Kết hợp lòng dân bằng trau dồi Việt Học với chánh sách Quân Chủ Đại
Nghị.
Tức Quan người vùng nào thì quản trị dân vùng đó theo kiểu tự do đầu
phiếu, phép vua còn thua lệ làng.
Khi họp các Quan trong Triều (Bộ Trưởng ngày nay) thì cũng lấy quyết
định chung, nhà vua chỉ hợp thức để thi hành ; giống như Hội Nghị Diên Hồng.
D. THỜI NHÀ LÝ :
Vun trồng Việt Lực bằng triết lý Việt Đạo và triết lý nhà Phật.
E. THỜI NHÀ TRẦN :
Vun trồng Việt Lực bằng Tam Giáo Đồng Nguyên, với hội nghị Diên Hồng
« Dân làm chủ, vua thi hành quyết sách của toàn dân » với câu châm
ngôn để đời là : Phép vua còn thua
lệ làng.
F. THỜI VUA LÊ THÁNH TÔNG (1460-1497) :
Thay đổi học thuật nên tư duy thay đổi từ Dân làm chủ, vua thi hành quyết sách của
toàn dân sang tư duy Vua làm chủ,
dân thi hành lệnh của vua. Tức « Đất của Chúa, lúa của Trời : Dân làm
nô lệ ».
G. THỜI HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG :
Thay đổi nền học vấn để Phục Hồi hào kh& dân Việt sau 170 năm
hận thù đàng Trong và đàng ngài ngút trời. Lòng người ly tán nay phải tụlại bằng
sách lược của ông Nguyễn Thiếp công thần nhà LÊ.
Hoàng Đế đã nghe lời đề nghị của Hiền Tài Nguyễn Thiếp và bổ nhiệm
ông làm Viện Trưởng Viện Sùng Chính lo việc « Chấn Hưng nền Văn Hóa Phục Việt » – Bình đẳng sắc tộc
và hội nhập văn hóa ; nhưng Hoàng Đế uểu mệnh nên chương trình bị Gia Long
cho là ái quốc cực đoan. Việt học có gì đáng để học đâu. Nó đi trái với Phong
Trào NÔM NA LÀ CHA MÁCH QUÉ.
Ngày hôm nay chuơng tình giáo dục của Việt Nô Cộng Sản từ năm 1946 đến nay y chang như vậy.
Hồ Chí Minh chủ trương tiêu diệt nền Văn Hóa Thuần Việt để thay thé bằng nền Văn
Hóa Mác, Lê và Mao với mục đích biến dân Việt thành Công Cụ Sản Xuất cho Đảng Cộng
Sản Đệ Tam Quốc Tế lãnh đạo bằng chủ nghĩa TAM VÔ (vô gia đình, vô tổ quốc và vô
tông giáo) với.
Vì thế nên mới hô hào giai cấp đấu trang (người Việt giết người Việt) bằng khẩu hệu TRÍ, PHÚ, ĐỊA, HÀO ĐÀO TẬN
GỐC TRỐC TẬN RỄ. Tiêu diệt hết người tài thì nước tàn lụi.
Ø Xét ra thì :
Việt Nô Cộng Sản chẳng khác chi Gia Long cả : NÔM NA LÀ CHA MÁCH QUÉ
Trông mong gì ở đám lãnh đao tự xưng
với ý chí giết chết nòi Việt ?
H. THỜI ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA
(1956-1963) :
Có cùng ý chí và mục tiêu Phục Việt như nhà Tây Sơn,
nhưng hoàn cảnh thay đổi nên cố sức xây dựng Ấp Chiến Lược và trau dồi Học Thuyết
Cần Lao Nhân Vị, tương đương với chương trình của Sùng Chính Viện.
Công tác xây dựng bị bỏ dở vì yểu mệnh như Hoàng Đế Quang Trung.
Thật là đáng tiếc.
Ø Nay chúng ta có nên tiếp
nối muc tiên và ý chí PHỤC VIỆT này không ?
&
MỘT KINH NGHIỆM
XƯƠNG MÁU
Mọi
chương trình đều có người đề xướng và sự phụ họa của toàn dân nên phải chống giặc
chậm tiến rồi mới thi hành chương trình cùng nhịp thay đổi não trạng của toàn
dân để có sự PHỤ HỌA tối đa, và khi nhóm đề xướng chết đi thì còn có người thay
thế đến nơi đến chốn ; tránh cảnh đánh trống bỏ dùi. Đây là trường hợp
Hoàng Đế HỒ QUÝ LÝ ; Hoàng Đế Quang Trung và nhóm Triết Gia NGÔ ĐÌNH NHU.
Muốn
người dân thay đổi não trạng thì phải mở trường để dạy Nền Văn Hóa Thuần Việt
và chương trình Canh Tân Con Người , Canh Tân Đất Nước cho ngang tầm thời đại.
Ngoài
ra còn phải huấn luyện đội ngũ Giảng Huấn Viên Chuyên Nghiệp về khoa Nhân Văn
Việt Tộc…. không thể đốt giai đoạn được, và cũng không thể mơ ngủ là :
Búng tay thì ra ngay chương trình Nhân Văn Việt Tộc và ra ngay đội ngũ Giảng Huấn
Viên Chuyên Nghiệp.
Đây là những khó khăn mà chúng ta sẽ phải giải quyết qua kinh nghiệm
của Tổng Thống Ngô Đình Diệm :
·
TỰ DO
ĐẦU PHIẾU:
Cụ Diệm than phiền với báo chí Mỹ rằng : Cụ rất cám ơn nhân
dân Hợp Chúng Quốc, nhưng cô coi dân Tây Nguyên đóng khố ở trần thì lá phiếu của
họ làm gì có giá trị.
Ø Vì vậy
nên phải Khai Trí cho họ bằng cách xây Ấp Chiến Lược và giảng dạy học thuyết Cần
Lao Nhân Vị là Quốc Sách của dân tôi.
·
NHÂN
TÀI THIẾU HỤT :
Ngay đến các vị Bộ Trưởng còn không nắm vững Quốc Sách này thì làm
sao thi hành nghiêm túc được ? Do đó phải xây dựng đội ngũ « Cán Bộ
Nông Thôn », vừa làm vừa học.
Ø Chừng
nào đội ngũ này được tự huấn luyện xong thì mới có thế xúc tiến việc « Tự
Do Đầu Phiếu » được.
Ngày hôm nay tuy chúng tôi
đã bỏ ra trên 40 năm để soạn xong chương trình huấn luyện Văn Hóa Thuần Việt
như Hoàng Đế Quang Trung và Tổng Thống Ngô Đình Diệm mong ước . Nhưng còn
đội ngũ «Giảng Huấn Viên Chuyên Nghiệp»
thì cần phải huấn luyện qua các buổi hội thảo định kỳ. Đây là công việc của các
tổ chức đấu tranh và các hội đoàn ý thức được trách nghiệm của mình….It nhất là
phải xây dựng cộng đồng Văn Hóa Thuần
Việt để lo cho tương lai của con cháu chúng ta đừng mất gốc ; và
đó cũng là trách nhiệm của bố mẹ đối với con cái… Rất mong có người hưởng ứng và tiếp tay.
&
Phần 2 : KHỞI ĐẦU CỦA SUY THOÁI
nền giáo dục dưới triều
Lê Thánh Tôn – 1460 - 1497
Ngày
trước, khoa học chưa phát triển nên còn nói được là : Ngày lập quốc vào
năm 2.879BC là cha ông chúng ta phịa ra để lấy oai vì chưa có tính cách thuyết
phục bằng Khoa Học. Hơn nữa là người xưa chỉ nói kết luận chứ không nói cách
tính ngày đó nên các vị Tây Học bác bỏ lời nói của ông Nguyễn Trãi (1427)
là nước Việt lập quốc đã hơn 4.000 văn hìến (tức hiến pháp, nhà Trần gi là Phép
Nước. Khi lập quốc thì phải có văn hiến)
Với sự tự tôn của đầu óc khoa học ngày hôm nay, nên chúng ta phủ
nhận chuyện huyền thoại và lịch sử thời Hùng Vương với lý do là không có bia ký
lưu truyền mà quyền rằng người thời đó chưa có chữ viết và nhân sinh quan, vũ
trụ quan của họ không giống chúng ta ngày hôm nay ; chỉ vì chúng ta đọc
huyền thoại với tư duy khoa học mà quên rằng người xưa lưu truyền bằng bia miệng
qua huyền thoại nên muốn đọc được thông điệp ký thác trong Huyền Thoại để
dựng lại lịch sử thì phải đọc với TƯ DUY HUYỀN THOẠI ; điều này không khó
đâu, chúng ta chỉ cần đặt mình vào bối cảnh sinh sống thời đó là nhìn ra liền.
(xin coi đặc san Huyền Sử của nhóm Nhân Văn Việt
Tộc để trong link : http:/vanhoathuanviet.blogspot.com/Tự In Thành Sách).
Ca dao : «Trăm năm bia
đá cũng mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ»
Một
tỷ dụ :
Chính cụ Trần Trọng Kim, xuất thân từ nền Giáo Dục Nô Lệ Thực Dân
Pháp còn quên tiếng Việt, huống chi là chúng ta : Thời Hùng Vương người ta
nói tiếng Việt chứ không ai nói tiếng Tàu cả. Người xưa nói 18 đời Hùng Vương
có nghĩa là 18 Triều Đại mà cụ lại hiểu là 18 ông vua (AI TAI !)
Ngày hôm nay, chữ nghĩa lưu truyền mà có ai đọc được tư tưỏng ai
oán của thế hệ Gia Long qua mấy dòng chữ sau đây của ông Nguyễn Du :
« Đoạn Trường Tân
Thanh » « Trăm năm trong cõi người ta, chữ Tài chữ Mệnh Khéo là
ghét nhau (yêu nước đi tù) ; Trải Qua một cuộc bể dâu những điều trông thấy
mà đau đớn lòng ».
Ngay 4 câu mở đầu đã nói rõ binh biến triền miên, dân tình khổ sở
dưới triều Gia Long rồi, nhưng ông cũng biết là hậu thế sẽ không hiểu nên ông
than rằng : « Bất tri tam bách
dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như »
Sở dĩ không hiểu nỗi lòng người xưa là vì một phần thì quên tiếng
Việt và một phần thì thiếu suy luận nên không nối kết được 3 cụm từ ở trên với
nhau.
Có ai nghĩ rằng thân phận ai oán của nàng Kiều do chế độ độc ác
gây ra lại chính là thân phận của ông Nguyễn Du dưới chế độ Gia Long ? Mà
khi nói đến chế độ thì thận phận Nguyễn Du lại là thân phận điển hình của chế độ
Gia Long ?
Nếu hiểu được thì đã thương sót cho thân phận hẩm hiu của thế hệ
Gia Long ; và đồng thời thương sót cho số phận lưu vong của chúng ta do chế
độ Cộng Sản gây ra. Vậy thì, tại sao chúng ta lại không bắt tay vào việc xây dựng
Cộng Đồng Văn Hóa ở Hải Ngoại để lo cho tương lai của con cháu chúng ta mà chỉ
chú trọng đến việc đả kích những sai lầm của nhau nhỉ ?
Nay chúng ta chỉ đọc được nền Văn Học tuyệt vời dưới ngòi bút của
thi hào Nguyễn Du qua truyện Kiều mà học giả Phạm Quỳnh muốn lưu lại. Vì lý do
chánh trị nên Học Giả Phạm Quỳnh là Tứ Trụ Triều Bảo Đại, đã tự ý đổi tiêu đề
Đoạn Trường Tân Thanh sang Truyện Kiều nên 2 cảm xúc của 2 chuyện chữ Nôm và chữ
Quốc-ngữ hoàn toàn khác nhau.
Ngày hôm nay, với sự khám phá mới của khoa học thì chúng ta đã giải
tỏa được mọi thắc mắc vì chúng ta đã đọc được tư tưởng người Văn Lang qua di vật
và qua Huyền Thoại nên đã dựng lại được khúc lịch sử thời Hùng Vương (2.879BC-200BC).
Ø Câu
chuyện Huyền Thoại Rồng Tiên đã nói rất rõ 80% khúc lịch sử thời đó (2.879BC-600BC), chuyện Trọng Thủy Mỵ
Châu nói rõ khúc lịch sử từ 280BC đến 200BC.
Không những dựng lại được lịch sử thời xa xưa để biết sự thật, mà chúng
ta còn phục hồi được Hào Khí Chánh Đáng của nòi Việt để bức tung vòng kim cô
trên đầu có từ năm 1460 (thời vua Lê Thánh Tôn đăng quang bất đắc dĩ) cho tới
nay (2020) là do nền giáo dục Nhân Văn Việt Tộc lúc thì sai lầm, thiếu trung thực ;
khi thì cấm đoán từ thời Gia Long (1802) nên thế hệ NHO TÂY mới tự kiêu tự mãn
và vọng ngoại, vì nghĩ rằng Tây Phương đã khai sáng cho chúng ta.
Thực ra, họ chỉ khai sáng cho chúng ta về khoa học thực dụng để kiếm
ăn, còn họ bóp chết khoa Nhân Văn Việt Tộc nên chúng ta mất hồn dân Việt mà
không hay ; vì thế nên chưa kết hợp được với nhau.
Về khoa học thực dụng thì Thực
Dân Pháp chỉ hé dạy cho đủ khả năng làm cán sự (technicien) để làm phụ tá mà
thôi ; vì thế nên khi Nhật trao trả độc lập cho Hoàng Đế Bảo Đại vào ngày
10/3/1945 thì Triều Đình không có người điều hành đất nước về khả năng cũng như
về số lượng. Đó là nguyên nhân để Việt Cộng phá hoại nền độc lập vào ngày
19/8/45 và cướp chánh quyền bằng lưu manh vào ngày 02/9/1945.
Các bạn không tin, tôi xin trích một đoạn báo cáo của Đại Quan Thực
Dân Pháp về việc thi hành chánh sách tiêu diệt dân Việt để chúng ta tự mình
nguyền rủa cha ông là không có tinh thần Cầu Tiến như Tây Phương nên may mắn mới
được nước Đại Pháp dạy dỗ là hạnh phúc lắm rồi ; còn không thì chng ta
thành Tàu rồi……. nó còn tuyệt vời đến độ : «Cứt Tây cũng thơm», ngày nay dưới chế độ Việt Cộng thì «cứt Tàu không thối»
Thế hệ Gia Long :
Ngoài phong trào bài Việt « Nôm Na Là Cha Mách Qué » còn cấm người dân dùng
chữ CẢ để chỉ con trưởng, vì đã ban chức này cho ông Bá Đa LỘC với cái tên CHA
CẢ (lăng Cha Cả ở Tân Sơn Nhứt) nên trong Nam không có anh Cả mà chỉ có anh
Hai, Chị Hai, Cô Hai. Còn ngoài Bắc họ chửi xéo Gia Long bằng sáng tạo ra chữ
Phân Bắc, mặc dù đó là phần phế thải từ bụng người Nam ra nhưng không có danh từ
Phân Nam.
Ø Ngày
hôm nay Việt Nô Cộng Sản làm y chang
như vậy. Đã chót gọi đồng bào miền NAM là NGỤY nên phải tảy chay nền văn hóa dân
tộc của h0ọ bằng cách đốt sạch Văn Hóa Phẩm của họ, cấm học lịch sự của họ dù
chỉ có 20 năm như Gia Long đã cấm nói đến Triều Tây Sơn để nhồi sọ lịch sử vọng
ngoại, vong nô.
Ngày hôm nay thì :
Nền Giáo Dục của bọn Việt Nô Cộng Sản đã dạy trẻ thơ rằng :
-
Thương cha thương mẹ thương chồng. Thương mình thương một thương
ông (STALINE) thương mười.
-
Thương biết mấy khi con học nói, tiếng đầu lòng con gọi STALINE
-
Bên đây là nhà, bên kia biên giới cũng là quê hương (của bọn Cộng
Nô).
Nên dân chúng mới kháo nhau là : « Cứt Tàu không thốỉ »
hay «trăng bên Tàu tròn hơn trăng bên Mỹ»…….
Chúng ta nên kiểm chứng lại nền giáo dục vong nô để còn biết rằng
phận sự hàng đầu của Giáo Dục là : Huấn luyện nhân tài giúp dân cứu nước, đặng còn biết đường phát huy nền Giáo Dục Nhân Văn
Việt Tộc với quyết tâm chấn hưng dân khí và khai hóng dân trí. Còn dân sinh tính
sau.
RẰNG :
Ai muốn sang cai trị dân thuộc địa để thi hành chánh sách ngu dân
diệt chủng thì phải qua lớp huấn luyện của trường THUỘC ĐỊA ở Avenue de
l’Observation - quận 6 Paris.
Ø Nguyễn Tất Thành có
đơn xin vô nhưng bị bác vì lòng dạ bất trung.
Sau khi tốt nghiệp, được bổ nhiệm thì mỗi năm phải làm báo cáo
công tác 2 lần để Bộ Thuộc Địa còn biết đường thay đổi chánh sách : Mềm nắn,
rắn buông mà người Pháp gọi là kéo dây căng nhưng không được để đứt (bóp nhẹt
nhưng tránh bạo loạn, chó cùng cắn giậu). Các báo cáo này được cất kỹ trong Thư
Viện Thuộc địa, phải có quốc tịch Pháp mới được vào tra cứu.
Đây là vài dòng báo cáo định kỷ của ông PHILASTRE, giám đốc hình sự
Nam Kỳ vào năm 1879. Nguyên văn của bản văn tiếng Pháp như sau:
"L'Annam n'a aucun besoin de nos
bon office, et c'est un crime de lèse-humanité que de vouloir étouffer une
civilisation si unique et si vénérable"
Bản văn này hiện đang lưu trữ trong thư viện Quốc Gia ở
Aix-en-Provence (gần Marseille)
Dịch thoát ý như sau :
·
Người
Việt không cần sự khai phóng của chúng ta.
·
Thật
là một tội đồ lớn lao đối với nhân loại khi chúng ta chủ trương bóp nghẹt nền
văn hóa đặc thù và đáng kính của họ.
Nó đặc
thù và đáng kính ở chỗ nào thì công việc của nhóm sỹ phu, thành phần lãnh đạo
tư duy là phải đi tìm cho ra để phục hồi hào khí dân tộc.
Chú ý :
Cụ Đặng
Hữu Thụ đã để gần 10 đi truy lùng các thư viện để viết lại lịch sử thời nhà
Nguyễn cho được chính xác, và tình cờ vớ được. Sau đó cụ cho phổ biến, tôi chép
lại.
Cụ
là một trong 9 thẩm phán của toà Tối Cao Pháp Viện thời Cộng Hòa chuyên xử các
cấp lãnh đạo tối cao như Tổng Thống, Nghị Sỹ Quốc Hội …. về tội phản quốc.
ö
Phần 3 : BÉN RỄ TRONG NÃO TRẠNG
nguyên nhân suy thoái
tư duy để có thảm trạng ngày nay
diệt Mạc phù LÊ ăn
khách nên chúng ta mới lưu vong như thế này
Chúng ta phải tìm nguyên nhân của bệnh Lạc Hồn Việt thì mới biết đường chữa trị……. Hãy quay lại lịch sử để
tìm nguồn gốc của suy thoái.
Chúng
ta hãy tạm gác thời Hùng Vương với chế độ Dân Chủ Phân Quyền có học thuyết Rồng
Tiên rõ ràng vì rất nhiều Sỹ Phu bác bỏ những điều đã bị nền giáo dục Thực Dân
đầu độc nên nói ra chỉ mất thì giờ tranh luận ; giống như chúng ta tranh
luận với cán bộ Việt Cộng về tự do dân chủ vậy.
Hai quan điểm và 2 mục tiêu khác nhau nên chỉ đi đến thù nghịch. Đối
với Việt Cộng thì : Người dân là công cụ sản xuất thì đa đảng sẽ đưa đến
chổ rối loạn và Đảng Việt Cộng giải tán.
Chúng ta bắt đầu từ đời nhà ĐINH, người dân quan niệm có dân mới
có quốc gia, triều đình chỉ là công chức cao cấp thi hành nhiệm vụ đem an bình
và hạnh phúc cho người dân.
Ø Việc
nhân nghĩa cốt ở an dân (Bình Ngô Đại Cáo)
Vì vậy nên việc hưng hay phế lãnh đạo không ảnh hưởng chi đến cuộc
sống an bình của toàn dân. Bằng cớ là những khẩu hiệu : Diệt Lê phù Đinh,
hay diệt Lý phù Lê, diệt Hồ phù Trần không ăn khách ; vì thế nên con buôn
chánh trị không khai thác được.
Muốn người dân thức tỉnh thì phải phát huy nền Văn Hóa Thuần Việt
để xây dựng Việt Giáo như nhà Lý và nhà Trần đã làm, nên lúc đó đất nước mới an
bình và nhân tài mới thặng dư. Ngày hôm nay cũng vậy, vì người dân u tối, thiếu
môn Nhân Văn Việt Tộc nên nghe lời của bọn con buôn chánh trị là Việt Cộng
nói : Còn Đảng thì còn mình nên hết lòng xả thân cứu đảng.
Đó là việc chúng ta
phải làm sớm ngày nào hay ngày đó : Xây dựng Cộng Đồng Văn Hóa để Chấn
Hưng dân Khí và Khai Phóng Dân Trí (ý chí quyết tâm bảo vệ tự chủ như dân Hong
Kong ngày hôm nay - chấu chấu đá xe như nhà Trần vậy)
RẰNG :
Ông Nguyễn Trãi đã phát động mặt trận Văn Hóa Thuần Việt để kết hợp
toàn dân giúp ông Lê Lợi diệt được giặc vừa khỏe vừa dữ theo kế sách CÔNG TÂM
DÂN VIỆT
Nhưng sau đó chia bè kéo
cánh nên văn hóa suy đồi. Vì vậy nên mới có cảnh 2 con buôn chánh trị là Nguyễn
Kim và Trịnh Kiểm nhào vô để thủ lợi dưới chiêu bài Diệt Mạc phù Lê.
Ø Đây
là bài học núi xương sông máu mà chúng ta phải thức tỉnh quay về với dân tộc
thì mới có cuộc sống an lạc được.
Chẳng
cần thông thái thì ai cũng biết là khi Mạc bị diệt thì một bên sẽ giữ vua làm
bù nhìn, bên kia ly khai cố thủ để chờ dịp Diệt Loạn Tặc Phù nhà Lê để phỗng
tay trên.
Khi chỉ có một mình trên chánh trường thì giết vua Lê để thay thế
như Vua Lê Lợi đã giết Trần Cao, vua Gia Long khi kháng chiến thì vẫn dùng niên
hiệu Lê Cảnh Hưng rồi Lê Chiêu Thống khi dâng khẩu hiệu « Diệt Tây Tặc Phù
Lê Chiêu Thống ».
Như vậy chuyện Trịnh Nguyễn phân tranh làm tàn lụi tiềm năng dân tộc
là do nền giáo dục « Đất của
Chúa, lúa của Trời » dưới triều vua Lê Thánh Tôn (1460) đã đầu độc
tư tưởng dân ta.
Vì thế nên chúng ta có thể khẳng định là : Tư duy siêu việt
hay băng hoại là do có chương trình giáo dục Nhân Văn Việt Tộc đứng đắn hay
không mà ra.
ü Do
đó không những chúng ta cần có chương trình Văn Hóa Thuần Việt nghiêm túc, đầy
đủ mà còn cần phải có đội ngũ Giảng Huấn Viên chuyên nghiệp như nhà Lý, nhà Trần
thì mới mong có nhiều hiền tài giúp dân cứu nước được.
ü Còn
như áp dụng chương trình « HỒNG HƠN CHUYÊN » của Việt Cộng là đi đến
chỗ tiêu vong.
Vậy tốt nhất là toàn dân đòi cho bằng được Tự Do Giáo Dục để làm
người tốt theo chương trình Nhân Văn Việt Tộc do chính lớp sỹ phu yêu nước
thương dân soạn thảo thì mới có sự phối hợp giữa nền giáo dục gia đình và nền
giáo dục học đường được.
Muốn
đạt tới điều này thì phải đáp ứng được 3 điều kiện sau đây :
1. Thể
chế dân chủ chế tài, nghĩa là
các sỹ phu hướng dẫn toàn dân đưa ra chương trình dài hạn, đặt tiêu chuẩn thi
hành cho các ứng viên để chọn người vào ghế Nguyên Thủ Quốc Gia. Nếu vi phạm
giao kèo thì bị truất phế ngay. Các chương trình ngắn hạn thì do các nhóm ứng
viên tự chọn lấy
2. Người
dân phải được hưởng nền giáo dục khai phóng và đồng đều để Chấn Hương Dân Khí
và Khai Phóng Dân Trí.
3. Các
sỹ phu phải bắt tay vào việc hướng dẫn toàn dân. Sỹ phu là người có khả năng đặt
vấn đề và đưa ra đề án giải quyết vấn đề. Các chính trị gia chỉ là người thi
hành các chánh sách do người dân đưa ra qua sự chung quyết của Quốc Hội.
NGUYÊN NHÂN BIẾN ĐỔI TƯ DUY
Sau đây là nguyên nhân biến đổi Tư Duy từ quan niệm «Toàn Dân Giữ
Nước» sang quan niệm «ĐẤT CỦA CHÚA LÚA CỦA TRỜI » :
Ông Lê Lợi là phú nông, vì lòng yêu nước nồng nàn nên mới phất cờ
khởi nghĩa. Ông tự tu luyện cho võ nghệ cao cường và tự học binh thư và chánh
trị. Nhưng vì ông không có vốn nên phải dựa và giới văn nhân thời đó, trong đó
có ông Nguyễn Trãi. Vì thế nên ông chỉ sợ nhóm văn nhân nhà Trần phản phé giết
ông để cướp ngôi.
Để làm an lòng cho ông chú tâm vào viẹc xây lực kháng chiến, nên
ông Nguyễn Trãi mới sai người lấy mỡ viết trên lá cây để kiến bò lên ăn mỡ thì
đục luôn lá, 4 chữ : Lê Lợi vi vương Nguyễn Trãi vi thần.
Tuy vậy nhưng ông vẫn phập phồng lo sợ, nên khi thành công thìvông
giết ngay các cộng sự viên văn thần mà tin đặc vào các võ thần là người kém ông
về Văn Học. Thấy nguy nên ông Nguyễn Trãi xin từ chức về hưởng tuổi già, để lại
cô vợ nhỏ là Thị Lộ ở lại làm Thái Sư dạy Thái Tử.
Khi ông Lê Lợi băng hà thì Thái Tử mới tuổi đương thì (18 đôi
mươi), Thị Lộ vẫn ở cạnh vua để làm cố vấn. Ông này là ông vua năng nổ, thích
võ và trọng văn nên có lắm quần thần lợi dụng. Ông nào cũng đem con gái đến hiến
vua, tục lệ cung phi phát xuất từ đây.
Bà cung phi mẹ hoàng tử TƯ THÀNH (sau này là vua Lê Thánh Tôn) hớ
hênh đi khoe là nằm mê thấy Phật bảo con mình (còn trong bào thai) sẽ làm vua. Thế
là các bà cung phi khác phao tin bà này muốn hại vua ; lẽ dĩ nhiên là mỗi
bà có vây cánh riêng do ông bố kéo bè kết cánh để thủ lợi.
Vua
thì trẻ người non dạ, lại thích gái tơ nên ra lệnh giết cả 2 mẹ con (con còn là
bào thai) để ra oai. Ông Nguyễn Trãi và bà Thị Lộ phải khuyên vãi bọt mép nên
vua mới tha tội chết, nhưng đuổi mẹ con ra khỏi Hoàng Thành và bắt phải đổi họ…
Thế là 2 mẹ con ra nương náu nhà chùa, lấy kinh Phật để tu luyện triết lý sống
làm người tốt.
Rút kinh nghiệm thì bà cung phi thứ hai có bàu hoàng tử NGHI DÂN,
ton hót để con mình làm Thái Tử, vì mê gái tơ nên Vua phê chuẩn Nghi Dân làm
Thái Tử.
Bà thứ ba sinh ra hoàng tử BÀNG CƠ, không biết hót khéo ra sao mà
vua thu hồi chức Thái Tử của Nghi Dân và trao cho Bàng Cơn. Đây là nguồn gốc rối loạn triều đình.
Phe ông ngoại của Bàng Cơ mới bày mưu giết vua để nhiếp chính vì sợ
vua đổi ý thì phe mình về vườn.
Khi Bàng Cơ mới lên 2 tuổi thì bày kế giết vua nhân dịp duyệt binh
ở gần quê ông Nguyễn Trãi. Sau khi duyệt binh thuyền xong, nhân tiện tạt qua vườn
vải (lệ-chi viên) của Thị Lộ để thăm gia đình ông Nguyễn Trãi. Vì đến thăm bất
thần nên ông Nguyễn Trãi đi vắng, chỉ có Thị Lộ tiếp vua mà thôi.
Dịp may hiếm có nên phe nhóm Bàng Cơ ra tay đầu độc vua rồi đổ cho
Thị Lộ để lấy cớ giết ông Nguyển Trãi, đệ nhất công thần với mục đích diệt khẩu.
Vì sự tiếm ngôi bất chánh nên triều đình lủng củng, xã tắc suy yếu
vì thiếu người chỉ huy. Lợi dụng tình trạng tranh quyền cướp ngôi quân Chàm
đánh chiếm tới Nghệ An và sắp đánh Thanh Hóa, đào mả vua Lê Lợi nên Triều thần
làm liều là giết Nghi Dân và Thái Hậu rồi đem kiệu ra chùa mời ông Tư Thành lên
ngôi để chỉnh trang lại mọi việc.
Nên nhớ là 6 tháng trước Nghi Dân và đồng bọn lẻn vào giết Bàng Cơ
và Thái Hậu (mẹ Bàng Cơ) với lý do là cướp ngôi vua của ông ta. Triều thần đồng
ý, nhưng sau khi cướp ngôi thì Nghi Dân chỉ lo củng cố ngai vàng chứ không lo
việc nước. Do đó quân Chàm dưới quyền TRÀ TOÀN đã ăn cánh với nhà Minh bên Tàu
là đánh gọng kìm để chia nước Đại Việt làm hai. Từ đèo ba dội (tam điệp Thanh
Hóa/Ninh Bình) vào trong là đất của CHÀM ; từ đèo Tam Điệp trở lên là đất
của TÀU (nhà MINH).
Vì sợ nạn kiêu binh nên Hoàng Tử Tư Thành ra điều kiện là Tôi làm
Vua chứ không phải các ông làm vua. Đồng ý thì tôi về, còn không thì thôi. Do
đó mới thay đổi quan niệm giáo dục là « Đất của Chúa lúa của Trời » .
TÓM
LẠI
Tư Duy suy thoái từ đây nên Gia Long và Việt Cộng mới coi đất nước
là của riêng họ. Dân là người ăn nhờ ở đậu, là công cụ sản xuất cho Bạo Chúa.
Tránh voi gặp ngựa;
tránh nạn Kiêu Binh thành ra nạn Huynh Đệ tương tàn cho quyền lợi của con buôn
chánh trị nên tiềm năng dân tộc mới tàn lụi từ đây.
Biết nguyên nhân rồi
thì chúng ta sửa sai ra sao đây ? Nếu không phải là phát huy nền Văn Hóa
Thuần Việt hay sao ?
&
Phần 4 : YẾU TỐ KẾT HỢP
xóa bỏ xung khắc sắc
tộc và hận thù phe nhóm
Nguyên nhân của xung khắc sắc tộc và hận thù phe nhóm là chính sách
chia để trị của bọn con buôn chánh trị tạo ra. Đây là những yếu tố tiêu diệt tiềm
năng dân tộc mà bất cứ chế độ vì dân, vì nước đều phải tìm cách xóa bỏ càng
nhanh càng tốt. Trước khi thi hành phải có sự đồng thuận của người dân mà ta gọi
là sự phụ hoạ.
Chánh quyền chỉ là người đề xướng, cần phải giải thích cho người
phụ họa là toàn dân đồng thuận thì khi thi hành mới có kết quả tốt; vì thế vai
trò của sỹ trong việc cổ xúy cho lợi ích quốc gia và dân tộc là rất quan trọng.
THỂ
CHẾ DÂN CHỦ Ỷ LẠI : Áp dụng cho chương trìng ngắn hạn
Thể chế Dân Chủ Ỷ Lại là thể chế tự do dầu hiếu với Tam Quyền Phân
Lập, thì mọi chương trình đều do chánh quyền đưa ra.
Thể chế này chỉ hữu hiệu khi dân trí cao và Truyền Thông làm đúng
nhiệm vụ của họ. Nay Truyền Thông độc lập làm thương mại nên thay vì Thông Tin
thì lại làm Tuyền Truyền để hướng dẩn quàn chúng theo tư tưởng méo mó của mình
Đây
là thể chế Phổ Thông Đầu Phiếu, các
ứng cử viên đưa ra chương trình Đoản Kỳ thi hành trong 1 nhiệm kỳ để toàn dân lựa
chọn mà ta gọi là Đa Đảng Đa Nguyên, Tam Quyền Phân Lập. Thể chế này cần sự hiểu
biết giới hạn của người dân, giới sỹ phu không có chỗ đứng, nghĩa là nếu có chương
trình thì phải ra ứng cử chứ không thể giữ vai trò cố vấn dân chúng được.
Ø Đây
là nhược điểm cần phải điều chỉnh. Nhất là dân Việt ở véng hẻo lánh mù chữ và
xa lánh chánh trị mà ta gọi là CHẬM TIẾN hay DÂN TRÍ THẤP
THỂ
CHẾ DÂN CHỦ CHẾ TÀI : Áp dụng cho chuongtrình dài hạn
Lệnh vua còn thua lệ làng thì phân chia công tác, ai lo đâu thì tự
mình sáng tạo ra chương trình của mình. Chế độ này rất tốt nhưng nó cản trở sự
phát triển theo văn minh khoa học vì thiếu sự phân công nên không có chuyên
ngành mà ta gọi là chuyên môn nghề nghiệp ; giống như đã là Bác Sỹ thì phải
chữa bách bệnh chứ không chia ngành như ngày hôm nay.
Ø Đây
là phản ảnh của chế độ « Dân Chủ Đích Thực » một cách khái quát.
Chế
độ Dân Chủ Chế Tài là sự phối hợp giới hạn của Dân Chủ Ỷ Lại
và Dân Chủ Phân Quyền. Nguời dân đưa ra chương trình dài hạn để Quốc Hội phê
chuẩn rồi phổ thông đầu phiếu (hay có phiếu lớn là tùy ở trình độ cao thấp của
người dân và cũng tùy thời, tùy lúc) để chọn ứng viên. Các ứng viên phải đưa ra
chưong trình ngắn hạn đúng với nhiệm kỳ để thi hành.
Trong thời gian nhiệm kỳ thì người dân có quyền bãi nhiệm nến ứng
viên đi trái với những gì đã cam kết thi hành chương trình dài hạn.
Vì người dân không đủ khả năng đưa ra chương trình và thẩm định công
việc làm của chánh phủ nên cần có sự cố vấn của khối sỹ phu là người không tham
chính nhưng có khả năng thẩm định công việc làm của triều đình (tương đương với
Hội Đồng Kỳ Mục dưới thới Hùng Vương –dân chủ phân quyền).
Nói
cho dễ nhớ là :
Giới Sỹ Phu là người đề xướng, toàn dân là người phụ họa, chánh phủ
là người thi công.
Ø Chế
độ dân chủ chế tài cần sự hiểu biết đồng đều của toàn dân và ở trình độ cao.
Ø Vì
thế nên cần phát huy chương trình Nhân Văn Việt Tộc tới hang cùng ngõ cụt, từ
thành thị đến thôn quê, từ miền xuôi lên miền ngược, từ nơi đô hội đến nơi hiu
quạnh ; không được bỏ sót bất cứ thành phần nào trong đất nước. Vì môi trường
sinh sống phát sinh ra nhân tài. Con người không học sẽ ngu đi, dù cho có trí
thông minh phi thường cũng ngu luôn khi người đó sống với khỉ Trường Sơn. Gần mực
thì đen (u tối), gần đèn thì sáng (thông minh, sáng dạ).
Điểm
lại lịch sử xem người xưa giải quyết vấn đề xung khắc sắc tộc và hận thù phe
nhóm ra sao để rút kinh nghiệm.
A. Thời Văn Lang :
Nhiệm
vụ của 18 triều đại (đời) vua Hùng là làm sao để thuần nhất nếp sống tâm linh của
15 tiểu bang, lúc đó gọi là Bộ Lạc=vùng an lạc có Lạc Vương, Lạc Hầu là quan
văn và Lạc Tướng là quan võ .
Người
Pháp chơi sỏ, gọi Bộ Lạc là Tribu ; trong khi đó dân mình gọi Tribu là Tù,
Chef de tribut là Tù Trưởng.
Nhân
số của một Tribu tương đương với số dân đinh trong một làng hay một xã (xã đông
dân cư hơn làng ; trung bình một làng có một ngàn người trong cùng một đại
tộc).
Tiêu
chuẩn đặt ra lúc ban đầu đã đạt được sau 2.622 năm cố gắng hoàn thành nhiệm vụ
là :
-
Biến Liên Bang Việt thành chủng tộc Việt với tinh thần Tự Trọng
(Văn Lang) và Cầu Tiến (Việt).
Thời
đó người ta dùng tiếng Việt 100% chứ không dùng tiếng Tàu nên chữ đời chỉ Triều
Đại (tiếng Tàu) như đời nhà Lý, đời nhà Trần….chứ không phải đời 1 ông vua như
cuốn sử Trần Trọng Kim nói.
-
Thống nhất lòng người bằng chế độ bình đẳng mà nay ta gọi là
« Dân Chủ Phân Quyền » còn sót lại câu «Lệnh Vua còn thua Lệ
Làng» hay chữ XÃ HỘI là các xã hợp lại thành Bộ Lạc, 15 Bộ Lạc hợp lại thành nước
Văn Lang. Vì thế nên không có ông Làng Trưởng mà lại có ông Lý Trưởng đã nói rõ
ràng cách thành lập Quốc Gia như thế nào rồi.
Nên nhớ là trước khi xây dựng nước Văn Lang để tự vệ chống quân
NGÔ thì dân nông nghiệp ở rải rác quanh đồng ruộng nên tập trong vào một khu
dân cư mỗi chiều là một Lý (tức mile như Hải Lý mà ta vẫn dùng) có hàng rào bảo
vệ an ninh.
Ø Đây
cũng là kho thực phẩm phải bảo vệ để chống cướp.
Người chết thì đem chôn ngoài đồng nên có ngày giỗ, đó là nếp sống
của dân nông nghiệp.
Khi có nhu cầu thành lâp nước Văn Lang thì các chung cư đều mang một
danh xưng cho thống nhất nên chữ Lý, chữ Bản, chữ Buôn, chữa Sóc … chỉ còn
trong ký ức.
Tuy thống nhất danh xưng đơn vị căn bản là Làng nhưng vì là Dân Chủ
Phân Quyền nên không ai đụng đến tổ chức hành chánh của chung cư cả ; vì
thế không có ông Làng Trưởng mà có ông Lý Trưởng, ông Quan Lang, ông Trưởng
Sóc, ông Trưởng Ấp ….
Về nhân số thì khu Làng tương đương với TRIBU của Tây
Phương ; còn về quản trị thì khác hẳn Tribu.
Nguyên thủy chữ Ấp là nơi hoang dã nên Ấp tương đương với Làng
nhưng dân đinh chỉ bằng 1 xóm, diện tích thì lớn hơn Làng ; nhưng đất canh
tác chẳng có bao nhiêu, họ sống về chăn nuôi nhiều hơn là canh tác vì đó là đất
đồi.
B. Thời Lãnh Vương Câu Tiễn :
Sát nhập nước Ngô vào nước Văn Lang (#600BC) thì theo chế độ Hội Nhập
Văn Hóa trong một Liên Bang 18 Bộ Lạc. Thêm 3 bộ lạc mới là :
-
Vùng Ngô Việt, tức
người Việt gốcNgô ở Chiết Giang ; sinh quán của Triệu Đà sinh năm 258BC.
-
Vùng Mân Việt, tức
người Việt ở sông Mân, vùng Thiều Châu mà thủ phủ là Phúc Kiến.
-
Vùng Bách Việt
là nơi sinh ra bọc trứng 100 con cùng cha cùng mẹ, sinh nở cùng một lúc nói lên
tình gia đình và nghĩa Đồng Bào của 18 vùng an lạc. Đây là lúc sinh ra danh từ
Bách Việt (100 giống Việt cùng chung sống trong một nước, chứ không phải 100 nước
Việt như người ta nghĩ đâu), câu Bàu (dân
Ngô) ơi thương lấy Bí (dân Văn Lang)
cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Hãy coi gương con cháu Đế Nghi (phía bắc sông Dương Tử) đã bị nhà Chu tiêu diệt vào năm 1.046BC, để
cùng nhau lo bảo vệ mảnh đất Bách Việt mà sống; nếu còn giữ hận thù thì sẽ tiêu
vong cả 2 giống Ngô và Việt (đó là ý
nghĩa của chữ Đồng Bào).
Lãnh thổ của dân Bách Việt là lãnh thổ nước Nam Việt dưới thời Triệu
Đà, từ dãy núi Ngũ Lĩnh ở hữu ngạn sông Dương Tử tới đèo Hải Vân ngày hôm nay,
phía Tây đến tận sông Hoài (nơi Hạng Võ
tự tử) và tả ngạn sông Cửu Long.
Học thuyết Rồng Tiên và hoa văn trên mặt Trống Đồng 14 tia đã nói
rõ phương cách xây dựng xã hội đa chủng gồm sắc dân Ngô và 15 sắc tộc Việt với
16 nền văn hóa khác nhau được tóm lược như sau :
·
Muốn có tự chủ thì phải có Việt
Lực. Việt Lực là sức mạnh đoàn kết toàn dân như bài học về sức mạnh của một
chiếc đũa với sức mạnh của một bó đũa.
·
Muốn có Việt Lực thì phải vun trồng Việt Giáo, Việt Đạo và Việt
Triết (lời cha Lạc Long…gọi Bố ơi !
về cứu chúng con)
·
Việt
Giáo, tức Giáo Lý học làm người Việt, dùng để xây dựng nhân cách con
người Việt với tinh thần Tự Trọng (ý
nghĩa của chữ Văn Lang) và Cầu Tiến (ý
nghĩa của danh từ Việt)
·
Việt
Đạo, tức đường đi của toàn dân Việt dùng để xây dựng cộng đồng, bảo vệ
quốc gia.
Nay
ta gọi là Canh Tân Con Người và Canh Tân đất nước sao cho bằng người.
Học
thuyết thời đó được gói ghém trong danh từ Đồng Bào với ngụ ý là : Kết hợp
với nhau bằng Tâm, cư xử với nhau bằng Đức; bình đẳng tột cùng và thân thương tột
độ.
·
Việt
Triết tức triết lý sống của dân Việt: Sống cho mình và sống cho người
được biểu thị trong hình ảnh đấu tranh tự vệ bằng cách chia binh đồng đều ra
biên giới (phía Bắc là dảy núi Ngũ Lĩnh
và phía Đông là biển cả bao la) để thủ với chiến thuật Tự Vệ: Toàn Dân Kháng
Chiến, Toàn Diện Đấu Tranh trong thế liên hòa tiếp ứng.
Thế liên hoàn :
50 binh đội theo mẹ lên núi để chặn đứng âm mưu chiếm đất của giặc
Tàu (nhà Chu), 50 binh đội theo cha ra biển Đông để phòng ngừa giặc nhà Chu đổ
bộ đánh cạnh sườn.
Thế tiếp ứng :
Là câu căn dặn của cha Lạc Long : « Chừng nào giặc thù đến
cướp phá, chống đỡ không nổi thì gọi Bố ơi ! về cứu chúng con ».
Hình ảnh chia quân đi phòng vệ biên cương được diễn nôm như
sau :
1)
Trong khi đấu tranh tự vệ để đòi lại những
gì đã mất thì : Cương quyết tiêu diệt kẻ thù không nhân nhượng ;
nhưng không đưọc truy kích hay trả thù trong khi đấu tranh (uy dũng và công minh của RỒNG)
2) Sau
khi chiến thắng thì : Độ lượng và khoang dung với kẻ thù sau khi chiến thắng
(hiền từ và nhân đức của TIÊN)…
nên
nhớ là sau khi chiến thắng chứ không phải lúc đang đi đòi cái gì mình bị giặc
chiếm đoạt, nếu hiểu lộn thì biến nhân từ thành đầu hàng giặc.
Đó là triết lý sống của Rồng và của Tiên do cha mẹ dạy bảo từ bé
cho đến lúc trưởng thành tự sống lấy một mình được.
C. Thời Triệu Đà :
Triệu Đà là người Việt gốc Ngô, chánh quáu ở Chiết Giang (vùng Ngô Việt, WU
YEU là tiêng Tàu có trên bản đồ hoa lục do Tàu Mao vẽ) dứt Thục Phán để thống
nhất đất nước cũng theo triết lý :
Hội nhập Văn Hóa, Bình Đẳng sắc tộc bằng chế độ Quân Chủ Đại Nghị ;
dân vùng nào thì quan lại người vùng đó chăm lo dạy dân thành người hữu dụng
cho đời : Biết sống cho mình và sống cho người như câu chúc đám cưới là Rồng
Tiên Song Hiệp ; có nghĩ là Trai Gái phối hợp với nhau cho trọn vẹn để sống
cho mình và sống cho cộng đồng. Còn dân Tàu vì sống trong chế độ Bạo Chúa, cấm
làm chánh trị để lo cho đất nước nên họ chỉ có vui thú xác thịt nên chúc nhau
Long Phụng Giao Duyên (chuyện đời không
ngó tới).
D. Thời nhà Lý :
Nghiền ngẫm giáo lý đạo Phật để vun trồng Việt Lực mà thời đó gọi là TU XUẤT THẾ, giúp nước cứu đời.
Thời nhà Hậu Lê đã thay đổi cách tu thành Xuất Thế, tức tu ích kỷ chỉ lo cho
mình sớm siêu thoát thành Phật, còn chuyen đời thì mũ ni che tai. Cái này là do
quan niệm sống ở thời đó tạo ra là : Đất của Chúa, lúa của Trời.
E. Thời nhà Trần :
Dưới thời nhà Trần di chuyển thuận tiện hơn nên mỗi làng bắt buộc
phải có 1 cái đình là nơi sinh hoạt công cộng của dân trong làng, và cũng là
nơi để quan lại đến làm việc với dân để cùng nhau lo việc nước có chỗ tá
túc ; không gây tốn phí hay phiền hà đến sinh hoạt của dân làng.
Vì di chuyễn dễ dàng hơn nhà Lý nên mới vun trồng Việt Lực bằng
Tam Giáo Đồng Nguyên. Có nghĩa là 3 đạo, Lão, Phật và Khổng đều có triết lý về
đời sống có giá trị cao như nhau cần phải thông hiểu để vun trồng Việt Lực.
Nguyên có
nghĩa là cao nhất như Nguyên Thủ Quốc Gia.Vì nền học vấn chú trọng đến mặt trận
Văn Hóa Thuần Việt cộng với thể chế Quân Chủ Đại Nghị nên mới có chuyện hỏi việc
dân như Hội Nghị Diên Hồng, vua chỉ là người đại diện như Quốc Hội ngày hôm nay
phê chuẩn các sắc lệnh của toàn dân qua ý kiến của quần thần. Do nền học thuật
đi cùng thể chế nên nhà Trần mới có rất nhiều Nhân Tài. Đó là điều người ngày
nay phải suy ngẫm mà noi theo : Châu chấu lại đòi đá xe, tưởng chừng chấu
chết chẳng de xe nghiêng ; để đừng ươn hèn như thế Việt Cộng Hèn với Giặc
nhưng ác với dân.
F. THỜI VUA LÊ THÁNH TÔNG
(1471) :
Hội nhập nước Chàm vào nước Đại Việt bằng Bình Đẳng sắc Tộc và Hội
Nhập Văn Hóa nên mới chấm dứt vĩnh viễn chiến tranh Chàm và Việt cứ trung bình
25 năm xúc sức tích nhuệ thì vua CHÀM lại kéo quân Bắc Tiến tàn phá nước Đại Việt,
thu chiến lợi phẩm, bắt nô lệ rồi lại kéo về. Đây là cuộc chiến Tư Thù của vua
Chàm chứ không phải là cuộc chiến xâm lăng lấn đất giành dân. Đây là bài học về
cách xóa bỏ xung khắc sắc tộc mà ta nên nghiền ngẫm.
G. THỜI HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG
Llập Sùng Chính Viện theo đề nghị của ẩn sỹ La Sơn Phu Tử.
Đây là chương trình Phục Việt, tức là phục hồi vị trí Việt tộc
trong cộng đồng nhân loại sau 200 năm huynh đệ tương tàn cho quyền lợi của 2
dòng họ Trịnh/Nguyễn một cách u mê.
Sùng Chính Viện là viện phục hồi mặt trận văn hóa thuần Việt do
ông Nguyễn Thiếp khuyên Hoàng Đế Quang Trung và chính ông được bổ nhiệm để lo
cho việc phục hồi Văn Hóa Thuần Việt cho toàn dân.
Tuy Gia Long, vì quyền lợi cá nhân đã dẹp bỏ chương trình nay vì
muốn đề cao phong trào « nôm na là
cha mách qué » để khinh rẻ tổ tông, tôn thờ ngoại chủng nhưng chương
trình này đáng để chúng ta học hỏi.
Nên nhớ Gia Long là kẻ thất học chỉ biết hận thù cá nhân và háo
sát. Mới 13 tuổi thì ông đã bị Tây Sơn truy nã gắt gao, trốn chui trốn nhủi thì
làm gì có tiền và có thì giờ để học làm người.
H. THỜI ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA (1956-1963) :
Với chương trình Cán Bộ Nông Thôn xây dựng Ấp Chiến Lược (bảo vệ Tự
Chủ) với học thuyết Cần Lao Nhân Vị, tức tự mình cố gắng cần cù học hỏi để
thăng tiến bằng người (tạo thế đứng trong xã hội).
Chương
trình này cũng đặt nặng lên việc xây dựng Việt Lực bằng Văn Hóa Thuần Việt có
nói rỏ trong Học Thuyết Cần Lao Nhân Vị.
Quốc
Sách Ấp Chiến Lược (chiến lược bảo vệ tự
chủ chứ không phài chỉ có chống Cộng không thôi) đi với học Thuyết Cần Lao
Nhân Vị thành công đã làm cho Tổng Thống KENNEDY phải ra lệnh giết chết cả 3
anh em ông Ngô Đình Diệm ; chỉ vì nó phá tan chương trình thử vủ khí của
Nga/Mỹ trên đất Việt.
Nay
chúng ta oán Mỹ, chửi Nga-Tàu ; nhưng chúng ta có nghĩ rằng chính dân Việt
đem chiến tranh thử vũ khí của 2 siêu cường NGA/MỸ để đảng Việt Cộng hưởng lợi
trên sự banh xác của dân Việt không ?
Chúng
ta nên học hỏi đường lối xây dựng Việt Lực của nền Đệ Nhất Cộng Hòa, nó nguy hiểm
ra sao mà Tổng Thống Kennedy phải ra lệnh triệt hạ bằng cách giết cả 3 anh em
ông Diệm và phá hủy Quốc Sách Ấp Chiến Lược đang trên đà phát triển.
&
QUAY LẠI NGÀY
19/8/1945:
Phá
đám. Hớ hênh một chút trả nợ cả đòi chưa xong ! Sự thật không thể
chối cãi được là :
-
Ngày 06/8/1945 nước Nhật
ăn một quả bom Nguyên Tử, thành phố Hiroshima ra tro
-
Ngày 09/8/1945 nước Nhật
ăn quả bom thứ nhì ở Nagasaky
-
Ngày 11/8/1945 Nhật
Hoàng lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng người Mỹ vô điều kiện.
-
Ngày 15/8/1945 Nhật
Hoàng đích thân lên chiếm hạm Mỹ để chính thức ký giấy đầu hàng vô điều kiện.
Sau đó Nhật Hoàng ra lệnh cho quân đội Nhật án binh bất động và
trao trả chủ quyền cho thổ dân mà quân Nhật đang quản trị, vì trong văn kiện đầu
hàng không có mục lính Nhật phải bảo vệ an ninh và trật tự nơi trú quân trước
khi trao khí giới cho quân Mỹ đến thay thế.
Đây là sơ hở của bản văn do người Mỹ soạn thảo và dân Việt lãnh đủ
hậu quả.
Vì sơ hở này nên mới có chiến tranh Đông Dưong từ năm 1945 đến ngày
30/4/1975 mà kết quả là 4 triệu người chết vì chiến tranh thử vũ khí của Nga/Mỹ
trên đất Việt, và 10 triệu ngời tàn phế để có ngày hôm nay : Gái thì hớn hở
xuất khẩu làm đĩ dưới vỏ bọc lấy chồng ngoại quốc, trai thì tìm cách vượt biên
để làm lao nô ; đất nước bỏ hoang để Tàu Khựa đến khai thác và làm chủ.
-
Ngày 16/8/1945
quân Nhật đã trao trả trọn vẹn nước Việt Nam cho Hoàng Đế Bảo Đại. Độc Lập và
Thống Nhất Lãnh Tổ đã có, chỉ việc dùng chánh trị để bảo vệ nó mà không xong.
-
Ngày 17/8/1945 (thứ
Sáu ngày làm việc) Hoàng Đế Bảo Đại cho công chức nghỉ việc để tập trung trước
dinh Tỉnh Trưởng (có dàn âm thanh) để nghe Hiệu Triệu Quốc Dân do chính Ngài đọc
qua làn sóng phát thanh ở Huế thì ở Hà-Nội, bọn Việt Cộng phá đám gây rối để cướp
chánh quyền, gây tang tóc cho toàn dân…
Nên nhớ là lúc đó dân đói, nghèo nên không ai có radio để nghe cả,
radio là đồ xa-xỉ vì lo ăn chưa xong thì thì giờ đâu để nghe tin tức, truyền
thông thì bế tắc. Báo chí thì 95% mù chữ cho không cũng không ai lấy.
-
Ngày 19/8/1945 (chủ
nhật ngày nghỉ) ; chỉ có ở Hà-Nội thôi bọn Việt Cộng tổ chức làm loạn, đi
đập phá các công sở để hôi của mà chúng gọi là
ngày cách mạng (thô phỉ thì đúng hơn) - giống như bên Mỹ ngày hôm nay, tổ
chức biểu tình để bọn cướp trà trộn biến thành phản loạn, giật đổ biểu tượng
dân tộc và cướp bóc ngay ban ngày
-
Ngày 25/8/1945 Việt
Cộng ép Hoàng Đế Bảo Đại thoái vị, kể từ lúc này đất nước vô chủ. Vì Hoàng Đế Bảo
Đại chỉ đọc chiếu thoái vị chứ không làm lễ trao quyền cho ai cả.
-
Ngày 02/9/1945 Việt
Cộng tổ chức lễ TUYÊN THỆ trước bàn thờ Tổ Quốc (đúng ra phải gọi là Hồn Thiêng Sông Núi, Anh Hùng Liệt Nữ đồng lai chứng
giám lời thề độc địa của Hồ Chí Minh) với ý định mời vua Bảo Đại trao ấn kiếm
và trao quyền cho hắn, sau đó hắn mới thề thốt lung tung….
Không ngờ Cựu Hoàng khước từ với lý do là : Các ông đã bắt
tôi thoái vị từ ngày 25/8, nay tôi có còn quyền gì nữa đâu mà trao cho các ông.
Vì hụt hẫng nên mới nói là Tuyên Ngôn Độc Lập, mà lúc đó Hồ chí Minh là một tên
vô danh làm gì có quyền đọc tuyên ngôn đôc lập mà Triều Đình Huế đã đọc vào
ngày 11/3/1945 trước đó rồi.
Hơn
nữa trong buổi lễ này vắng bóng Cựu Hoàng Bảo Đại nên chúng ta có thể nói rằng
buổi lễ bịp này là một trò hề trình diện Chánh Phủ không ai bàu, tự biên tự diễn
và tự ý thay đổi quốc hiệu từ nước Việt
Nam sang nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa… Đây là một bằng chứng thoán nghịch.
Nếu lúc đó dân ta tinh khôn thì làm gì có ngày 02/9/1945 và cũng
chẳng có cuộc chiến 1945-1975 để Nga/Mỹ thử vũ khí trên xương máu dân Việt và
phá hủy tài nguyên của đất nước chúng ta…
Có đúng là Hồ Chí Minh đem chiến tranh Nga/Mỹ tranh hùng trên đất
Việt đến nước ta để cướp quyền cho dễ không ? Tức là Rước Voi về dày mả tổ
vì quyền lợi của đảng Việt Cộng lm tay sai cho đệ Tam Quốc Tế.
------------------------
Sau đây là 2 bản văn lịch sử ra trước ngày 19/8/1945 để vạch rõ âm
mưu ám muội diệt chủng của bọn Việt Cộng bán nước cầu vinh :
Bản văn số 1 ra ngày 11/3/1945
Tuyên ngôn độc lập của Hoàng
Đế Bảo Đại
Đây là một bản văn tương đối ngắn so với những bản văn cùng loại,
nhằm ba mục tiêu chính yếu là hủy bỏ một hòa ước Triều Đình Huế đã ký với nước
Pháp, tuyên bố Việt Nam độc lập,đứng vào khối Đại Đông Á trong chương trình
phát triển chung, đồng thời bày tỏ sự tin tưởng vào lòng thành của nước
Nhật với nguyên văn như sau:
“ Cứ tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng
cõi Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này điều ước bảo hộ với
nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập .
“ Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và
theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh
vương chung. Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế
quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được
mục đích như trên”
Bản
Tuyên Bố được đề ngày 11 tháng Ba năm 1945 tức ngày 27 tháng Giêng năm Bảo Đại
thứ 20 được Bảo Đại ký tên với sáu thượng thư phó thự. Sáu vị thương thư gồm
có:
Phạm Quỳnh, bộ Lại, Hồ Đắc Khải, bộ Hộ, Ưng Úy, bộ Lễ, Bùi Bằng
Đoàn, bộ Hình, Trần Thanh Đạt, bộ Học, và Trương Như Định, bộ Công. Theo Bảo Đại
đây là lần đầu tiên trong lịch sử một văn kiện được ký bởi nhà vua và tất cả
các nhân vật quan trọng nhất trong triều đình.
Nguồn: Wikipedia
Sử Gia Phạm Cao Duơng
----------------------------------------
Bản văn số 2 ra ngày 17/8/1945
Phát sóng trên Radio Huế lúc 10 giờ sáng ngày 17/8/1945
Việt Nam Hoàng Đế ban chiếu số 105:
" Cuộc chiến tranh thế giới đã kết liễu, lịch sử nước
Việt Nam tiến tới một thời kỳ nghiêm trọng vô cùng.
Đối với dân tộc Nhật Bản, trẫm có nhiệm vụ tuyên bố rằng:
dân tộc ta có đủ tư cách tự trị và nhất quyết huy động tất cả lực lượng, tinh
thần và vật chất của toàn quốc để giữ vững nền độc lập cho nước nhà.
Trước tình thế quốc tế hiện thời, Trẫm muốn mau có một
Nội Các mới.
Trẫm thiết tha hiệu triệu những nhà ái quốc hữu danh
và ẩn danh đã nỗ lực chiến đấu cho quyền lợi dân chúng và nền độc lập nước nhà
mau mau ra giúp Trẫm để đối phó với thời cuộc.
Muốn củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền
lợi của dân tộc, Trẫm sẵn sàng hy sinh tất cả các phương tiện. Trẫm để hạnh
phúc của dân Việt lên trên ngai vàng của Trẫm.
Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn là làm vua một
nước nô-lệ. Trẫm chắc rằng toàn thể quốc dân cùng một lòng hy sinh như Trẫm.
Trong cuộc chiến đấu mà ta cần phải đương đầu với một
cuộc tái hồi ngoại thuộc, toàn thể dân tộc Việt Nam chắc chắn ở sự đắc thắng của
công lý và nhân đạo và tin rằng chỉ có một nước Việt Nam độc lập mới có thể cộng
tác một cách hiệu quả với tất cả các nước để gây dựng một nền hòa bình vững chắc
ở hoàn-cầu"
Khâm thử: Phụng ngự ký: Bảo Đại
Ban chiếu tại Thuận Hóa ngày mồng 10 tháng
7 năm Bảo Đại thứ 20 (17/8/45)
-----------------------------------
Những thời đen tối :
Đây
là thời kỳ hấp thụ nền học vấn nô dịch nên Tâm Tư bất an, Tinh Thần thác loạn,
do đó con dân đất Việt không thiết giữ nước vì Hồn nước đã mất trước rồi thì nước
mất sau.
Vậy
thì ‘Đừng lo độc lập không tới, mà chỉ lo người dân không đủ khả nằng giữ vững
nền độc lập » - Lời cụ Phan Bội Châu.
Biết vậy thì ta phải làm ngược lại
là : Khai Phóng Dân Trí (ý chí quyết tâm bao vệ tự chủ), chấn hưng Dân Khí
rồi Hậu Dân Sinh. -Lời cụ Phan Chu Trinh.
Dân khí có cao thì mới có ý chí dấn thân,
dân trí có hùng thì mới bắt tay vào việc.
Do
đó chúng ta phải đi ngược chiều là Phục Hồi Dân Khí và Khai Phóng Dân Trí bằng
xây dựng cộng đồng Văn Hóa để lo chiều dài cho tương lai con cháu bằng chương
trình Văn Hóa Thuấn Việt.
Ø Chương trình đã có, nay chỉ việc tự tu luyện
để có đội ngũ Giảng Huấn chuyên nghiệp là đoạn khó khăn đầu tiên phải đi qua.
Ø Vạn sự khởi đầu nan, các đoạn sau cứ thế
tiến bước dễ dàng
&
Phần 5 : THỰC HÀNH
Xây dựng Cộng Đồng
Văn Hóa để lo cho tương lai con cháu
Uống nước nhớ nguồn Rồng Tiên, ăn cây nào thì rào vườn đó. Còn
không thì là kẻ ăn bám xã hội tiếp cư, làm ô nhục nòi Việt.
Vì
không muốn con cháu chúng ta trở thành những tên mất gốc, tha hương cầu thực,
giá áo túi cơm nên nhóm Nhân Văn Việt Tộc xung phong đưa ra một đề án xây dựng
Cộng Đồng Văn Hóa Rồng Tiên ở Hải Ngoại để con cháu chúng ta hãnh diện về bản sắc
dân Việt của mình và đồng thời đem những nét tinh hoa của nền văn hóa Rồng Tiên
góp phần mình cho xã hội tiếp cư để tạo xã hội hài hòa.
Nên
nhớ rằng : Người Việt tốt là người có Tâm Việt và có Hồn Việt, biết sống
cho mình và sống cho người. Do đó :
·
Không phải cứ sống trong nước Việt mới là người Việt.
·
Không phải đã là người Việt rồi thì không có trách nhiệm gì đối với
xã hội tiếp cư.
Vì
thế nên :
ü Đã
chót sinh ra làm người Việt thì nên cố gắng trở thành người Việt tốt, biết sống
theo nền văn hóa thuần Việt để biết cách sống cho mình và sống cho người.
ü Còn
không thì chả là người gì tốt cả. Vì mẹ đẻ không quý thì làm sao quý đuợc mẹ
nuôi?
Từ nguyên lý này mới nảy sinh ra đề án như sau :
Trước hết chúng ta phải lấy lại Hồn Việt để phục hồi những giá trị
tâm linh đã bị mất; sau đến là phải Canh Tân Tư Tưởng, thay đổi tư duy (tức canh
tân não trạng) để có cái nhìn ngang tầm thời đại thì mới có đủ khả năng bổ xung
những kiếm khuyết cho hợp với cuộc sống hiện tại.
Chúng
ta đã mất những gì ?
Sau đây là những cái mất mà chúng ta biết, còn rất nhiều cái mất
mà chúng ta chưa biết nên đừng bao giờ nói là kẻ thống trị nhân từ ; vì những
người nhân từ không bao giờ dùng mánh-mung hay bạo lực để thống trị (bóc lột)
người khác cả.
Dưới
thời Mã Viện chúng ta mất :
·
Văn
Minh : Việt Lịch ; Trống Đồng ; Cách tổ chức xã hội ;
Tinh thần Đồng Bào.
·
Văn
Hóa Việt (cách sống của dân Việt): Hắn bắt phải đồng hóa với dân Tàu
từ y phục đến ngôn ngữ, do đó mới có tục nhuộm răng đen (bọn Tàu chê là man rợ)
để phân biệt Việt và Tàu. Hoài con mà gả cho loài trắng răng bắt nguồn từ đây.
·
Chữ
viết tiếng nói của dân Ta là chữ Khoa Đẩu, Chữ Nòng Nọc, Chữ Việt Thường (tượng
thanh gồm 35 ký hiệu để phát âm mà chữ Quốc-ngữ nhái theo bằng cách chuyển hình
dạng của ký hiệu Việt Thường sang ký hiệu Latin).
·
Lịch
sử VIỆT với thể chế « DÂN CHỦ PHÂN QUYỀN »
Dưới
thời Trương Phụ (Minh
Thành Tổ) chúng ta mất :
·
Tiêu
diệt Văn Hóa Việt, một chữ cũng không để lại (coi bài Bình Ngô Đại Cáo)
·
Triệt
hạ nhân tài : Hoặc giết, hoặc bắt về Tàu, hoặc thiến để diệt chủng. Hãy
nhìn Tây Tạng và Tân Cương (Duy Ngô Nhĩ) ngày hôm nay thì rõ.
·
Bắt
về Tàu hàng trăm ngàn người để xây Kim Lăng ở Bắc Kinh, chết vì tai nạn,
vì đói rét vì làm việc quá sức cả hàng chục ngàn người.
·
Đầy ải
người dân mà bài Bình Ngô Đại Cáo đã tả : Nướng dân đen trên ngọn lửa
hung tàn, vùi con đỏ dưới hầm tai vạ … bắt bớ hết cả nghề canh cửi.. Độc ác
thay trúc rừng không ghi hết tội, nhơ bẩn thay nước biển khôn rửa sạch mùi.
·
Đàn
ông thì thiến cho tuyệt chủng, đàn bà thì cưỡng bách lấy chồng Tàu cho hết nòi.
·
Ông Trạng
Nguyên(?) Lê Quý Đôn dưới thời Lê Mạt đã phải than rằng :
20 năm dưới sự thống trị của giặc Minh mà nay chúng ta không còn biết gì về Văn
Hóa, Lễ Nhạc, Binh Thư dưới thời nhà Trần nữa. May mắn lắm thì chỉ còn mỗi cái
tên như Vạn Kiếp Bí Truyền, Binh Thư Yếu Lược.
Dưới thời Gia Long chúng ta đã mất :
·
Quyền Tự Chủ, yêu nước đi tù như Đoạn Trường Tân Thanh
đã nói : TẤM LÒNG TRINH BẠCH TỪ NAY XIN CHỪA. Có Tài là cậy chi tài, chữ TÀI
liền với chữ TAI một vần
·
Sự kết hợp dân tộc, vì mỗi vùng (Bắc, Trung, Nam) theo một
luật khác nhau.
·
Quyền tìm hiểu hào khí của cha ông, nhất là nhà Tây Sơn, Chúa Trịnh
và nhà Mạc đều bị bôi nhọ và cấm không được nhắc tới.
Chỉ
vì ông chủ trương vọng ngoại với phong trào người Việt đi khinh người Việt :
‘Nôm Na Là Cha Mách Qué’. Lịch sử bị
bóp méo, ngôn từ sai lệch như con trưởng phải gọi là anh Hai, chị Hai chỉ vì chữ
CẢ đã được trao tặng cho ngoại bang là Ông Bá Đa Lộc với chức CHA CẢ, khi chết
được làm Lăng nguy nga ở Tân Sơn Nhất với danh xưng Lăng Cha Cả.
·
Hùng
khí dân tộc vì không được thảo luận về lịch sử nhà TRỊNH và nhà TÂY SƠN
Còn
mất rất nhiều, mất cả giang san để trở thành kẻ nô lệ ngay trên di sản của bao
đời tổ tiên để lại. Vì thế nên thế hệ 1945 không đủ sức bảo vệ độc lập khi người
Nhật trao trả độc lập vào ngày 16/8/1945.
Lợi
dụng tình trạng này nên bọn lưu manh láu cá gây loạn rồi soán đoạt chánh quyền
để đưa dân ta xuống hố như ngày hôm nay : 4 triệu người chết và 10 triệu
người tàn phế sống lây lất trên quê hương của mình (thừa kế gia tài của tổ
tiên) để phục vụ cho Bá Quyền của Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa.
Nếu
ai còn Tâm Việt và Hồn Việt thì cũng đau sót cho thân phận hẩm hiu của dân tộc :
Gái thì hăng hái đi làm đĩ khắp thế giới để làm kế sinh nhai, trai thì vượt
biên đi làm lao nô cho thiên hạ để thoát cảnh dân oan. Đất nước hoang phế để bọn
Tàu Khựa lũng đoạn trước, ăn cướp sau.
Vụ vượt ngục với
39 xác chết thê thảm (31 trai soan + 8 gái
tơ) trong xe đông lạnh ở Esser (cách
Luân Đôn 30Km) vào sáng ngày thứ Tư 23/10/2019 vừa qua là một bằng chứng về
tội ác tày trời của đảng Việt Cộng và đồng thời cũng cảnh tỉnh người dân là :
Phải kết đoàn, đứng lên đòi quyền làm người trên quê hương của cha ông để lại.
Dưới thời Thực Dân Pháp chúng ta mất :
·
Quyền làm người (cấm túm năm tụm ba và cấm thảo luận
chánh trị)
·
Quyền hiểu biết sự thật (phương tiện truyền thông khan hiếm;
95% mù chữ, di chuyển khó khăn ; từ vùng nọ sang vùng khi phải có giấy
thông hành).
·
Quyền hội thảo để mở mang kiến thức.
·
Quyền học lịch sử một cách trung thực và đứng đắn.
·
Chữ viết bị thay thế bằng loại chữ mới với mục đích đoạn tuyệt
với tiền nhân và xóa bỏ tội trạng bán nước,
dắt voi về dày mả tổ của Gia Long
·
Ngôn từ bị cấm đoán nên : Học hành chiếu lệ với chương
trình Ngu Dân, Diệt Chủng, Vọng Ngoại, Cầu An (coi Phan Bội Châu tự phán). Tiếng
nói bị thui chột, ý nghĩa sai lệch và tục tằn, 95% mù chữ. Nhà
tù nhiều hơn trường học.
Một
vài tỷ dụ :
·
Chữ
Bộ Lạc là một vùng an lạc, có Lạc Vương, Lạc Hầu (quan văn) và Lạc Tướng
(quan võ), tức là một tiểu Bang.
Ấy thế mà không hiểu nó dạy ra làm sao mà ta cứ khăng khăng bảo đó
là TRIBU (dân đinh tương đương với một làng). Trong khi đó ta gọi TRIBU là TÙ,
Chef de tribu là Tù Trưởng (ngang với ông Lý Trưởng).
·
18 đời
Hùng Vương là 18 triều Đại vua Hùng, ấy thế mà cụ Trần Trọng Kim còn quên tiếng
Việt huống chi là chúng ta, nên cụ gọi là 18 ông vua !.
Thời đó (257BC) người ta nói tiếng Việt chứ có ai nói tiếng Tàu
đâu mà cụ Trần Trọng Kim lại bẻ ngoéo ra 18 ông vua ! Không những sai về
ngôn từ mà còn sai cả về lý luận nữa (ngây ngô) nên sai một ly nó đi một dặm.
1. Ngay
trong cuốn sử cụ nói Đời Nhà Lý có 8 ông vua : Lý Bát đế, rõ ràng đời là một
Triều Đại ; vậy cớ sao cụ lại bảo là đời người mà chúng ta cũng tin ?
2. Xưa
hay nay thì con người cũng sinh đẻ ở tuổi 20. Khi vua cha 150 tuổi thì vua con
cũng xấp-xỉ 130 tuổi rồi, vậy cớ sao cụ lại bảo tuổi thọ của con người dính liền
với tuổi đời của một ông vua mà chúng ta cũng nhắm mắt tin theo ?
Từ
cái nhầm này chúng ta đã bị văn minh Tây Phương dắt mũi nên mới phỉ báng Tổ
Tông là phép lác. Ông Nho Tây chứng minh : 18 ông vua, mỗi ông lãnh đạo
trung bình là 20 năm. Vậy thì thời Hùng Vương kéo dài chỉ có 360 năm thôi.
Đời Hùng Vương thứ 18 bị Thục Phán cướp ngôi vào năm 257BC. Vậy
thì Văn Lang lập quốc vào năm 617BC…. tối đa là 700BC chứ đâu có phải là
2.879BC !!! …
Đúng
là lũ con bất hiếu !
Ô hô, dựa trên căn bản sai lầm rồi cho đó là đúng. Vì quá tự kiêu và vọng
ngoại nên đã nhục mạ tổ tông đúng theo ý nguyện của nền giáo dục nô dịch.
Nói chung là mất tất cả vì dã tâm và sự cố tình tạo ra chánh sách
Ngu Dân Diệt Chủng của bọn Thực Dân Pháp. Sau đây là bằng chứng cụ thể về mục
tiêu thống trị dân ta của họ :
NHẮC
LẠI
Thời đó ở Paris có trường Thuộc Địa ở Avenue de l’Observatoire quận
6 để huấn luyện các cán bộ Thực Dân. Trước khi được bổ nhiệm thì các Quan Cai
Trị đã biết phải làm gì rồi. Cứ 6 tháng phải làm báo cáo về thành quả của tiến
trình dự trù. Đây là báo cáo tối mật được lưu trữ ở Thư Viện Quốc Gia Hải Ngoại
ở AIX EN POVENCE (gần Marseille) chỉ có người mang quốc tịch Pháp mới được quyền
vào tra cứu.
Vì mất nước nên buộc phải vào quốc tịch Pháp và hi-hữu lắm mới vớ
được bản văn này.
Ø Đây
là báo cáo của Quan Lớn PHILASTRE, giám đốc hình sự Nam Kỳ (Tổng Trưởng Nha Tư
Pháp Nam Kỳ) vào năm 1879 đã phải thốt lên rằng:
Người Pháp chủ trương bóp nghẹt nền văn hóa đặc thù và đáng kính của
dân Việt là họ đã phạm tội lớn lao đối với nhân loại.
Nguy
hiểm ở chỗ : Đây là sức mạnh Tâm Linh dùng để vươn lên bằng người. Hiện
nay chúng tôi đã tìm thấy một vài cái mất mát và cũng đã nhìn thấy một vài cái
đang tiến dần tới tiêu vong chỉ vì tinh thần vọng ngoại của lớp sỹ phu Nho Tây
đương thời.
Nguyên
văn của bản văn tiếng Pháp như sau:
"L'Annam n'a aucun
besoin de nos bon office, et c'est un crime de lèse-humanité que de vouloir
étouffer une civilisation si unique et si vénérable"
Bản văn này hiện đang lưu trữ trong thư viện Quốc Gia ở
Aix-en-Provence
Dịch thoát ý như sau :
·
Người
Việt không cần sự khai phóng của chúng ta.Thật là một tội đồ lớn lao đối với
nhân loại khi chúng ta chủ trương bóp nghẹt nền văn hóa đặc thù và đáng kính của
họ.
Nó đặc thù và đáng kính ở chỗ nào thì công
việc của chúng ta là phải đi tìm cho ra lẽ để phục hồi hào khí chánh đáng của dân
tộc
Dưới
chế độ Việt Cộng thì
chúng ta mất gì ?
·
Chúng
ta không những mất quyền làm người mà quyền sống an phận như con vật cũng không
có.
Vì chế độ biến chúng ta và con cháu chúng
ta thành « Công Cụ Sản Xuất »
cho bọn Tam Đại Bần Cố Nông thụ hưởng.
Đến như thân thể chúng ta do cha mẹ sinh ra cũng không còn của chúng ta nữa ;
chúng mổ lấy phủ tạng đem bán.
·
Mất
những gì thì mọì người đều biết : Người dân bỏ phiếu cho Cộng Sản bằng đôi
chân (Tẩu vi thượng sách). Lính cụ « HỒ » giải phóng cuộc sống thành
bần cùng đi tới đâu thì người dân bỏ chạy tới đó.
XÉT RẰNG :
Vì sự
khù-khờ của thế hệ 1945 nên dân ta đã phải hy sinh 4 triệu mạng sống và 10 triệu người tàn phế
cho cuộc chiến NGA MỸ tranh hùng, thử vũ khí trên đất Việt từ 1945 đến 1975.
Không những dân ta chịu tổn thất về sinh mạnh cũng như về tài nguyên để NGA, MỸ
hưởng mà chúng còn chê dân ta là NGU nên phải đi làm đĩ cho thiên hạ để kiếm sống.
Vụ
chết cóng trong xe bít bùng xảy ra ở bên Anh vừa rồi vào sáng sớm ngày thứ
Tư 23/10/2019 (31 trai soan và 8 gái tơ) là một vết nhơ muôn đời, thiên hạ vừa
thương hại, vừa khinh là không biết đoàn kết để đòi quyền sống làm người.
Vậy
thì, hiện nay chúng ta có muốn đẩy con em chúng ta vào tình trạng :
1.
Vong
thân, bỏ nước ra đi kiếm sống (lưu vong,
giá áo, túi cơm) hay nô lệ Cộng Sản
không ?
2.
Hy
sinh xương máu một cách ngu xuẩn cho cuộc chiến Mỹ Trung sắp xẩy ra không?
Nếu không muổn đem khổ lụy đến cho con
cháu thì chúng ta phải làm gì ? Không thể há miệng chờ sung được. Chúng ta
phải lo cho tương lai của con cái chúng ta chứ.
Chúng ta phải làm gì để chúng biết
cách :
a)
Kết
hợp với nhau thành bó đũa ?
b)
Phát
huy bản sắc dân tộc (uống nước nhớ nguồn) ?
c)
Đóng
góp phần mình cho xã hội tiếp cư (ăn cây
vườn nào thì rào vườn đó) ?
mà
không cần chúng phải biết tiếng Việt.
Có rất nhiều giải pháp để đạt tới 3 mục
tiêu đó, nhưng chúng ta chỉ có quền chọn 1 giải pháp rồi cùng nhau bắt tay vào
việc.
Ø Chúng tôi xin đề nghị dùng Mặt Trận Văn Hóa Thuần Việt để đạt
tới 3 mục tiêu trên.
Văn
Hóa là cách sống và cách suy nghĩ của con người nên Văn Hóa Thuần Việt là chất
liệu để kết hợp dân tộc và đồng thời cũng là sự Tự Hào Chánh Đáng của nòi Việt để con cháu chúng ta được
vinh dự « bảo tồn và phát
huy» bản sắc dân tộc.
Văn
Hóa thuần Việt có nhiều tinh hoa mà các em có thể đóng góp cho xã hội tiếp cư để
có cuộc sống hài hòa với các sắc dân bản xứ.
Ø Nếu không có gì để đóng góp cho xã hội tiếp
cư thì con em chúng ta sẽ tủi nhục với xóm giềng vì chúng là kẻ ăn bám xã hội tiếp cư, là phường giá áo túi cơm ; và
từ đó chúng sẽ chê bai bản sắc dân tộc và tìm cuộc sống cô đơn, vô nghĩa nơi xứ
người.
Quý
vị nào có giải pháp khác thì xin đưa ra để chúng ta cùng nhau bàn tính lợi hại
rồi lấy quyết định chung đặng có sự thống nhất trong hành động.
Trong trường hợp chúng ta đồng ý dùng mặt trận Văn Hóa Thuần Việt để giải
quyết 3 nhu cầu trên, vì là người đề xướng nên chúng tôi xin trình bày thêm như
sau :
Chúng
ta có 2 cộng đồng phải xây dựng khi hoàn cảnh cho phép, hoặc phải lách hoàn cảnh
để xây dựng.
CÁCH XÂY DỰNG
CỘNG ĐỒNG VĂN HÓA Ở HẢI NGOẠI
Chúng
ta đang ở môi trường rất thuận tiện, không những không bị ngăn cấm mà còn được
khuyến khích là khác nữa. Vậy tại sao chúng ta lại thờ ơ với tương lai con
cháu ?
Lợi
dụng thiên thời này, chúng ta phải cùng nhau thảo luận ngay chương trình thực
thi kế sách này càng sớm càng tốt để cứu vớt linh hồn của con cháu chúng ta, đừng
đẩy chúng vào con đường mất gốc, côi cút không biết mình là ai và từ đâu lại lạc
loài đến đây ?
Hai điểm khó trong bước đầu đã được giải
quyết xong rồi.
Đó là :
1) Chương
trình giáo dục Văn Hóa Rồng Tiên thì nay chúng ta đã có đầy đủ chương trình
«Văn Hóa Thuần Việt» đủ dùng cho bước đầu rồi.
2) Môi
trường thuận tiên (thiên thời) cũng đã có rồi, tài chánh không thiếu thốn (có
thực mới vực được đạo) nên thiết nghĩ chúng ta nên bắt tay ngay vào việc đặt
viên đá đầu tiên là :
Hãy cùng nhau đồng loạt tổ chức tổ chức ngày ĐẠI HỘI VĂN HÓA THƯỜNG NIÊN vào đầu năm Việt Lịch, tức Tiết Xuân
thiên nhiên vào đầu tháng MARS.
Chúng ta chỉ việc đem
ngày Văn Nghệ mừng Xuân TÀU (Âm Lịch) sang ngày Tân Niên Việt Lịch là tiết xuân
thiên nhiên (còn tiết xuân Âm Lịch là tiết
xuân tưởng tượng)
Cách
tính Việt Lịch thì cũng đã biết rồi, đó là bài số TNT15-Việt Lịch trong
link : http://vanhoathuanviet.blogspot.com/Tự
in thành sách/sách Kiến thức căn bản
Sau
đó từ từ chúng ta sẽ tiến tới mục tiêu xây dựng Cộng Đồng Văn Hóa từng bước một,
để dạy dỗ con em chúng ta thành người hữu dụng cho đời.
Ø Cứ bắt
tay vào việc đi, khó khăn ở đâu thì giải quyết ở đó.
Hàng năm chúng ta vẫn tổ chức Văn Hóa vào ngày tân niên lịch Tàu
(Âm Lịch). Vậy tại sao chúng ta lại không chuyển ngày vui này sang đầu năm Việt
Lịch ?
Hành động thì dễ ợt, cái khó là tẩy rửa não trạng nô dịch Mã
Viện ; chính hắn đã bóp chết Việt Lịch là lịch của nhà Nông để bắt dân
Ta phải dùng Âm Lịch là lịch của dân Du-mục.
Ø Sở
dĩ ngần ngại là vì không biết cách tính Việt Lịch, thì nay đã có người tính dùm
rồi. Và nếu không làm thì là lỗi ở: « Lạc Hồn Dân Việt » do nền giáo dục Nô Dịch mà ra.
Hãy can đảm thay đổi não trạng để cứu vớt linh hồn con cháu. Sau
đây là dự án xây dựng Cộng Đồng Văn Hóa, lẽ dĩ nhiên đây chỉ là cái sườn, còn
chi tiết sẽ bàn với nhau sau, miễn sao cho phù hợp với từng môi trường sinh hoạt
là được.
&
DỰ ÁN XÂY DỰNG
CỘNG ĐỒNG VĂN HÓA Ở HẢI NGOẠI
Tri tân :
XÂY DỰNG VIỆT LỰC
Chúng ta phải làm gì để nắm bắt thời
cơ ? Giả thử người dân đuổi được Việt Cộng và nắm giữ chủ quyền Quốc Gia
thì phải xây dựng ngay lập tức 2 cộng đồng Quốc Nội và Hải Ngoại để tăng cường
sức mạnh vật chất cũng như sức mạnh của trí tuệ.
A/- CỘNG
ĐỒNG TRONG NƯỚC
Trước hết là giải
quyết khó khăn ngoại lai để nhận viện trợ thì mới phát triển được.
Vậy thì phải dựa
vào ngoại giao (tức thuyết khách). Đường lối chánh trị phải uyển chuyển để có
viện trợ thì mới phát triển bằng Nhật Bản và Nam Hàn được.
Không những mình
phát triển mà còn phải tham gia vào liên minh vòng đai Ấn Độ để giúp nhau cùng
phát triển cho tiến bằng Nhật Bản và Triều Tiên thì vòng đai mới vững chắc được.
Sau đến là phải giải
quyết những khó khăn nội tại mà việc đầu tiên là giáo dục về môn Nhân Văn Việt
Tộc để xây dựng lại con người đã băng
hoại toàn diện, tức Chấn Hưng
dân Khí và Khai dân Trí về khoa Nhân Văn Việt Tộc (khác với Khoa Học Thực
Dụng dùng để kiếm cơm. Khoa học Thực Dụng đào tạo chuyên môn như Bác Sỹ, Kỹ Sư…..để
Canh Tân Đất Nước chứ không phải Canh Tân Con Người).
·
Chấn
hưng dân khí là phục hồi Hào Khí chánh đáng của tổ tiên để tạo ý chí dấn thân
cho việc giúp dân cứu nước.
·
Khai
dân trí là khai phóng tư duy để có quyết tâm bảo vệ sự tự chủ của đất nước. Người
dân không thiết giữ nước thì nước sẽ mất : Hồn Nước mất trước, Đất Nước mất
sau.
Thứ đến là xây dựng
lại xã hội đã tan rã thì mới có phương tiện phát triển. Vì không thể phát triển
trong một xã hội vô tổ chức, vô cảm, vô trách nhiệm như ngày hôm nay được.
Song song với 2 việc
phải làm khẩn cấp nói ở trên, là phải phát triển kinh tế và kỹ thuật.
Khi bắt tay vào việc
thì mới thấy những vấn đề phải giải quyết, từ đó mới nảy ra óc sáng tạo để
thoát hiểm. Thiếu óc sáng tạo tập thể
thì sẽ tiêu vong vì tụt hậu.
Muốn có sự sáng tạo tập thể để quần chúng đồng
lòng làm việc chung thì phải có hội thảo để lấy ý kiến của tập thể. Còn sáng kiến
cá nhân chỉ đưa đến sự làm việc khảng-tảng thiếu hiệu năng ; vì người phụ
họa không hiểu sáng kiến của người đề xướng.
Ø Công tác này có thể làm sau, và tạm gác nó
sang một bên vì thiên thời chưa tới.
²
B/- CỘNG ĐỒNG HẢI NGOẠI
việc của chúng ta
là : Lo cho tương lai con cháu đừng mất gốc
Cộng
đồng Hải ngoại có cái lợi là sống trong các nước đang phát triển mạnh và có tự
chủ từ lâu rồi nên nhẹ gánh ; bớt được phần giải quyết khó khăn ngoại lai.
Việc
còn lại phải làm là "Phát huy văn hóa Lạc Hồng".
-
Thế nào là khí phách Rồng Tiên, văn hóa Lạc Hồng?
Đó
là nền văn hóa nhân bản và nhân ái của sắc dân nông nghiệp, trong đó có tinh thần
tự trọng và cầu tiến.
-
Quốc
sư Nguyễn Trãi nói: Chỉ có nước Đại Việt của ta mới thực sự
là nước có nền văn hiến nhân bản của loài người. (Duy ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang).
Văn Hiến dưới thời nhà Trần gọi là Phép Nước, nay ta gọi là Hiến
Pháp. Hiến Pháp là bản văn quy định trách nhiệm và bổn phận của các tổ chức và
của người dân. Có nước thì mới cần Hiến Pháp. Hiến Pháp đi đôi với việc thành lập
quốc gia.
Vậy
thì chúng ta hãy cố gắng:
a) Dạy
dỗ con cái cho nên người Việt tốt, đừng để chúng trở thành những con người mất
gốc thì chúng sẽ oán bố mẹ là: Chỉ ham làm giàu mà không nghĩ đến sự tủi nhục của
con cái.
b) Đóng
góp phần mình vào xã hội tiếp cư để xây dựng cuộc sống hài hòa, còn không thì
mình là kẻ ăn bám xã hội tiếp cư, là bọn giá áo túi cơm vì chối bỏ nguồn gốc Rồng
Tiên của mình để đi ăn xin tình thương nhân loại.
Người Việt tốt là người có Tâm Việt, có Hồn Việt, có tinh thần Tự
Trọng và tinh thần Cầu Tiến, biết sống cho mình và sống cho người (Rồng Tiên song hiệp, tức cô dâu và chú rể
bổ xung cho nhau để sống cho mình và sống cho người, cho xã hội).
·
Đặc tính của Rồng là Uy Dũng và Công Minh.
·
Đặc tính của Tiên là Hiền Từ và Nhân Hậu.
Khi trước chưa có tài
liệu và sách vở nên khó phát huy được Văn Hóa Lạc Hồng; nay Ban Học Vụ đã soạn
bài đầy đủ rồi, nên chúng ta đã có chút ít vốn liếng để mở mặt trận Văn Hóa Lạc
Hồng, khí phách Rồng Tiên. Tại sao lại
không làm nhỉ?
Các
bài vở đã để trong site Web : :
http://vanhoathuanviet.blospot.com ; đặc biệt là trong mục «Tự in thành sách» với 3 cuốn kinh nhật
tụng là :
1. Bạch Hóa Huyền Sử bằng
di vật của người Văn Lang. Cuốn sách này chỉ cách cho chúng ta đọc thẳng tư tưởng
người xưa và người nay để biết người biết ta.
Ngoài ra còn cho chúng ta biết cách đọc thông điệp người xưa ký
thác trong các chuyện Huyền Thoại để dựng lại lịch sử thời chưa có chữ viết và
tìm lại được Hào Khí Chánh Đáng của nòi Việt để biết đường Chấn Hưng Dân Khí ;
2. Kiến thức căn bản cần
phải biết để đừng đấu võ mù.
Đây là lịch sử đấu tranh dùng để làm vốn đẻ ra những đề án cần phải
có để giải quyết vấn nạn đương thời.
3. Bộ sách giáo khoa Văn Hóa
Thuần Việt để cha mẹ dựa vào đó mà dạy dỗ con cái cách sống làm người Việt tốt ;
tức khoa Nhân Văn Việt Tộc.
Xin đừng bao giờ nói :
Văn
Hóa Việt từ Tàu mà ra, mà ngược lại phải nói là: Văn Hóa Tàu từ Việt mà
ra.
Sở dĩ không biết là vì: Dân ta đã cúi đầu
trong nô lệ lâu năm nên không được học văn minh và văn hóa của tổ tiên mình.
Vì
thế nên mới có đầu óc tự ty và tự mãn về sự hiểu biết giới hạn của mình, nên hễ
ai nói ngược lại thì bị chụp ngay cái mũ
tự ái dân tộc mù quáng, chối bỏ sự thực
lịch sử mà không hề chứng minh lời buộc tội của mình; ngoài ra lại còn
né tránh hội luận để mở mang kiến thức!
Ø Hãy tự kiểm lại xem là mình biết lịch sử
nước Việt tới đâu và có trung thực hay không?
Ø Nên nhớ rằng Thực dân Pháp có chính sách
bóp nghẹt nền văn minh và văn hóa độc đáo và đáng kính của dân ta, như
đã nói ở trên nên các vị Nho Tây mới gân cổ sỉ vả tổ tiên.
Vì vậy
nên chúng tôi xin đề nghị việc làm như sau cho phù hợp với sinh hoạt ở quê
người :
A. CUỘC SỐNG BIỆT LẬP
(sinh hoạt cá nhân và gia đình) :
-
Hãy bảo nhau sống cho thành người Việt tốt để không những hàng xóm
kiêng nể mà còn có dịp xây dựng cuộc sống hài hòa trong xã hội tiếp cư.
-
Đừng lo làm giàu. Hãy làm vừa đủ chi dùng dư giả, dành thì giờ dạy
dỗ con cái cho nên người Việt tốt. Đó là công đức lớn lao đối với dân tộc.
Chương trình thì dựa vào sách giáo khoa Văn Hóa Thuần Việt như đã nói ở trên
-
Sinh hoạt theo sáng kiến của thành viên.
²
B. XÂY DỰNG TINH THẦN TẬP THỂ
(sinh hoạt bạn bè, hội đoàn ái hữu):
-
Lập hội nhỏ cùng sở thích; không cần giấy phép, sinh hoạt đều đặn
hàng tháng. Coi đó là sự đóng thuế cho dân tộc
-
Con người sống lẻ loi thì sẽ trở nên ích kỷ, tự kiêu, tự mãn và
lúc nào cũng không hài lòng với chính mình: Chỉ vì không có tinh thần tập thể để
rộng lượng và bao dong với người khác. Ngoài ra sinh hoạt tập thể còn là dịp để
biết cách sống tập thể.
-
Sinh hoạt tập thể là một nhu cầu để tự rèn thành người tốt, biết
cách sống cho mình và sống cho người (tức biết cách xử thế). Ngoài ra sinh hoạt
tập thể còn đẻ ra sáng kiến tập thể nữa .
Mà sáng kiến tập thể tạo ra hành động đồng điệu cûa tập thể chứ
không khảng-tảng như sáng kiến cá nhân, vì người phụ họa không nắm vững vấn đề.
Nên
nhớ rằng: Hạnh phúc cá nhân nằm trong hạnh phúc Tập Thể; và hạnh phúc tập
thể nằm trong hạnh phúc Quốc Gia.
Quốc
Gia nô lệ thì tất cả mọi thành viên đều mất hết tự do. Quốc gia tự chủ thì mọi
thành viên đều có tự do; mà Quốc Gia Tự Chủ lại do cá nhân xây dựng.
Ø Do
đó việc lập hội là một nhu cầu khẩn thiết. Hội càng nhỏ thì càng gắn bó.
-
Trong bước đầu chúng ta hãy lập hội với những người cùng sở thích.
Không cần xin phép, mà cần nhất là phải có sinh hoạt định kỳ, ít nhất mỗi tháng
một ngày để rèn luyện tinh thần tập thể.
-
Chương trình sinh hoạt là chung vui, góp gạo thổi cơm chung. Đây
là sinh hoạt vui tươi để xả hơi; khi quen rồi thì thiếu không được nữa. Đây
cũng là sinh hoạt để phá vỡ tinh thần ích kỷ, vụ lợi:
a. Người
lớn, ngoài vấn đề trao đổi sở thích, nên cùng nhau trau dồi kiến thức về môn Việt
Học (tư tưởng, lịch sử và văn hóa Việt) cùng cách phát huy văn hóa thuần Việt để
đóng góp phần mình vào nền văn hóa của xã hội tiếp cư (càng nhiều càng tốt).
b. Con
trẻ thì chơi đùa với nhau để tạo cuộc sống hài hòa khi còn ấu thơ. Cây non dễ uốn,
con nít dễ dạy: Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.
Con cái không thành công ngoài đời là lỗi tại bố (coi bài số 06
Huyền Sử trong sách Bạch Hóa Huyền Sử bằng di vật của người Văn Lang - Mục Tự
in thành sách trong Link : http://vanhoathuanviet.blogspot.com
> Huyền Sử).
Đây là một hình thức xã hội dân chủ phân quyền : Phép vua còn
thua lệ làng có từ ngày lập nước Văn Lang với tư tưởng «Toàn dân giữ nước » chứ không phải triều đình giữ nước.
Ø Dân
vi quý chứ không phải Đất Của Chúa, Lúa Của Trời như thời nô lệ.
C. XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG
(thành lập Liên Hội địa phương)
Mục đích là xây dựng mầm non cho tương lai bằng cách giảng dạy và
quảng bá nền văn hóa Lạc Hồng theo đường hướng chung; chứ không phát triển bừa
bãi như cỏ dại mọc vườn hoang.
Vạn sự khởi đầu nan; cứ
làm đi, gặp trở ngại thì tìm cách giải quyết theo tinh thần tự trọng và cầu tiến;
biết lắng nghe, có tư duy độc lập và tinh thần phục thiện cùng với quyết tâm
xây dựng cộng động để chính thế hệ mình hưởng và sau đó trao truyền tài sản tâm
linh cho hậu thế nối tiếp.
-
Khi sinh hoạt hội nhỏ đã trơn tru rồi, thì thành lập ngay Liên Hội
để có tiếng nói của tập thể thì mới bảo vệ được quyền lợi của mình trong môi
trường địa phương.
· Còn
muốn bảo vệ quyền lợi tập thể người Việt Hải Ngoại thì phải thành lập mạng lưới
toàn cầu.
-
Liên hội phải có nội quy, có quy chế, có ban chấp hành, có giấy
phép hoạt động, có tài sản cần cho nhu cầu của sinh hoạt. Do đó phải có các
sinh hoạt tối thiểu và định kỳ như :
SINH
HOẠT HÀNG TUẦN
§ Mở
nơi giữ trẻ vào cuối tuần để chúng có tuổi ấu thơ theo nếp sống Việt. Người coi
trẻ phải là người chuyên nghiệp và yêu nghề, lấy thù lao tương xứng. Làm việc
đàng hoàng và có trách nhiệm vì đây là nơi xây
dựng mầm non cho cộng đồng Hải Ngoại.
§ Mở lớp
học Nhân Văn Việt Tộc xây dựng mầm
non để phát huy khí phách Rồng Tiên (tư cách con người) và văn hóa Lạc
Hồng (nhân bản và nhân ái cần cho xã hội điện toán).
§ Sinh
hoạt theo sáng kiến của hội viên (hội đoàn)
SiINH
HOẠT HÀNG THÁNH
Họp 1 ngày trong tháng coi như việc phải làm:
ü Nửa
buổi để trao đổi những thành quả đã đạt được của các hội và phân chia các việc
cần phải làm để cho Liên Hội có sinh khí. Sau đó dùng cơm chung với nhau
ü Còn
nửa buổi dùng vào công tác Việt Học như : Thảo luận về Văn Hóa Việt, lịch sử Việt,
lịch sử tư tưởng Việt, thời sự quốc tế và cách dạy dỗ con cái.
ü Mở lớp
dạy Việt Học (học về người Việt và đất nước Việt từ thời Hồng Bàng đến ngày hôm
nay).
ü Sinh
hoạt theo sáng kiến của hội viên (hội đoàn).
SINH
HOẠT HÀNG NĂM:
§ Hội
thảo hai lần trong năm để mở rộng sự liên lạc với đồng bào địa phương, quảng bá
và trau dồi kiến thức về Việt Học là môn chánh và các môn phụ khác sẽ do sinh
hoạt đẻ ra.
§ Tổ
chức ngày Đại Hội Văn Hóa thường niên để phát huy và quảng bá Văn Hóa người Việt
Hải Ngoại. Có thi đua ăn giải và những sáng kiến khác.
§ Báo
cáo thường niên về thành tựu của Liên Hội trên mạng điện toán vào ngày 30/4 để
nhắc nhở nhau ngày đau buồn này.
§ Sinh
hoạt do sáng kiến của hội viên (hội đoàn).
õ
D. XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI TOÀN CẦU
(tạo tinh thần hợp quần):
§ Trao
đổi sinh hoạt với các liên hội khác.
§ Giao
lưu văn hóa với các liên hội khác bằng cách gửi người thăm viếng lẫn nhau để biết
sinh hoạt nơi khác thì mới mở mang kiến thức và tinh thần nhân ái với nhau được.
§ Sinh
hoạt mạng lưới liên hội do thành viên đề
nghị theo nhu cầu.
[
Vạn
sự khởi đầu nan, lúc đầu cần thiện chí và sáng kiến.
Một thế hệ chắc chắn chưa hoàn chỉnh xong. Vậy thì cứ cố gắng làm
được đến đâu hay đến đó. Tiến nhanh được bao nhiêu thì tốt bấy nhiêu, công lao
không phí đâu.
Nếu đạt tới thành quả mong muốn này thì đó là sức mạnh vô biên của
thế hệ con cháu chúng ta, mà chúng phải chu toàn 2 nhiệm vụ trong vai trò "Sứ Giả Hòa Bình" của nhân loại.
Hai nhiệm vụ đó là:
1. Đối với mẹ nuôi: Ăn
trái vườn nào thì bảo vệ vườn đó (chu toàn trách nhiệm đối với xã hội tiếp cư)
2. Đối với mẹ đẻ:Uống
nước nhớ nguồn Rồng Tiên của mình: Chu toàn bổn phận bằng cách phát huy khí
phách Rồng Tiên và văn hóa Lạc Hồng theo chiều hướng
Bốn
bể năm châu oai danh Lạc Việt,
Ngàn
năm muôn thuở nức tiếng Tiên Long.
Mong lắm thay.
²[²
Muốn xây dựng Cộng Đồng Văn Hóa Rồng Tiên,
thì tiến trình như sau:
· Tổ chức đại hội Văn Hóa Thuần Việt vào ngày mồng
một tháng Giêng Việt Lịch, tức tiết đầu xuân thiên nhiên (28/02 – 6/03); cỏ cây
bắt đầu đâm chồi nảy nhụy
· Tổ chức hội thảo về sinh hoạt chánh trị 3 lần
một năm (lấy bài vở trong link: http://vanhoathuanviet.blogspot.com)
· Tổ chức buổi họp hàng tháng của Ban Chấp Hành
để điều hợp sinh hoạt cộng đồng cho trơn tru.
· Tổ chức vườn trẻ hàng tuần để các em có dịp
sinh hoạt trong bàu không khí Việt (lấy thù lao, cấp học bổng cho gia đình khó
khăn)
· Mở lớp Văn Hóa Thuần Việt hàng tuần cho thanh
thiếu niên (lấy thù lao và phát sách, cấp học bổng cho gia đình gặp khó khăn) -
lấy bài vở của lớp Văn Hóa Thuần Việt trong link:
http://vanhoathuanviet.blogspot.com
Kêu gọi các nhà hảo tâm đóng góp tài chánh.
Kiểm soát chi tiêu dành cho những nhà hảo tâm theo một tiêu chuẩn nào đó.
Xin giới thiệu với
quý vị 3 đường dẫn sau đây, và kính mời các vị hiền tài tiếp tay cho chương
trình này được phong phú.
http://nhanvanviettoc.blogspot.com
là nơi lưu trữ tài liệu để soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com
là nơi lưu trữ các bài đã soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm)
từ Tiểu Học đến Trung Học.
Nơi lưu trữ 3 kinh nhật tụng
1. Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18 tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)
SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ
(Đủ Bộ) https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ
(Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k
SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph
ØKênh
Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ
là nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu trữ
vô máy.
------------------------------
MỤC ĐÍCH:
Mục
đích của việc xây dựng Cộng Đồng Văn Hóa Rồng Tiên ở Hải Ngoại là để con cháu
chúng ta không những bảo vệ được bản sắc dân tộc mà còn đóng góp những tinh hoa
của nền Văn Hóa Rồng Tiên cho xã hội tiếp cư để tạo cuộc sống hài hòa và nhất
là không ăn bám xã hội đã cưu mang mình, mà không cần các em phải biết nói tiếng
Việt.
CÁCH XÂY DỰNG:
ü Thứ nhất là chúng ta hãy bắt đầu bằng việc
tổ chức Đại Hội Văn Hóa Thường Niên vào ngày mồng một tháng Giêng Việt Lịch (28/2
đến 06/3) để nói lên những văn minh và văn hóa của dân Việt đã bị bọn Tàu hủy
diệt hay đánh tráo, lịch sử đã bị bọn Tàu và bọn Tây bóp méo một cách trắng trợn
hay tinh vi.
Ø Việt Lịch (nông nghiệp) tính theo Sao để
gieo mạ, coi bài số TNT15 trong mục Tự in thành sách/Kiến Thức Căn Bản trong link hppt://vanhoathuanviet.blogspot.com.
Ø Âm Lịch tính theo trăng để đi săn ban đêm
(du-mục) coi TNT15-Việt Lịch
Ø Dân Tàu không có nền Văn Hóa Truyền Thống
mà chỉ có văn hóa theo thời.
Bạo
Chúa nào lên là diệt nền Văn Hóa của Bạo Chúa trước như thời Cách Mạng Văn Hóa
long trời lở đất của Mao Trạch Đông, bên ta thì bắt chiếc với đội Tam Cùng đi đấu
tố dân lành để thị oai uy quyền của cái đảng Tam Đại Bần Cố Nông lãnh đạo để
đưa đất nước về thời đại ăn lông ở lỗ.
Ấy
thế mà chúng dám nói là Văn Hóa Việt từ Tàu mà ra! Mà sao dân ta cũng tin nhỉ?
ü Thứ nhì là tổ chức hội thảo định kỳ tam cá
nguyệt với chủ đề là Việt Sử , Văn Hóa Thuần Việt và Tư Tưởng Việt gốc : Uy Dũng và Công Minh (Rồng); Hiền Từ và
Nhân Ái (Tiên.)
Khi 2 công tác này đã thành thói quen rồi,
thì chúng ta tiến thêm một bước nữa để thành lập liên mạng Cộng Đồng Văn Hóa
Toàn Cầu để cho các em có dịp giao lưu văn hóa với nhau ở khắp 5 châu mà ít tốn
tiền (chỉ chi trả kinh phí chuyên chở thôi) bằng cách giao lưu văn hóa với các
cộng đồng bạn trên khắp thế giới, nay nước này mai nước khác rồi về kể chuyện
cho nhau.
Đi
du ngoạn 5 châu thì thế hệ trẻ rất thích; nên tổ chức giải thưởng du ngoạn có
trợ cấp.
Ø Bài vở thì nhóm Nhân Văn Việt Tộc đã soạn
đủ dùng trong nhiều năm gồm 34 đề tài khác nhau; học xong thì thành Sỹ Phu biết cách đặt vấn đề và biết cách giải quyết
vấn nạn của đất nước.
ö
LỢI ÍCH CỦA CỘNG ĐỒNG VĂN HÓA Ở HẢI NGOẠI
Ngoài
ra, cộng đồng văn hóa Rồng Tiên ở Hải Ngoại còn là mô hình để trong nước xây dựng
Cộng Đồng Văn Hóa Phục Việt khi Việt Cộng ra đi; rập theo chương trình của các
thời đại trước như: Tam Giáo Đồng Nguyên dưới thời nhà Trần; Hội nhập Văn Hóa
dưới thời vua Lê Thánh Tôn (1471); Sùng Chính Viện dưới thời Tây Sơn; Ấp Chiến
Lược và Học Thuyết Cần Lao Nhân Vị dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa và bổ xung bằng ý
kiến của thế hệ đương thời cho hợp với môi trường sinh sống hiện tại.
Đó
là kiến trúc xây dựng xã hội theo kiểu: Hội
nhập Văn Hóa các sắc dân mà người xưa đã làm và đã thành công trong việc:
1.
Chấn Hưng Dân Khí (để có hào khí chánh đáng của nòi Việt) với
mục đích dấn thân giúp nước cứu đời.
2.
Khai Phóng Dân Trí (ý chí quyết tâm bảo vệ Tự Chủ) với mục
đích dạy dân học để giúp nước cứu đời.
Gần
ta nhất là: Chương trình Ấp Chiến Lược và Học Thuyết
Cần Lao Nhân Vị của nhóm Triết Gia Ngô Đình Nhu cũng đi theo con đường này;
nhưng cập nhật với văn minh hiện đại.
Nay chúng ta cũng phải cập nhật theo nếp sống
văn minh thời Vi Khuẩn Tàu Cộng (covid-19). Đó là tinh thần Cầu Tiến.
Xin được nhắc lại sự thành công của người
xưa trong việc Hội Nhập Văn Hóa để có cuộc sống hài hòa:
a)
18 Triều Đại Hùng Vương đã làm để biến Liên Bang 15 nước Việt
thành một khối thuần nhất tư tưởng.
b)
Việt Vương Câu Tiễn đã hội nhập nước Ngô vào nước Văn Lang để
có 300 năm chung sống hài hòa (600BC-300BC). Sau đó Thục Phán làm loạn và Triệu
Đà thống nhất thành nước Nam Việt cũng dùng chánh sách này với thể chế Quân Chủ
Đại Nghị. Dân chúng vùng nào thì quan lại người vùng đó quản trị.
c)
Vua Lê Thánh Tôn đã hội nhập nước CHÀM (CHAMPA) với nước Đại
Việt để có 200 năm cuộc sống hài hòa (1471-1650). Về sau các Chúa Nguyễn vì muốn
ly khai nên đã phá vỡ cách tổ chức này để người Chàm ở Nam Bàn (tức Tây Nguyên)
oán hận đến nay vẫn chưa thôi.
-----------------------------------





0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil