T03 : NGÀY QUỐC TỔ
T03 : NGÀY QUỐC TỔ (23.10.2020)
Livestream trên Facebook Nỗi Niềm Quê Hương
soạn giả: Hoàng Đức Phương
MỤC LỤC
TỔNG QUAN………………………………………………………… (tr.2)
Định nghĩa ngôn từ thuộc về văn hóa Việt:
………………………… (tr.3)
·
Tế, Lễ, Lăng Tẩm, Đền, Đình, Miếu, khác nhau ra sao ?
·
Thế nào à Hồn Thiêng Sông Núi ?
·
Chúc Văn và Văn Tế khác
nhau như thế nào ?
·
Ngày Quốc Tổ khác với ngày Giỗ Tổ ra sao ?
·
Tại sao trưởng làng lại là Lý Trưởng ?
·
Xã hay Thôn thì gọi là Xã Trưởng và Thôn Trưởng, có từ thời
nào ?
·
Tại sao việc nước lại gọi là việc Xã Hội ?
NGÀY QUỐC TỔ, NGÀY GIỖ TỔ
PHẦN
TỔNG QUÁT
LAI LỊCH : ……………………………………………………….. (tr.5)
CHƯƠNG
TRÌNH SINH HOẠT ………………………………… (tr.6)
Ý nghĩa ngày GIỖ TỔ và QUỐC TỔ ……………………………… (tr.7)
LÝ
TRƯỞNG ……………………………………………………… (tr.8):
HỮU
HÌNH VÀ VÔ HÌNH ………………………………………..
(tr.9)
THUYẾT
LINH HỒN :…………………………………………….. (tr.10)
THUYẾT
NHÂN QUẢ CỦA DÂN VIỆT :………………………..
(tr.12)
o
Cha ăn mặn, con khát nước.Cha ăn cướp, con ngồi tù.
o
Cha lù khù, con ngudố.
o
Cha đốt nhà, con ngủ đường
TÓM LƯỢC :
……………………………………………………… (tr.12)
NGUỒN GỐC VĂN HÓA TÀU :…………………………………… (tr.13)
NGHI THỨC CỔ TRUYỀN (giữ hay bỏ ?) ………………………… (tr.14)
PHẦN
HÀNH LỄ
BảN VĂN MỜI GỌI THAM GIA …………………………………. (tr.14)
TẾ PHỤC
……………………………………………………………. (tr.15)
TRANG TRÍ ……………………………………………………….. (tr.15)
CHÚC VĂN ……………………………………………………….. (tr.15)
CHIẾU TẾ. ………………………………………………………… (tr.16)
BẢN VĂN XƯỚNG TẾ ……………………………………………. (tr.17)
PHẦN ĐỌC THÊM
·
Tủ sách Việt Thường ở HOUSTON (USA) (tr.18)
·
Văn Lang số 17 ra ngày 24 tháng 01 năm 20001 tại
PARIS (tr.33)
·
Le Culte des Ancêtres :
Bàn thớ gia tiên (tiếng PHÁP)
(tr.57)
----------------------------
NGÀY QUỐC TỔ.
TỔNG QUAN
ü Đây
là nền văn hóa đặc thù của dân Việt mà không dân tộc nào có ; mặc dù dân
tôc nào cũng có thời kỳ lập quốc từ lúc hỗn độn đến khi có cơ cấu kỷ cương.
ü Văn
Hóa là cách sống và cách suy nghĩ của con người. Văn là đẹp, Hóa là thay đổi.
Phong Hóa là thay đổi các sống. Văn Hóa là thay đổi cách sống theo văn minh hiện
đại một cách đẹp đẽ.
ü Văn
Hóa cá nhân gọi là cá tính. Văn Hóa Gia Đình thì gọi là Gia Phong. Văn hóa dân
tộc thì gọi là Văn Hóa Thuần Việt. Văn Hóa là chất liệu kết hợp từ cộng đồng từ
gia đình đến dân tộc.
ü Một
dân tộc mất văn hóa của mình, sống theo văn hóa của người là một dân tộc MẤT BẢN
SẮC mà ta gọi là MẤT GỐC hay VONG NÔ
Không phải là dân tộc Việt văn minh hơn dân tộc khác, mà vì dân Việt
có sự đột biến lịch sử giữa 2 giai đoạn thành lập nước và giữ nước vào năm 257BC.
Từ thể chế Dân Chủ Phân Quyền (phép vua còn thua lệ làng) với Quốc
Hiệu Văn Lang, khi không đột biến thành thể chế độc tài Quân Chủ Chuyên Chế với
Quốc Hiệu Âu Lạc.
Nội Quốc Hiệu Văn Lang và Âu Lạc đã nói lên sự khác
biệt về việc quản trị đất nước của 2 triều đại rồi.
Môt đăng là người dân lãnh đạo : Nước Nam của người Việt Nam,
và một đằng là Triều Đình Lãnh Đạo : Đất của Chúa, Lúa của Trời.
Văn Lang nói lên tinh thần tự trọng. Âu Lạc nói lên vị thế bị trị.
·
Văn Lang là nước của những người Hào Hoa Phong Nhã, Phóng Khoáng
Hào Hiệp và Lịch Sự Bặt Thiệp.
·
Còn Âu Lạc là Liên Bang Việt gồm 15 sắc dân sống dưới sự thống trị
của tiểu bang ÂU Việt (Quảng Tây, lãnh vương Thục Phán) với sự trợ tá của tiểu
bang ly khai Lạc Việt của Câu Tiễn (lúc này thuộc kháng chiến Nhâm Ngao>Triệu
Đà cương vực gồm nước Ngô và vùng Lạc Việt, Quảng Đông)
Ngoài ra nghi thức Tế cũng cho chúng ta biết quan niệm về Linh Hồn
của người thời sơ khai ra sao.
Đằng sau nghi thức là cả một kho sách nói về Văn Hóa Thuần Việt
bát nguồn từ ĐạO GIA TIÊN (thờ cúng cha
mẹ và dòng họ) với chữ HIẾU đối với cha mẹ và đối vớ đất nưóc, với dân tộc đã bị
bọn thống trị cố tình tiêu diệt bằng cách xóa bỏ chữ viết, phủ nhận văn minh,
đánh tráo văn hóa của dân ta như :
·
Bọn Tàu Mã Viện (43AD), Trương Phụ (1400AD) đốt sách diệt người
yêu nước– còn di tích
·
Bọn vong nô Gia Long (1802AD) – Nôm Na là Cha Mách Qué tạo ra tinh
thần tự ti, yếm thế và vọng ngoại ; giết hại nhân tài yêu nưóc như Bùi Thị
Xuân, Ngô Thì Nhiệm và rất nhiều người khác.
·
Bọn Thực Dân Pháp (1860-1945) với chánh sách Ngu Dân và chấp nhận
sự « che chở » của Mẫu Quốc Đại Pháp Lang Sa nên quay lại phỉ báng
t-« tông với tinh thần tử kiêu tự mãn sau khi hấp thụ trên lý tuyết nên
Khoa Học Thực Dung mà không biết một tú gì vế nền Văn Hóa Thuần Việt của khoa
NHÂN VĂN VIỆT TỘC.
·
Bọn Việt Nô Cộng Sản cố gắng tiêu diệt sức sống của nòi Việt cới
chủ nghĩa TAM VÔ (vô gia đình, vô tổ quốc và vô tôn giáo) để xúi dục người Việt
giết hại người Việt bằng chiêu bài GIAI CẤP ĐẤU TRANH và TRÍ PHÚ ĐIA HÀO ĐÀO TẬN
GỐC TRỐC TẬN RỄ với mục đích biến con người thành con ngợm làm công cụ sản xuất
cho đảng Cộng Sản Quốc Tế.
Biến
nước Việt thành chư hầu của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản.
Nói
cách khác là :
Bọn
Việt Nô Cộng Sản chối bỏ nguồn gốc và nền Văn Hóa Thuần Việt của dân tộc để chạy
theo nếp sống vong nô của nền Văn Hóa Mác Lê Mao mà ta gọi là NHO CỘNG mất gốc
mà chúng lại chửi dân Việt là không thức thời và bảo người Quốc Gia có tinh thần
dân tộc là vọng ngoại .
Ngôn
ngữ của bọn Việt Nô Cộng Sản khác với ngôn ngữ của người Việt chánh gốc.
Vì lẽ đó nên chúng tôi xin được đi sâu vào đề tài này, chứ không
quanh quân trong nghi thứcTẾ ; để phục hối Hào Khí Chánh Đáng của nòi Việt,
đặng còn biết đường bảo vệ sự trưòng tồn của nòi Việt trong vinh quang chứ
không trong sự khing dẻ như thế hệ Việt Nô
Cộng Sản ?
ĐỊNH
NGHĨA NGÔN TỪ/
THUỘC
VỀ VĂN HÓA VIỆT
·
Tế,
Lễ, Lăng Tẩm, Đền, Đình, Miếu, khác nhau ra sao ?
·
Thế
nào à Hồn Thiêng Sông Núi ?
·
Chúc
Văn và Văn Tế khác nhau như thế nào ?
·
Ngày
Quốc Tổ khác với ngày Giỗ Tổ ra sao ?
·
Tại
sao trưởng làng lại là Lý Trưởng ? Xã hay Thôn thì gọi là Xã Trưởng và
Thôn Trưởng, có từ thời nào ?
·
Tại
sao việc nước lại gọi là việc Xã Hội ?
Nên nhớ là cúng tế là nền văn hóa thuần
Việt có từ 13.000BC, nghĩa là trước các tôn giáo rất xa cả trên 10.000 năm. Đạo Lão, Đạo Phật à Đạo Khổng
sinh vào khoảng 550BC. Đạo Ki-tô (Christe) mới có cách đây đúng 2022 năm) nên
không thể lấy tôn giáo thay thế cho Việt Giáo được.
Ø Vì thế nên, tiết lý của các tôn giáo chỉ
được dùng để bổ xung cho triết lý của Việt Giáo thêm phong phú và hợp thời.
Đó
là nguyên tắc bất di bất dịch ; vì xóa bỏ Việt Giáo tức là xóa bỏ Bản Sắc
Dân Việt và Người Việt không còn là Việt nữa, vì đã mất HỒN DÂN TỘC rồi.
·
Ngoài
ra đảng phái cũng phải hoạt động theo tiêu chuẩn giúp dân cứu nước.
·
Các
tôn giáo và đảng phải được hưởng trợ cấp theo tiêu chuẩn hoạt động ích lợi cho
đất nước ; ngược lại cấm làm kinh tế để lũng đoạn chánh trị.
TẾ :
Tế là hình thức cing nghinh
hương linh người quá cố về để cầu xin sự phù hộ để thoát nạn như Văn Tế cá sấu
để cầu xin cá sấu ra đi kiếm ăn nơi khác (có lẽ vì nghe chiêng trống um xùm nên
chúng hoảng sợ bỏ đi).
Vì vậy
Tế phải có CHÚC VĂN Văn chứ không hải Sớ có tính cách báo cáo hay
Văn Tế đọc lúc còn sống hay đã chết rồi, hoặc Điếu Văn đọc để tiễn
đưa người quá cố trước khi hạ huyệt (chữ ĐIẾU có nghịa là đi thăm ngưòi mới chết
để chia tay vĩnh biệt).
Bình
thường thì nghi thức TẾ được người ta làm vào ngày tạ thế hay một ngày nào đó
(trong trường hợp truy điệu người quá cố có công đức với người đang sống chẳng
hạn).
Dân
Việt không ăn mừng ngày sinh như Tây Phương, vỉ dân Việt quan niệm rằng con người
bình đẳng lúc sơ sinh. Khi tạ thế mới bình công luận tôi để được thờ trong từ
đuòng hay bị khai trừ ra khỏi dòng họ.
Ngược
lại Tây Phương không có tục lệ thờ cúng vì họ không tin có linh hồn . Đúng hay
sai thì chúng ta không bàn ở đây, chỉ biết tư tưởng về linh hồn mỗi dân tộc
nghĩ khác nhau
Vì
thế nên, dân Việt có tuc lệ TẾ VỌNG, nghĩa là ỏ xa tưởng nhớ đến công đức nên TẾ
với quan niệm Hương Linh cảm nhận qua THẦN GIAO CÁCH CẢM (nghĩa là vượt không
gian vạn dặm để đến với nhau dễ dàng).
LỄ :
Lễ là nghi thức đơn giản để tưởng
nhớ đến hương linh người quá cố ;
LĂNG :
Lăng là ngôi mộ hoành tráng,
nguy nga của vua, chúa hay các bậc vương hầu có công hay tội thì không tính
TẨM :
Tẩm là nhà thờ bên cạnh Lăng
ĐỀN :
Đền là nơi thờ vọng, ở dưới
không có mả của ai cả.
ĐÌNH :
Cái Đình có từ thời nhà Trần,
mỗi làng có môt cái. Dân đinh của một làng dưới 1.000 nguời. Nhiều hơn thì gọi
là XÃ
Cái
Đình Làng là nơi để quan lại đến làm việc với dân, tối ngủ ở đó không phiền hà
dến sinh hoạt của dân làng cả. Đình làng còn là nơi Tế Lễ các danh nhân trong
làng nữa.
Lúc
thường thì làm nơi họp Hương Chức, lớp dạy học hay chợ tơ lụa vải vóc. Nơi quan
lại đến làm việc là phòng ngủ ở một góc đình
MIẾU : Miếu là do dân đi-a hương dựng lên để cúng CÔ HỒN (linh hồn cô
đơn, vô thừa nhận) chết tại nơi đó.
Vì
dân Việt quan nim rằng chết ở đâu thì hương linh lảng vảng nơi đó do đó mới có
chữ HỒN THIÊNG SÔNG NÚI ;
HỒN
THIÊNG SÔNG NÚI : Dân
Việt quan niệm rằng : Anh Linh những người vô danh đã hy sinh cho dân tộc
khi chết đi thì máu của họ thấm vào lòng đất, và vùng đất này
biến thành LINH ĐỊA, tức nhân cách hóa các vật vô tri.
Những vị tử sỹ vô danh biến toàn thể ĐẤT VIỆT thành linh địa và
anh linh đó có thể giúp chúng ta như các ANH HÙNG LIỆT NỮ là những người giúp
nước cứu dân làm những chuyện phi thường lưu danh muôn thuở.
Do đó một đôi câu dối trước
bàn thờ mới có câu xướng và họa như sau :
ü Hồn
Thiêng Sông Núi đối với Anh Hùnh Liệt Nữ
Còn bức Hoành Phi là tấm biển ngang trên nóc bàn thờ ghi tên Linh
Vị
CHÚC
VĂN và VĂN TẾ :
Chúc văn là bản văn cầu xin Anh Linh trợ giúp mình điều gì đó.
Văn Tế là bản văn cầu xin người quá cố được may mắn hay siêu
thoát.
§ Văn
Tế Sống là tế sống người chưa chết để mong họ đừng hành hạ mình nữa như Văn Tế
Cá Sấu của HÀN THUYÊN để cầu xin chúng đi nơi khác đừng ở đây gây tang tóc cho
người ta nữa, hoặc văn tế giặc Pháp chết để diễu cợt tướng giặc.
§ Không
hiểu sao sau khi hoàn tất nghi thức tế thì cá sấu bỏ đi nơi khác, có lẽ vì
chiêng trông om-sòm nên cá sấu sợ bỏ đi chăng.
NGÀY QUỐC TỔ, NGÀY GIỖ TỔ
PHẦN
TỔNG QUÁT
LAI
LỊCH :
2.879BC :
Ba nước đầu tiên trên thế giới đuợc thành lập ở vùng Trung Đông Á,
nên vùng đó sau này đượng gọi là vùng TRUNG HOA (địa danh).
Ba nước đó là :
-
NGÔ nằm giữa con sông Dương Tử chảy ra Thượng Hải và con sông Tây
Giang chảy ra Hương Cảng (Hong Kong).
-
VIỆT (Văn Lang) từ sông Tây Giang đến đèo Hải Vân (khixưa gọi là Ải
Vân), phía tây tới con sông CỬU LONG GIANG (Giang là sông không dữ, Hà là sông
dữ dằn có sóng to gió lớn).
Văn Lang là một Liên Bang gồm 15 tiểu bang mà Lạc Việt ở Quảng
Đông bị nước NGÔ tấn công triền miên
-
SỞ nằm trong vùng Tứ Xuyên (4 con sôn lớn chảy qua) ở phía tây sông
HOÀI đến biên giới Tây Tạng (phủ tạng của Bắc Kinh ở phía tây, danh từ do nhà
Thanh đặt ra khi xâm chiếm vùng đất này)
#600BC : Bách
Việt ra đời.
Lãnh
vương vùng Lạc Việt tên là CÂU TIỄN phải nếm cứt Ngô Phù Sai để doán bệnh
(thương hàn),lẽ dĩ nhiên là dùng áo thuật để che măt thiên hạ bắng cách tay
trái cầm giẻ lau nâng tay mặt lên rồi nếm bên cạnh.
Khi được thả thì : Vì thù hận nên phải sửa soạn trong 20 mới
giết được Phù Sai, rối sát nhập 2 dân Ngô và Việt để chấm dứt binh đao vì thù hận
thành Liên Bang BÁCH VIỆT.
Nuớc
BÁCH VIỆT ra đời vào khoảng 600BC và dựng lên chuyện RỒNG TIÊN
#
280BC: Bách Việt nội loạn
Vào khoảng năm 280BC, Nhâm NGAO người vùng Chiết Giang (Bách Việt
gốc Ngô)làm kháng chiến thu hồi nước Ngô và vùng Lạc Việt. Ông này muốn chiếm cả
nước Bách Việt nhưng ở thế yếu là gốc Ngô nên giúp Thục Phán là làm loạn dứt
Hùng Vương rồi ông ta sẽ dứt Thục Phán sau. Đó là đương lối chánh trị 3 bước :
Kháng Chiến, Đẩy đối phuơng vào chỗ mất Chánh Nghĩa rồi mmói đứt
Lúc này TRIỆU ĐÀ ngưòi vùng Chiết Giang chưa ra đời.
Triệu Đà sinh năm 258BC, về sau gia nhập kháng chiến Nhâm Ngao.
Vì tham vọng muốn thống nhất đất Bách Việt nên Nhâm Ngao không
xưng Vương,không phục hồi nước Ngô ; do đó khi chết đi thì Triệu Đà lên
thay và Triệu Đà vẫn nhận mình là dân BÁCH VIỆT thì kháng chiến mới có chánh
nghĩa
257BC :
Chấm dứt chế độ Hùng Vương
Năm 257, nhờ sụ giúp đỡ của kháng chiến Nhâm Ngao nênThục Phán dứt
Hùng Vương, thay chế dộ Dân Chủ Phân Quyền thành chế dộ QUÂN CHỦ CHUYÊN CHẾ, do
đó mới lấy niên hiệu là THỤC AN DƯƠNG
VƯƠNG (an ở đây có nghĩa là bình an vì có chánh nghĩa) và tên nước là ÂU LẠC, với ý nghĩa là Nước Văn Lang
(chứ không phải Bách Việt) bị thống trị bởi dân ÂU VIỆT (Quäng Tây, quê của Thục
Phán) được sự phụ giúp của dân LẠC VIỆT (Quảng Đông thuộc khu vực Nhâm Ngao quản
lý)
Vì thế nên người dânVĂN LANG (lúc này còn 13 tiểu bang, tức Bô Lạc
nên xây thành CỔ LOA, xây đến đâu thì ổ đén đó vì không đúng kỹ thuật, vì rút
ruột ; làm đâu thì thất bại đó do lòng dân không phục.
Sau phải nhờ Nhâm Ngao giúp. Càng nhờ thì cáng lệ thuộc Nhâm Ngao.
Vì thế nên nguời dân phải tranh đấu liên tục trong suốt 7 năm để
đòi NGÀY QUỐC TỔ. Lúc này thì Thục Phán mới chịu chấp nhận việc thành lập NGÀY QUỐC TỔ vào ngày mồng
10 tháng 3 NÔNG LỊCH có từ 11.000BC (nay
chúng ta gọi là Việt Lịch) .
Theo Lý Dịch của dân nông nghiệp (10.000BC) thì đó là ngày Trời,
tháng Đất.
Lúc đó chưa có Kinh Dịch. Kinh Dich là Khổng Tử lý giải Lý Dịch
cho trọn vẹn để đáp ứng nhu cầu của Thuyết THIÊN MỆNH vào năm 500BC.
250BC :
NGÀY QUỐC TỔ RA ĐỜI
Ngày Quốc Tổ đầu tiên vào năm 250BC, mục đích chính làcảnh cáo Thục
Phán phải bảo vệ đất nưóc của các thế hệ Hùng Vuong xây dựng cho thành nề nếp
và quy củ, biến cuộc sống bán khai thành cuộc sốngvăn hóa của loài người
Chương
tình ngày Quốc Tổ :
ü Sáng :
Triển lãm những việc đã làm trong năn qua.
ü Trưa :
Nghi thức Tế, diễn văn khai tế để nói mục đích của 3 ngày Quốc Tổ.
ü Nghi
thức kéo dài khoảng 1 tiếng, sau đó là hạ cỗ huởng lộc và ăn chung trong vòng 2
tiếng.
ü Sau
đó là hội thảo chánh trị để bàn việc
nước và văn nghệ mua vui có tính cách
giáo dục cho những người không tham gia hội thảo chánh trị
ü Sau
phần này là ăn chiều và văn nghệ giải trí trước khi chia tay, hôm sau tiếp tục.
GIỖ
TỔ :
Ø Tại
sao phải né tránh chữ Quốc Tổ ?
Khi bị thống trị thì phần hội thảo chánh trị bị cấm nên đổi tên
thành ngày Giỗ Tổ để dấm bếp ủ lò như chúng ta có ngày Giỗ Trận Đống Đa là ngằy
chiến thắng đại phá quân Thanh dưói thời Tây Sơn.
Lúc đó toàn dân ăn mừng thoát ách nô lệ giặc Tàu.
Nhưng Gia Long cấm không đượcnháctới lịch sử Tây Sơn nên người địc
phương nói là oan hồn quân Thanh không siêu thoát nên phải là lễ giỗ trận để cầu
cho chúng được siêu thoàt đưng phá phach dân làng.
Cái gò ở Đống Đa là ngôi mộ tập thể của quân Thanh, bên trên có cái
miếu của tướng giặc là Sầm Nghi Đống
Ø Nói
là giỗ cho oan hồn tử sĩ được siêu thoát, vậy tại sao không có một nén hương
nào cho nghĩa binh Tây Sơn ?
Ø Mà
quân Sầm Nghi Đống chết vào tối ngày mồng 4 thánh Giên năm Kỷ Dậu (1789) tại
sao lại giỗ vào ngày hôm sau là ngày quân Tây Sơn ca khúc khải hoàn, tái chiếm
Thăng Long ?
207BC :
Ø NƯỚC NAM VIỆT RA ĐỜI
Lợi dụng sự suy yếu của nhà TẦN sau khi Tần Thủy Hòa băng hà, mặt
trận phía Bắc và phía Tây được giải tỏa, tướng Triệu Đà kéo quân từ Phiên Ngung
trực chỉ Cổ Loa tấn công Thục Phá, các đội quân ở biên phòng cũng nhuNgự Lâm
Quân đề bỏ chạy vì Thuc Phán ăn ở thất nhântâm nên Triệu Đà mới đánh dễ như vậy.
Cuối cùng Thục Phán tự sát, Triệu Đà lên ngôi vua với niên hiệu
Triệu Việt ương và đổi tên nước thàn nước NAM VIỆT .
·
Lúc này phía bắc con sông Dương Tử đánh nhau tứ tung, năm sau
206BC Lưu Bang mới phất cờ THÂU TÓM THIÊN HẠ, vì thế nên TRIỆU VIỆT VƯƠNG mới
xí phần : Phía Nam cong sông DƯƠNG TỬ GIANG là đất của ngưòi BÁCH VIỆT, đó
là ý nghĩa của danh từ NAM VIỆT.
Ý
NGHĨA QUỐC TỔ và GIỖ TỔ
Ngày Quốc Tổ đầu tiên được cử hành vào năm thứ 7 dưới triều Thục Phán
(257BC) là 3 ngày toàn dân làm chánh trị để kể công đức dựng nước của 18 đời tức
18 triều đại.
Triều Đại là tiếng TÀU du nhập thời Mã Viện (43AD).
Vì đầu óc nô dịch không biết sử nên nay chúng mới nói đời là đòi
cũa 1 ông vua, do sử Trần Trọng Kim mớm lời.
Hùng Vương đã khổ công xây dựng trong suốt 2.622 năm mới có đất nước
như vầy ; nay cảnh cáo Thục Phán phải bảo vệ và phát huy tài sản của tổ
tiên để lại sao cho tốt hơn.
Hùng Vương là chúc vụ như Tổng Thống ngày hôm nay. Hùng Vương do
15 ông Lãnh Vương lúc đó bầu ra để tiếp tục công việc biến 15 Bộ Lạc (nay ta gọi
là tiểu bang) thành chủng tộc Việt có nền Văn Hóa chung của Liên Bang và Tiếng
Nói chung của 15 Bộ Lạc, như chúng ta dùng tiếng Anh làm ngôn ngữ Quốc Tế ngày
hôm nay.
Vì thế nên trong nước Việt có nhiền ngôn ngữ và văn hóa bản địa,
nhưng tất cả đều nói một thứ tiếng chung là tiếng người KINH.
Kinh là tiếng Việt có nghĩa là lớn, người Kinh là người ở miền
xuôi có mật độ cao. Nguời THƯỢNG là người ở trên núi cao thì được chia làm người
MƯỜNG sống ở chân núi, người Mán sống ở sườn núi và người Mèo sống ở đỉnh núi.
Ø Người
Kinh, người Thượng, người Mường, người Mán, người éo, người Saigon, người Đà Nẵng…
là tên địa danh sinh sống chứ không phải sắc tộc, xin đừng hiểu nh-ém ngôn từ.
Ø Ngày
Quốc Tổ là ngày toàn dân sinh
hoạt chánh trị và cảnh cáo chánh quyền đương thời phải lo cho dân.
Ø Ngày
Giỗ Tổ chính là ngày QUỐC TỔ nhưng
không được thảo luận chánh trị chỉ vì lúc đó bị nô lệ nên đổi tên để dấm bếp ủ
lò
Ø Ngày
Quốc Tổ hay Giỗ Tổ là ngày mồng 10 tháng 3 VIỆT LỊCH chứ không phải Âm Lịch ví
lúc đó dân ta dùng Nông Lịch ; còn Âm lịch do Mã Viện đem qua vào năm 43AD
và bắt dẹp bò Việt Lịch coi bài nghiên cứu Việt Lịch)
LÝ
TRƯỞNG :
Lý trưởng là người coi sóc sinh hạt cử dân làng.
Tại sao lại không có ông làng trưởng ?
Nguyên là trước khi lập quốc (2.879BC) thì người dân sống quần cư
theo đồng, ruộng, nương và rẫy, có sản phẩm phải để trong kho dự trữ nên lập
vùng chung cư có rào bằng cây vữn chắc, vừa tránh thú dữ vừa chống trộm cướp và
bảo vệ an ninh. Mỗi vùng như ậy phải quy tụ khoảng 100 trai tráng từ 18 đến 40
tuồi bảo vệ được gọi là Tuần Đinh, người đi tuần để bảo vệ an ninh chung. Tối đế
đóng cửa, sáng sớm mới mở ra. Như vậy dân số vào khoảng 1.000 người tương đương
vói một TRIBU (ta gọi là TÙ, có ông Tù Trưởng chỉ huy).
Còn BỘ LẠC là một tiểu bang có Lạc VƯƠNG (vua) Lạc HẦU (quan Văn)
và Lạc TƯỚNG (quan võ)…. Khi nô lệ thì người Pháp gọi Bộ Lạ là Tribu với mục đí hạ nhục dân tộc Việt ;
nay chúng ta có bổn phận phải điều chỉ ngôn từ.
Thời độc lập nhà vua vẫn kiểm tra dân số theo DÂN ĐINH trai tráng
từ 18 đến 40 tuổi tròn (chu niên) nên dân số phải nhân lên khoảng 6 lần cho
phái nữ, trẻ vị thành niên và những người quá 40 tuổi.Ngày xưa tuổi thọ là 60
Nơi đó gọi là Buôn, Bản, Sóc, Ấp ….. hay Lý. Mỗi chung cư đều có
người quản trị sinh hoạt cộng đồng do người dân đặt tên. Người thì gọi là Quan
Lang (Lang là người, Quan Lang là ngườitrông nom sinh hoạt của cộng đồng, cò Quản
Thú là người coi sóc súc vật như Quản Tượng là coi đàn voi), nơi thì gọi là SÓC
Trrưởng, LÝ TRƯỞNG . Lý là một dặm tương đương với 1,6km ngày hôm nay.
Khi lập nước Văn Lang vào năm 2.879BC để bảo vệ chống quân NGÔ xâm
lược nên vua Hùng gọi mỗi chung cư là một LÀNG cho dễ việc hành chánh, nhưng
cách tổ chức trong làng không động tới theo thể chế dân chủ phân quyền :
PHÉP VUA CÒN THUA LỆ LÀNG
Danh xưng THÀNH HOÀNG LÀNG (người lập ra làng, XÃ TRƯỞNG hay XÓM
TRƯỞNG về sau mới có. Xã là một làng đông dân cư trên 1.000 người nên chia
thành xóm.
Vì các làng hội nhập thành tiểu bang nên lúc đó, đã có xã rồi,
công việc đất nước phức tạp nên phải tổ chức lại, phải huy dộng mỗi nơi một số
dân đinh để làm việc chung miễn phí, do làng đài thọ (như đắp đê chẳng hạn) nên
người ta gọi là việc XÃ HỘI (tức việc của các xã, phải tập trung lai mà hàm).
Xã hội là tiếng Việt, các xã hợp lại để làm việc chung. Tiếng Tàu là HỘI XÃ tiếng
trước bổ nghĩa cho tiếng sau ; tiếng Việt thì ngược lại nên VIỆT và TÀU là
2 sắc dân hoàn toàn khác nhau
HỮU
HÌNH VÀ VÔ HÌNH
Tổ tiên chúng ta ở thời điểm
N qua nghi thứ tế lễ phát xuất từ ĐẠO GIA TIÊN, tức nhà nào cũng
có bàn thờ gia tiên. Truyền thống này có từ 13.000BC là lúc có cuôc sống quần
cư theo ruộng,đồng nương hay rẫy.
Ruộng trồng lúa nước (tứ lúa Chiêm) nen bị ngập nước.
Đồng ở trên cao nên khô ráo trồng lúa múa.
Nương là trồng cây hay ngũ cốc ngoài lúa.
Rẫy ở trên đồi núi trồng hoa mầu.
RẰNG :10.000BC
quan niệm hữu hình và vô hình qua trực giác như sau
Bình minh dạy sớm ra ngắm bàu trời ở phía mặt trời mọc thì thấy một
đám mây (hữu hình) tan dần rồi biến
mất (vô hình). Hiện tượng biến
h&a Hữu hìnhthành vô hinh
Hoàng hôn ra ngắm bàu trời khi mặt trời lặn thì thấy trời trong vắt
không một đám mây (vô hình) một lúc
sau một đáng mây lù lù hiện ra (hữu hình)
. Hiện tượng biến hóa vô hình thành hữ hình.
Xâm xẩm tố ngước mắt nhì lên bàu tròi tự nhiên các ngôi sao thi
nhau xuât hiện.
Canh NĂM trên bàu trời mọc đ-éy sao ùà hi măt trời lên các ngôi
sao tuần tự biến mất
Ø Do đó họ kết luận rằng : Hữu hình và vô hình là 2 trạng thái của một vật
thể.
Ø VÌ
THẾ nên họ bảo TẠO HÓA sinh ra vạn vật. Chữ TẠO HÓA thời đó mang ý nghĩa trực
giác : TẠO là sinh ra, và HÓA là do biến đổi mà có.
Còn
chữ TẠO HÓA của chúng ta đang dùng là do ảnh hưởng của TRIẾT LÝ TÔN GIÁO
Ø Vì
thế nên quan niệm về linh hồn của người đời nay khác với quan niệm của người ở
10.000BC,
Tóm
lại
Ý nghĩa ngôntừ thay đổi theo cách sống nên phải nghiên cứu di vậtmới
hiểu được thông điệp ngưởi xưa
THUYẾT
LINH HỒN :
Ở
đây chúng ta chỉ tìm hiểu tư tưởng người xưa về thuyết Linh Hồn, Âm và Dương chứ
chúng ta không phê bình ; vì thời đó quan niệm về vũ trụ hoàn toàn khác với
chúng ta ngày hôm nay. Thời đó tổ tiên người Việt quan niệm Trời Tròn, đất
Vuông, Trời che đất chở, Vị trí ngôi sao chi phối sinh hoạt trên mặt đất nên mới
có Chiêm Tinh Gia, cóThiên Mệnh, có Tử Vi, có Bói Toán có xin Xâm…
Hồi đó 10.000BC, lý luận theo quan sát của trực giác nên cho HỮU
HÌNH và VÔ HÌNH là sự thay đổi trạng thái qua chữ TẠO HÓA sinh ra (#1.000BC)
cùng với Lý Dịch.
Lý Dịch là lý lẽ thay dổi vạn vật theo lý luận Toán Học Thực Dụng
chứ không phải toán học THUẦN LÝ như chúng ta ngày hôm nay.
Khoa họcThuần Lý thì 1,0001 không phải là 1.
Khao học Thực Dụng thì có sai số như 1,5 thì là 1 : và cũng
là 2 luôn..
Chúng ta lý giải thuyết LINH HỒ
Khi có cuộc sống định cư thì người chết đem chôn ở ngoài đồng, chỉ
có dân nông nghiệp mới có tục lệ thờ cúng NHÂN VỊ, không thờ cúng vật vô tri.
Hàng năm ra thăm mồ mả để nhớ ơn nguời quá cố. Sau đó đem về nhà lập
bàn thờ mà ta gọi là ĐẠO GIA TIÊN thò cúng ông bà và sống cho xứng đáng là ngườu
trong dòng họ
XÉT RẰNG :
Qua nghi thức tế lễ, di hành, dâng hương,chêng trống và nội dung
bai chúc văn cùng các ngạn ngữ
như :
Cha
mẹ sinh con, trời sinh tánh. Con hơn cha là nhà có phúc.
Cha
ăn măn con khát nước (thuyết nhân quả)
Người
ta sống về mồ về mả, không ai sống về cả bát cơm.
Oan oan tương báo trong các kỳ thi :
Báo oan hồn nhập. Báo ân hồn nhập. Sĩĩ tử
thứ thứ nhập
Xem mạch để đặt mô cho con cháu làm ăn
phát đạt.
Đào mồ quốc mả là mả bị động, con cháu
không được phù hộ nữa
Vân …. Vân ……
Nên
chúng ta suy ra được thuyết về linh hồn theo cảm nhận của người xưa như
sau :
ü Con người có phần hồn và phần xác. Về xác
thịt thì cha mẹ sinh ra. Còn về phần hồn là tự cái hồn nhập thể khoảng 1 tháng
trước khi chào đời.
ü Như vậy là linh hồn lựa chọn tông đường.
Do đó khi con còn bé thì nền giáo dục gia đình rất là qua trọng ; khi lớn
lên thì nó có cá tính GIA PHONG, theo giáo dục gia đình về quan niệm phải trái,
đúng sai ; nên khó cải sửa.
ü Khi còn bé thì người mẹ, vì gần con nên dễ
truyền đạt nhân hậu cho đứa trẻ, lớn lên nó thành thói quen nên mới có
câu : CÂY NON DỄ UỐN, TRẺ THƠ DỄ DẠY – con hư tại mẹ cháu hư tại bà.
ü Khi lớn lên ở tuổi thiếu niên, khoảng 13
tuổi thì người bố phải dạy khôn ngoan và nghề nghip để chống trọi với đời, biết
cách sống làm người hữu dụng cho đời. Do đó mới có câu :
« RUỘNG BỀ BỀ KHÔNG BẰNG MỘT NGHỀ TRONG TAY»
ü Khi
ra đời thì phải bảo vệ và vun bồi thanh danh cho cha mẹ và tông đường thêm vẻ
vang.
ü Lúc
chết đi thì con cái phải chôn cất cho tư tế đàng hoàng để đẹp mặt với họ hàng
làng xóm.
ü Về
phần HƯƠNG LINH không siêu thoát như triết lý các tông giáo, mà lưu luyến quanh
quẩn bên con cháu để phù hộ cho chúng ăn nên làm ra, gp lành tránh dữ mà ta gọi
là MẢ PHÁT táng đúng HÀM RỒNG (miệng con Rồng) nên con cháu phát đạt, thi đâu đỗ
đấy ; tiền vào nước.
ü Trong
bài Bình Ngô Đại Cáo cụ Nguyễn Trãi cũng nói ở câu kết là :
« Đó
là nhờ ơn TỔ TÔNG khôn thiêng che chở »
ü Vậy
thì, theo Việt Giáo : Linh hồn không siêu thoát như triết lý của các tôn
giáo.
Người xưa quan niệm rằng :
§ Linh
Hồn là TINH LẠC ở thể khí và sống quanh quẩn nơi mình chêt, mộ là ngôi nhà của
họ.
§ Tinh
lạc ngày ngủ, đêm ngao du và sống quang ta, chừng nào đốt nhang và khấn ai thì
người đó về.
§ Nhang
là nơi tụ điểm để Hồn về nói chuyện với người sống.
§ Hồn
cũng giống như con người biết yêu biết ghét biết giận biết vui nhưng một cách
mơ hồ. Hợp với ai thì vui vẻ còn không thì lảng tránh.
§ Hồn
không có lực nên muốn nói gì hay di chuyển cái gì thì nhập vào dây thần kinh ỏ
bộ óc để sai khiến. Người bị sai khiến lúc đó khong cưỡng đươc, nhưng sau đó mới
biết bộ óc của mình không hoạt động bình thường. Trường hợp này người ta bảo bị
MA ÁM, lắm lúc nó dăt đi ang thang, lắm khi tự mình đi xuống nước để chết đuối,
hoặc tự dấu trong bụi rậm. Tất cả những gì dùng đến lực đề do tinh lực của mình
phát ra, liên hệ lâu với âm hồn dễ bị thảng-thốt, đờ-đẫn như bị ma ám mà ta gọi
là THẤT THẦN. Có điều là âm hồn sợ roi dâu (cây dâu nuôi tầm).
§ Vì
không tiêu hao sinh lực nên âm hồn không thay đổi theo thời gian. Lúc chết ở trạng
thái nào thì hình hài y chang như vậy.
§ Vì
Âm Hồn tác độngvào thần kinh ở não trạng nên có người nhìn thấy, có người thì
không. Do đó người bảo có ma, ngưòi thì không. Có điều chắc chắn Ạm Hồn là cái
bóng nên đi qua đưôc mọi vật hữu hình giống như sóng từ mà chúng ta đang dùng để
truyền tin.
§ Vì
là cái bóng nên Âm Hồn biết mọi việc xảy ra tên cõi Dương và suy đoán ra những
biến cố sắp xảy tới để phù hộ cho con cháu. Có Hồn chỉ đoán biết đực sự việc sắp
xảy ra, có hồn thì đoán biết sự việc xảy ra trong tương lai xa.
§ Âm Hồn
(hay TINH LẠC) thường thì tự họ không đi xa được, nhưng có Hương Linh đi xa được
và có thể cõng hương linh không đi xa được.
§ ĐỒNG
là hiện tượng tiếp xúc với Âm Hồn. Có người hồn nhập, có người hồn che. Nhưng
làm nhiều thì bộ não sẽ tê liệt, mình hoàn toàn thụ động. Do đó nên tránh tiếp
xúc với âm hồn.
§ ĐỒNG
THIẾP là có người được Thày Bùa phù phép
cho thiếp đi. Sau đó con cháu đốt những câu hỏi để họ làm giao liên đến ngôi mộ
mà mình muốn hỏi . Tay họ cầm một lá cờ khi vẩy thì là họ đang phi ; khi
ngưng là họ trò chuyện. Xong việc thì họ trở vế khoảng dăm mười phú thì Tháy
bùa phải giả ĐỒNG cén không là họ đi luôn(ta gọi là KHÊ ĐỒNG). Ngay sau khi giải
Đồng thì họ nói lại sự đối thoại với Âm Hồn mà người nhà có thể kiểm chứng qua
những câu nói thường dùng chỉ có người nà mới nhận ra ; vì vậy không thể
nói người nằm ĐỒNG bịa ra đưôc. Vì câu hỏi của mình đót đi chỉ có mình mình biết
thôi. Sau khi giải đông một ít lâu sau thì người Nằm Đồng quên hết. Vì thế nên
người ta không cho thân nhân nằm ĐỒNG vì sợ ở luôn dưới ÂM.
§ Hầu
như Âm Hồn cảm nhận với ta qua THẦN GIAO CÁCH CẢM, vì thế nên không có vấn đề
khoảng cách (không gian) và thời gian đối với âm hồn.
§ Những
nhà ngoại cảm họ quen với Âm Hồn nên họ cầu Hương Linh nào thì Hương Linh đó đến
ngay với họ. Những người này sống không được thoải mái đâu. ĐÓ LÀ CÁI NGHIỆP
§ Trong
thực tế thì MA không làm hại người, nếu ta cứn bóng vía không sợ nó.
PHẨM VẬT CÚNG TẾ
Khi cúng Hương Linh thì phẩm vật phải tươi tốt và chưa cúng ai cả.
-
Vì trong phẩm vật cũng có 2 phần là hương hoa và vật chất. Hương
Linh chỉ hút có hưng hoa vì thế nên mới gọi là Lộc Tổ ăn để lấy hên.
-
Phẩm vật để lâu thì hưong hoa bay đi, cúng rồi thì hết hương hoa
THUYẾT
NHÂN QUẢ CỦA DÂN VIỆT :
o
Cha
ăn mặn, con khát nước.
o
Cha
ăn cướp, con ngồi tù.
o
Cha
lù khù, con ngu dốt.
o
Cha
đốt nhà, con ngủ đường
Đây là nguyên lý thiên nhiên theo kinh ngiệm sống chứ không phải
là triết lý của các tôn giáo hay của triết gia.
ü Nên
nhớ là Việt Giáo có từ 13.000BC là lúc con người đã có cuộc sống quần cư và định
cư bằng cách sáng tạo ra nghề nông để không chết đói. Lúc này con người mới cần
tiếng nói để diễn tả tư tưởng. Và VIỆT GIÁO được phát triển theo văn minh thời
đại.
ü Tôn
giáo là một loại TRIẾT LÝ, phát sinh sớm nhất vào hoảng 550BC là Đạo Lão, Đạo
Phật và ĐẠO Khổng.
ü Nhiệm
vụ của các tôn giáo là bổ sung cho VỆT ĐẠO thêm phong phú. Không một tôn giáo
nào có thể thay thế VIỆT GIÁO (còn gọi là Việt Đạo) được.
ü Người
Việt nào chối bỏ VIỆT GIÁO thì người đó sẽ trở thành kẻ mất gốc vả sống cô đơn
trong cộng đồng người Việt và nhân loại? Giầu có cũng không thể xóa được sự
cô đơn trong tinh thần.
TÓM
LƯỢC :
RĂNG
Thuyết nhân quả CHA LÀM CON
CHỊU rất đúng với hệ lũy mà thế hệ trước gây ra thì thế hệ sau gánh chịu.
Thảm họa bắt đầu từ nền học vấn để đào tạo nhân tài cho đất nước của
vua Lê Thánh Tông vào năm 1460.
Ø Nhân
tài phục vụ cho dòng họ nhà vua : ĐẤT
CỦA CHÚA, LÚA CỦA TRỜI.
Ø Từ
nhà Trần trở về trước, nước Việt thặng dư nhân tài là do nền giáo dục TÔN VINH VIỆT GIÁO : Người dân
giữ nước chứ không phài nhà vua giữ nước. Bằng chúng là :
a) Hoàng Tử Lý Long Tường là Thủy Sư Đô Đốc Hải
Quân dong thuyền sang Triều Tiên tỵ nạn thay vì tranh hùng với Trần Thủ Độ.
b) Vua
Trần Phế Đế chấp nhận cái chết để bảo vệ tiềm năng dân tộc nên đã hạ lệnh binh lính
theo mình HẠ GIÁP chứ không cho lệnh đánh nhau với Hồ Quý Ly để tiềm lực dân tộc
suy yếu làm mồi cho ngoại xâm.
Vì cái nền Giáo Dục sai lầm đó nên chúng ta lãnh đủ mọi hậu quả,
không sao kết hợp với nhau được ; chỉ vì thiếu nền giáo dục NHÂN VĂN VỆT TỘC
để phục hồi lại những giá trị TÂM LINH đã bị giặc thù cướp mất.
Vì cái nền Giáo Dục lạc hướng, mất hồn dân Việt nên 2 con buôn
chánh trị là Trịnh Kiểm và Nguyễn Kim cấu kết với nhau để trương CHIÊU BÀI BỊP
Ø DIỆT MẠC PHÙ LÊ
ăn khách, mà trước đó không ai nghĩ phục hồi lại hư danh khi mình
không còn đủ khả năng như Hoàng Tử Lý
Long Tường hay Vua Trần Phế Đế là
những tấm gương sáng bảo vệ tiềm năng của dân tộc để chống ngoại xâm
Ø Chúng
ta thấy ngay từ lúc ban đầu là : Làm như vậy thì đất nước sẽ chia đôi,
lòng người sẽ tan tác, tiềm lực dân tộc sẽ suy yếu và ngoại chủng sẽ lợi dụng
thời cơ gây thêm chia rẽ để cướp nước cho dễ. Lúc đó phe thắng cũng như phe
thua đều cúi đấu chấp nhận nô lệ ngoại bang.
Ø Lý
do hiển nhiên là thành công thì ai làm vua đây ? Lẽ dĩ nhiên một phe sẽ giữ vua bù nhìn, và
phe thất thê sẽ ly khai để hỏi tội khi giết vua.
Ø Cái
nhầm của nền giáo dục lạc hướng là con cháu vua LÊ LỢI hèn nên chấp nhận làm
vua bù nhìn ; trong khi đó thì con cháu các triều đình cũ không ai chấp nhận
là vua bù nhìn cả. Chẳng qua là do nền giáo dục dạy vua phải lo hạnh phúc cho
dân, con không thì thoái vị như Hoàng Đế Bảo Đại đi.
Ø Tiếp
theo là Nguyễn Hoàng (1460) coi đất nước là của riênh mình nên mới ly khai chiếmcứ
miền nam. Các chúa Nguyễn tuy có công phát triển miền Nam để hùng cứ một phương
nhưng cái công đó không sao bù đắp đươc cái tọi chia đôi đất nước chia đôi ân tộc
để tiềm năng suy yêu và cuối cùng người háp thống tri dân ta…. thế là hết :
KHÔN NHÀ DAI CHỢ !
Ø Đến Gia
Long (1802), mặc dù tiềm năng fân ộc đang trong hiểm họa diệt bong truớc sứ mạnh
cơ khí của Tây Phương cũng cố nhờ nhoại chủng vào đập cgo chết luôn. Có đúng là
chúng tachịu hậuqu »à của nền Giáo Dục phản Việt không ?
Thế hệ chúng ta còn khối người ngu lâu dốt bền vì không được học lịch
sủ trung thực nên đi phò bọn, Việt Nô Cộng Sản mà không biết kết hợp với nhau để
tranh đấu đòi QUYỀN TỰ QUYẾT cho dân tộc
NGUỒN
GỐC VĂN HÓA TÀU :
Người Tàu thuộc sắc dân du-mục nên họ thích sống ngoài trời và
theo luật MẠNH ĐƯỢC YẾU thua. Vì kẻ thù của họ là gia súc ăn cỏ nên phải la hét
đánh đâp ; do đó quen tay với người yếu đuối hơn mình.
Còn
dân nông nghiệp kẻ thù là thiên nhiên, mất mùa thì sang hèn, giầu nghèo gì cũng
chết vì đói nên có nền văn hóa NHÂN BẢN với tình người.
NGHI THỨC CỔ TRUYỀN
GIỮ HAY BỎ ?
·
Lợi và hại của sự thay đổi nghi thức cổ truyền : Theo chung
tôi nghĩ thì :
CÁI LỢI :
1. Nghi
thức cổ truyền giúp chúng ta đọc được tư tường người xưa
2. Nghi
thức cổ truyền giúp chúng ta thống nhất lòng dân tha hương hướng về một mối
CÁI HẠI :
·
Nói lên quan niệm về linh hồn
của chúng ta ngày hôm nay, chứ không phải của người xưa.
·
Vô tình xóa bỏ những nét khởi thủy của nền Văn Hóa Thuần Việt, nó
là bản sắc dân Việt đấy.
·
Xoá bỏ nghi thức cổ truyền đồng nghĩa với dẹp bỏ bản sắc dân tộc để
trỏ thành người MẤT GỐC.
õ
PHẦN
HÀNH LỄ
Lời
kêu gọi (Cụ Phạm Công Huyền soạn)
Hỡi đồng bào thân yêu người
Việt,
Sống
giờ đây cách biệt sơn hà.
Cùng
nhau nhớ đến tháng Ba,
Mùng
Mười giỗ Tổ nước nhà Hùng Vương.
Dân
ta lấy luân thường làm gốc,
Có cội
nguồn, tôn tộc hẳn hoi.
Thì
dù góc biển chân trời,
Không
quên Quốc-Tổ giống nòi Rồng Tiên.
Cứ
hàng năm ở đâu cũng thế,
Người
Việt ta quốc-tế tháng Ba.
Dù
cho ở khắp gần xa,
Đều
về tế Tổ để mà dâng hương.
Khấu
đầu bái Hùng Vương quốc Tổ,
Cầu
xin Ngài phù hộ cháu con.
Nay
mai khôi phục nước non,
Đập
tan giặc Cộng không còn khổ đau.
Đồng
Bào hãy mau mau sửa soạn,
Mời
bà con chúng bạn cùng về.
Họp
nhau ở đất Ba-Lê,
Trước
bàn thờ Tổ nguyện thề đấu tranh.
Cho giang sơn thanh bình trở lại,
Bắc Nam Trung đánh bại quân thù.
Sơn hà gấm vóc trùng-tu,
Giống nòi Hồng Lạc ngàn thu oai hùng.
Ban Tế Tự PARIS kính mời
(Bản văn dùng cho ngày Tế đầu tiên tại chùa Phật Giáo Quốc Tế VINCENNES ở Paris ngày 03/04/ 1982)
TẾ PHỤC
Vì là con cháu tế ông bà nên y phục là y phục cổ
truyền. Nay là khăn đóng áo thụng, chân đi tất trắng.
Chánh Tế mặc áo màu đỏ có chữ THỌ (1 người)
Phụ Tế mặc áo xanh có chữ THỌ (2 người)
Quan Viên (Xướng,
Hô,Trống, Chiêng và ban nhạc/4+8=12 người) cùng Chấp sự (Đăng, Rượu, Hương, Chúc Văn/12 người)
mặc áo thụng xanh trơn
Xướng (1 người)
Hô (1 người)
Trống (1 người)
Chiêng (1 người)
Ban Nhạc (8 người)
Lính Cận Vệ mặc quân phục (6 người)
TRANG TRÍ
Bàn thờ phải cao 1,4m. Khăn phủ bàn phải ó Rồng Chầu,
cờ xí phải cho đúng cách.
Dân tộc kỳ làm nền sau bài vị, vì quan nimcó dân mới
có nước. Do đó nhiệm vụ của Hùng Vương là bảo vệ dân tộc thì m§i xây dựng được ất
nưc với quan niệm Dân trước Nước sau.
Với quan niệm này thì Quốc Kỳ là cờ hiệu của nước,
nên phải treo thấp hơn bài vị Quốc Tổ.
Quốc Tổ là ông tổ tạo ra đất nước, chứ không phải là
ông LỘC TỤC hay ông LẠC LONG QUÂN là cha đẻ ra nòi Việt – suy ra ừ truyền thuyết
nguồn gốc nòi Việt trong chuyện Rồng Tiên.
Vì Quốc Tổ bào vệ dân tộc và đẻ ra đất nước nên Quốc
Kỳ phải thấp hơn bài vị ; nhưng Dân Tộc Kỳ (cờ nền vang tuyền của lụa tơ tầm)
phải cao hơn bài vi.
Ø Đừng lẫn Quốc Kỳ có vào thế kỷ thứ
14 ở Tây Phương và thế kỷ thứ 19 ở Việt Nam ta ; nhưng dân tộc kỳ có từ
ngày lập nước Văn Lang 2.897BC. Bà TRƯNG phát ngọn cờ Vàng làm bằng lụa
t tầm.
CHÚC VĂN
Chúc văn là bản văn cầu xin anh linh giúp đỡ điểu gì
nên nội dung thay đổi theo nhu cầu ; vì thế nên mỗi năm một khác.
Cầu xin giúp đỡ về vấn đề nào thì phải chọn anh linh
có khả năng chuyên biệt về nghành đó. Tế
Phục và trang trí, cờ xí cũng phải thay đổi cho phù hợp với anh linh mời vế.
Coi bản CHÚC VĂN đầu tiên Tế ở Paris vào ngày 03.04.1982 đưọc tổ chức tại chùa Phật Giáo Quố Tế ở khu rừng VINCENNES, ngoại ô PARIS do Ban Tế Tự Paris phụ trách.
ö
·
HƯƠNG
ÁN : Bàn Thờ chính giữa có bài vị là nơi Hương Linh giáng trần
·
HƯƠNG
ÁN TIỀN : Bàn thờ bày đồ cúng
·
CHẤP
SỰ : Nhân vên hầu rược có : Chấp Đăng, Dâng Hương, Rượu và Chúc
Văn
·
CHÁNH
TẾ : Di chuyển trong chiếu tế theo lộ trình trong chiếu từ vị trí đứng
lên vị
trí
Mạnh Bái (nơi vái lậy Hương Linh
·
PHỤ
TẾ : Đúng yên tại chỗ nhưng bái lạy theo cùng Chánh Tế
·
LỘ
TRÌNH :Chánh Tế trong chiếu tế, Chấp Sự ngoài chiếu tế.
·
GIỮ
LỄ : Không
được đi trực chỉ, phải đi ngang hông, vuông góc, khi xuốg phài
quay
mặt vô bàn thờ trước (quay 270°
·
HƯƠNG : Nơi tụ điểmcủa Hương Linh.
·
CHÚC
VĂN : Bản văn cầu xin trợ giúp. Hồ sơ này phải đốt đề người âm đem về
nghiên cứu.
·
VĂN
TẾ va CHÚCVĂN khác nhau ỏ chỗ bày tỏ quan điểm.
BẢN VĂN XƯỚNG TẾ
Ø Xin mời đồng bào nghiêm chỉnh để chúng
ta cùng nhau đón TỔ về
Khởi chinh cổ , Nhạc
công cử nhạc , Chấp sự giả các chư kỳ vị
,
Củ soát tế vật … QUÁN TẢY
… THUẾ CÂN
Phụ tế viên tựu vị ,
Chánh tế viên tựu vị
Thượng
hương Nghệ hương án tiền (nhạc tế)
Ø Xin mời quý vị đứng
nghiêm chỉnh để chúng ta cùng đón Thánh về.
NGHINH
THÁNH CÚC CUNG Bái Hưng
Bái ................... Hưng
Bái ................... Hưng
Bái ................... Hưng
HÀNH SƠ HIẾN LỄ (dâng rược lần đầu) Nghệ hương án tiền (tiến lên bàn thờ) Quỵ
(chánh tế quỳ)
Giai quỵ (tất cả quan viên trong
chiếu qùy xuống)
Châm tửu (rót rợu) Tiến
tửu (dâng rượu)
Phủ phục (đang quỳ lạy xuống) Hưng (đứng
lên
Bình thân (Çứng nghiêm)
Phục vị (về chỗ)
PHẦN CHÚC VĂN Nghệ hương án tiền
Quỵ
Giai quỵ
Chuyển chúc Tuyên
đọc (đọc chúc)
ö Thượng chúc
Phủ phục
...........................................
Hưng
Bình thân
...................................... Phục vị
Hành Á hiến lễ
(dâng rượu lần sau) Nghệ hương án tiền
Quỵ
Giai quỵ
Châm tửu Tiến
tửu
Phủ phục ........................................... Hưng
Bình thân ..........................................
Phục vị
Hành
chung hiến lễ (dâng rượu lần chòt) Nghệ
hương án tiền
Quỵ
Giai quỵ
Châm tửu Tiến
tửu
Phủ phục ........................................... Hưng
Bình thân ..........................................
Phục vị (nhạc tế)
PHẦN
ĐỐT CHÚC
èHóa chúc (đốt chúc) Nghệ hương án
tiền
Tạ lễ
cúc cung (lễ tạ ơn) .... Bái
...................... Hưng
Bái Hưng
Bái Hưng
Bái Hưng
Bình
thân Xuất tịch (ra khỏi chiếu tế)
Chấp
sự: Nhập tịch
Bái............. Hưng
Bái............. Hưng
Bái............. Hưng
Bái............. Hưng
Bình thân Phục vị
¡ Xin mời quý vị lên dâng nhang trước bàn thờ Thánh Tổ.
Ø
Chấp sự: Nhập Thất (quan viên giải tán)
Ø
Nghi thức tế Tổ đến đây chấm dứt; xin trao lại máy vi âm cho Ban tổ
chức.
-----------------------------------------------------------
Phần đọc thêm :
Ngày
Giỗ Tổ
Vĩnh Như & Thường Nhược Thủy
TỦ
SÁCH VIỆT THƯỜNG HOUSTON (USA)
Lần giở thế giới sử, nước ta
là nước duy nhất trên hoàn cầu có ngày giỗ tổ, nhằm ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch
mà ta quen gọi là Ngày HỘI ĐỀN HÙNG hay ngày GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG.
Tháng giêng ăn Tết ở nhà,
Tháng hai cờ bạc, tháng
bà “hội hè”
hiển nhiên “hội hè” ám chỉ Hội Đền Hùng; và rõ ràng hơn:
Dù ai đi ngược về xuôi,
Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng 10
tháng 3.
1. Nhân
ngày Giỗ Tổ, chúng ta nhớ lại công đức của các vua HÙNG để hiểu rõ những bước
đi của tiền nhân, những suy nghĩ và phong cách cũng như cách ứng xử của tiền
nhân, đồng thời giúp chúng ta thấy rõ đâu là hướng đi lâu dài và bền vững của
dân tộc.
2. Vua
Hùng dựng nước Văn Lang khoảng năm 2879 trước
3. Đặt
nền tảng cho việc phát triển nền văn hóa hòa bình nhân bản, dân tộc mang tính
khai phóng và dung hóa trong giao lưu, qua lăng kính nhân chủ và dân chủ. Nó khởi đi từ sự hài hòa giữa thân tâm, với nếp
sống hòa thuận (thuận vợ thuận chồng tắt Biển Đông tát cũng cạn), trong gia
đình phân công (chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa), hòa mục trong xã thôn tự
trị, đến sự thái hòa của đất nước, với chế độ địa phương phân quyền. Và đỉnh cao tuyệt đích của con người là thăng
hoa như Tiên Rồng, theo chiều kích phát triển tình thương và trí tuệ với định
hướng BIẾN – HÓA – Thăng hoa – Hòa đồng: hòa vào dòng sống xã hội và cùng vũ trụ.
4. Vạch
ra con đường sống của dân tộc (= Nhân Đạo) qua lăng kính nhân chủ và dân chủ,
không cần kêu cầu đến tín ngưỡng tôn giao…ý thức hệ hoặc một hệ thống triết học
kinh viện(1). Tất cả những
tri thức thực nghiệm và kinh nghiệm sống hài hòa hàng ngàn năm trong nền văn
hóa trồng lứa nước ổn định lâu đời đó cũng như con đường sống của dân tộc đã kết
thành đạo sống Việt, được huyền thoại hóa trong truyện con Rồng cháu Tiên, với
biểu tượng thần tổ kép Tiên Rồng để con cháu Việt noi theo. Cốt lõi tử tưởng Việt được gói ghém trong các
huyền thoại và ca dao tục ngữ tiếng nói tâm thức của dân tộc, thể hiện trong nếp
sống hài hòa (hòa cả làng) ở nơi thôn dã sẻ soi sáng việc thực hiện con đường sống
của dân tộc (= Nhân Đạo), xây dựng nền văn minh nhân bản, xu hướng tất yếu của
loài người đang hướng tới, trong thế toàn cầu hóa.
I.
Sự
Hình Thành Nước Văn Lang
Theo Khảo cổ học con người sống
ở vùng đất mà ngày nay chúng ta gọi là miền Bắc Việt Nam đã trải qua các nền
văn hóa đặc thù ảnh hưởng đến văn hóa Đông Nam Á và
A. Văn
hóa Sơn Vi: với di tích người vượn núi Đọ (Thanh Hóa) và một số công cụ bằng
đá.
B. Văn
hóa Hòa Bình: với nghề nông, đánh dấu một bước tiến bộ vĩ đại trong đời sống cư
dân Hòa Bình. Nó để lại cho chúng ta một
niềm tự hào. Hòa Bình (Bắc Việt Nam) là
một trong những trung tâm phát sinh ra nghề nông sớm trên thế giới. Hạt lúa tìm được ở nền văn hóa Hòa Bình có
1000 năm sớm hơn những hạt lúa khai quật được ở Ân Độ và
C. Văn
hóa Bắc Sơn (Thời đại đồ đá mới, cách ngày nay khoảng 8,000 năm), hàng ngàn năm
sáng tạo đã đem lại cho cư dân Bắc Sơn (Thanh, Nghê, Tĩnh, lên đến vùng Tay Bắc,
Việt Bắc, Việt Bắc) nhiều thành quả tuyệt vời.
Thành quả lớn của cư dân Bắc Sơn là kỹ thuật mài đá và sự ra đời của đồ
đá mài, nổi tiếng trên thế giới. Nối tiếp
văn hóa Bắc Sơn là văn hóa Phùng Nguyên.
D. Văn
hóa Phùng Nguyên (cách ngày nay khoảng 5,000 năm). Cư dân Phùng Nguyên là chủ nhân của văn hóa
sơ kỳ đồ đồng và kỹ thuật luyện kim đầu tiên ở Việt Nam, tạo cơ sở vững chắc
cho việc phát huy cao độ văn minh lúa nước; và mở rộng địa bàn cư trú trên lưu
vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả. Dấu vết
con người thời kỳ nầy tìm thấy ở mọi nơi : từ miền núi, miền trung du, miền
châu thổ đến miền hải đảo (Hạ Long).
Do nhu cầu trị thủy và chống xâm lăng và do phát triển kinh tế và
văn hóa ngày càng đẩy mạnh, các bộ lạc gần gũi ràng buộc với nhau bởi quan hệ máu mủ, quan hệ xóm giềng có xu
hương tập hợp lại, liên kết với nhau.
Thủ lãnh của một trong các nhóm Lạc Việt đã đóng vai trò lịch sử
là người đứng ra thống nhất các bộ lạc cùng chung sống trên vùng đất mà ngày
nay chúng ta gọi là miền Bắc Việt Nam.
Ngài tự xưng là gì không biết (?), nhưng ngày nay sử gọi là HÙNG VƯƠNG.
Vua Hùng dựng nước Văn Lang khoảng năm 2879 trước dương lịch, với thể chế nói
theo ngôn từ ngày nay là liên bang. Cơ cấu liên bang với 15 bộ đó đặt nền tảng
trên xã thôn tự trị theo độ số của chín chòm sao trên bầu trời, ảnh hưởng đến
cư dân nông nghiệp trồng lúa nước mà sau này hình vẽ cô động miêu tả vị trị
chín chòm sao đó gọi là Lạc Thư:
Trong lạc thư các con số (hay trong chín chòm sao-các vì sao) cộng
theo hàng ngang, hàng dọc hay hàng chéo đều ra con số 15.
Lịch sử cho tháy ở Phương Tây, Phương Bắc quốc gia thường được
hình thành bằng chiến tranh. Tần
Việc hình thành nước Văn Lang thì khác, khác hẳn. Văn Lang được
hình thành không phải bằng chiến tranh giữa các bộ lạc, bộ tộc ở gần nhau. Vua Hùng thống nhất Văn Lang bằng tự nguyện.
Điều đó cho thấy cư dân sống ở miền Bắc Việt Nam thời xưa đã sớm
khắc phục tinh thần rời rạc, lẻ tẻ, mâu thuẫn lẫn nhau của thời bộ lạc và làm nẩy
nở trong lòng người nông dân từ thời đại ấy những mầm mống của ý thức dân tộc;
với tiến trình lịch sử, ý thức ấy ngày thêm sâu sắc thêm mạnh mẽ, thể hiện tinh
thần làm chủ đất nước của tổ tiên ta.
Chính vì thế mà Trăm Việt chỉ còn nhánh Lạc Việt – tổ tiên dân tộc Việt
Nam. Các nhóm Bách Việt khác trải dài từ
sông
Tinh thần chống ngoại xâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc và phát
triển đất nước được tổ tiên ta huyền thoại hóa qua truyện Thánh Gióng để con
cái Việt noi theo. Truyện Thánh Gióng là
thiên thần thoại rất đẹp ngợi ca tinh thần chiến đấu bất khuất vì độc lập, tự
do, ngợi ca cuộc chiến tranh thần thánh chống ngoại xâm của dân tộc. Người
anh hùng làng Gióng là hình ảnh tuyệt đẹp của dân tộc Việt Nam trưởng thành
nhanh chóng trong gian lao vì nạn nước.
Đất nước này, dân tộc này, cũng như cậu bé làng Gióng, vừa mới có ý thức
thì hai vai đã nặng gánh hai nhiệm vụ: làm ăn và đánh giặc. Và chính vì vậy mà dân tộc Việt Nam sớm đã được
tôi luyện trong ý thức dựng nước và giữ nước, hai mặt này gắn bó với nhau, thể
hiện cụ thể trong tư thế vừa sản xuất phát triển, vừa chiến đấu. Đó là hai mặt cơ bản trong nội dung đời sống
xã hội của dân tộc ta.
II.
Vua
Hùng
Vua Hùng đã củng cố và đặt nền tảng cho việc phát triển nền văn
hóa hòa bình nhân bản dân tộc mang tính khai phóng va dung
hóa trong giao lưu qua lăng kính nhân chủ và dân chủ. Văn hóa là đặc tính riếng của con người, không có sinh vật nào khắc
có thể làm được; và văn hóa là kết tinh,
chọn lọc, dung hóa và thăng tiến để
thăng hoa cuộc sống và con người. Văn
hóa luôn luôn biến chuyển và được lưu truyền, cải biến từ thế hệ này qua thế hệ
khác theo dòng lịch sử của dân tộc. Văn
hóa được hình thành từ cách sống, cách nhìn, cách nghĩ, cách làm, cách ăn, cách
mặc, cách ứng xử…hay nói cách khác bởi tất cả mọi sinh hoạt vật chất cũng như
tinh thần.
Từ nếp sống hài hòa, vua Hùng đặt nền tảng cho triết lý sống thái
hòa (nếp sống hài hòa). Tổ tiên dân Việt đã sống và lớn lên trong môi trường thảo
mộc (cây lúa nược) và nước (nguồn sống của muôn loài. Tổ tiên ta đã quan sát và thể nghiểm sức sống
bình dị, lành mạnh, an hòa của thảo mộc và lòng cao cả nhân ái của thiên nhiên:
Thiên nhiên với những yếu tính của nước bao quanh môi trường sống mà tổ tiên ta
đã sống từ đời này qua kiệp nọ. Từ cái làm (trồng lúa nước) đến cái ăn (gạo, đạm thủy sản) chốn ở (sống trên thuyền bè, nhà sàn
trên nước) giao thông (thuyền, cầu phao), quân sự (giỏi thủy chiến), đến cái chết
(thủy táng) đều liên hệ đến nước. Có lẽ
trên thế giới chỉ có người Việt Nam gọi quê hương mình la nước: nước Văn Lang, nước Việt Nam.
Chính mối quan hệ thiết thân giữa người và nước đã giúp tổ tiên
chúng ta nắm bắt được các yếu tính của nước và thể nghiệm chúng trong cuộc sống
của dân tộc. Nước đã đi vào cõi sâu thẩm
của tâm hồn người Việt xưa. Nó đã trở
thành yếu tố thiêng liêng trong tâm thức của người dân Việt. Lòng sùng kính vua Rồng ở cõi nước là do ảnh
hưởng của môi trường sống và sinh hoạt trồng lúa nước. Có thể
nói cây lúa nước và nước đã thăng tiến sư hiểu biết, đồng thời xây dựng những yếu
tính đặc thù của nền văn hóa Việt, và người Việt Nam. Tiến Sĩ H. R. Ferraye
cho rằng nét đặc sắt của văn hóa Việt Nam là tính cách không chối từ của
nó. Tự mình, nước biết gạn đục khơi trong như là người Việt
Nam vậy.
Thực ra, nó chỉ có một chối từ: sự đồng hóa cưỡng bức. Còn lại, nó tìm cách dung hóa và hội nhập mọi
sở đắc văn hóa của Hoa, của Ấn, của Nam đảo, của Âu Tây…cả ngôn từ và kỹ thuật,
cả tôn giáo và nghệ thuật (Trần Quốc Vượng – Văn Hóa Việt Nam, Trang 44).
Thiên nhiên đã trở thành người thầy muôn thuở của dân tộc Việt. Tổ tiên ta đã học được nguyên lý thái hòa từ
thiên nhiên. Từ sự hiểu nghiệm đó, tổ
tiên ta xây dựng nếp sống hài hòa (đạo sống thái hòa) trong xã thôn tự trị. Hài
hòa giữa thân tâm để chuyển hóa tâm thức; hài hòa giữa người với người để chung sống yên vui thanh bình trên nền tảng của
gia đinh phân công (chồng chài, vợ lưới, con câu) trong tinh thần hòa thuận
(thuận, vợ thuận chồng, tác Biển Đông cũng cạn) hòa mục trong xã hội thôn trị
mang tính dân chủ (phép vua thua lễ làng) và dụng hợp được tự do và bình đẳng
(công bằng là đạo người ta ở đời) đến sự thái hòa của đất nước với chế độ địa
phương phân quyền; hài hòa giữa người với
thiên nhiên để con người thăng hoa như Tiên Rồng (như nước bốc hơi) thăng
hoa mãi theo chiều kích tâm linh (phát triển tình thương va trí tuệ, với
định hướng BIẾN- HÓA, thăng hoa, hòa đồng).
Tinh
Thần Nhân Bản:
Lấy
con Người Làm Gốc cho mọi sinh hoạt vật chất và tinh thận
Nghề nông trồng lúa nước buộc con người sống quần cư hài hòa trong
xóm làng. Sống quần cư là sống với tha
nhân, hàng xóm láng giềng.
Chính cây lúa đã làm cho con người trầm tĩnh lại, hiền hòa hơn và trở thành người hơn
(người trưởng thành). Cây lúa nói
riêng, nông nghiệp trồng lúa nước nói chung đã xây dựng nếp sống quần cư hai
hòa. Săn bắn có thể chỉ cần đến sức mạnh
của một cá nhân nhưng trái lại nghề nông trồng lúa nước đòi hỏi nhiều người,
nhiều gia đình hợp lại, đổi công giúp đỡ lẫn nhau thì đồng ruộng mới tốt
tươi. Thường xuyên sống bên nhau, tương
thân tương trợ nhau trên đồng ruộng, trong đời sống, cùng vui chơi giải trí nơi
hội hè đình đám sau các vụ mùa, bắt buộc người nông dân phải tương nhượng, thích
nghi cởi mở, bao dung để sống quần cư hài hòa trong xóm làng: hòa cả làng.
Từ kinh nghiệm sống đó, với lối sống bình dị thuần phác, phóng
khoáng, luôn thích nghi với thiên nhiên, tổ tiên ta học được, nắm bắt được
nguyên lý thái hòa từ thiên nhiên. Từ sự
hiểu nghiệm đó, tổ tiên ta sớm ý thức lấy hài hòa làm chủ đạo cho mọi ứng xử:
hài hòa thân tâm, hài hòa trong gia đình đến ngoài xã hội và mở rộng ra trên
bình diện quốc gia. Điều đó cho tháy, lối
sống định cư định canh với nghề trồng lúa nước ổn định lâu đời tạo nên nếp sống
quân cư hài hòa trong xóm làng, lấy tình nghĩa làm đầu (một bồ cái lý không bằng
một tí cái tình) coi gia đình phân công là nền tảng của xã hội, trong tinh thần
hòa thuận và quan niệm xem con người là trung tâm mọi hoạt động và tư duy. Đó là môi trường thích hợp cho tình thương nẩy
nở và phát triển một cách hồn nhiên trong sáng:
“Người
trong một nước phải thương nhau cùng”
“thương
người người lại thương tạ”
Dần dần sự hiểu nghiệm sâu sắc của nếp sống quần cư hài hòa trong
xã hội giúp tổ tiên ta ý thức: “ghét người, mình lại hòa ra ghét mình”.
Từ tri thức thực nghiệm đó đạo lý dân tộc được hình thành:
“Thương người như thể thương thân” (không
phân biệt mình người).
Rồi đạo lý đó được cụ thể hóa:
“Lá lành đùm lá rách.”
“tháy
người đói khát thì nhường miếng ăn.”
“thường
người bớt miệng mà cho.”
“may
thay ở chốn bình yên, tháy người hoạn nạn nở quên sao đành.”
Người dân Việt xem trọng con người và sự sống đến độ chấp nhận
“ngu si hướng thái bình”. Nhưng lịch sử
cho thấy dân tộc Việt thà chết chứ không chịu sống trong nô lệ: Trần Bình Trọng chẳng may sa vào tay giặc
Mông Cổ. Chúng dụ dỗ làm vương đất Bắc,
Trần Bình Trọng đã quắc mắt vào mặt giặc: Thà làm quỉ nước Nam còn hơn làm
vương đất Bắc.
Kinh nghiệm sống hài hòa giữa người với người trong xóm làng, trên
đồng ruộng, trong xã hội, nơi hội hè đình đám giúp tổ tiên chúng ta sớm ý thức lấy con người làm gốc cho mọi sinh hoạt
và tư duy. Rồi ý niệm nhớ ơn tiền nhân,
nền tảng của tục thờ cúng tổ tiên bắt
nguồn từ việc ăn một trái cây ngon ngọt phải nhớ đến công lao của kẻ trồng
cây. Người thờ người, thờ nhân tính – thì còn gì nhân bản hơn.
Như vậy, tinh thần nhân bản trong nền văn hóa Việt, văn hóa trồng
lúa nước – không phải từ trên trời rơi xuống, hay do một người đắc đạo nào đó
hoặc do một hệ thống triết học chỉ dạy cho dân tộc Việt Nam; mà do tình gia
đình (tình mẹ con, cha con, lòng hiếu thảo) môi trường sống (khí hậu nhiệt đới
gió mùa với những đồng bằng phù sa trù phú), cách lăm ăn (trồng lúa nước) với nếp
sống tương nhượng quần cư hài hòa
trong xóm làng (xã thôn tự trị) đã tôi
luyện hun đúc nên.
Sống với nghề trồng lúa nước ổn định lâu đời, tổ tiên ta sớm ý thức
vai trò của con người vô cùng quan trọng
chẳng những vì nhu cầu điều hợp qua sự vận dụng trí thức thực nghiệm mà còn vì
sự đóng góp công sức lao động trong tiến trình canh tác phức tạp của nghề trong
lúa nước.
Thức tế cho tháy dù đất đai màu mỡ, dù mưa thuận gió hòa rất thích
hợp cho việc cày bừa, gieo trồng, nhưng không
có con người thì việc trồng trọt, cày cấy không thể thực hiện được.
Tất cả quy về người, rồi từ người mà ra mọi việc, mọi sự, mọi hoạt
động, mọi suy nghỉ và v.v….
Không có con người thì không có gì cả, không có văn hóa, kinh tế,
chính trị, đạo đức, tôn giáo v.v…. Không có con người, vũ trụ có đó, nhưng có
cũng như không, không có ý nghĩa gì cả.
Trong nên văn hóa Việt thần thánh là con người thăng hoa vì đã có những hành động hoặc thành tích giúp
dân, cứu nước, được người dân vinh danh
thành thần, nhân thần (Đức Thánh Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Thành Hoàng
Làng v.v….). Người thờ người – nhân thần
– thể hiện tinh thần nhân bản cao độ.
Tinh
Thần Thực Tiễn:
Thực
tại là tiêu chuẩn của chân lý
Như trên đã trình bày chính “cây
lúa nước” nói riêng, “thiên nhiên”
nói chung đã thăng tiến sự hiểu biết; đồng thời xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc
và đặc tính cũng như tinh thần của người Việt xưa. Trong đó tinh thần quan trọng nhất là tinh thần
thực tiễn vi hầu hết các đặc tính và tinh thần khác được rèn luyện / kiến tạo từ
tinh thần thực tiễn. Tinh thần thực tiễn
đã rèn luyện cho người nông dân Việt xưa lối
suy tư thức tiễn cu thể và thiệt thật cùng nếp sống hài hòa. Người nông dân Việt nhìn đời với cái nhìn thực
tiễn để thăng hoa cuộc sống và con người.
Người nông dân, với óc thực tiễn, họ chấp nhận hiện thực – thực tại – sự kiện đang xảy ra mà không có vấn
đề với nó. Họ hóa giải mâu thuẫn bằng
tương nhượng, thích nghi, hài hòa, chứ không bằng một chân lý của một triết
thuyết. Nói cách khác họ chú trọng tới
“chân thật” – mang tính thực tiễn của nó được thực chứng qua chính sự hiện thực
và trí thức thực nghiệm – hơn là chân lý của một triết thuyết
mang tính trưu tượng và thuyết phục.
Chính nếp sống hài hòa và lối
tư duy thực tiễn, cụ thể và thiết thực đó lại giúp tổ tiên ta nắm bắt được thêm
một cách sâu sắc những yếu tính của “nước”,
“cây lúa nước” và “thiên nhiên” như lý tương quan nhân quả, lý đối lập thống nhất,
tính không chấp, tinh thần cộng đồng, tinh thần co viếc thì đến hết việc thì đi
v.v….
Sau một thời gian dài, từ săn bắt hái lượm, đào củ - sống du canh
du cư – người Việt cổ thời Hòa Bình, sớm định cư trồng trọt, thuần hóa cây nông
nghiệp, thú vật, chuyển sang đời sống quần
cư hài hòa trong xóm làng với nghê trồng lúa nước và nuôi gia súc.
Ai đã dạy họ trồng trọt? Phải chăng mội trường sống và đời sống thực
tiễn là ông thầy của họ? Thường ngày họ
hái lượm quả chín trong rừng sâu, đêm về hang động, ăn xong, vứt hột xuống đất ẩm,
hạt nảy mầm, mọc lên cây, sinh hoa kết trái.
Từ đó, họ phá rừng để biến thành vườn – nương; vườn tược trồng cây
ăn trái, đồi nương trồng rau dưa, bầu, bí, khoai v.v….
Thế là nghề nông xuất hiện, đánh dấu một bước tiến quan trọng
trong đời sống của cư dân Hòa Bình. Từ
những kinh nghiêm trồng trọt nói trên họ thấy ra được nước giúp cho thảo mộc
tăng trưởng mạnh và tốt tươi, họ tìm cách thuần hóa cây lúa hoang thành cây lúa
trồng dưới ruộng nước, và thuần hóa con trâu để giúp họ canh tác ruộng lúa nước. Tiến trình canh tác lúa nước được chia ra nhiều
công đoạn: cày bứa, nhổ mạ, cấy lúa v.v… (cách thuần hóa cây lúa nước và kỹ thuật
canh tác lúa nước không thuộc chủ để của bài này).
Cách kiếm ăn mới – trồng trọt, trồng lúa, trồng lúa nước – đòi hỏi
phải biết kỹ hơn, sâu sắc hơn về cây cỏ, thời tiết, nắng, mưa v.v… chăng hạn trồng
lúa nước, không phải muốn gieo hạt giống lúc nào là gieo lúc ấy, mà phải đúng
thời tiết từng thời vụ.
Từ buổi đầu con người (thời văn hóa Sơn Vi, Hòa Bình, Bắc Sơn)
quan sát thiên nhiên (Thiên Thư Vô Ngôn Của Trời Đất) để học hỏi. Thiên nhiên là người thầy đầu tiên của cư dân
Hòa Bình, Bắc Sơn, tiền thân của dân tộc Việt Nam.
Qan sát để học. Học để biết. Biết để làm. Làm
để sống. Rồi vừa làm vừa học. Làm đến đâu học đến đó. Biết đến đâu sống và làm đến đến đó. Biết rồi bảo nhau cùng biết để thăng tiến con
người. Thăng tiến con người đồng nghĩa với
thăng tiến xã hội và ngược lại. Vì sống
phải làm, mà làm thì tăng sự hiểu biết “Sống – Làm – Biết” và ngược lại “Biết –
Làm – Sống”.
Về sau, mãi về sau, nhiều ngàn năm sau, cái tri thức thực nghiệm
“Sống – Làm – Biết” và “Biết – Làm – Sống” ở thời đại đá mới đã được tổ tiên ta
huyền thoại hóa, qua hình ảnh Tiết Liệu biết cách làm bánh, rồi tự tay làm bánh
để dâng cúng tổ tiên và tiêu dùng (sống) trong chuyện “bánh dày bánh
chưng”. Phải chăng Tiết Liệu làm bánh
dâng cúng tổ tiên và được vua cha chọn làm thái tử co thể là hư cấu, là huyền
thoại nhưng tục thờ cúng ông bà và tri thức nghiệm “sống – làm – biết” và “biết
– làm – sống” tức tinh thần thực tiễn lại là hiện thực?
Kinh nghiệm sống cho biết con người học hỏi bằng mắt: quan sát; học hỏi bằng tay: lao động và học hỏi bằng óc: suy tu, nhân xét, sáng tạo. Người nông dân trồng lúa nước phải quan sát
trời (thời tiết), trăng, sao, đất đai, mưa, gió thật tỉ mỉ để hoạch định công
việc cày cấy, để săn sóc, chăm bón cho đồng ruộng.
Sống với nghề trồng lúa nước ổn định lâu đời, cách ngày này
8,000-9,000 năm (thời đại văn hóa Hòa Bình) người nông dân Việt, với kinh nghiệm
sống thực tiễn, thấy rằng muốn giải quyết các khó khăn trong cuộc sống thì phải nhìn thẳng vào sự thật trong hiện
tại (thực tại). Về sau ông cha diễn đạt
cái biết này qua câu:
“Trông
cơ trời đất liệu thời làm ăn”.
Nghề trồng lúa nước bắt buộc người nông dân nhìn thẳng vào đất
đai, thiên nhiên, thời tiết:
Người ta đi cấy lấy
công
Tôi đây đi cấy
còn trông nhiều bề
Trông trời trồng
đất trông mây
Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm.
Quan sát những hiện tượng thiên nhiên như thời tiết, hướng gió, độ
mưa, sắc mây, quầng trăng, én bay thấp hay cao, quạ tắm hay sáo tắm… tức là quan sát thực tại.
Từ cảm nhận môi trường sống nông nghiệp trồng lúa nước đưa đến cảm
nhận Thiên Thư Vô Ngôn Của Trời Đất (Thiên Nhiên) một cách sâu sắc tự nhiên.
Cảm, khám phá, thấy ra và thu thập những nguyên lý biến dịch vận
hành của thiên nhiên, rồi vận dụng những nguyên lý đó phục vụ đời sống. Những nguyên lý đã được biến cải qua kinh
nghiệm sống lâu dài, với óc phân tích (học mở) và tổng hợp (học gói) để thích ứng,
thịch hợp vối đời sống con người.
Những hiểu nghiệm đó dần dần cô động trong tâm thức của tộc, rồi
phản ảnh lại môi trường sống nông nghiệp, trải qua quá trình thực nghiệm trong
đời sống được diễn đặt qua ca dao tục ngữ, tiếng nói tâm thức của dân tộc để ứng
dụng vào mọi lãnh vực của đời sống sinh động theo chiều dài của lịch sử dân tộc.
“Quạ tắm thì ráo (nắng) ;
Sáo tắm thì mua”
“Én bay thấp mưa ngập bờ
ao ; Én bay cao mưa rào lại tạnh”
“Trăng quần thì hạn,
trăng tán thì mưa”
“Thậm đông thì mưa, thậm
dưa thì khú, thậm vú thì chửa, v.v… và v.v….
Nói theo ngôn ngữ triết học ngày nay tổ tiên ta đã sớm ý thức thực tại là tiêu chuẩn của chân lý.
Trí thức thực nghiệm của người nông dân Việt xưa căn cứ trên quan
sát các hiện hiện tượng thiên nhiên, cuộc sống của chính mình, rồi đêm các qui
luật vận hành đã ghi nhận được ứng dụng vào lãnh vực liên hệ đến cuộc sống hàng
ngày.
Quy luật vận hành của bốn mùa, hướng gió, độ mưa của từng thời kỳ,
sắc mây, quầng trăng… đã được ứng dụng vào việc dự báo thời tiết cho nhà nông,
vì thế cuộc sống của nông dân gắn liền với cuộc sống thảo mộc và thiên
nhiên. Đây là mối liên hệ mật thiết,
tương quan, tương cảm đã phản ảnh sâu đậm trong “nhân sinh quan thảo mộc” với “cái nhìn thảo mộc” (thích nghi, hài hòa)
của nông dân Việt. Nó khác với cái nhìn
“đoàn lũ”, chăn nuôi theo bầy với đánh đập la hét của người
Chính cái trí thức thực nghiệm đã rèn luyện, xây dựng và phát triển
óc thực tiễn của người Việt xưa.
Với óc thực tiễn của nông dân Việt ngày xưa chấp nhận thực tại (sự
thật đang xảy ra) mà không có vấn đề với nó.
Như trên đã nói họ chú trọng chân thật – mang tính thực tiễn được thức
chứng – hơn là chân lý của một triết thuyết mang tính trưu tượng siêu hình cần
rao giảng thuyết phục. Tổ tiên ta đã dạy:
“Trăm
nghe không bằng một tháy, trăm thấy không bằng một lần trải qua”.
TINH
THẦN NHÂN CHỦ
Thực tế cho thấy nếp sống tượng nhượng quần cự hài hòa trong xóm
làng, và kỹ thuật trồng lúa nước đã rèn luyện hun đúc cho nông dân trồng lúa nước
tinh thần nhân chủ. Muốn thu hoạch được
kết tốt đẹp trong việc trồng trọt, trồng lúa nước, nông dân phải chủ động
quan sát các hiện tượng thiên nhiên:
Trông trời, trông đất,
trông mây
Trông mưa, trông
gió, trông ngày, trông đêm.
Trông cho chân cứng
đá mềm,
Trời trong bể lặng
mới yên tấm lòng.
Nói gọn một câu: Trông cơ trời đất liệu thời làm ăn.
Nghĩa là quan sát hiện tượng thiên nhiên, thời tiết để quyết định
xếp đặc công việc trồng trọt, làm mùa màng v.v…. Nếu mưa to, gió lớn, giống tố
nổi lên nông dân không dại gì mà cày bừa, nhổ mạ, cấy lúa trong những trường hợp
đó. Nếu “trời trong bể lặng”, nông dân mới
yên tâm cày cấy. Người nông dân chủ động
trong mọi sinh hoạt của nông vụ.
Từ kinh nghiệm sống đó, dần dần họ ý thức đời sống con người – mọi sinh hoạt trong gia đinh trên đồng ruộng,
ngoài xã hội – vui tươi hay buồn khổ, thương yêu hay hận thù đều do con người tự quyết định và tao lập lấy,
chứ không phải do ý muốn của thần linh
hay bất cứ yếu tố nào bên ngoài con người.
Con người tự mình làm chủ chính
mình. Triết học ngày nay gọi là tình
thần nhân chủ.
Trên bình diện tâm lý và xã hội nhân chủ là tinh thần cao độ của một
tập thể con người tôn trọng con người, xem con người là trung tâm của mọi sinh
hoạt vật chất và tinh thần (Nhân Bản), làm chủ tâm tư tình cảm và dục vọng (làm
chủ bản thân) chấp nhận dị biệt, hài hòa với chính mình, tha nhân và thiên nhiên. Chỉ có tập thể con người, sống thực, sống
đúng, sống biết, sống trọn vẹn với thực
tại (cái đang diễn biến trước mắt) thì mới ý thức tự chủ và sáng tạo.
Kinh nghiệm sống đã xây dựng nhân sinh quan và vũ trụ quan xem thiên nhiên, con người, và đất đai là
ba yếu tố hài hòa trong triết lý sống thái hòa: đó là minh triết đời sống, chứ không phải minh triết kinh điển hay minh
triết tử viết, sách vở kinh điển.
Ý thức Trời – Người – Đất (đầu đội trời, chân đạp đất) cùng một thể,
từ đó manh nha đặt cơ sở cho ý thức phát
triển tâm linh vốn đã nhen nhúm trong sự gắn bó giữa con người với thiên
nhiên và đất đai, cũng như mối liên hệ thiêng liêng nối liền các thế hệ (quá khứ,
hiện tại, tương lai) qua tục thờ cúng tổ
tiên.
Nền văn hóa trồng lúa nước là một thể nghiểm sống của sự hòa điệu giữa Trời – Người – Đất trong đó sức cần lao
cũng như tri thức thực nghiệm của con người được ứng dụng và điều hợp một cách
sáng tạo sao cho hòa nhịp và kết hợp với thời tiết (Trời) và đất đại để cho lúa
được tốt tươi. Mối liên giữa Trời – Người
– Đất thật gần gũi, đồng cảm và đồng đẳng.
Từ đó manh nha và lâu dần hình thành tinh thần nhân bản và nhân chủ.
Nền văn hóa trồng lúa nước là một thể nghiệm cụ thể của triết lý
Trời – Người – Đất cùng một thể mà Hán nho sau này chỉ phản ảnh cái thể và cố tình bóp méo cái dụng với triết lý tam tài: Thiên – Địa
– Nhân.(3)
Hiếm thấy và chưa có một nền đạo học nào trên thế giới diễn đạt được
nhân sinh quan “Trời – Người – Đất” cùng một thể một cách ngắn gọn mà đầy đủ ý
nghĩa tinh thần nhân chủ trong triết lý sống của nền văn hóa trồng lúa nước qua
bài thơ của Trần
Trời Đất sinh Ta
có ý không,
Chưa sinh Trời Đất
có Ta trong.
Ta cùng Trời Đất
ba ngôi sánh,
Trời Đất in Ta một
chữ đồng.
Đất nứt Ta ra Trời
chuyển động
Ta thay Trời mở Đất
mênh mông.
Trời che Đất chở
Ta thong thả
Trời Đất Ta đây đủ
hóa công.
VAI
TRÒ PHỤ NỮ
Tinh
Thần Bình Đẳng
Vai trò của con người hết sức quan trọng, chẳng những vì nhu cầu
điều hợp qua sự vận dụng tri thức thực nghiệm, mà còn vì sự đóng góp công sức
lao động trong tiến trình canh tác phức tạp.
Và cũng vì nhu cầu đó mà có nhiều con cái được xem là lộc Trời cho, vai
trò của người mẹ trở nên quan trọng, nền tảng gia đinh trở nên cần thiết trong
việc kế thừa ruộng đất của tổ tiên cũng như phát triển hoa mầu hiện có.
Tiến trình canh tác lứa nước được chia ra nhiều công đoạn: nặng nhọc
như cày bừa, nhẹ nhàng hơn như cấy lúa, nhổ cỏ, tát nước…. Vì thế, nam cũng như
nữ được phân công hợp tác vào từng công đoạn thích hợp: nặng nhọc cho nam, nhẹ
nhàng cho nữ…. Vai trò người nữ trong nền
văn hóa nông nghiệp do đó cũng đắc dụng chứ
không đến nỗi hầu như vô dụng như trong nền văn hóa du mục khi họ phải sống bám
vào sức lực của người nam. Từ đó người
nữ trong xã hội nông nghiệp được đối xử bình
đẳng hơn(4). Tinh thần
bình đẳng trong nếp sống Việt được huyền thoại hóa qua bóc trăm trứng với hình ảnh
nở trăm con cùng một lúc, và trong truyện Chữ Đồng Tử và Tiên Dung.
Ý THỨC
CỘNG ĐỒNG
Sự phúc tạp của kỹ thuật trồng
lúa nước đòi hỏi nông dân phải có một tinh thần kỷ luật và cộng tác cao, cũng
như phải có ý thức trách nhiệm chung. Sợ
xảy một chút, để ruộng thiếu nước hoặc úng nước, là có thể đưa đến mất mùa, đói
kém. Trong trường hợp cần chống hạn hoặc
phòng lụt toàn dân làng phải dốc toàn lực, sát cánh đối phó ngày đêm dưới sự điều
động của các chức sắc trong làng. Ý thức
công đồng từ đó manh nha, đặt cơ
sở phát triển cho ý thức dân tộc vốn
đã nhen nhúm trong sự gắn bó của nông dân với ruộng đất và làng mạc, cũng như mối
liên hệ thiêng liêng nối liền các thế hệ qua tục thờ cú tổ tiên(5).
Y NIỆM
LUÂN HỒI, TÁI SINH
Như đã nói ở trên tri thức thực nghiệm của nông dân Việt căn cứ
trên sự quan sát các hiện tượng thiên nhiên ngày và đêm, quy luật vận hành của
bốn mùa, hướng gió, độ mưa của từng thời kỳ, sắc mây, quầng trăng… đã được ứng
dụng vào những lãnh vực liên hệ đến cuộc sống hàng ngày. Vì thế, cuộc sống của nông dân gắn liền với
cuộc sống của thảo mộc và thiên nhiên. Đây là mối liên hệ mất thiết, tương thông
tương cảm đã phản ảnh sâu đậm trong nhân sinh quan của nông dân Việt. Liên hệ nhân quả qua quán chiếu từ
giống tốt tạo nên nhánh lúa trĩu hạt. Ý niệm luân hồi, tái sinh rút ra từ chu
trình thảo mộc qua bốn mùa(6).
TÂM
LINH VIỆT
Ý niệm tri ân tiền nhân, nền tảng của tục thờ cúng tổ tiên, bắt
nguồn từ việc “uống một ngụm nước trong mát phải nhớ đến nguồn nước, ăn một
trái cây ngon ngọt phải nhớ đến công lao của kẻ trồng cây”. Nhân sinh quan thảo mộc / thiên nhiên này đã
tạo nên một không gian tâm linh, một chiều kích thứ tư, khiến con người tương cảm, tương cân với tiền nhân. Trong gia đình con người cảm thấy vững tâm với
linh cảm rằng mái ấm gia đinh của mình luôn luôn có sự che chở của tổ tiên ngự trị trên bàn thờ gia
tiên. Đối với nông dân Việt, sự an bình
trong làng mạc của họ được vị Thành
Hoàng Làng trấn ngự dưới mái đình làng phù trợ. Mở rộng ra đến cả nước thì Quốc Tổ sẵn sàng
tiếp ứng hữu sự, khi con cái cất tiếng kêu cầu: “Bố ơi! Về giúp chúng con”(7)
, trong ý nghĩa “Bố là tinh thần dân tộc, là con đường sống của người dân Việt
(= Nhân Đạo) qua lăng kính nhân chủ
và dân chủ.
LÝ ĐỐI
LẬP THỐNG NHẤT
Đối
Lập là Bổ Sung
Một hiện tượng hết sức phổ biến trong thiên nhiên mà nông dân Việt
đã quán chiếu được: đó là mọi sự vật trên đời hầu hết hợp thành từng cặp bổ túc
và bổ nghĩa cho nhau qua sự tương phản và nếu được kết hợp, chúng sẽ chuyển hóa
thành một thể tổng hợp mới hài hòa trọn vẹn, như sáng – tối, nam – nữ…. Ban mai và ban tối hợp lại thành một ngày vẹn. Người nam sẽ chưa thành nhân nếu chưa kết
hông với người nữ để cùng nhau xây dựng một mái ấm gia đình, sinh con đẻ
cái. Qua sự quán chiếu đó, nông dân Việt
rút ra được quy luật: muốn đạt được sự hài hòa thì phải kết hợp (thống nhất)
các mâu thuẫn, di biệt (đối lập)(8).
Nói theo ngôn từ triết học ngày nay đó là quy luật / lý đối lập thống nhất. Từ tri thức thực nghiệm đó tổ tiên ta sớm ý
thức “đối lập là bổ sung”, thể hiện qua nếp sống chấp nhận dị biệt: rằng trong lẽ phải có người có ta. Lý đối lập thống nhất được tổ tiên ta huyền
thoại hóa qua biểu tượng thần tổ kép Tiên Rồng.
PHÂN CÔNG HỢP TÁC
Thuộc
Tính của Lý Đối Lập Thống Nhất
Nhân sinh quan của nông dân trồng lúa nước đặt nền tảng trên sự
hài hòa, phối hợp Trời – Người – Đất. Muốn
đạt được hài hòa phải chấp nhận dị biệt trong bình đảng, tương thân và tương
tác; từ đó mới thực hiện được sự phân công hợp tác một cách tốt đẹp. Nhân sinh quan này bắt nguồn từ vai trò bình
đẳng của con người với trời đất trên cõi đời này. Vì thế, cốt lõi của nhân sinh quan này là
Nhân Chủ: trí tuệ, tình người và sức lực con người là chủ yếu. Vai trò của người nữ được trân trọng, tình
gia tộc thắm thiết, tình hàng xóm láng giềng khắn khít, cùng chia sẻ ngọt bùi,
cay đắng nên sự hợp tác chặt chẽ, sự phân công hợp tình hợp lý, tinh thần trách
nhiệm chung cao, do ý thức công đồng sâu sắc.
Qua lăng kính nhân chủ, trời đất được nhân cách hóa thành cha Trời
mẹ Đất và cỏ cây, sông núi cũng đều có linh khí như con người. Cùng lúc đó, một không gian tâm linh bàng bạc
phủ trùm toàn thể các sinh hoạt của người nông dân: hồn thiêng tổ tiên, sông
núi lúc nào cũng như cận kề với họ. Sự
hài hòa khởi đi từ sự hài hòa thân
tâm, sự kết hợp của hai người nam nữ – có âm dương, có mẹ Tiên cha Rồng, có vợ
chồng – đến sự hòa mục trong xóm làng (xã hội tự trị) đến sự thái hòa của đất
nước. Và đỉnh cao tuyệt đỉnh của con người
là thăng hoa theo chiều kích phát triển tình thương và trí tuệ (tâm linh), với
định hướng BIẾN – HÓA – Thăng hoa – Hòa đồng.
Đặc
Tính Gốc của Nền Văn Hóa Nhân Bản
YẾU TÍNH CỦA NƯỚC
Chính mối quan hệ thiết thần giữa người và nước đã giúp cho cha
ông chứng ta nắm bắt được yếu tính của nước và thể nghiểm chúng trong cuộc sống
của dân tộc: linh động, thích nghi với mọi hoàn cảnh, (ở bầu thì tròn ở ống thì
dài; ở ao thì ngưng, ở sông thì chảy) bao dung, nhẫn nhục (dơ, sạch nước đều nhận, không phân biết)
tự do bình đẳng, không chấp, tự nhiên giản dị, bất tranh, vô vi, tự thành lọc…
khiêm cung mềm mỏng hơn là tự cao cứng rắn, tĩnh lặng quân bình (giúp chúng ta
nhìn thấy sự việc rõ ràng hơn…). Sự quán
chiếu quan trọng nhất của cha ông chúng ta về yếu tính của nước là:
1.
Tính sinh hóa và tự sinh tự hóa của mọi loại.
2.
Tự thân của nước chứa đựng các thuộc tính mâu thuẫn chỉ thấy ở các
cập đôi: cương nhu, cường nhược, tĩnh động, mưa thuận gió hòa (thiện) bảo tố
(ác), v.v….(9)
Lẽ dĩ nhiên, những đặc tính trên không chỉ thấy nơi người Việt. Nhưng chúng ta có thể xác quyết là, chỉ ở nơi
người Việt và trong nếp sống dân gian, trong ngôn ngữ, ca dao tục ngữ, trong
huyền thoại, chúng ta mới thấy những đặc tính trên một cách rõ ràng và sâu sắc. Sống trong moi trường sông rạch chằn chịt như
mạch máu, phía đông lại giáp biển, cách làm ăn trồng lúa nước (nước phân cần giống)
tổ tiên ta học rất nhiều ở nước.
Từ cơ sở quán chiếu ấy, cha ông chúng ta đã chuyển ý niệm quốc gia
từ tập đôi đất – nước thành Nước. Đây là một thể hiện rõ rệt sự chuyển
biến từ ý niệm nhị nguyên sang nhất nguyên.
Triết lý sống thái hòa và những yếu tính của nó được tổ tiên ta
huyền thoại hóa qua truyện con Rồng cháu Tiên với biểu tượng thần tổ kép Tiên Rồng.
Thần tổ kép Tiên Rồng của
dân Việt còn là biểu tượng thăng hoa theo chiều kích Nhân và Trí. Mẹ Tiên Âu Cơ sống trên núi (non Nhân), cha Rồng
Lạc Long sống dưới biển (nước Trí).
Tất cả các nét đặc trưng / đặc tính kể trên đã kết thành Đạo Sống
Việt (cách sống Việt). Và chính cách sống hài hòa linh động uyển chuyển đó đã định
hướng cho ông cha chúng ta trong suốt hơn 4000 năm lịch sử. Đạo sống Việt – cách sống Việt – lấy hòa làm
chủ đạo cho mọi liên hệ ứng xử; và lấy tình thương, trí tuệ làm định hướng cho
mọi ý nghị, lời nói và việc làm để thăng hoa cuộc sống và con người.
CÔNG
ĐỨC CỦA CÁC THẾ HỆ VUA HÙNG
Sở dĩ trên đây chúng tôi phải dài dòng minh chứng những nét đặc
trưng / đặc tính tinh thần của dân tộc nói riêng và nền văn hóa Việt nói chung,
chỉ nhằm mục đích minh xác công đức vĩ đại của vua Hùng:
1.
Vua Hùng đã xây dựng, củng cố phát triển ý thức dân tộc. Ý thức dân tộc là nền móng của sự hình thành
quốc gia (Vua Hùng dựng nước Văn Lang).
Nó còn là yếu tính của xã hội công dân: Yếu tính này là nền tảng rèn luyện
tinh thần dân chủ. Ý thức dân tộc khiến
người dân không những chỉ dám hy sinh sinh mạng sống cho đất nước (lòng yêu nước)
mà còn “biết sống” cho tổ quốc (giữ thơm quê mẹ, phát triển đất nước) để duy
trì và phát huy dòng sinh mệnh văn hóa dân tộc.
Người có ý thức dân tộc luôn luôn tin tưởng và tự hào về dân tộc mình(10). Ý thức dân tộc – chủ nghĩa dân tộc – nuôi dưỡng
và phát huy “hồn dân tộc”, bao hàm bản sắc và nội lục, giúp dân tộc được trường
tồn với bản sắc cá biệt của dân tộc ta.
Chính ý thức dân tộc sâu sắc ấy đã giúp cho dòng Lạc Việt bảo tồn được bản
sắc trước áp lực đồng hóa khủng khiếp và liên tục hơn một ngàn năm của tộc
Hán. Trăm dòng Việt (Bách Việt) trải dài
từ phía Nam sông
2.
Vua Hùng củng cố, phát huy sâu rộng nền văn hóa nông nghiệp trồng
lúa nước. Nó phát sinh từ nền văn hóa
Hòa Bình(11), có niên đại C14 là 1075 +/- 175 năm, cách ngày nay; nó
được nối tiếp phát triển với nền văn hóa Bắc Sơn và được phát huy sâu rộng ở nền
hóa Phùng Nguyên: Thời đại vua Hùng dựng nước Văn Lang. Đó là nền văn hóa Hòa Bình nhân bản dân tộc
mang tính khai phóng và dung hóa trong giao lưu qua lăng kính nhân chủ và dân
chủ.
3.
Vua Hùng là người đặt nền tảng và vạch ra con đường sống của dân tộc
(= Nhân Đạo) qua lăng kính nhân chủ và dân chủ, trên nền tảng của xã thôn tự trị
- một “cơ cấu xã hôi chính tri đặt thù của dân tộc Việt Nam”, lấy con người
toàn diện – không duy gì cả - làm trung tâm (làm gốc) cho mọi sinh hoạt về vật
chất cũng như tinh thần, mà không kêu cầu đến tín ngưỡng tôn giáo(12),
ý thức hệ hay một triết thuyệt kinh viện.
4.
Vua Hùng – nói theo ngôn từ của thời đại – đã thực hiện thành công
cuộc cách mạng văn hóa trong giới hạn của điều kiện thời đại lúc đó:
a. Xóa
sạch tính dâm ô, loạn luân, phi nhân bản trong các huyền thoại, truyền thuyết. Cảnh con gái ngủ với cha, anh em lấy nhau, mẹ
giết con, con giết cha, giết phụ nữ, trẻ em tế thần linh, thần thánh coi con
người như rơm rác, trong huyền thoại của Tây Phượng, Ấn Độ và
b. Đặt
nền tảng cho tư tưởng “lấy người làm gốc”.
Tất cả qui về người, rồi từ người mà sinh ra mọi sự, mọi việc…. Lấy “người
làm gốc” tức trọng người, trọng sự sống, thương người: thương người, người lại thương ta, ghét người, mình lại hóa ra ghét
mình, rồi không còn phân biệt mình, người: thương người như thể thương thân.
THAY
LỜI KẾT
Hướng
đi của dân tộc trong thế nhập cuộc toàn cầu hóa hiện nay.
Những công đức đó thật là vĩ đại.
Nhưng tổ chức ngày Giỗ Tổ không phải chỉ để ca ngợi hết lời những công đức
đó để thỏa mãn tự ái dân tộc. Ngày Giỗ Tổ
cũng không phải là dịp để đề cao cá nhân hay phe nhóm với những bài diễn văn đầy
danh từ cao đẹp. Tổ chức ngày Giỗ Tổ là
để nhắc nhở chúng ta phải làm gì ích lợi cụ thể cho dân tộc và đất nước để trả
ơn cho tổ tiên một cách thiệt thực. Giỗ
Tổ nhắc nhở chúng ta phải tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc, để tin tưởng và tự
hào về dân tộc mình. Có thấu hiểu bản sắc
dân tộc, chúng ta mới rèn luyện cho mình trở thành người có tinh thần dân tộc. Một người có ý thức dân tộc luôn luôn trân trọng
trách nhiệm “giữ thơm quê mẹ” trong tinh thần tự giác. Một người có ý thức dân tộc kiên trì trong sứ
mệnh, phát huy những giá trị tinh thần quí báu của dân tộc và “biết cách bảo tồn”
dòng sinh mệnh vĩnh hằng của dân tộc.
Cho nên trọng điểm của việc tổ chức ngày Giỗ Tổ là để nhắc nhở chúng ta
tự giáo dục và giáo dục con cháu: nhớ công đức dựng nược và phát triển văn hóa
dân tộc của vua Hùng. Nhớ công đức vua
Hùng thiết thực nhất là chúng tà và con cái Việt phải có bổn phận, bằng mọi
cách, giữ nước, thể hiện đạo lý của
dân tộc: thương người như thể thương thân
vào cuộc sống, đồng thời phát triển đất nước theo kịp đà tiến bộ
của thế giới.
NHÂN
NGÀY GIỖ TỔ CỦA NĂM 2007
Người Viết khẩn thiết ý thức thực hiện cuốc chuyển hóa tâm thức (phát
triển tâm linh) trên nền tảng của giáo lý mà mình đang theo, trở thành người “thiện
lành”, phát triển tình thương và trí tuệ, thể hiện đạo lý của dân tộc:
“thương người như thể thương thân” và triết lý sống thái hòa, qua nếp sống
hài hòa (hòa cả làng), lấy tình nghĩa làm đầu (một bồ cái lý,
không bằng một tí cái tình) trong tinh thần “công bằng là đạo người ta ở đời,
phá vở những ốc đảo (gà quề ăn quẩn cối xay) những định kiến (kiến bò miếng
chén) về chính trị và tôn giáo, xem “đối lập” là bổ sung, chấp nhận dị biệt (rằng
trong lẽ phải có người có ta) thống nhất tri thức và tâm thức,
cùng nhau chung sống yên vui trong thanh bình thịnh vượng.
Tình thương hồn nhiên trong
sáng – không mang bất cứ nhãn hiệu nào – sẻ hóa giải mọi mâu thuẫn, nghịch
lý ở nội tâm, trong gia đình và ngoài xã hội:
1. Dân Tộc: Người trong một nước phải thương nhau cùng.
2. Nhân Loại: Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn (giàn
dân tộc – giàn nhân loại).
Ông cha ta thường nhắc nhở:
Thương nhau củ ấu cũng trồn (một trăm chổ
lệch cũng kê cho bằng)
Tình thương, trí tuệ, hài hòa và thượng tôn luật pháp là những yếu
tố căn bản / nền tảng giải đáp nhu cầu tâm thức của con người trong thế toàn cầu
hóa để xây dựng nên văn minh nhân bản mà loại người đang hướng tới.
Người Việt theo tục thờ cúng tổ tiên cũng cần phải tự ý thức thực
hiện cuốc chuyển hóa tâm thức mà khơi điểm là trở về với chính mình (tram hay là xoay vào lòng, ngọn đèn được tỏ
trước khêu bởi mình), tự biết mình xây dựng nếp sống tỉnh
thức, qua quá trình học ăn, học nói, học gói, học mở (truyền thống giáo
dục nhân bản tâm linh) theo chiều kích phát triển tình thương và trí tuệ (phát
triển tâm linh) với định hướng: BIẾN – HÓA – Thăng hoa, Hòa đồng: hòa vào dòng
sống và cùng vũ trụ ngay tại đây và bây giờ(13).
Vĩnh Như & Thường Nhược Thủy
Tủ Sách Việt Thường ; www.tusachvietthuong.org
GHI
CHÚ
(1) Xin
tham khảo thêm Đạo Sống Việt – Tủ Sách Việt Thường. NXB Ngày Nay, nam 2000.
(2) Trường Hữu Quýnh – Đại
Cương Lịch Sử Việt Nam, NXB Giáo Dục, 1998, Trang 14-30.
(3) Thương Nhược Thủy,
Tổng quan về vai trò của nền văn hóa Việt (Đạo Sống Việt). NXB Ngày Nay năm 2000, Trang 34.
(4) Thương Nhược Thủy,
sđd, Trang 35.
(5) Thương Nhược Thủy,
sđd, Trang 35-36.
(6) Thương Nhược Thủy,
sđd, Trang 36.
(7) Thương Nhược Thủy,
sđd, Trang 36.
(8) Thương Nhược Thủy,
sđd, Trang 37.
(9) Thương Nhược Thủy,
sđd, Trang 39.
(10) Thương Nhược Thủy,
sđd, Trang 7-8.
(11) Wilhelm
G. Solheim II, New light on a forgotten Past, National Geographic, Vol. 139,
No. 3, March 1971.
(12) Ghi
chú của người viết: Vua Hùng dựng nước Văn Lang. Khoảng năm 2879 trước Duong lịch. Thời đại đó ở nước Văn Lang không có tôn
giáo. Phật giáo và Kito giáo cũng chưa
xuật hiện trên trái đất.
Mặt
khác trong quyền Đạo lý cho thiên niên kỷ mới (Ethics for the New Millennium do
Linh Thụy chuyển ngữ). Đức Đạt Lai Lạt
Ma đã viết: Chúng ta có thể ném bỏ hết tất
cả các thứ khác: tôn giáo, lý tưởng,…. Nhưng chúng ta không thể tránh khởi sự cần
thiệt của tình thương và tâm từ bị. Như
thế, điều đó chính là tôn giáo thực sự của tôi, đực tin đơn thuần của tôi. Trong ý nghĩa đó, không cần đến chùa chiến hoặc
giáo đường, đền thờ hay tòa thánh, cũng không cần các triết lý, giáo lý hoặc chủ
thuyệt phức tạp. Tự
tâm ta, tực thức ta, chính là đền thờ.
Chủ thuyệt là từ bi, tình thương đối với tha nhân và tôn kính đối với
quyền lợi và phẩm cách của họ, cho dù họ là ai và làm gì: cười cùng đó là tất cả
những gì chúng ta cần. Khi thực hành các
điều trên trong đời sống hàng ngày, rồi thì, bất kể ta thọ học, hoặc tin theo
tôn giáo nào khác hoắc không tin theo gì cả, một khi ta có tâm từ bi cùng tha
nhân và hành sử giới chế phát xuật từ cảm thức trách nhiệm, không còn phải nghi
ngờ nữa về hạnh phúc của chúng ta (trang 278-279).
(13) Xem Con Đường Sống của
Dân Tộc, Về Nguồn, Tư Tưởng Cốt Lõi của Đạo Sống Việt, http://www.tusachvietthuong.org,
Nước: đặc tính gốc của nền minh triết nhân bản Việt – Tủ Sách Việt Thường, NXB
Ngày Nay, 2000, trang 146-179.
Trích Đặc San Văn Lang số 17 : HƯƠNG THƠM DÂN VIỆT
Ban
TẾ TỰ PARIS ấn hành ngày 20/01/2001
KIỂM ĐIỂM THÀNH QUẢ 20 NĂM
TẾ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG TẠI PARIS
ĐẠO GIA TIÊN (thờ cúng tố tiên)
bằng tiếng PHÁP
Le Culte des Ancêtres
Traduit
par Mr. Đào Duy Tâm
(Avril 1994)
Le mot VIETNAM a pour origine le mot VIET
qui rassemble l'ensemble des 100 races VIET qui ont la même culture, les mêmes
droits et les mêmes devoirs envers leur patrie.
Lors de la fondation de leur
pays qui s'appellait VAN-LANG
(pays des hommes élégants), leur territore s'étend jusqu'à SHANGHAI.
Le VIETNAM désigne
l'ensemble des races VIET se trouvant dans la partie sud du territoire, car la
partie nord du VAN-LANG a été annexée par la Chine voici 2000 ans.
q
Dès la fondation de leur
pays, Les Vietnamiens se sont trouvés confrontés à des invasions successives de
leurs voisins Chinois qui s'étaient donnés le devoir de dominer toutes les
autres races par leur doctine: FILS
DE DIEU.
Face à la doctrine des Fils
de Dieu, les Vietnamiens se rassemblaient pour résister à l'invasion chinoise.
Ils ont donc affirmer leur unité et leur identité autour des contes et des
légendes et ils ont aussi déceloppé des
us et des coutumes pour préserver leur culture.
Parmi ces coutumes, une des
plus importantes est la cérémonie de l'Anniversaire des Morts qui célèbre le CULTE
DES ANCÊTRES. En effet, pour les Vietnamiens, il n'y a pas de
réincarnation. L'être humain est formé de deux parties: Son âme immortelle et
son corps de chair et de sang. Si le corps est créé par les parents lors de la
fécondation, l'essence de l'âme, elle, si dépose de son libre arbitre. A partir
de cette philosophie, le Vietnamien s'impose une ligne de conduite et de
pensée. Il a choisi librement la famille dans laquelle il se trouve; il doit
donc assumer les devoirs qui en découlent. De par son choix, il se doit de
respecter et d'honorer ses ascendents, de même qu'il se doit de protéger et de
défendre sa patrie.
A partir de ce raisonnement,
les Vietnamiens doivent respecter l'âme immortelle de leurs ancêtres. Ces âmes
sont autour d'eux pour les protéger et les aider. Or, ils doivent en retour les
honorer pour qu'ils ne soient pas des fantômes errants, malheureux et
abandonnés. Le culte des ancêtres se trouvent donc ses racines dans l'histoire
du Vietnam, c'est un devoir pour chacun des enfants de glorifier ses ancêtres.
Chaque famille vietnamienne réserve donc un emplacement dans la pièce
principale de la demeure pour l'autel des ancêtres. Cet autel sera le centre de
la maison, le coeur de la famille.
q
La cérémonie de
l'anniversaire des morts est une fête familiale qui a pour but de rassembler la
famille pour en fortifier les liens et renforcer l'unité familiale. C'est
l'occasion de se rappeler les uns aux autres, d'aplanir les éventuelles
différences et de rendre hommage aux défunts.
Pour celà, tous les membres
de la famille préparent un grand repas. On invite l'âme du ou des défunts à se
joindre aux repas et par respect pour eux, on les laisse déjeuner en premier.
Après leur avoir rendu hommage, toute la famille se réunit autour du repas. En
effet, on considère que le repas est composé de 2 parties: Le parfum pour les
âmes des ancêtres et les produits alimentaires consommés apportent chance et
prospérité aux membres de la famille.
Le rite de la cérémonie de
l'anniversaire des morts suit un cérémonial bien particulier qui dépend du
degré généalogique de défunt et de la place qu'il avait dans la société. On
distingue 4 niveaux d'importance:
- Les parents
- Les ancêtres
- Les fondateurs du village
- Les fondateurs du Viet
Nam, il y a juste 4.873 ans (jusqu'en 1994).
· La
cérémonie de l'anniversaire des morts revêt donc une grande importance dans la
vie des Vietnamiens, aussi bien dans la vie familiale que dans son histoire.
Car elle permet au peuple vietnamien de garder son unité à travers son
histoire, de même qu'elle permet de renforcer la cellule familiale qui est la
base et le ciment de la société./.




0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil