T04- Nguồn gốc tiếng nói và chữ viết
T04- Nguồn gốc tiếng nói và chữ viết (giảng 30.10.2020)
Livestream trên Facebook Nỗi Niềm Quê Hương
soạn giả: Hoàng Đức Phương
NGUỒN GỐC
TIẾNG NÓI VÀ CHỮ VIẾT
ĐÔI ĐIỀU CẦN BIẾT:
Tiếng nói dùng để diễn tả tư tưởng, trong đó có hồn mà
ta gọi là hồn dân tộc.
Tiếng nói của dân tộc nào cũng thế; không có tiếng dân
này văn minh hơn tiếng dân kia như chúng ta từng nghe nhiều người ca tụng tiếng
Pháp văn hoa, tiếng Việt nghèo nàn.
Tiếng nói phong phú hay nghèo nàn là tùy thuộc ở trình
độ tư tưởng của dân đó phát triển hay không.
Tiếng nói của dân nào thì cũng có quy luật của nó cả.
Câu văn nói thuận mồm và nghe thuận tai là quy luật của tiếng dân đó đấy.
Ở đây chúng ta học tiếng Việt văn minh ở thế kỷ thứ
21, chứ không học tiếng Việt lai căng như dưới thời nô lệ ngoại bang và bọn Việt
Nô Cộng Sản, tam đại bần cố nông lên lãnh đạo. Dân vô văn-hóa lên mặt dạy
văn-hóa nên nghe tục-tĩu, phét-lác như: Chuồng đái, chuổng ỉa, xưởng đẻ, Hố xí
2 ngăn ….
Đó là hậu quả của nền giáo dục dưới mái trường Xã Hội
Chủ Nghĩa mà cha đẻ ra chúng là: « Bác Hồ » có trình độ không qua bậc
tiểu học mà làm le như ta đây thông-thái.
Muốn sửa đổi câu văn thô tục đã thành thói quen không
phải là dễ đâu, vì cần phải có nhiều yếu tố mới làm được.
Chữ viết là ký hiệu dùng để ghi lại tiếng nói nên ta gọi
là Kỳ Tự . Ký là ghi, Tự là chữ viết.
Ở đây chúng ta nghiên-cứu quy-luật của tiếng Việt và dùng ký tự là bảng mã tiếng Việt lấy gốc từ bảng
mã Latin, nhưng phát âm hoàn toàn khác với các nước dùng ký hiệu này.
Ký hiệu chính được gọi là Chữ Cái (chữ mẹ hay mẫu-tự), thêm bớt râu ria vì nhu-cầu của âm tiếng Việt mà
tiếng nước khác không có.
Đây là một loại chữ Nôm tân-thời. Nôm có nghĩa là
Nam
·
Chữ
Nôm là chữ ghi lại tiếng nói của người phương nam; vì thế nên chữ Nôm tân-thời
gọi là chữ Quốc-ngữ; tức là chữ viết theo tiếng nói của nước (dân tộc Việt).
Danh từ quốc-ngữ là danh từ chung, còn
QUốc-ngữ danh từ riêng.
Đây là ký-hiệu
tượng thanh nên chỉ cần 35 ký-hiệu là đủ, như bảng mã chữ Việt Thường tìm thấy ở
Thanh Hóa (đính kèm). Bảng mã chữ Quốc-ngữ gồm 22 Chữ Cái, 7 chữ có dấu bằng
môi hay lưỡi và 5 cái dấu bằng tay + 1 chữ không dấu = 35 ký hiệu
Như trên đã khẳng-định rằng: Tiếng Việt đã
có quy-luật, vậy thì chữ mang tên là Quốc-ngữ phải ghi đúng quy-luật của tiếng
nói để phát âm cho chuẩn; đặng người nghe mới cảm nhận được cái hồn người viết
thì bản văn mới có giá-trị để đòi.
Bản văn để lại
cho hậu thế, thì hậu thế phải cảm nhận được tư-tưởng người xưa thì dòng sống mới
có sự tiếp nối và vươn lên bằng người được.
Vì thế nên chúng
tôi nghiên-cứu quy-luật của tiếng nói trước, sau đó mới bắt chữ Quốc-ngữ phải
viết theo quy-luật này; mà ta gọi đơn giản là Quy-luật
của chữ Quốc-ngữ.
NGUYÊN TẮC VIẾT THEO MẪU TỰ LATIN:
1)
Viết theo quy luật của loại chữ Latin : Từ
trái qua phải theo hàng ngang. Dấu phẩy dùng để ngắt câu. Dấu chấm dùng
d-« hết câu. Dấu chấm phẩy để viết tiếp câu sao cho rõ nghĩa. Xuống hàng
khi hết một đoạn. Đầu câu phải viết hoa mỗi một chữ cái dùng cho tiếng Đa Âm
(multisyllabique), còn tiếng Đơn Âm (monosyllabique) thì khác.
2)
Viết theo quy luật của tiếng Việt là tiếng Đơn Âm.
Trong đơn âm lại có quy luật của Âm-vận và Hồn tiếng nói. Do đó phải viết theo
quy luật của :
a.
HỒN VIỆT trong tiếng nói để điễn tả cảm xúc của người
viết, do đó không được lẫn lộn I với Y,
S với X, D với GI, CH với TR ….
b.
ÂM-VẬN
gồm Bôi-vận và CHính-vận nêu để dấu cho đúng ch, khi viết hoa thì phải viết cả
chùm Bội-vận hay CHính-vận ; không đuọc viết hoa mỗi CHŨ CÁI chỉ áp dụng
chotiếng ĐA ÂM.
·
CHính-vận
là sự tập hợp của các chữ cái từ nguyên âm cho đến hết chữ. Vì ta gọi chính-vận
là Vần nên ta không hiểu tiếngViệt.
·
Bội
vận là vần thêm vào để biến chính-vận thành một ÂM VỊ (không phải ÂM TIẾT). Vì
ta gọi là THANH ĐẦU nên ta mất Hồn Việt trong tiếng nói.
·
Do
đó chúng ta phải điều chỉnh cách viết và cách dùng chữ để cho câu văn đưọctrong
sáng và tiếng nói được ohing phú ;
ö
NGUỒN
GỐC TIẾNG NÓI VÀ CHỮ VIẾT:
Những thời điểm cần ghi nhớ:
Trái đất là một
mảnh của mặt trời phát nổ vào khoảng 4,6 tỷ năm trước đây.
Loài người có mặt
trên trái đất khoảng 4 triệu năm trước đây. Lúc đó chỉ biết kêu và biết hú như
loài thú; vì sống lẻ-tẻ đi săn mồi nên tư-tưởng rỗng tuyếch, không cần tiếng
nói.
Loài thú hay
chim muông cũng vậy, chúng không biết nói vì chúng không có tư-tưởng để truyền
đạt chứ không phải là chúng không có bộ máy phát âm.
13.000BC:
Vì biết cách sản-suất
ra thực-phẩm bằng nghề nông hay nghề chăn nuôi (du-mục) nên có cuộc sống quần-cư.
Lúc này có nhu-cầu truyền đạt tư-tưởng nên mới có tiếng nói thô sơ vì tư-tưởng
còn nghèo nàn.
2.879BC:
Vì sự lập quốc của
3 nước Ngô, Sở và Việt nên cần phải có ký hiệu để ghi nhớ mọi việc do nhu-cầu của
sự tiếp nối. Lúc này ký hiệu được viết trên đất rồi nung lên để lấy khuôn, sau
đó sao ra làm nhiều ấn bản.
Ký hiệu lúc đó
như thế nào thì hiện nay chưa biết; chỉ biết là theo tiến trình phát triển tự
nhiên thì phải qua những giai đoạn như thế; giống như đứa bé sơ sinh tập nói vậy.
500BC:
Chữ viết bắt đầu
ra đời vì đã biết cách làm mành-mành đẻ viết trên đó, đi đâu cuốn lại rồi xách
đi nên gọi là cuốn sách.
Các chuyện Huyền-thoại
cũng chấm dứt sau đó (Trọng Thủy, Mỵ Châu là huyền thoại sau cùng vào năm
206BC). Huyền-thoại là bản văn xuôi lưu truyền bằng bia miệng. Do đó muốn đọc
được thông-điệp người xưa qua huyền-thoại thì bắt buộc phải có tư-duy huyền-thoại;
như không thể lấy cảm nhận hữu hình mà giải thích hiện tượng vô hình được.
Lúc này mạnh ai
nấy sáng tạo ra cách viết; nhưng tựu chung chỉ có 3 loại ký tự là: Tượng Hình,
Tượng Ý và Tượng Thanh; còn Giả-tá không tính vì nó nhại lại cách viết khác. Tượng hình và Tượng ý thì dùng cho cả nhân loại như bảng chỉ đường cho xe ô-tô
ngày hôm nay vậy. Tượng hình dễ hiểu hơn tượng ý, vì tượng ý phải đoán mới hiểu
được. Tượng Thanh chỉ có thể dùng
cho một sắc dân nói cùng một thứ tiếng mà thôi. Vì thế nên dân Tàu, tạp chủng
không thể dùng ký tự tượng thanh được, chứ không phải là không biết cách phiên
âm.
Ø Chữ viết ra đời : Đây là thời kỳ đồ thép non, người ta có
cưa để cưa tre ra từng khúc và có dao để chẻ lạt.Đan lạt thành mành-mành, viết
lên đó. Đi đâu thì CUỐN lại rối XÁCH đi nên gọi là cuốn sách mà ngày hôm nay chúng ta vẩn dùng bắt nguồn từ cử
chỉ này. Danh từ KÝ TỰ cũng bắt nguồn từ đây.
·
Ký
Tự là tiếng Việt chứ không phải tiếng TÀU.
·
Ký
là ghi lại, Tự là chữ viết. Tiếng Tàu phải nói là TỰ-KÝ
Ký tự khác với ký hiệu.
Trước đó nguời
ta dùng đất nung để ghi bản văn bằng ký hiệu, rồi làm khuôn và in ra nhiều
bản để phổ biến ;
Vì thế nên thờiVăn
Lang (hay Hùng Vương) người ta truyền lại kinh nghiệm cho hậu thế qua ca-dao, tục
ngữ, ngạn ngữ, ngụ ngôn, vè … hay huyền thoại
Huyền Thoại là
phần chuyên chở Thông Điệp, bản văn mới là Thông Điệp, nay ta gọi là lịch sử
truyền miệng.
·
Trăm năm bia đá
cũng mòn,
·
Ngàn năm bia miệng
vẫn còn trơ trơ.
43AD:
Khi Mã Viện sang
cướp nước thì hắn cấm nói tiếng Việt nên cấm luôn cả viết chữ Việt mà phải nói
tiếng Tàu và viết chữ Tàu là loại tượng hình và tượng ý.
Đến kên khi hơi
có tự do được phép nói tiếng Việt thì lúc đó mới đẻ ra thứ Chữ Nôm. Nôm có
nghĩa là Nam, chữ Nôm là chữ của người phương nam (bắc Hán, nam Việt có từ thời
Triệu Đà 207BC). Gió Nồm là gió từ phương nam thổi tới.
Nồm là biến âm của
chữ Nôm (Nam); nói gió nồm thì nghe thuận tai hơn là nói gió nôm; cái này thuộc
về quy luật phát âm của tiếng Việt , như quy luật nói láy, nói lái, nói xéo
…...
1860AD:
Khi người Pháp
sang cai trị, vì nhu-cầu của chánh-sách ngu dân, đoạn tuyệt với người xưa nên
phải bóp méo lịch-sử để dân Việt nghĩ rằng: Ta sinh ra để làm nô-lệ cho người
nên ký tự chính là tiếng Pháp nhuần nhuyễn; Chữ Tàu và chữ Nôm bị tuyệt diệt và
khinh rẻ cho là vì nó nên ta nô lệ. Vì nhu-cầu đào-tạo người thừa hành nên chữ
Quốc-ngữ chỉ được học đến năm 11 tuổi rồi thôi; và học đuờng bị hạn chế bằng đủ
mọi cách nên dân ta 95% mù chữ.
Vì chánh sách
ngu dân này, nên năm 1945 bọn Cộng Sản quốc-tế mới nhảy vào thao túng chính trường
dưới cái mặt nạ Hồ Chí Minh, không tiểu sử; ông ta cũng chẳng thèm làm lễ nhận
chức. Vì thế nên chúng ta mới lãnh đủ thảm trạng ngày hôm nay.
Chúng ta ký thỉnh-nguyện
thư để đòi hỏi cái gì ở nhà cầm quyền ngày hôm nay đây?
Khi chúng ta chấp
nhận lý lịch lãnh tụ mờ ám, chấp nhận cha truyền con nối mà không ai làm lễ nhậm
chức và hứa hẹn gì với dân với nước cả! Họ đã tuyên bố: Đất đai là của toàn
dân, nhưng Đảng lãnh đạo nên người dân trơ mắt ếch khi bị cưỡng chế đó thôi!
….Đòi gì đây?!
(xin coi tiếp T05 : Quy luật của tiếng Việt
mà chữ Quốc Ngữ phải viết theo)



0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil